Thứ Hai, 3 tháng 7, 2023

Kiên quyết đấu tranh chống quan điểm sai trái về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

 


            Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản, không chỉ liên quan đến nhận thức, ý chí cách mạng, đường lối, chính sách, mà còn liên quan đến lý tưởng, mục tiêu và phương hướng phát triển của đất nước ta. Lựa chọn mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta không thể là việc làm tùy tiện, cảm hứng chủ quan, mà đây thực sự là vấn đề khoa học nghiêm túc, là trách nhiệm thiêng liêng trước vận mệnh và tương lai của đất nước, của dân tộc.

Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là vấn đề lý luận và thực tiễn rất cơ bản, không chỉ liên quan đến nhận thức, ý chí cách mạng, đường lối, chính sách, mà còn liên quan đến lý tưởng, mục tiêu và phương hướng phát triển của đất nước ta. Lựa chọn mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta không thể là việc làm tùy tiện, cảm hứng chủ quan, mà đây thực sự là vấn đề khoa học nghiêm túc, là trách nhiệm thiêng liêng trước vận mệnh và tương lai của đất nước, của dân tộc.

Con đường xã hội chủ nghĩa là sự lựa chọn đúng đắn của Hồ Chí Minh và Nhân dân ta

Thực tiễn lịch sử tồn tại của chủ nghĩa tư bản là lịch sử đầy máu và nước mắt, bất công và tàn bạo. Đảng và nhân dân ta không chọn con đường tư bản chủ nghĩa là vì thời đại ngày nay không phải là thời đại của chủ nghĩa tư bản và theo quy luật phát triển của lịch sử... Sở dĩ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta lựa chọn và kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, vì đây là con đường phát triển hợp quy luật khách quan của lịch sử nhân loại.

Một trong những nội dung lớn mà các thế lực thù địch tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng là xuyên tạc sự lựa chọn đúng đắn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, làm rõ tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời đấu tranh với các quan điểm sai trái, phản động về vấn đề này là nội dung và nhiệm vụ rất cơ bản của công tác lý luận chính trị, nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Vấn đề này được nhiều người nhất trí, song không phải là không có tiếng nói ngược, nhất là trong tình hình quốc tế chuyển biến nhanh chóng và phức tạp như hiện nay. Đặc biệt là từ sau sự sụp đổ của Liên Xô (cũ) và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, những thế lực chống cộng và không ít kẻ “ăn theo”, “nói leo” được thể lu loa đủ điều rằng: chủ nghĩa xã hội đã chết, chủ nghĩa Mác - Lênin đã lỗi thời, lý tưởng cộng sản chủ nghĩa đã cáo chung...

Ở nước ta, thời gian qua cũng xuất hiện những luận điểm tương tự. Có kẻ cho rằng, con đường xã hội chủ nghĩa mà Hồ Chí Minh đã chọn là con đường tốn xương máu cho cả dân tộc, nếu đi con đường khác thì đã có thể tránh được mấy cuộc chiến tranh tàn khốc! Có kẻ rêu rao rằng, Hồ Chí Minh đem chủ nghĩa Mác - Lênin về Việt Nam quá sớm và đó là nguồn gốc chậm tiến, lạc hậu của Việt Nam, nếu không thì Việt Nam đã là nước giàu mạnh! Không ít kẻ xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, đòi Đảng ta xem xét lại con đường xã hội chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn và kiên trì, thậm chí còn đòi bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã ghi trong điều 4 Hiến pháp... Thực chất của những luận điệu trên là muốn Đảng ta và dân tộc ta từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa, đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Bằng thực tiễn những năm bôn ba tìm đườn cứu nước, đến với chủ nghĩa xã hội khoa học và quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam của lãnh tụ Hồ Chí Minh và bằng thực tiễn sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hơn 90 năm qua đối với cách mạng Việt Nam, chúng ta có đủ căn cứ khoa học để bác bỏ những luận điệu sai trái nêu trên; đồng thời củng cố niềm tin vững chắc vào con đường xã hội chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn.

Như mọi người đều biết, quá trình đến với chủ nghĩa xã hội khoa học và quá trình vận động thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam là quá trình chọn lựa để xác lập quyền lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và con đường cứu nước đi theo xã hội chủ nghĩa. Quá trình đó gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sinh ra và lớn lên ở đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, dân tộc bị chìm đắm trong vòng nô lệ, từ thuở thiếu thời, Hồ Chí Minh đã trực tiếp thấy sự áp bức, bóc lột tàn bạo của thực dân, đế quốc, đã sớm “có chí đuổi thực dân, giải phóng đồng bào”. Người quyết định đi tìm con đường cứu nước theo phương hướng mới. Đây là quyết định sáng suốt, thể hiện tư duy sắc bén và đầy trách nhiệm trước vận mệnh và tương lai của dân tộc Việt Nam.

Trong gần mười năm (1911-1920) bôn ba khắp các châu lục, Hồ Chí Minh thấy rõ sự thống trị vô nhân đạo của chủ nghĩa thực dân, đế quốc và cuộc sống cực khổ, lầm than của những người lao động thuộc mọi màu da. Thắng lợi của Cách mạng Tháng mười Nga năm 1917, việc thành lập Quốc tế Cộng sản năm 1919 và đặc biệt là Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vân đề dân tộc và thuộc địa của Lênin có ảnh hưởng quan trọng đến tư tưởng và hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh. Bởi Luận cương đã giải quyết trọn vẹn vấn đề mà Người đặc biệt quan tâm, đó là cách mạng thuộc địa được đặt trong quỹ đạo của cách mạng xã hội chủ nghĩa, chứ không phải trong quỹ đạo của cách mang tư sản. Tiếp thu Luận cương, Người khẳng định: “Chỉ có chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản mới giải phóng được các dân tộc bị áp bức và những người lao động trên thế giới khỏi ách nô lệ” (1). Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cách mạng đúng đắn giành độc lập cho dân tộc Việt Nam, tiếp nối vĩ đại sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam trên cơ sở sức mạnh mới, sức mạnh của thời đại quá độ lên chủ nghĩa xã hội được mở ra từ Cách mạng Tháng Mười. Về khách quan, đó là phản ánh xu thế tất yếu của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Về chủ quan, đó là phát hiện khoa học của Hồ Chí Minh. Thiên tài của Người là trong bối cảnh chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân thống trị hoàn cầu, chủ nghĩa xã hội còn xa lạ với nhiều dân tộc trên thế giới và cách mạng Việt Nam ở trong “tình hình đen tối như không có đường ra” thì Hồ Chí Minh đã nhận thức được chân lý đó. Tìm ra con đường cứu nước theo phương hướng xã hội chủ nghĩa là công lao vĩ đại đầu tiên của Hồ Chí Minh. Kể từ đây, Người thực hiện một quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội khoa học về Việt Nam, tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam.

Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với Cương lĩnh cách mạng đầu tiên đúng đắn do Hồ Chí Minh soạn thảo đã kết thúc thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước của cách mạng Việt Nam. Cương lĩnh chỉ rõ: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản” (2). Đó là chủ trương cách mạng triệt để, là sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin và quan điểm độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vào hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Cách mạng Việt Nam từ đây có người lãnh đạo đúng đắn là Đảng Cộng sản Việt Nam, được vũ trang bằng học thuyết chủ nghĩa xã hội khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin. Quá trình lựa chọn, xác định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam là quá trình đấu tranh gian khổ. Bản thân phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam phải trải cuộc đấu tranh trong nội bộ chống lại tư tưởng, tâm lý tiểu tư sản, tự do, tản mạn, đồng thời phải đấu tranh quyết liệt với kẻ thù xâm lược. Nhiều chiến sĩ cộng sản và những người yêu nước đã phải vào tù ra tội, phải rơi đầu trên máy chém, nhưng vẫn tin tưởng vững chắc vào mục tiêu, lý tưởng và con đường xã hội chủ nghĩa mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.       

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là con đường đúng đắn, đúng quy luật tiến hóa của lịch sử nhân loại, là sự lựa chọn sáng suốt có ý nghĩa thời đại, thể hiện trí tuệ anh minh chính trị sáng suốt, tình cảm giai cấp và dân tộc tuyệt vời của Hồ Chí Minh. Mục tiêu xã hội chủ nghĩa được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam nhận thức và vận dụng trong từng thời kỳ lịch sử cụ thể với những nhiệm vụ, bước đi và phương pháp phù hợp nên giành được những thắng lợi vẻ vang, đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đất nước giàu mạnh, văn minh.       

