Chủ Nhật, 11 tháng 6, 2023

Quyền con người, quyền công dân được ghi nhận và bảo vệ bằng Hiến pháp, pháp luật.

 


C.Mác luôn đề cao vai trò của pháp luật, coi pháp luật là “kinh thánh tự do của nhân dân” Thực tế lịch sử thế giới cho thấy, ở đâu quyền con người được pháp luật bảo vệ, thì ở đó quyền con người được phát huy.

 Đảng, Nhà nước ta luôn xác định: “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân, quyền con người” (Đại hội VII), Hiến pháp 1992 cũng ghi: “Ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật (điều 50). Quyền dân chủ tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương pháp luật. Quyền con người phải được nhà nước tôn trọng, bảo vệ. Tuy nhiên, có được quyền con người, thì mỗi con người phải phát huy tốt trách nhiệm công dân trong xây dựng, đấu tranh, thực thi quyền con người. C.Mác nhấn mạnh: “không có quyền lợi nào mà không có nghĩa vụ, không có nghĩa vụ nào mà không có quyền lợi”. UDDHR cũng ghi nhận: “Mỗi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng mà chính trong đó nhân cách của bản thân có thể phát triển tự do và đầy đủ” (Điều 29).

Theo đó, Đảng ta khẳng định: “Quyền dân chủ tự do của mỗi cá nhân không tách rời nghĩa vụ và trách nhiệm công dân. Dân chủ phải đi đôi với kỷ cương pháp luật”

Quyền con người gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hóa của mỗi quốc gia.

 


Quyền con người được kết tinh từ những thành tựu, kinh nghiệm đặc sắc trong lịch sử, truyền thống văn hóa của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, tính phụ thuộc của quyền con người còn bắt nguồn tự sự phát triển “không đều” về mọi mặt của thế giới, nên quyền con người cũng không thể đáp ứng như nhau đối với mỗi quốc gia. Đảng, Nhà nước ta luôn chủ động, sáng tạo trong việc bảo đảm các quyền con người phù hợp với thực tiễn đất nước. Xây dựng xã hội phát triển bền vững. Xây dựng xã hội phát triển bền vững, không để ai bỏ lại phía sau; sức khỏe, tính mạng của con người là trên hết, trước hết; “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển kinh tế. Phát huy giá trị văn hóa con người Việt Nam và sức mạnh toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển và sức mạnh của nhân dân…”[1] Quyền con người là giá trị lớn nhất, mục tiêu duy nhất, cuối cùng của con người. Từ hoạt động lý luận và thực tiễn đấu tranh gian khổ, Đảng ta khẳng định. Đảng ta khẳng định: Đối với chúng ta, vấn đề quyền con người được đặt ra xuất phát từ mục tiêu xã hội chủ nghĩa, từ bản chất của chế độ; giải phóng con người gắn liền với giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội. Chỉ dưới tiền đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội thì quyền con người mới được bảo đảm rộng rãi; quyền con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy xã hội phát triển theo dòng chảy chung của nhân loại là hướng tới tự do, bình đẳng, hạnh phúc và thịnh vượng cho tất cả mọi người.



[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H2021, tI, tr

Quyền con người là giá trị chung của nhân loại

 

 


 Việt Nam luôn coi, tôn trọng và bảo vệ những giá trị cao quý được nhân loại thừa nhận về quyền con người. Việt Nam tích cực, chủ động và là thành viên có trách nhiệm trong đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trên cơ sở đó Đảng xác định: Bảo đảm quyền con người trên lãnh thổ Việt Nam bằng hệ thống pháp luật gắn với những giá trị về quyền con người đã được pháp luật quốc tế thừa nhận.Đảng và Nhà nước Việt Nam phấn đấu thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội. Xây một chế độ xã hội giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người, luôn coi quyền con người là của tất cả mọi người đều được tôn trọng và bảo vệ theo hiến pháp và pháp luật. Xây dựng chủ nghĩa xã hội, gắn liền với bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược, xuyên suốt thời kỳ cách mạng; Bảo đảm dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Những nội dung cơ bản về quyền con người đã được quy định trong Hiến pháp và pháp luật Việt Nam

 


Từ bản hiến pháp đầu tiên năm 1946, đến hiến pháp năm 1959, hiến pháp 1980, hiến pháp 1992, hiến pháp năm 2013, dù cách thức thể hiện có khác nhau, nhưng chế định quyền và nghĩa vụ của công dân, của con người luôn giữ ở vị trí quan trọng. Trên cơ sở Hiến pháp, quyền con người còn được quy định và bảo vệ trong các ngành luật khác nhau như: Luật Hành chính và Luật tố tụng hành chính; Luật Hình sự và Luật Tố tùng Hình sự; Luật hôn nhân và gia đình; Luật lao động; Luật Thương mại đất đai…Và được quy định ở nhiều đạo luật chuyên biệt như: Luật trẻ em, Luật Bình đẳng giới; Luật thanh niên; Luật người cao tuổi… Nội dung các quyền con người đầy đủ, toàn diện, cụ thể, chất lượng. Hiến pháp năm 2013: Các quyền dân sự chính trị; các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; các quyền của nhóm dễ bị tổn thương được thể hiện rất đầy đủ. Nhà nước Việt Nam cũng bước đầu tham gia vào hệ thống pháp luật quốc tế. Trong hoàn cảnh đất nước đang phải tiến hành kháng chiến chống xâm lược, nhưng Đảng, Nhà nước Việt nam vẫn tham gia thực hiện đầy đủ luật quốc tế về con người mà Tuyên ngôn nhân quyền thê giới 1948 đề ra.