Đảng và Nhân dân kiên định con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam    

Ngay trong Chánh cương vắn tắt do Hồ Chí Minh soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã nêu: "Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản". Chính cương Đảng Lao động Việt Nam được thông qua tại Đại hội lần thứ II của Đảng tháng 2-1951 cũng nêu: "Cách mạng Việt Nam hiện nay là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội". Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) kết luận: "Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã là bài học xuyên suốt cách mạng nước ta". Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) một lần nữa khẳng định: "Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử". Nêu lại những điểm trên đây để khẳng định tính đúng đắn, nhất quán và sự kiên định của Đảng và dân tộc ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, bởi đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam, ngoài ra không có con đường nào khác.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, năm 1991, Đảng ta dề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Từ năm 1991 đến nay, tình hình thế giới và trong nước đã có những biến đổi to lớn và sâu sắc. Nhiều vấn đề mới nảy sinh, nhiều nội dung liên quan được Đảng ta nhận thức sâu sắc và giải quyết có hiệu quả, trong đó có nhận thức về xu thế phát triển của lịch sử và tính đúng đắn của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được phản ánh trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Trong đó, Cương lĩnh khẳng định: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội" (3).

Trên nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và từ thực tiễn công cuộc đổi mới vừa qua, Đảng ta nhận thức rõ hơn việc xác định đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Vì đây là định hướng để Đảng và Nhà nước ta hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách nhằm hiện thực hóa mục tiêu chủ nghĩa xã hội trên đất nước Việt Nam thân yêu của chúng ta. Trong Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Đảng ta xác định tám đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, đó là: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới" (4). Tám đặc trưng trên là kết quả của đổi mới nhận thức lý luận về chủ nghĩa xã hội phù hợp với thực tiễn Việt Nam, là thành quả kết hợp hài hòa giữa "cái phổ biến" và "cái đặc thù", thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta xây dựng, mang sắc thái riêng của mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam và sẽ được từng bước hiện thực hóa trong cuộc sống. Sự chuyển biến của tình hình quốc tế và thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta trong thời gian tới sẽ cung cấp thêm những căn cứ để Đảng ta bổ sung những nhận thức mới về mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

 Mục tiêu tổng quát để khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng và văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc. Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta ra sức phấn đấu cho mục tiêu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại. Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, cần quán triệt các phương hướng và nhiệm vụ cơ bản sau: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên môi trường; phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường, mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.           

Trong quá trình thực hiện các định hướng nêu trên, “chúng ta cần tiếp tục nắm vững và xử lý tốt các mối quan hệ lớn: Giữa ổn định, đổi mới và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa tuân theo các quy luật thị trường và bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa nhà nước, thị trường và xã hội; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và nhân dân làm chủ” (5), đặc biệt là mối quan hệ mới được Đai hội lần thứ XIII của Đảng bổ sung là mối quan hệ giữa thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội. Đó là những mối quan hệ lớn, phản ánh các quy luật mang tính biện chứng, những vấn đề lý luận cốt lõi về đường lối đổi mới của Đảng ta, cần tiếp tục bổ sung, hoàn thiện và phát triển phù hợp với thay đổi của thực tiễn; đòi hỏi Đảng và nhân dân ta phải nhận thức đúng và đầy đủ, quán triệt sâu sắc và thực hiện tốt, có hiệu quả, tuyệt đối không được cực đoan, phiến diện.

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta là người lãnh đạo công cuộc đổi mới, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, chính là làm cho mục tiêu này thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về chủ nghĩa xã hội với những hình thức, bước đi và biện pháp phù hợp, tiếp tục phát huy những thành quả đã đạt được, sửa chữa những sai lầm, khuyết điểm nhằm đạt những thành tựu to lớn và vững chắc hơn trong việc thực hiện những mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp mà Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) và Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đã đề ra. Đặc biệt là hết sức tránh nôn nóng, phiến diện, cực đoan, duy ý chí.

Thực tiễn cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong hơn 90 năm qua là quá trình thực hiện và hoàn thiện dần mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta và dân tộc đã lựa chọn. Một lần nữa chúng ta khẳng định: đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta và nhân dân ta. Đó là tuyên ngôn chính trị mang tầm chiến lược phát triển của đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; là mục tiêu, lý tưởng và tình cảm của Đảng và dân tộc ta; là nền tảng lý luận, chính trị, tư tưởng, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước, của cả hệ thống chính trị nước ta hiện nay cũng như trong tương lai; đồng thời phải đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái, phản động, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Vì thế, phải làm cho nhân dân ta tin tưởng vững chắc vào con đường xã hội chủ nghĩa, vào một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc; đồng thời phải tích cực đấu tranh và phản bác những quan điểm sai trái, phản động, xuyên tạc về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam./.

          V3.

 

Không thể phủ nhận ý nghĩa và giá trị của phong trào thi đua yêu nước

 


(TG) - 75 năm sau khi ra Lời kêu gọi thi đua ái quốc (11/6/1948-11/6/2023), tư tưởng Hồ Chí Minh về mục đích, nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức các phong trào thi đua yêu nước thiết thực, hiệu quả phù hợp với nhiệm vụ của từng giai đoạn dưới sự lãnh đạo của Đảng vẫn vẹn nguyên giá trị thời sự.

 

Bất chấp sự xuyên tạc của các phần tử cơ hội, phản động, các thế lực thù địch thì sức sống và giá trị không thể phủ nhận của phong trào thi đua yêu nước trong những thập niên qua chính là minh chứng sinh động nhất bác bỏ những luận điệu phản động, bôi đen sự thật về thi đua yêu nước được tung lên mạng xã hội thời gian qua!

THI ĐUA YÊU NƯỚC ĐỂ GÂY “HẠNH PHÚC CHO DÂN”

Trong Lời kêu gọi thi đua ái quốc ngày 11/6/1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rằng:  Mục đích của thi đua là để “Diệt giặc đói, Diệt giặc dốt, Diệt giặc ngoại xâm”[1] nhằm thực hiện “Dân tộc độc lập, Dân quyền tự do, Dân sinh hạnh phúc[2]. Vì thế, để thi đua trở thành phong trào cách mạng của quần chúng, phát triển rộng rãi, sôi nổi, ăn sâu, lan rộng khắp về mọi mặt, thì “cách làm là dựa vào: Lực lượng của dân, Tinh thần của dân, để gây: Hạnh phúc cho dân[3] và “các cụ phụ lão thi đua đốc thúc con cháu hăng hái tham gia công việc, Các cháu nhi đồng thi đua học hành và giúp việc người lớn, Đồng bào phú hào thi đua mở mang doanh nghiệp, Đồng bào công nông thi đua sản xuất, Đồng bào trí thức và chuyên môn thi đua sáng tác và phát minh, Nhân viên Chính phủ thi đua tận tụy làm việc, phụng sự nhân dân, Bộ đội và dân quân thi đua giết cho nhiều giặc, đoạt cho nhiều súng[4]...

Sau lời kêu gọi thi đua yêu nước của Người, những năm sau đó (trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ, cứu nước) trên khắp mọi miền của Tổ quốc, các phong trào thi đua yêu nước không chỉ là động lực của sự phát triển, là biện pháp quan trọng để xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa, mà còn là một nhân tố quan trọng góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. Rất giản dị và ngắn gọn, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh rằng “công việc hàng ngày chính là nền tảng thi đua”[5] và thi đua là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của các tầng lớp nhân dân; là phát huy sự năng động, khả năng sáng tạo, tính tích cực, kỷ luật, tinh thần đoàn kết, truyền thống yêu nước của mỗi người, mỗi tập thể để hoàn thành tốt những nhiệm vụ được giao, cho nên “thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua. Và những người thi đua là những người yêu nước nhất[6].

Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về thi đua yêu nước, thì thi đua chính là động lực để phát huy lòng yêu nước và thông qua phong trào thi đua để bồi dưỡng, nâng cao lòng yêu nước, làm cho lòng yêu nước trở nên sinh động trong thực tiễn bằng chính suy nghĩ, hành động cụ thể, tích cực, sáng tạo của mỗi cá nhân, mỗi tập thể trên mọi lĩnh vực của cuộc sống. Vì thi đua “là một cách yêu nước thiết thực và tích cực” và yêu nước không chỉ là tình cảm thiêng liêng của mỗi người dân; luôn gắn liền với bổn phận, trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước, mà còn là một truyền thống quý báu của dân tộc, là một giá trị tinh thần, luôn luôn đồng hành cùng dân tộc trong hành trình dựng nước và giữ nước, cho nên “thi đua ái quốclà ích lợi cho mình, ích lợi cho gia đình mình và lợi ích cho làng cho nước, cho dân tộc”[7], chứ không phải là “lợi dụng công tác thi đua để thực hiện mục đích cá nhân”; là xuyên tạc tính tích cực và bản chất thi đua thành “ganh đua”, “tranh đoạt” như các thông tin xấu độc bôi đen sự thật.

Thực tế cũng cho thấy, điều đặc biệt để làm nên thắng lợi của các phong trào thi đua yêu nước theo tư tưởng Hồ Chí Minh chính là “1. Thi đua ái quốc phải có phương hướng đúng và vững. Nghĩa là phải nâng cao lòng nồng nàn yêu nước và giác ngộ chính trị của mọi người. Yêu nước thì phải thi đua, thi đua tức là yêu nước. 2. Phải có kế hoạch tỉ mỉ. Kế hoạch ấy phải do từng đơn vị nhỏ, từng gia đình, từng cá nhân bàn bạc kỹ, hiểu biết thấu, vui vẻ làm. Nghĩa là phải sao cho mỗi nhóm, mỗi người tự giác tự động. 3. Nội dung của kế hoạch phải thiết thực, rõ ràng, đúng mực. Khi đặt kế hoạch phải tuyệt đối tránh sự sơ suất "đại khái", quá cao, phiền phức, miễn cưỡng. 4. Thi đua không nên thiên về một phía. Phải điều hoà 3 nhiệm vụ với nhau: Tăng gia sản xuất, công việc hằng ngày và học tập (chính trị, văn hoá, tình hình trong nước và thế giới). 5. Thi đua phải có sự lãnh đạo đúng. Trước khi thi đua phải chuẩn bị đầy đủ (giải thích, cổ động, xét kỹ kế hoạch mỗi nhóm, mỗi người). Trong lúc thi đua, phải thiết thực đôn đốc, giúp đỡ, sửa đổi. Sau đợt thi đua, phải thiết thực kiểm tra, tổng kết, phổ biến kinh nghiệm, khen thưởng những người kiểu mẫu, nâng đỡ những người kém cỏi”[8]… 

Đi liền cùng đó là phải làm tốt công tác tư tưởng, vận động, tuyên truyền để toàn dân hiểu rõ, tự nguyện, tích cực tham gia phong trào, vì “tinh thần yêu nước cũng như các thứ của quý (...) Bổn phận của chúng ta là làm cho những của quý kín đáo ấy đều được đưa ra trưng bày. Nghĩa là phải ra sức giải thích, tuyên truyền, tổ chức, lãnh đạo, làm cho tinh thần yêu nước của tất cả mọi người đều được thực hành vào công việc yêu nước”[9]. Trong quá trình triển khai thực hiện, phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền và các đoàn thể nhân dân để phong trào phát triển đúng mục đích, mục tiêu chung đã định theo đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhằm nhân nguồn sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc trên mọi chặng đường cách mạng. 

Vì thế, sự tham gia tích cực của các tầng lớp nhân dân; sự phát triển ngày càng sâu, rộng của phong trào thi đua yêu nước không chỉ chứng minh quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Dưới chế độ tư bản, thực dân và phong kiến quyết không thể có phong trào thi đua yêu nước” và “chỉ có dưới chế độ dân chủ nhân dân và xã hội chủ nghĩa, dưới chế độ và nhân dân lao động làm chủ nước nhà, thì mới có phong trào thi đua”[10] là đúng đắn, mà còn đồng thời cho thấy thi đua yêu nước theo chỉ dẫn của Người vừa thiết thực, dễ hiểu lại vừa sâu sắc, toàn diện, dễ đi vào cuộc sống, nên có sức quy tụ, hấp dẫn đông đảo quần chúng nhân dân. 

BÁC BỎ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ THI ĐUA YÊU NƯỚC

Sự phát triển phong phú, đa dạng, thường xuyên, liên tục, thiết thực, hiệu quả của các phong trào thi đua yêu nước trong 75 năm qua không chỉ khẳng định rằng thi đua “là một cách yêu nước thiết thực và tích cực” chứ không phải là “tranh giành” mà còn “là một cách rất tốt, rất thiết thực để làm cho mọi người tiến bộ. Thi đua giúp cho đoàn kết chặt chẽ thêm. Và đoàn kết, chặt chẽ để thi đua mãi. Vì vậy, thật thà tự phê bình và thân ái phê bình là một lực lượng để đẩy mạnh thi đua”[11]. Thi đua là đoàn kết vì mục tiêu chung, chứ không phải là sử dụng các “mánh khóe và thủ đoạn” dẫn đến “phá nát xã hội”; là “tìm cách triệt hạ người khác, hay ít nhất là bước lên đầu nhau mà sống” và như các luận điệu phản động bịa đặt, bôi đen.

Thực tế, hiểu một cách ngắn gọn nhất thì thi đua là cùng nhau đem hết tài năng, sức lực của con người để không chỉ “đua nhau làm” mà còn “nhằm thúc đẩy lẫn nhau đạt thành tích tốt nhất trong một lĩnh vực hoạt động nào đó”. Đó là hoạt động sáng tạo, tích cực của mỗi con người, của từng tổ chức, địa phương, cơ quan đơn vị trên mọi lĩnh vực của cuộc sống (lao động, sản xuất, học tập, chiến đấu…); “là hoạt động có tổ chức với sự tham gia tự nguyện của cá nhân, tập thể nhằm phấn đấu đạt được thành tích tốt nhất trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (khoản 1 Điều 3) và “nhằm tạo động lực động viên, lôi cuốn, khuyến khích mọi cá nhân, tập thể phát huy truyền thống yêu nước, năng động, sáng tạo vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (Điều 5) của Luật Thi đua, khen thưởng 2003 (sửa đổi 2005, 2013). Vì thế, thi đua là một trong những biểu hiện của lòng yêu nước, của tinh thần, ý chí và sự nỗ lực, hy sinh phấn đấu của mỗi người dân vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, tự do, hạnh phúc, chứ không phải vì “sự khốc liệt trong cạnh tranh để đạt thành tích chứ không phải ở mục đích tạo ra giá trị bằng việc phát triển năng lực nhiều mặt của con người”; lại càng không phải là thi đua yêu nước “phá hủy từng con người, biến họ thành những kẻ xấu từ trong động cơ cho đến việc làm”; đồng thời, làm cho môi trường công tác, xã hội trở nên “ngột ngạt, gian dối, tiểu xáo, kèn cựa, đấu đá”, dẫn đến “làm mục ruỗng xã hội từ bên trong bởi sự xuống cấp trông thấy mỗi ngày”.

Thực tế cũng cho thấy, các phong trào thi đua yêu nước từ: “Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm”; “Bình dân học vụ”; “Hũ gạo kháng chiến”; “Chiến sĩ ở trước mặt trận thi đua giết giặc lập công, đồng bào ở hậu phương thi đua tăng gia sản xuất”; “Ruộng rẫy là chiến trường, cuốc cày là vũ khí, nhà nông là chiến sĩ, hậu phương thi đua với tiền phương”; “Ba nhất” trong Quân đội; “Gió Đại Phong” trong nông nghiệp; “Sóng Duyên Hải” trong công nghiệp; “Hai tốt” trong ngành giáo dục; “Ba sẵn sàng” và “Năm xung phong” trong thanh niên; “Ba đảm đang” trong phụ nữ; “Thi đua Ấp Bắc giết giặc lập công”, “Dũng sĩ diệt Mỹ”, “Tìm Mỹ mà đánh, tìm Ngụy mà diệt” hay “Mỗi người làm việc bằng hai, vì miền Nam ruột thịt”… cho đến “Lao động giỏi - Lao động sáng tạo” của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam; “Cựu chiến binh gương mẫu” của Hội Cựu chiến binh Việt Nam; Thi đua Quyết thắng”, “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” trong quân đội; “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”, “Công an nhân dân học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy”, “Xây dựng phong cách người Công an nhân dân bản lĩnh, nhân văn, vì nhân dân phục vụ” trong Công an hay “Cả nước chung sức xây dựng nông thôn mới”, “Doanh nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển”, “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”, “Cán bộ, công chức, viên chức thi đua thực hiện văn hóa công sở”… lan tỏa sâu rộng từ Trung ương đến địa phương, ở tất cả các cấp, các ngành; trên khắp mọi miền của Tổ quốc trải dài từ sau ngày 2/9/1945 đến nay. Những phong trào nêu trên đã minh chứng: Thi đua yêu nước không chỉ trở thành động lực quan trọng, góp phần thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, mà còn được nâng lên một tầm cao mới, mang hơi thở của thời đại mới.