Quyền con người ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

 


 Nhận thức của Đảng về quyền con người ngày càng sâu sắc, hoàn thiện hơn. Nhận thức của Đảng được thể hiện trong cương lĩnh chính trị, các văn kiện đại hội Đảng. Đại hội VI về trước, do nhiều lý do nên trong văn kiện đại hội chưa đề cập khái niệm quyền con người nhưng quan điểm xuyên suốt là: “Cùng với việc chăm lo đời sống nhân dân các cơ quan nhà nước phải tôn trọng và bảo đảm những quyền công dân mà hiến pháp đã quy định”. Đại hội VII (1991), lần đầu tiên khái niệm quyền con người được ghi nhận trong Cương lĩnh chính trị “Nhà nước định ra các đạo luật nhằm xác định các quyền công dân và quyền con người”. Từ đại hội VII đến Đại hội XIII, nhận thức về con người ngày càng hoàn thiện hơn. Đại hội XIII: “Lấy con người là trung tâm của phát triển và được chia sẻ những thành quả của quá trình phát triển kinh tế. Phát huy giá trị văn hóa con người Việt Nam và sức mạnh toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ tinh than yêu nước, khát vọng phát triển và sức mạnh của nhân dân”

Nền dân chủ chủ nô

 


Trong chế độ cộng sản nguyên thủy đã xuất hiện hình thức manh nha của dân chủ mà Ph.Ăngghen gọi là “dân chủ nguyên thủy” hay còn gọi là “dân chủ quân sự”. Đặc trưng cơ bản của hình thức dân chủ này là nhân dân bầu ra thủ lĩnh quân sự thông qua “Đại hội nhân dân”. Trong Đại hội này, nhân dân có quyền lực thật sự (có dân chủ), mặc dù trình độ sản xuất còn kém phát triển.

Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn tới sự ra đời của chế độ tư hữu và sau đó là giai cấp đã làm cho hình thức “dân chủ nguyên thủy” tan rã, nền dân chủ chủ nô ra đời. Nền dân chủ chủ nô được tổ chức thành nhà nước, nhà nước dân chủ chủ nô (nhà nước Athen). Đặc trưng của nền dân chủ chủ nô là dân tham gia bầu ra Nhà nước. Tuy nhiên, giai cấp chủ nô quy định: “Dân” chỉ gồm giai cấp chủ nô và phần nào thuộc về các công dân tự do (tăng lữ, thương gia và một số trí thức). Đa số còn lại không phải là “dân” mà là “nô lệ” - họ không được tham gia vào việc bầu ra nhà nước. Như vậy về thực chất, nhà nước dân chủ chủ nô cũng chỉ thực hiện dân chủ cho thiểu số, quyền lực của dân đã bị giai cấp chủ nô chiếm đoạt.

Bản chất của dân chủ

 


Khi xem xét bản chất dân chủ, chế độ dân chủ không chỉ căn cứ vào tính giai cấp mà còn phải đứng trên quan điểm lịch sử và phải có thái độ biện chứng, khoa học đối với những thành tựu dân chủ với tính cách là những giá trị mà loài người đã đạt được trong tiến trình lịch sử. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã nhắc nhở giai cấp công nhân, các đảng cộng sản không nên nhấn mạnh tính giai cấp, tính chính trị mà xem nhẹ tính lịch sử, giá trị nhân văn của dân chủ (hoặc ngược lại); đồng thời, phải đứng trên quan điểm biện chứng để xem xét quá trình phát triển của dân chủ với tư cách là một chế độ... Có như vậy, mới tránh được sự mơ hồ, duy ý chí, nóng vội, thậm chí là sai lầm và đổ vỡ chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa.

 Từ cách tiếp cận trên, có thể hiểu: Dân chủ là một giá trị xã hội (giá trị nhân văn) phản ánh những quyền cơ bản của con người; là một hình thức tổ chức nhà nước của giai cấp cầm quyền, một chế độ chính trị - xã hội mà ở đó những quyền cơ bản của con người (tự do, bình đẳng, tôn trọng sự thống nhất trong đa dạng...) được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; đồng thời những quyền này được thể chế thành các nguyên tắc (quyền lực thuộc về nhân dân, mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, thiểu số phục tùng đa số, quyền tự do tư tưởng, ý chí hành động, bầu cử tự do và công bằng...) để quy định quyền lợi, trách nhiệm của nhân dân đối với nhà nước, cộng đồng và ngược lại

 

Dân chủ xã hội chủ nghĩa- Chế độ dân chủ tươi đẹp

 


Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản (1848), C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ rõ: “giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự giành lấy chính quyền, phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc”[1] phải giành lấy dân chủ với ý nghĩa trực tiếp là giành lấy quyền lực nhà nước và tồ chức quyền lực đó thành nhà nước dân chủ vô sản. Theo hai ông, giai cấp công nhân giành được chính quyền là dấu mốc làm xuất hiện một nền dân chủ mới, khác về chất so với các nền dân chủ trước đó - dân chủ vô sản.