Bản chất của thi đua là yêu nước, nên khi đã hiểu rõ kế hoạch, mục đích, nội dung cách thức thi đua thì mỗi cá nhân, tập thể sẽ cùng nhau đoàn kết, nỗ lực phấn đấu để vượt qua mọi khó khăn; là “làm phát triển tinh thần đoàn kết giữa tất cả các tầng lớp nhân dân”; là thực hiện tự phê bình và phê bình nghiêm túc để sửa chữa tất cả mọi khuyết điểm, “cải tạo con người”… Vì thế, việc viện dẫn một ví dụ về thi đua trong ngành giáo dục hay cho rằng các phong trào thi đua yêu nước hiện nay chỉ là hình thức, qua loa, chạy theo số lượng phong trào, thậm chí là cào bằng, không thực chất hay là “chạy thi đua bằng mọi cách có thể”, vì “thi đua gắn chặt với quyền lợi của mỗi người về mọi mặt, từ vật chất, thăng tiến, đến cả sự yên ổn, an toàn” nên “sinh ra cạnh tranh, tị hiềm, đấu đá, ghen ghét, phá vỡ quan hệ tốt đẹp giữa các đồng nghiệp” là bẻ cong sự thật, là suy diễn mang tính chủ quan của các phần tử phản động. 

Trên thực tế, thi đua không chỉ giúp cho mọi người tiến bộ mà còn làm tăng cường tình đoàn kết, sự tương trợ giúp đỡ lẫn nhau; không chỉ “đoàn kết chặt chẽ để thi đua mãi” mà còn cổ vũ, phát huy sức sáng tạo, lòng nhân ái, vẻ đẹp tâm hồn, tình đoàn kết của người Việt trong thời đại mới. Vì thế, thi đua yêu nước không phải là “phá vỡ” tình người, là “làm hỏng đi sự kết nối lành mạnh giữa người với người” và “gây ra những bức xúc ngầm” trong nội bộ. Cùng với đó, việc một số người nhân danh dân chủ, “chuộng dân chủ tư sản” cho rằng thi đua ở Việt Nam không phải là tự nguyện mà là “bắt buộc phải làm”, nên “thi đua là con đẻ của nỗi sợ hãi tự do” và mang các phong trào thi đua yêu nước so sánh với phương Tây, với việc lý giải rằng “họ không có thi đua, không ai phải thi đua với ai để tồn tại cả” mà vẫn phát triển không ngừng với nhiều phát minh, sáng chế, các thành tựu mọi mặt về khoa học, nghệ thuật… cũng chỉ là sự suy diễn một chiều.

Ở Việt Nam, thi đua yêu nước là để phấn đấu vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, dân chủ và ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc; là để nhằm “khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, ý chí tự cường và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[12], cho nên các phong trào này luôn nhận được sự hưởng ứng rộng khắp, sôi nổi của các tầng lớp nhân dân. 

Những thập niên gần đây, các phong trào thi đua yêu nước gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, với các cuộc vận động do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động, với việc triển khai Chỉ thị số 03-CT/TW ngày 14/5/2011 của Bộ Chính trị khóa XI về "Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh", Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận số 01-KL/TW ngày 18/5/2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW ngày 15/5/2016 của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" trong cả hệ thống chính trị và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay", Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về “Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" cùng Quy định số 08-QĐi/TW ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Uỷ viên Bộ Chính trị, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương… ngày càng được tổ chức và thực hiện sáng tạo, linh hoạt với các nội dung cụ thể, thiết thực, hình thức phong phú trên mọi lĩnh vực, trên khắp mọi miền của Tổ quốc. 

Thi đua yêu nước là một phong trào cách mạng rộng rãi, thiết thực được lãnh đạo, chỉ đạo bởi các cơ quan, ban, ngành chức năng; được tổ chức thực hiện theo kế hoạch, với các hình thức phù hợp trong cả hệ thống chính trị, chứ không phải là “đặt sự vận động của xã hội trên nền của sự hơn thua giữa các cá nhân”; là sự “ganh đua” để “triệt hạ người khác” vì thành tích như các phần tử cơ hội, phản động, các thế lực thù địch xuyên tạc./.

          V3.

Không thể phủ nhận vai trò của Quân đội trong tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước

 


            Quân đội tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước là biểu hiện chức năng “đội quân lao động sản xuất”, thể hiện bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam. Lý luận và thực tiễn đã chứng minh việc Quân đội tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước là phù hợp với quy luật và điều kiện Việt Nam. Song, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm mọi cách phủ nhận vấn đề này.

Cụ thể, theo các thế lực thù địch, phản động, “Quân đội tham gia phát triển sản xuất chỉ phù hợp với thời chiến, khi điều kiện khó khăn. Hiện nay kinh tế đất nước đã phát triển, Quân đội không nên tham gia làm kinh tế để tập trung bảo vệ Tổ quốc”; “Quân đội không cần thiết phải lao động sản xuất vì đã được ngân sách Nhà nước bảo đảm”… Với góc nhìn phiến diện, chúng cho rằng, việc duy trì các nhà máy sản xuất hàng quốc phòng của Quân đội là “vừa đá bóng, vừa thổi còi”, do “lợi ích nhóm chi phối”. Nguy hiểm hơn, các thế lực thù địch, phản động còn cố tình đánh đồng một số hạn chế, vi phạm trong quản lý đất quốc phòng hay những tồn tại, sai phạm ở số ít doanh nghiệp Quân đội với bản chất, ý nghĩa việc Quân đội tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước. Từ đó “đề xuất”: “Quân đội chỉ nên tập trung vào huấn luyện”; “Quân đội không nên tổ chức lao động sản xuất”; “Không nên kết hợp kinh tế với quốc phòng”; …

Thực chất, phía sau những luận điệu sai trái nói trên chính là âm mưu thâm độc của các thế lực phản động, thù địch. Mục đích hướng đến của các luận điệu đó là nhằm xuyên tạc chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế của Đảng ta. Đồng thời, phủ nhận chức năng đội quân lao động sản xuất của Quân đội ta trong giai đoạn hiện nay; làm suy giảm niềm tin của nhân dân, phá vỡ khối đoàn kết quân - dân. Sâu xa hơn, các thế lực thù địch, phản động cố tình phủ nhận kết quả tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế quốc gia của Quân đội ta. Qua đó, kìm hãm sự phát triển nền công nghiệp lưỡng dụng; hạn chế các nguồn lực cho quá trình hiện đại hóa quốc phòng an ninh; làm suy giảm tiềm lực quân sự quốc phòng và sức mạnh bảo vệ Tổ quốc của Việt Nam…

Liên quan đến các luận điệu nêu trên, cần khẳng định rõ, cả lý luận và thực tiễn xây dựng, phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam trong gần 80 năm qua đều cho thấy, Quân đội tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế quốc gia là phù hợp với quy luật và điều kiện Việt Nam. Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin đã nêu rõ: “Nói chung, quân đội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế” (1). Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tham gia sản xuất là một nhiệm vụ vẻ vang mà Đảng và Chính phủ giao cho Quân đội” (2). Theo Người, Quân đội phải tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế để góp phần phát triẻn kinh tế, giảm bớt một phần đóng góp của nhân dân. Bác cũng yêu cầu, “đẩy mạnh công tác nghiên cứu và phổ biến khoa học và kỹ thuật một cách có trọng điểm, có từng bước vững chắc, nhằm phục vụ sản xuất, phục vụ dân sinh, phục vụ quốc phòng” (3).

Thực tiễn lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam cho thấy, ông cha ta đã sớm thực hiện việc kết hợp kinh tế với quốc phòng được thể hiện trong chính sách “ngụ binh ư nông” của các thời Lý, Trần, Lê. Với phương châm “tĩnh vi dân, động vi binh”, việc gắn kinh tế với quốc phòng đã giúp các triều đại phong kiến có điều kiện bồi dưỡng sức dân, phát huy vai trò của lực lượng quân đội trong phát triển sản xuất nông nghiệp, tăng cường sức mạnh của đất nước trước âm mưu xâm lược của các thế lực ngoại bang.