Công xã Pari năm 1871 là mầm mống đầu tiên của dân chủ xã hội chủ nghĩa. V.I.Lênin viết: “Công xã dường như đã thay bộ máy nhà nước bị đập tan, bằng một chế độ dân chủ “chỉ” hoàn bị hơn mà thôi... từ chỗ là dân chủ tư sản đã biến thành dân chủ vô sản, từ là nhà nước ( lực lượng đặc biệt đề trấn áp một giai cấp nhất định) nó biến thành một cái gì thực ra không phải là nhà nước hiểu theo nghĩa thật sự nữa”[2].

Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga (1917) vĩ đại với sự xuất hiện nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới - Nhà nước Xôviết, xây dựng nền dân chủ phục vụ lợi ích cho đa số người lao động - nền dân chủ xã hội chủ nghĩa bắt đầu ra đời.

Như vậy, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ được xác lập sau khi giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong của mình là đảng cộng sản giành được chính quyền, tiến hành cải tạo và xây dựng xã hội mới thông qua cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới các hình thức khác nhau.

Quá trình phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện; có sự kế thừa một cách chọn lọc giá trị của các nền dân chủ trước đó, trước hết là nền dân chủ tư sản. Nguyên tắc cơ bản của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa là không ngừng mở rộng dân chủ, nâng cao mức độ giải phóng cho những người lao động, thu hút họ tham gia tự giác vào công việc quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là nền dân chủ của thiểu số và cho thiểu số bóc lột, có đặc quyền đặc lợi và muốn dành thêm đặc quyền, đặc lợi; ngược lại, nó là nền dân chủ của đa số và vì đa số. Do đó, về nguyên tắc, nỏ bài trừ đặc quyền, đặc lợi và vì lợi ích của đa số nhân dân lao động, nó phải gạt bỏ những kẻ đặc quyền, đặc lợi ra khỏi vị trí quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Bản thân nền dân chủ này cũng phát triển từ thấp tới cao, từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Nhưng càng hoàn thiện bao nhiêu, nó càng tự tiêu vong bấy nhiêu. Thực chất của sự tiêu vong này theo V.I.Lênin, đó là tính chính trị của dân chủ sẽ mất đi trên cơ sở không ngừng mở rộng dân chủ đối với nhân dân, xác lập địa vị chủ thể quyền lực của nhân dân, tạo điều kiện để họ tham gia ngày càng đông đảo và ngày càng có ý nghĩa quyết định vào sự quản lý nhà nước, quản lý xã hội (xã hội tự quản). Quá trình đó làm cho dân chủ trở thành một thói quen, một tập quán trong sinh hoạt xã hội.. để đến lúc nó không còn tồn tại như một thể chế nhà nước, một chế độ, tức là mất đi tính chính trị của nó.

 

 



[1]  C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2002, t.4, tr.623-624.

[2]  V.I.Lênin. Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.33, tr52.

Nền dân chủ tư sản

 


Lịch sử loài người đã trải qua hình thái kinh tế - xã hội phong kiến song “nền dân chủ phong kiến” đã không tồn tại. Với cách tổ chức quyền lực của nhà nước, giai cấp phong kiến đã thủ tiêu những tiến bộ của nền dân chủ chủ nô trước đó, thiết lập nhà nước quân chủ của giai cấp mình.

Trước sự hà khắc của chế độ chuyên chế (quân chủ) phong kiến, nhân dân (đông đảo là nông dân) đã đấu tranh phản kháng buộc giai cấp quý tộc phong kiến phải thực thi một số yêu cầu dân chủ. Ở phương Tây, vào thế kỷ XIV-XVI, các trào lưu tiến bộ của giai cấp tư sản mới xuất hiện đã nêu cao yêu cầu tự do, dân chủ (nhất là trong lĩnh vực văn hóa, khoa học) mở đường cho sự ra đòi của chế độ tư bản chủ nghĩa.

Sự xuất hiện của nền dân chủ tư sản gắn liền với sự hình thành của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Quá trình khẳng định dân chủ tư sản đồng thời cũng là quá trình phủ định nền quân chủ, diễn ra từ thấp tới cao trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ hẹp đến rộng, nhằm xóa bỏ từng yếu tố phản dân chủ của chế độ phong kiến, đi tới phủ định nền quân chủ (mặc dù chưa triệt để). Quá trình khẳng định và phủ định này không phải tự động, tự nhiên mà là quá trình đấu tranh giai cấp quyết liệt của giai cấp tư sản và những đồng minh của nó nhằm xóa bỏ phương thức sản xuất phong kiến, lật đổ ách thống trị của giai cấp phong kiến. Nền dân chủ tư sản được hình thành tương đối đầy đủ trong quá trình đấu tranh CMTS - một nấc thang quan trọng của tiến bộ lịch sử.