Trong thời đại Hồ Chí Minh, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội nhân dân Việt Nam đã vừa thực hiện tốt nhiệm vụ huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, vừa tham gia có hiệu quả trong lao động sản xuất, phát triển kinh tế, phù hợp với mỗi giai đoạn lịch sử cụ thể. Nổi bật là sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, gần 8 vạn cán bộ, chiến sĩ đã được chuyển sang làm nhiệm vụ sản xuất, xây dựng kinh tế; trực tiếp tham gia xây dựng những công trình trọng điểm của đất nước, như: Khu công nghiệp Việt Trì, Đại thủy nông Bắc Hưng Hải... Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, việc thực hiện “tăng gia quanh vườn” với khẩu hiệu “thực túc, binh cường” đã góp phần bảo đảm bữa ăn cho hàng vạn cán bộ, chiến sĩ. Tiếp đó, khi đất nước nhất, Quân đội cũng là lực lượng tiên phong trên mặt trận xây dựng kinh tế, hàn gắn vết thương chiến tranh.

Đặc biệt, trong giai đoạn cách mạng mới, thấm nhuần quan điểm của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, Quân đội đã thực hiện tốt chức năng “đội quân lao động sản xuất” thông qua việc tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển, đảo, vùng đặc biệt khó khăn. Điển hình là hiệu quả thu được ở các khu kinh tế - quốc phòng do Quân đội xây dựng, quản lý. Tính chung trên cả nước, các khu kinh tế - quốc phòng đã xây dựng mới 1.300 điểm dân cư tập trung với hơn 98.000 hộ dân. Qua đó, vừa giúp đồng bào ổn định đời sống, phát triển sản xuất, vừa tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân trong bảo vệ Tổ quốc.

Chủ động hội nhập nền kinh tế quốc gia, trong những năm gần đây, các doanh nghiệp Quân đội đã luôn tích cực tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước. Doanh thu và lợi nhuận của các doanh nghiệp tăng trưởng bền vững, doanh thu đạt 268 nghìn tỷ đồng, lợi nhuận đạt 43 nghìn tỉ đồng, (tính đến hết năm 2021), đạt 103,8% theo kế hoạch, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế đối với nhà nước; bảo toàn và phát triển vốn nhà nước; bảo đảm tốt việc làm và nâng cao đời sống cho người lao động; góp phần quan trọng giúp nâng cao tiềm lực quân sự, quốc phòng, hiện đại hóa Quân đội (4). Tiêu biểu là các doanh nghiệp: Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội, các Tổng công ty: Tân cảng Sài Gòn, Xăng dầu Quân đội, Than Đông Bắc…

Bên cạnh những kết quả tích cực, chúng ta không phủ nhận những sai phạm, tồn tại trong quản lý, điều hành ở một số doanh nghiệp, đơn vị Quân đội làm kinh tế. Những sai phạm, tồn tại này xuất phát từ các nguyên nhân chủ quan, khách quan khác nhau và đã được xử lý nghiêm minh; hoàn toàn không phải do chủ trương của Đảng trong việc kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế như các thế lực thù địch đang cố tình xuyên tạc. Thực tế, Quân đội tham gia xây dựng kinh tế là kết hợp, phục vụ nhiệm vụ xây dựng quốc phòng, củng cố sức mạnh quốc phòng, gia tăng tiềm lực của quốc gia, tích cực góp phần phát triển tính tự chủ của đất nước trong trang bị khí tài quân sự, quốc phòng và trực tiếp tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Các doanh nghiệp quốc phòng đã xây dựng những khu vực kinh tế quốc phòng, hình thành thế trận bố trí chiến lược quân sự quốc phòng vững chắc, đặc biệt tại các địa bàn trọng yếu, quan trọng của đất nước.

Hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới đòi hỏi chúng ta cần chủ động đấu tranh, làm thất bại các luận điệu sai trái, phủ nhận vai trò của Quân đội trong tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước. Theo đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của toàn xã hội về tính tất yếu, ý nghĩa việc Quân đội trong tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước. Công tác tuyên truyền, giáo dục cần được tiến hành thường xuyên, bằng nhiều biện pháp, với các hình thức phong phú, đa dạng, phù hợp với từng đơn vị, địa bàn. Vạch trần các luận điệu phản động, sai trái liên quan đến vấn đề này.

Cùng với đó, cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các doanh nghiệp Quân đội cần quán triệt sâu sắc, thực hiện đầy đủ quan điểm của Đảng về kết hợp kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế. Trọng tâm là Nghị quyết số 820-NQ/QUTW ngày 17/12/2021 của Quân ủy Trung ương về “Lãnh đạo nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp quốc phòng của Quân đội đến năm 2030”.

Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, hoàn chỉnh cơ chế bảo đảm thuận lợi cho các doanh nghiệp Quân đội tham gia phát triển sản xuất, xây dựng kinh tế đất nước. Đổi mới cơ chế điều hành, đầu tư nâng cao hiệu quả xây dựng Khu kinh tế quốc phòng và hoạt động của Đoàn kinh tế quốc phòng ở địa bàn chiến lược, biên giới, biển, đảo. Đẩy mạnh tái cơ cấu các doanh nghiệp, đơn vị Quân đội làm kinh tế; tập trung phát triển các doanh nghiệp quốc phòng lưỡng dụng đảm bảo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Tiếp tục xây dựng, bổ sung hoàn thiện chiến lược, kế hoạch sản xuất kinh doanh, đầu tư phát triển 05 năm, giai đoạn 2021 - 2025 phù hợp với đặc điểm, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Quân đội. Quá trình tham gia phát triển kinh tế, các doanh nghiệp quốc phòng cần thường xuyên tăng cường mối quan hệ gắn bó với chính quyền, nhân dân địa phương; giữ vững ổn định chính trị; coi trọng bảo vệ tài nguyên, môi trường, thực hiện phát triển bền vững vì lợi ích nhân dân và vì sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Trên cơ sở đó, tiếp tục giữ vững hình ảnh tốt đẹp người “Bộ đội Cụ Hồ” trong chiến đấu và trong lao động sản xuất; góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong tình hình mới./.

            V3.

Không mơ hồ, lẫn lộn giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do

 


Một trong những luận điệu thiếu thiện chí của một số tổ chức, cá nhân đối với Việt Nam là xuyên tạc ở đất nước Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, lập luận của họ đa phần có sự đánh tráo khái niệm giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn luận tự do, báo chí tự do.

Ý nghĩa chân chính của tự do ngôn luận, tự do báo chí

Vốn dĩ tự do là quyền cơ bản của con người, nhưng cùng với đó là nhận thức và hành xử phù hợp với cộng đồng, quốc gia, dân tộc, để tôn trọng quyền tự do của người khác và tuân thủ pháp luật. Điều 29 trong “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.

Tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai khái niệm trong cùng lĩnh vực, chỉ khác nhau về cấp độ. Báo chí là diễn đàn trong một xã hội phát triển, để mọi công dân, mọi tầng lớp, mọi độ tuổi, giới tính, ngành nghề khác nhau được quyền phát ngôn, bày tỏ tư tưởng, ý kiến, thể hiện hành động và báo chí trở thành nơi mà tự do ngôn luận thể hiện tập trung, mạnh mẽ và được lan tỏa nhiều nhất.

Cũng chính vì thế, tự do báo chí trở thành mối quan tâm đặc biệt ở mọi nơi, mọi quốc gia, mọi thể chế chính trị-xã hội. Dù ở nền báo chí tư bản hay báo chí xã hội chủ nghĩa, thì báo chí đều có những chức năng chung như: Thông tin, phản ánh, hình thành và định hướng dư luận xã hội, giáo dục, giải trí...

Những chức năng cơ bản này tạo ra cho báo chí một trách nhiệm xã hội, vì sự tiến bộ và phát triển chung của xã hội, hướng tới những giá trị hạnh phúc phổ quát của con người. Vì vậy, khi thực hiện quyền tự do báo chí cũng phải gắn với các chức năng đó, không đi ngược lại các giá trị chân lý, đạo đức, văn hóa, không chống lại an ninh chung của cộng đồng, không trái với xu thế tiến bộ của nhân loại.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời giải thích rất rành mạch về tự do ngôn luận, tự do báo chí như sau: “Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý... Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý”. Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí chân chính phải đặt trên nền tảng một xã hội dân chủ, tốt đẹp, nhân văn, mọi hoạt động báo chí đều phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân.