Theo chủ nghĩa Mác, dân chủ tư sản là một sự phát triển về chất, đó là bước phát triển nhảy vọt so với nền chuyên chế, độc tài của chế độ phong kiến, quân chủ. Bình đẳng, bình quyền, tự do cá nhân là nội dung nổi bật của dân chủ tư sản (những yếu tố chưa hề có trong chế độ phong kiến). Giai cấp tư sản không những hình thành và hoàn chỉnh một nền dân chủ tư sản, mà còn xây dựng một hệ thống chính trị cùng với một hệ thống thiết chế nhà nước nhằm bảo đảm sự thống trị của giai cấp tư sản. Đặc trưng cơ bản của nền dân chủ tư sản là xác lập nhà nước pháp quyền (nguyên tắc hoạt động: tam quyền phân lập) và xã hội công dân (công dân có các quyền cơ bản và quyền bầu ra nhà nước) dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất chủ yếu.

So với chế độ quân chủ phong kiến, dân chủ tư sản ra đời là một bước tiến lớn của nhân loại (C.Mác). Tuy nhiên, để bảo vệ quyền thống trị về chính trị, kinh tế, giai cấp tư sản đã thẳng tay sử dụng chuyên chính đàn áp các cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động.  

V.I.Lênin cho rằng, ngay trong giai đoạn phát triển nhất của nền cộng hòa dân chủ tư sản thì chế độ dân chủ ấy vẫn bị giới hạn trong khuôn khổ chật hẹp của sự bóc lột tư sản, thực ra, nó chỉ là chế độ dân chủ đối với thiểu số mà thôi[1].

Tuy nhiên, hiện nay, để tồn tại, giai cấp tư sản buộc phải có nhiều điều chỉnh, trong đó có việc mở rộng quyền dân chủ cho nhân dân. Nhưng điều đó không có nghĩa là dân chủ tư sản đã biến thành dân chủ “nhân dân”. Với những giới hạn không thể vượt qua, nền dân chủ tư sản vẫn là dân chủ dành cho thiểu số những người có của.



[1]em y J Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.33, tr. 106-107-

Nền dân chủ vô sản (dân chủ xã hội chủ nghĩa)

 


Thắng lợi chính trị của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) và các cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa khác đã đưa giai cấp công nhân và nhân dân lao động từ địa vị những người nô lệ bị bóc lột và áp bức lên địa vị những người chủ của xã hội. Chính quyền đã thuộc về tay giai cấp cồng nhân với tư cách là nhà nước kiểu mới, là bộ máy quản lý và điều hành mọi hoạt động của xã hội để thực hiện quyền làm chủ của những người lao động đã được giải phóng.

Việc thiết lập chính quyền nhà nước của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, việc đảng cộng sản khẳng định trong thực tê vai trò lãnh đạo nhà nước và xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa... là những tiền đề, nguyên tắc dẫn tới xác lập nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, một nền dân chủ mới về chất cao hơn so với nển đàn chủ tư sàn và các nền dân chủ trước đó. Theo V.I.Lênin: “Xôviết tựu trung là một hình thức và một kiều chế độ dân chủ vô cùng cao hơn, chính là do chỗ nó tập hợp được quần chủng công nông và lôi cuốn họ tham gia sinh hoạt chính trị, nên nó là cơ quan gần “nhân dân" nhất"[1]. Dân chủ xã hội chủ nghĩa xuất hiện trong thắng lợi cứa cách mạng chính trị giành chính quyền của giai cấp công nhân, gắn liền với sự ra đời của nhà nước kiểu mới - nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nền dân chủ này lại có một quá trình phát triển và hoàn thiện cùng với quá trình lịch sử lâu dài mà giai cấp cồng nhân, nhân dân lao động dựa trên nhà nước của mình để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

Đặc trưng cơ bản của nền dân chủ xă hội chủ nghĩa là thực hiện quyền lực của nhân dân - tức là xây dựng nhà nước dân chủ thực sự, dân làm chủ nhà nước và xã hội, bảo vệ quyền lợi cho đại đa sổ nhân dân.

Như vậy, với tư cách là một nhà nước, một chế độ chính trị thì trong lịch sử có ba chế độ (nền) dân chủ. Nền dân chủ chủ nô, gắn với chế độ chiếm hữu nô lệ; nền dân chủ tư sản, gắn với chế độ tư bản chủ nghĩa; nền dân chù xã hội chủ nghĩa, gắn với chế độ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, muốn biết một nhà nước dân chủ có thực sự dân chủ hay không còn phải xem trong nhà nước ấy dân là ai và bản chất của chế độ xã hội ấy như thế nào.



[1] V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.37, tr.383.

Tính ưu việt của dân chủ xã hội chủ nghĩa

 


Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ra đời sau nền dân chủ tư sản, trên cơ sở kế thừa những giá trị của dân chủ tư sản, với mục đích đem lại quyền lực thực sự cho nhân dân, tạo điều kiện, cơ chế để người dân thực hiện được quyền và nghĩa vụ công dân đối với nhà nước và ngược lại, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa phải là nền dân chủ tiến bộ nhất trong lịch sử các nền dân chủ. Nó khác căn bản với các nền dân chủ trước đó, về chính trị, quyền lực thuộc về đa số nhân dân, do đảng cộng sản (đảng của giai cấp công nhân, đồng thời đại diện lợi ích cho đa số nhân nhân) lãnh đạo thông qua nhà nước pháp quyền XHCN. Về kinh tế, nền dân chủ XHCN được xây dựng và thực hiện trên cơ sở kinh tế là chế độ sở hữu xã hội về tư liệu sản xuất (tư liệu sản xuất chủ yếu thuộc về nhân dân thông qua nhà nước) . Nhân dân là chủ trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh và hưởng thụ công bằng các thành quả lao động. Về văn hóa – xã hội, nền dân chủ XHCN được xây dựng và thực hiện trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác- Lênin, giá trị truyền thống dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại. Mọi cá nhân có quyền được tạo điều kiện để ccống hiến và phát triển toàn diện.

 

Dân chủ trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa

 


Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa xây dựng và hoàn thiện lấy hệ tư tưởng Mác-Lênin (hệ tư tưởng của giai cấp công nhân) làm chủ đạo đối với mọi hình thái ý thức xã hội khác trong xã hội mới. Đồng thời, nó kế thừa, phát huy những tinh hoa văn hóa truyền thống của các dân tộc; tiếp thu những giá trị tư tưởng - văn hóa, văn minh, tiến bộ xã hội... mà nhân loại đã tạo ra ở tất cả các quốc gia, dân tộc... Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân được làm chủ những giá trị văn hóa tinh thần; được nâng cao trình độ văn hóa, có điều kiện để phát triển cá nhân. Dưới góc độ này, dân chủ là một thành tựu văn hóa, một quá trình sáng tạo văn hóa, thể hiện khát vọng tự do được sáng tạo và phát triển của con người.

Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đòi sống tư tưởng - văn hóa rất phong phú, đa dạng, toàn diện và ngày càng trở thành một nhân tố quan trọng hàng đầu, trở thành mục tiêu và động lực cho quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội và nó khác với nền dân chủ tư sản về hệ tư tưởng chủ đạo (hệ tư tưởng của giai cấp công nhân và hệ tư tưởng của giai cấp tư sản).

Dân chủ xã hội chủ nghĩa- nền dân chủ trọn vẹn

 


Quá trình tiêu vong của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với quá trình làm sâu, rộng hơn các thành quả dân chủ, đưa nó lên những trình độ phát triển mới, tiến dần tới dân chủ trọn vẹn, dân chủ hoàn toàn, phù hợp với xu thế phát triển của nhân loại từ “vương quốc tất yếu” sang “vương quốc tự do”. Đây là quá trình lâu dài, khi xã hội đã đạt trình độ phát triển rất cao, xã hội không còn sự phân chia giai cấp, đó là xã hội cộng sản chủ nghĩa đạt tới mức độ hoàn thiện, khi đó dân chủ xã hội chủ nghĩa với tư cách là một chế độ nhà nước cũng tiêu vong, không còn nữa.

Cũng cần lưu ý rằng, cho đến nay, sự ra đời của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa mới chỉ trong một thời gian ngắn, ở một số nước có xuất phát điểm về kinh tế, xã hội rất thấp, lại thường xuyên bị kẻ thù tấn công, gây chiến tranh, do vậy, mức độ dân chủ đạt được ở những nước này hiện nay còn nhiều hạn chế ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Ngược lại, sự ra đời, phát triển của nền dân chủ tư sản có thời gian cả mấy trăm năm, lại ở hầu hết các nước phát triển (do điều kiện khách quan, chủ quan). Hơn nữa, trong thời gian qua, để tồn tại và thích nghi, chủ nghĩa tư bản đã có nhiều lần điều chỉnh về xã hội, trong đó quyền con người đã được quan tâm ở một mức độ nhất định (sự điều chỉnh này không ảnh hưởng nhiều đến lợi ích cơ bản của giai cấp tư sản). Nền dân chủ tư sản có nhiều tiến bộ, song nó vẫn bị hạn chế bởi bản chất của chủ nghĩa tư bản.

Để có một chế độ dân chủ thực sự quyền lực thuộc về nhân dân, ngoài yếu tố giai cấp công nhân lãnh đạo (mặc dù là yếu tố quan trọng nhất), đòi hỏi cần nhiều yếu tố như trình độ dân trí, xã hội công dân, việc tạo dựng cơ chế pháp luật đảm bảo quyền tự do cá nhân, quyền làm chủ nhà nước và quyền tham gia vào các quyết sách của nhà nước, điều kiện vật chất để thực thi dân chủ.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực chính trị

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, về bản chất, là sự lãnh đạo chính trị của giai cấp công nhân thông qua chính đảng của nó đôi với toàn xã hội, nhưng không phải chỉ đề thực hiện quyền lực và lợi ích riêng cho giai cấp công nhân, mà là để thực hiện quyền lực và lợi ích của toàn thể nhân dân, trong đó có giai cấp công nhân. Nên dân chủ xã hội chủ nghĩa do đảng cộng sản lãnh đạo - yếu tố quan trọng để đảm bảo quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, bởi vì, đảng cộng sản đại biểu cho trí tuệ, lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc. Với nghĩa này, dân chủ xã hội chủ nghĩa mang tính nhất nguyên về chính trị. Sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đảng cộng sản đối với toàn xã hội về mọi mặt được V.LLênin gọi là sự thống trị chính trị.