Không có tự do báo chí thuần túy, tuyệt đối, đứng bên ngoài xã hội, cộng đồng, thể chế chính trị và bị bóp nghẹt trong chế độ độc tài, khi nhà cầm quyền đã trở thành vật cản bước tiến xã hội. Không có quyền nào vượt lên ở mức cao hơn chế độ kinh tế và sự phát triển xã hội do chế độ kinh tế đó quy định. Chỉ có tự do báo chí trong xã hội dân chủ, khi giai cấp cầm quyền có vai trò tiến bộ dẫn dắt xã hội.

Trong thực tiễn, hầu hết mọi thể chế chính trị khác nhau đều coi việc chống lại nhà cầm quyền là vi phạm pháp luật và không có nơi nào có văn bản coi tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối. Khi là Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon từng nói: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó sẽ không được bảo vệ”.

Cảnh giác mưu đồ cổ xúy “ngôn luận tự do, báo chí tự do”


Trong các luận điệu chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí, có thể thấy các lập luận đã cố tình tập trung vào vế đầu của “Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền” năm 1948, khẳng định tự do tư tưởng, tự do xuất bản là quyền cơ bản của con người, mà bỏ đi vế sau là quyền tự do đó nằm trong khuôn khổ pháp luật và thể chế mỗi quốc gia.

Thay vì xem xét các mối quan hệ giữa Hiến pháp, pháp luật và hoạt động báo chí thực tiễn, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí chỉ tập trung vào các vụ việc và cá nhân cụ thể để xuyên tạc về tự do ngôn luận, tự do báo chí của Việt Nam. Khái niệm mà họ sử dụng chính là "ngôn luận tự do", "báo chí tự do", gần với khái niệm tự do tuyệt đối, không có giới hạn.

Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) nhiều năm gần đây xếp Việt Nam ở vị trí gần cuối bảng xếp hạng về tự do báo chí của 180 quốc gia, với những lý do chủ yếu là “đàn áp các blogger”, “bắt giam các nhà báo”, nhưng trong những vụ việc này, các đối tượng bị bắt giữ đều có hành vi lợi dụng các quyền tự do dân chủ để đưa tin sai sự thật, tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước, xuyên tạc tình hình kinh tế-xã hội ở Việt Nam.

Trên một kênh truyền thông ở hải ngoại thiếu thiện chí, khi bình luận về Việt Nam gần đây, có một bài viết về bảng xếp hạng của RSF. Nhưng tổ chức RSF lại không đưa ra được khái niệm hay cách hiểu nào về tự do báo chí. Nếu họ cho rằng không thể bắt giữ các nhà báo và cho rằng không ai đáng bị bắt vì lý do tham gia ngôn luận, thì có lẽ họ đã bỏ qua hoàn toàn việc hoạt động báo chí phải nằm trong khuôn khổ pháp luật. Với cách lập luận như vậy, họ đang cổ xúy cho ngôn luận tự do, báo chí tự do mà không chịu bất cứ trách nhiệm xã hội nào.

Trong vụ việc bắt giữ một nữ nhà báo gần đây, có thể thấy rõ trong thời gian dài, nhà báo này đã công khai chỉ trích nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức trên trang cá nhân của mình, như Công ty Cổ phần Đại Nam, Quỹ Sống Foundation, Mạng lưới Tự kỷ Việt Nam... với lời lẽ nặng nề nhưng không có căn cứ xác đáng. Núp dưới chiêu bài “nêu nghi vấn”, “đặt dấu hỏi”, “phân tích giả định”, “đấu tranh chống tiêu cực”, nhà báo này đã tùy tiện đưa ra những thông tin có nhiều dấu hiệu quy chụp, phán xét không khách quan, sai sự thật, bất chấp luật pháp và đạo lý.

Ngôn luận tự do dựa theo những phán đoán, suy diễn chủ quan, ác ý đã dẫn một người từng là nhà báo kiêm luật sư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vì lợi dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ chức khác. Một số nhà báo, luật sư, người dùng mạng xã hội khác bị bắt cũng có chung vi phạm pháp luật như vậy.

Khi phê phán, chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận và tự do báo chí, các thế lực thù địch cũng không chỉ ra được điều luật nào, quy định nào ngăn cản tự do của nhà báo, mà có xu hướng áp đặt hình mẫu phương Tây cho Việt Nam. Đó là một cách tiếp cận không có cơ sở khoa học. Nội hàm của tự do ở mỗi quốc gia, mỗi thời điểm có thể giống nhau về phổ quát, còn lại sẽ mang đặc điểm của mỗi thể chế chính trị-xã hội. Thực chất, không có nơi nào có tự do tuyệt đối, đây chỉ là một khái niệm mang tính tương đối và có sự phát triển trong các nền tảng xã hội khác nhau.

Như vậy, ngôn luận tự do, báo chí tự do theo cách mà các thế lực thù địch tuyên truyền là đề cao tư tưởng của các cá nhân, không đi kèm trách nhiệm và các khuôn khổ luật pháp, đạo đức xã hội, không quan tâm hoặc xem nhẹ những hệ quả gây ra cho xã hội, cộng đồng. Điều đó khác rất xa với tự do ngôn luận, tự do báo chí chân chính có trách nhiệm với sự phát triển tiến bộ của xã hội và nhân loại.  

Việt Nam luôn bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận

Ở Việt Nam, ngay từ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Mặt trận Việt Minh do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng đầu đã giương cao ngọn cờ đòi quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tín ngưỡng, đi lại, bác bỏ áp bức bất công của chính quyền thực dân.

Khi giành được chính quyền, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã hiến định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản và các quyền tự do khác của công dân. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung, Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và gần đây là Hiến pháp năm 2013 luôn nhất quán khẳng định quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân.

Cùng với Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, Luật Báo chí cũng đặt ra các nền móng cơ bản và thống nhất cho tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 10 Luật Báo chí năm 2016 quy định: “Công dân có quyền: 1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2. Cung cấp thông tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp cận thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí; 6. In, phát hành báo in”. Như vậy, dù Việt Nam không có báo chí tư nhân nhưng luật pháp quy định mọi công dân đều có quyền tham gia vào hoạt động báo chí.

Các thế lực chống phá thường vin vào việc Việt Nam không có mô hình báo chí tư nhân mà cố tình lờ đi rằng, mọi công dân đều được quyền tham gia sáng tạo và xuất bản báo chí, mọi tầng lớp, tổ chức trong xã hội đều có cơ quan báo chí đại diện của mình.

Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 nêu rõ: Công dân có quyền phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác. Điều 13 ghi rõ: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Không chỉ về phương diện pháp lý mà trong thực tiễn, tự do báo chí ở Việt Nam cũng được biểu hiện sinh động. Nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số lượng, loại hình, quy mô, công nghệ làm báo. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến tháng 5-2023, cả nước có 808 cơ quan báo chí (trong đó: 138 báo, 670 tạp chí) và 42.400 người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, gấp khoảng 6 lần so với thập niên 2000.

Ngoài ra, không thể không kể đến mạng xã hội đã tham gia mạnh mẽ vào môi trường truyền thông trong khoảng 10 năm trở lại đây. Ở Việt Nam, công dân không bị ngăn cấm tham gia mạng xã hội. Quyền phát ngôn, tham gia ý kiến, thảo luận về mọi vấn đề xã hội đã được mở rộng rất nhiều trên các phương tiện truyền thông mới này. Báo chí cùng với mạng xã hội đã trở thành một diễn đàn lớn, nơi mà mọi người dân đều có tiếng nói, mọi vấn đề quốc kế dân sinh được trao đổi, thảo luận, đó là những biểu hiện rất rõ ràng của tự do báo chí, tự do ngôn luận.

Báo chí hiện đại trong những năm gần đây, cùng sự hỗ trợ của công nghệ truyền thông số, đã tăng cường tính tương tác với công chúng. Trên các báo điện tử đều mở phần bình luận cho người đọc. Các kênh phát thanh, truyền hình đều có những chương trình phát sóng trực tiếp, có số điện thoại đường dây nóng để người nghe, người xem gọi điện tương tác ngay khi chương trình đang diễn ra.