Trong nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhân dân lao động là những người làm chủ các quan hệ chinh trị trong xã hội. Họ có quyền giới thiệu các đại biểu tham gia vào bộ máy chính quyền từ Trung ương đến địa phương, tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật, xây dựng bộ máy và cán bộ nhân viên nhà nước. Quyền được tham gia rộng rãi vào công việc quản lý nhà nước của nhân dân chính là nội dung dân chủ trên lĩnh vực chính trị.

Bàn về quyền làm chủ của nhân dân trên lĩnh vực chính trị, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Trong chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa thì bao nhiêu quyền lực đều là của dân, bao nhiêu sức mạnh đều ở nơi dân, bao nhiêu lợi ích đều là vì dân[1]... Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước xã hội chủ nghĩa, do đó về thực chất là của nhân dân, do nhân dân và vi nhân dân. Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, khác với các cuộc cách mạng trước đây là ở chỗ, nó là cuộc cách mạng của số đông, vì lợi ích của số đông nhân dân. Theo Hồ Chí Minh: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toán thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức, để gánh vác công việc nước nhà. Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nưóc thì đều có quyền ra ứng cử; hễ là công dân thì đều cổ quyền đi bầu cử”[2] Quyền được tham gia rộng rãi vào công việc quản lý nhà nước chính là nội dung dân chủ trên lĩnh vực chính trị.

V.I.Lênin còn nhấn mạnh, dân chủ xã hội chủ nghĩa là chế đô dân chủ của đại đa số dân cư, của những người lao động bị bóc lột là chế độ mà nhân dân ngày càng tham gia nhiều vào công việc nhà nước. Với ý nghĩa đó, V.I.Lênin đã diễn đạt một cách khái quát về bản chất và mục tiêu của dân chủ xã hội chủ nghĩa: “Chế độ dân chủ vô sản so với bất cứ chế độ dân chủ tư sản nào, cũng dân chủ hơn gấp triệu lần”[3].

Tóm lại, xét về bản chất chính trị, dân chủ xã hội chủ nghĩa vừa có bản chất giai cấp công nhân, vừa có tính nhân dân rộng rãi tính dân tộc sâu sắc. Do vậy, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa khác về chất so với nền dân chủ tư sản ở bản chất giai cấp (giai cấp công nhân và giai cấp tư sản); ở cơ chế nhất nguyêncơ chế đa nguyên một đảng hay nhiều đảng); ở bản chất nhà nước (nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nhà nước pháp quyền tư sản).

Dân chủ xã hội chủ nghĩa trên lĩnh vực kinh tế

Nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được xây dựng và hoàn thiện dựa trên chế độ công hữu về những tư liệu sản xuất chủ yếu, đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất dựa trên cơ sở khoa học và công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn ngày càng cao những nhu cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động.

Bản chất kinh tế đó chỉ được bộc lộ đầy đủ qua một quá trình ổn định chính trị, phát triển sản xuất và nâng cao đòi sống của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ của Nhà nước xã hội chủ nghĩa. Trước hết, đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân về các tư liệu sản xuất chủ yếu; quyền làm chủ trong quá trình sản xuất kinh doanh, quản lý và phân phối

Bản chất kinh tế của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa dù khác về bản chất kinh tế của các chế độ tư hữu, áp bức, bóc lột, bất công) nhưng cũng như toàn bộ nền kinh tế - xã hội chủ nghĩa, nó không hình thành từ “hư vô” theo mong muốn của bất kỳ ai. Nó là sự kế thừa và phát triển mọi thành tựu nhân loại đã tạo ra trong lịch sử, đồng thời lọc bỏ những nhân tố lạc hậu, tiêu cực, kim hãm... của các chế độ kinh tế trước đó, nhất là bản chất tư hữu, áp bức bóc lột bất công đối với đa số nhân dân.

Dưới góc độ kinh tế, dân chủ xã hội chủ nghĩa được biểu hiện là sự đảm bảo về lợi ích kinh tế, phải coi lợi ích kinh tế của người lao động là động lực cơ bản nhất có sức thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển. Lao động, việc làm và phân phối lợi ích tương ứng với kết quả lao động là nội dung kinh tế của dân chủ, đây cũng là nội dung mà quyền dân chủ được thể hiện một cách rộng rãi, trực tiếp. Do vậy, khác với nền dân chủ tư sản, nền dân chủ xã hội chủ nghĩa được thực hiện trên cơ sở chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu và thực hiện chế độ phân phổi lợi ích theo kết quả lao động là chủ yếu.



[1]   Xem Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.6, tr.232.

[2]   Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2011, t.4, tr153.

[3] V.I.Lênín: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, H.2005, t.37, tr.312.

Tập trung nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm, trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội về dân tộc, tôn giáo.

 


Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu. Vì có nâng cao nhận thức trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội thì chúng ta mới xây dựng được đường lối, quan điểm, chính sách về dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng đúng đắn, mới tổ chức thực hiện đạt hiệu quả. Mặt khác để giải quyết tốt vấn đề dân tộc, tôn giáo, theo quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh muốn giải phóng dân tộc; cải tạo, khắc phục được những điểm hạn chế của tôn giáo, chúng ta phải xây dựng thành công xã hội mới- xã hội xã hội chủ nghĩa, muốn vậy phải cả hệ thống chính trị và toàn xã hội chung tay thì mới thực hiện được. Theo đó khi chúng ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, thì sẽ phát huy mọi sức mạnh tổng hợp, sức mạnh đoàn kết dân tộc, đoàn kết lương - giáo giúp nhau cùng phát triển.

Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thường xuyên tổ chức thông tin, phổ biến quán triệt các quan điểm, chủ trương chính sách về dân tộc, tôn giáo trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là trong cán bộ, đảng viên, chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo.

Đẩy mạnh công tác giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn khu dân cư, làm cho các dân tộc, tôn giáo gắn bó với quê hương, dân tộc, đất nước, với chủ nghĩa xã hội, hăng hái xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các tổ chức trong hệ thống chính trị phải phân định chức năng, nhiệm vụ công tác dân tộc, tôn giáo rõ ràng, củ thể

Để có sự phối hợp đạt hiệu quả cao, đòi hỏi các tổ chức trong hệ thống chính trị phải phân định chức năng, nhiệm vụ công tác dân tộc, tôn giáo rõ ràng, củ thể, tránh tình trạng lấn sân, chồng chéo hoặc né tránh, đùn đẩy cho nhau. Đồng thời cần coi trọng hơn nữa việc kiện toàn, đổi mới nội dung, phương thức làm việc của ban chỉ đạo công tác tôn giáo ở các địa phương.

Giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa dân tộc, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có công với Tổ quốc và dân tộc, tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào các dân tộc và đồng bào có đạo, tăng cường sự đồng thuận giữa người có và không có tín ngưỡng, tôn giáo; giữa các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau; nâng cao cảnh giác kiên quyết đấu tranh chống các hoạt động tà đạo, mê tín dị đoan, lợi dụng tôn giaios làm phương hại lợi ích của Tổ quốc, dân tộc và nhân dân.

Công tác tôn giáo là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị

 


Đảng luôn có chủ trương, chính sách đúng đắn về tôn giáo. Nhà nước trên cơ sở chủ trương, chính sách của Đảng. Ban hành pháp luật, chính sách cụ thể và tổ chức thực hiện, bảo đảm tôn trọng nhu cầu tự do tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào các dân tộc.Trong đó chú trọng phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm an sinh xã hội đối với đồng bào các dân tộc, tôn giáo ở vùng sâu, vùng xa, các vùng đặc biệt khó khăn. Đồng thời việc giải quyết các vấn đề về hoạt động hợp pháp của các tổ chức tôn giáo, Nhà nước kiên quyết xử lý đối với mọi hành vi truyền đạo trái phép, lợi dụng tôn giáo làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, làm mất trật tự, an toàn xã hội, gây tổn hại đến đạo đức, lối sống, văn hoá, thuần phong mỹ tục của các dân tộc. Xử lý nghiêm những hành vi ngăn cản tín đồ, chức sắc các tôn giáo trong thực hiện nghĩa vụ công dân, những hành vi làm phương hại đến độc lập dân tộc, phá hoại chính sách đại đoàn kết toàn dân, chống Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mặt trận, Đoàn thanh niên, Tổng liên đoàn lao động, Hội cựu chiến binh, Hội Nông dân, Hội Phụ nữ... là những tổ chức có vị trí, vai trò quan trọng, trực tiếp tổ chức triển khai thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước về dân tộc và tôn giáo. Lực lượng vũ trang là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện tuyên truyền, giáo dục cho mọi người dân hiểu rõ và chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo; nắm bắt tình hình dân tộc, tôn giáo để tham mưu với Đảng và Nhà nước về Chính sách dân tộc, tôn giáo và tham gia giả quyết, xử lý các hành động lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch với Việt Nam.

Vì sao nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng?

 


 Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng. Bởi vì:  Từ nguồn gốc ra đời của tôn giáo và sự khác biệt về thế giới quan tôn giáo và CNMLN; Đồng bào các tôn giáo là nhân dân lao động, là quần chúng của Đảng, là lực lượng quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Việt Nam có khoảng 27 triệu tín đồ các tôn giáo. Đó là lực lượng to lớn, vì vậy nếu làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

 Phải làm cho đồng bào các tôn giáo nhận thức đúng, tin và làm đúng đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước. Làm tốt công tác vận động quần chúng sẽ tạo nên sức mạnh to lớn để thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và BVTQ

Thực hiện đoàn kết đồng bào các tôn giáo khác nhau; đoàn kết đồng bào theo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo.

 


Cơ sở của đoàn kết là: “Lấy mục tiêu xây dựng một nước Việt nam hoà bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh làm điểm tương đồng; xoá bỏ mặc cảm, định kiến về quá khứ, thành phần giai cấp, chấp nhận những điểm khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc; đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung… để tập hợp, đoàn kết mọi người vào mặt trận chung, tăng cường đồng thuận xã hội”[1].