Với những thiết bị hiện đại, nhà đài có thể di chuyển đến phỏng vấn và phát sóng trực tiếp ngay tại nhà của các công dân. Mặt khác, các cơ quan báo chí đều thiết lập những chương trình thu thập chất liệu phản ánh từ các “nhà báo công dân”. Đó là minh chứng rất rõ ràng về việc báo chí có thể xuất bản ngay mà không qua kiểm duyệt.

Như vậy, cả trên phương diện pháp lý và hoạt động thực tiễn, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đều được thể hiện rõ ràng, luôn gắn với quy định pháp luật, luôn hướng tới mục đích phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ xã hội. Tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam không phải là ngôn luận tự do, báo chí tự do theo ý chí cá nhân, mà là tự do xây dựng vì những mục tiêu tốt đẹp, vì trách nhiệm chân chính với cộng đồng, vì một thể chế chính trị-xã hội của dân, do dân, vì dân.

Các thế lực thù địch dù có tấn công, chỉ trích, chống phá như thế nào cũng không thể thay đổi bản chất tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Thực ra đó chỉ là những tiếng nói tiêu cực, lạc lõng của những người cố tình đi ngược chiều với sự phát triển bền vững của đất nước ta, nhân dân ta và của nền báo chí cách mạng đáng tự hào của chúng ta./.

          V3.

 

Đừng nhận thức mơ hồ về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

 


Xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một chủ trường lớn của Đảng và Nhà nước ta hiện nay. Chủ trương này là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, đổi mới tư duy nhằm tiếp thu những giá trị tích cực của nhân loại trong phát triển kinh tế để phù hợp với những điều kiện cụ thể của Việt Nam. Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay nhiều quan điểm khác biệt, thậm chí là trái ngược, thù địch đã xuất hiện, gây cản trở không nhỏ tới quá trình thực hiện mô hình kinh tế này ở Việt Nam.

Những quan điểm sai trái phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến từ nhiều nguồn khác nhau, tập trung chủ yếu ở các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, nghi ngờ, phủ nhận sự tồn tại của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Sự nghi ngờ, phủ nhận này đã tồn tại ở nhiều nơi nhưng rộ lên khi một số cá nhân có ảnh hưởng phát biểu và được truyền thông trong và ngoài nước truyền tải, được nhiều cá nhân bất đồng chính kiến cổ vũ, tung hô như những tư tưởng “tiến bộ”, “cách tân”. Họ cho rằng chúng ta đang tìm kiếm mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng mãi không tìm ra được bởi vì "làm gì có cái thứ đó mà tìm". Một số cá nhân khác cho rằng chưa thể hình dung ra nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa như thế nào do đó chưa thể khẳng định nó là tích cực hay tiêu cực. Quan điểm này về bản chất là sự nghi ngờ và không thừa nhận chủ trương và sự lãnh đạo của Đảng đối với mô hình kinh tế này.

Trong lịch sử nhân loại, không có mô hình kinh tế nào là có sẵn và loài người cũng không thể nhìn trước được bất kỳ mô hình kinh tế nào. Một mô hình kinh tế dù có hoàn thiện đến mấy đều là kết quả của quá trình hoạt động của con người. Con người vừa tạo ra nó, vừa nhận thức về nó và điều chỉnh nó theo hướng hoàn thiện hơn. Thực tiễn đã chứng minh, một quốc gia với mô hình kinh tế được cho là hoàn thiện đều là kết quả của một quá trình xây dựng lâu dài, thường xuyên điều chỉnh, cập nhật và bổ sung. Trong giai đoạn đầu của quá trình xây dựng thì một nhà kinh tế dù có tài giỏi nhất cũng khó có thể hình dung đầy đủ hình hài của nó khi hoàn thiện.

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cũng vậy. Chúng ta đang trong giai đoạn đầu xây dựng nên hình hài của nó chưa đầy đủ cũng là điều dễ hiểu. Trách nhiệm của mỗi người dân là dưới sự lãnh đạo của Đảng, cùng chung sức xây dựng để hoàn thiện nó, tạo cho nó có một hình hài đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn trong tương lai.

 

Thứ hai, phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường.

Những quan điểm này viện lý do về sự yếu kém của một số đơn vị kinh tế nhà nước trong thời gian vừa qua nên muốn loại bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước. Họ cho rằng sự can thiệp của Đảng và Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường là vô nghĩa, làm lệch lạc thị trường, là lực cản của nền kinh tế Việt nam. Một số quan điểm khác thì cho rằng nền kinh tế thị trường ở nước ta là duy nhất trên thế giới khi lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo, gia tăng vai trò can thiệp hành chính của Nhà nước, làm kinh tế thị trường bị biến dạng.

Những quan điểm trên đây chưa nhìn thấy hết bản chất sâu xa trong sự vận hành của một nền kinh tế; chưa hiểu hết mối quan hệ biện chứng giữa kinh tế và chính trị, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Xét đến cùng, vấn đề kinh tế quyết định tới vấn đề chính trị, nhưng chính trị cũng có tính độc lập tương đối và luôn tìm cách tác động tới kinh tế nhằm đạt được những lợi ích cho những lực lượng chính trị khác nhau. Đó là lợi ích của từng giai cấp, tầng lớp, lợi ích của mỗi quốc gia, dân tộc. Do vậy, khi xã hội xuất hiện giai cấp và nhà nước thì không có một mô hình kinh tế nào mà không có sự tác động của các lực lượng chính trị. Chính sự can thiệp này cũng đã dẫn đến các cuộc chiến tranh thương mại, chiến tranh tiền tệ, các cuộc bao vây cấm vận kinh tế và cả các cuộc chiến tranh xâm lược ở các quy mô khác nhau giữa các quốc gia nhằm giành giật lợi ích trên thị trường.

Đối với Việt Nam, là quốc gia đi sau nên trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh của các đơn vị kinh tế còn nhiều hạn chế, nền kinh tế thị trường còn nhiều khiếm khuyết. Do vậy, vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường là đặc biệt quan trọng nhằm khắc phục các khuyết tật của thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh, sự phát triển của nền kinh tế, đảm bảo lợi ích của nhân dân và toàn dân tộc.

Trong quản lý nền kinh tế, những hạn chế là không thể tránh khỏi và nó không phải là mong muốn của Đảng và Nhà nước ta. Trái lại, Đảng và Nhà nước luôn biết nhìn thẳng vào sự thật, thừa nhận những hạn chế khi mắc phải đồng thời cầu thị học tập, tiếp thu những giá trị tiến bộ trong mô hình kinh tế thị trường mà nhân loại đã đạt được nhằm xây dựng mô hình kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa với những giá trị tiến bộ, phù hợp nhất với Việt Nam.

Thứ ba, coi kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là lực cản cho sự phát triển ở Việt Nam và cần phải “đổi mới lần thứ hai”.

Quan điểm này xuất phát từ sự mơ hồ về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Những người có quan điểm này chưa hiểu hết bản chất của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Họ đổ lỗi cho những yếu kém, những tiêu cực nảy sinh trong nền kinh tế nước ta trong thời gian qua là do nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, coi đây là lực cản cho sự phát triển ở Việt Nam và hô hào cần phải có một cuộc “đổi mới lần thứ hai”, đưa nền kinh tế thị trường Việt Nam phát triển đầy đủ, hiện đại như kinh tế thị trường của các nước trong Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD).

Trước hết, cần phải khẳng định rằng những tiêu cực nảy sinh trong quá trình vận hành của nền kinh tế nước ta thời gian qua là có thực. Tuy nhiên, đây không phải là bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực chất, nó là những khuyết tật mà Đảng và Nhà nước ta muốn loại bỏ nhằm "xây dựng thành công và vận hành đồng bộ, thông suốt nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"[1].

Chính vì vậy, không thể đổ lỗi cho những yếu kém, hạn chế hiện nay là do mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trái lại, như Đảng ta đã nhìn nhận: "những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan, đặc biệt là do: Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa đủ rõ"[2]. Do vậy, thay vì đổ lỗi cho mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì cần phải khắc phục những sai lầm mang tính chủ quan trong quản lý nền kinh tế, loại bỏ những hạn chế còn tồn tại, tiếp thu những giá trị tích cực từ mô hình kinh tế thị trường của các nước tiên tiến trên thế giới, trong đó có các quốc gia trong OECD.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là Việt Nam sẽ xây dựng mô hình kinh tế thị trường giống bất cứ quốc gia nào. Bởi lẽ đặc điểm của nước ta không hoàn toàn giống với họ. Hơn nữa, bản thân mô hình kinh tế ở các quốc gia trong Tổ chức này cũng không hoàn toàn giống nhau. Ngay cả với mô hình kinh tế thị trường tự do nhất như Mỹ thì vẫn luôn có sự thay đổi. Sự khác biệt đó đã chứng minh cho tính đặc thù của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam không phải là ngoại lệ.