 Kiên quyết đấu tranh chống những hành động gây chia rẽ, làm suy yếu khối đại đoàn kết, làm tổn hại đến lợi ích quốc gia dân tộc. Đây là lập trường có tính nguyên tắc trong quan điểm về công tác tôn giáo và quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ đâu là vấn đề tôn giáo, đâu là vấn đề các thế lực thù địch lợi dụng chống phá để có biện pháp xử lý đúng đắn.



[1]  Đảng cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 239- 240.

Vì sao Đảng, Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc

 


 Thứ nhất, đồng bào các tôn giáo là bộ phận của dân tộc. Vì sao? Bởi lẽ:  Đồng bào các  tôn giáo trước hết là người Việt Nam. Vì vậy, ở đồng bào theo tôn giáo có tình yêu quê hương, đất nước, lòng tự hào và ý thức dân tộc sâu sắc. Họ đều mong muốn xoá bỏ áp bức, bóc lột, bất công xã hội, khao khát có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc. Điều đó phù hợp với mục tiêu, lý tưởng cách mạng. Mặt khác, sự nghiệp cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây chính là cơ sở để tập hợp lực lượng, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân vì sự nghiệp cách mạng.

Thứ hai, trong quá trình cách mạng, đồng bào các tôn giáo ngày càng nhận thức sâu sắc lợi ích của bản thân và của dân tộc mình, tôn giáo mình gắn bó với lợi ích của toàn dân tộc và của cách mạng;

 Tự do tín ngưỡng, tôn giáo phải gắn liền và phụ thuộc vào độc lập, tự do của Tổ quốc; Tổ quốc có độc lập, thống nhất thì tôn giáo mới có tự do. Sự thống nhất lợi ích đó là “điểm tương đồng” căn bản, tạo động lực để đồng bào các dân tộc, các tôn giáo một lòng, một dạ theo Đảng làm cách mạng trong đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa hiện nay.

LƯƠNG CỦA LÍNH GIÁ VÔ CÙNG ĐẮT ĐỎ


Nhiều người nói lương của lính rất cao

Khi về hưu biết bao người mơ ước

Chục triệu đồng dân thường đâu có được

Cảm ơn mọi người đã so sánh thiệt hơn!

Khiến người lính chạnh se sắt nỗi buồn

Trong chiến tranh ôi, tính gì lương bổng

Cháy bỏng trong tim tình yêu khát vọng

Chiến đấu quên mình giữ Tổ Quốc yêu thương.

Ước mơ nhỏ nhoi về với đời thường

Dù thương tật với thân hình tàn phế

Hạnh phúc tột cùng được trở về bên mẹ

Cùng người thân mòn mỏi tháng năm chờ

Bao đồng đội vĩnh viễn gửi ước mơ

Khát vọng tương lai tươi hồng ánh lửa

Phút tử ly nắm bàn tay chặt nữa

Lệ tuôn trào vĩnh biệt nhé mình đi

Người ở lại tai văng vẳng thầm thì

Tiếng vọng về từ cõi sâu tâm tưởng

Tình đồng đội là đỉnh cao muôn trượng

Sống vì nhau và chết cũng vì nhau

Sự linh thiêng như một phép nhiệm màu 

Thử hỏi rằng lương bao nhiêu để đổi giành mạng sống

Thịt xương họ hóa cờ sao gió lộng

Phần phật tung bay giữ cột mốc chủ quyền

Các bạn ơi! Những người lính can trường

Bước chân đi từ binh nhì, binh nhất

Thành sĩ quan đời gian nan nếm mật

Trong khốc liệt của khói lửa chiến tranh

Lính thời bình không thiếu sự hy sinh

Tình cảm gia đình vợ con đau ốm

Dù biết vậy lòng lửa sôi sóng cuộn 

Vẫn vững tâm nơi bão tố nghìn trùng

Khi về hưu lương tới chục triệu đồng

Nhưng cái giá thì vô cùng đắt đỏ

Có người lính con thiếu cha dạy dỗ

Khi lớn lên nhiễm cái xấu đau lòng

Có người lính vợ thiếu vắng tình chồng

Không thủy chung đã thay lòng đổi dạ

Có người lính thương tật đầy nghiệt ngã

Sớm ra đi chấm dứt một phận người

Lương bao nhiêu trả cho đủ bạn ơi!

Họ đi lính vì tình yêu Tổ Quốc 

Kẻ yếu hèn một tâm hồn bạc nhược

Đất nước này có hoa nở mùa xuân?


Thơ: Nguyễn Thị Tính

CẢNH GIÁC THỦ ĐOẠN XUYÊN TẠC, BÔI NHỌ CHÍNH SÁCH NGOẠI GIAO CỦA VIỆT NAM

Chính sách ngoại giao của Việt Nam được khẳng định trong các văn kiện của Đảng cũng như các chủ trương, đường lối liên quan, trong đó có những khái niệm được mô tả dễ hiểu, phù hợp đặc trưng của văn hoá Việt Nam như “chính sách ngoại giao cây tre”, “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với các nước”… Trong quan hệ với các nước, Việt Nam luôn đề cao luật pháp quốc tế, sự tin cậy chính trị, đảm bảo nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.