Mặc dù đang trong giai đoạn xây dựng và từng bước hoàn thiện, những hạn chế, yếu kém vẫn tồn tại, những giá trị tích cực chưa được thể hiện đầy đủ, nhưng với bản chất cách mạng và khoa học từ đường lối lãnh đạo của Đảng, với quyết tâm chính trị to lớn của toàn Đảng và toàn dân thì những hạn chế sẽ dần được loại bỏ, những giá trị tích cực sẽ được nhân lên, tạo dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa có tính đặc thù của Việt Nam, vừa mang những giá trị tiến bộ của nhân loại, góp phần thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, xây dựng một nước Việt Nam phát triển thịnh vượng.

            V3.

 

Đi lên chủ nghĩa xã hội không phải là con đường bất định

 


Từ khi mô hình chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Đông Âu, Liên Xô sụp đổ, chủ nghĩa tư bản (CNTB) và thế lực thù địch tăng cường xuyên tạc, cố tình gieo rắc vào nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân lao động rằng: Con đường đi lên CNXH là bất định, không có thật.

Tuy nhiên, từ lý luận cho đến thực tiễn, thành tựu của đất nước ta trong suốt những năm qua cho thấy, việc đi lên CNXH là tất yếu của loài người và là con đường hoàn toàn đúng đắn của đất nước ta, dân tộc ta, là tương lai rộng mở.

Vì sao chủ nghĩa tư bản cố sức phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội?


Sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Đông Âu và Liên Xô khiến cách mạng thế giới lâm vào thoái trào, các thế lực chống cộng, cơ hội chính trị thừa cơ xuyên tạc, chống phá, phủ nhận CNXH. Ngay trong chính những người cộng sản cũng có không ít người hoài nghi, bi quan, dao động, nghi ngờ tính đúng đắn khoa học và khả năng hiện thực của CNXH. Thậm chí nhiều người còn phụ họa theo các luận điệu thù địch, ra sức công kích, bài bác CNXH, ca ngợi CNTB, cổ xúy cho CNTB, lấy ví dụ từ các nước TBCN giàu có để quy kết cho những giá trị cuối cùng mà nhân loại phải hướng tới.

Một trong những luận điệu hết sức thâm độc, nguy hiểm tác động mạnh mẽ vào nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân chính là luận điệu cho rằng: Con đường đi lên CNXH là bất định, không có thật. Nhiều người nhìn vào điều kiện vật chất, trình độ phát triển của nước tư bản phát triển để nhầm tưởng rằng: CNTB là chế độ xã hội ưu việt, là mục tiêu vươn tới của nhân loại. Đồng thời ra sức chê bai, phủ nhận CNXH, từ đó cho rằng con đường đi lên CNXH ở Việt Nam chỉ là bánh vẽ viển vông, thiếu thực tế.

Vì sao CNTB, các lực lượng thù địch lại quyết liệt chống phá CNXH, quả quyết khẳng định con đường đi lên CNXH là bất định? Đó là vì con đường đi lên CNXH và những mục tiêu cách mạng XHCN đang đe dọa sự tồn vong của CNTB. Là vì con đường đi lên CNXH ngày càng sáng rõ, ngày càng khẳng định giá trị hiện thực.

Thực tế, nhiều nước tư bản đã phát triển ở trình độ cao và đang tiếp tục phát triển. Tuy nhiên, đó chỉ là cái nhìn phiến diện một chiều về kết quả của CNTB ở thời điểm hiện tại. Hãy quay lại lịch sử ra đời của CNTB, ngay trong bước đi đầu tiên ở giai đoạn tích lũy nguyên thủy tư bản, giai cấp tư sản đã in hằn vào lịch sử nhân loại những dòng đầy máu và nước mắt. Giai cấp tư sản ở các nước tư bản phương Tây đã ra sức tước đoạt của cải, bóc lột sức người, vơ vét tài nguyên của các nước thuộc địa và người lao động ở chính quốc để phục vụ mục đích làm giàu vô hạn độ. Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội tư bản ngày càng mở rộng, lớn lên và không bao giờ có thể khỏa lấp. V.I.Lênin khẳng định bản chất về chính trị của CNTB là thối nát và phản động; chủ nghĩa đế quốc là bạn đường của chiến tranh; còn chủ nghĩa đế quốc là còn nguy cơ chiến tranh. Rõ ràng đến nay, luận điểm đó không những còn nguyên giá trị mà còn khắc sâu hơn bản chất của CNTB đương đại.

Chính học giả người Anh là Terry Eagleton, trong tác phẩm “Tại sao Mác đúng” đã phải cay đắng thừa nhận: “Những nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử nô dịch, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm”.

Ngày nay, các nước tư bản vẫn tiếp tục gây chiến tranh, xung đột, áp đặt cường quyền, áp đặt giá trị dân chủ tư bản cho cả thế giới, để gieo rắc nỗi đau, sự bất bình đẳng, áp bức bóc lột với giai cấp vô sản, nhân dân lao động, với các quốc gia khác và coi đó là giá trị đương nhiên.



Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội có đích đến hiện thực

Hoàn toàn có cơ sở khoa học để khẳng định chắc chắn rằng: Con đường đi lên CNXH trên thế giới nói chung, Việt Nam nói riêng không hề viển vông, bất định như CNTB và các thế lực thù địch xuyên tạc. Ngược lại, nó được minh chứng thuyết phục, sinh động cả về lý luận và thực tiễn.

Trước hết, CNXH là sự vận động tất yếu của lịch sử. Bằng hai phát kiến vĩ đại là học thuyết giá trị thặng dư và chủ nghĩa duy vật lịch sử, C.Mác đã luận giải thuyết phục sự vận động, phát triển của xã hội loài người. Dựa trên các quy luật vận động nội tại của xã hội, nhất là quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ lực lượng sản xuất và quy luật mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, C.Mác đã đi đến khẳng định: “Sự phát triển của những hình thái kinh tế-xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”.

Ở đây C.Mác và Ph.Ănghen đã phát triển CNXH từ không tưởng thành khoa học khi luận chứng nó từ quy luật vận động của lịch sử như sự vận động tất yếu của các quy luật kinh tế, quy luật xã hội đã hình thành ngay trong lòng CNTB. Như vậy, biện chứng khách quan của lịch sử chính là sự vận động phát triển không ngừng của các hình thái kinh tế-xã hội. Theo đó, hình thái kinh tế-xã hội XHCN tất yếu sẽ thay thế hình thái kinh tế-xã hội TBCN. Con đường đi lên của nhân loại không gì khác là chủ nghĩa cộng sản mà giai đoạn thấp là CNXH. Đó là tất yếu của lịch sử chứ không phải là ảo vọng hay sự tự biện của những người cộng sản.

Thứ hai, mục tiêu của CNXH là không xa vời mà rất cụ thể. Đó là xóa bỏ chế độ người bóc lột người, xóa bỏ sự phân chia giai cấp, xây dựng một xã hội bình đẳng, tự do, hạnh phúc. Ở CNXH có sự khác biệt rất căn bản so với tất cả phương thức sản xuất trước đó chính là nằm ở mục tiêu hay con đường đi tới. Trong xã hội trước đây chỉ là sự thay thế phương thức sản xuất này bằng phương thức sản xuất khác thông qua một cuộc cách mạng xã hội. Tuy nhiên, đó chỉ là thay thế giai cấp thống trị này bằng giai cấp thống trị khác, quần chúng cần lao vẫn là giai cấp bị trị, vẫn chịu sự bóc lột bằng cách này hoặc cách khác. CNXH là một xã hội được xây dựng nhằm hướng tới mục tiêu giải phóng giai cấp, giải phóng con người, xóa bỏ triệt để chế độ người bóc lột người.

V.I.Lênin đã chỉ ra xu thế tất yếu của thời đại là quá độ đi lên CNXH trên toàn thế giới với mục tiêu rất cụ thể là xây dựng thành công CNXH. Tuy nhiên, ở mỗi quốc gia, dân tộc khác nhau thì lựa chọn con đường, cách thức, biện pháp khác nhau. Mỗi quốc gia phải dựa vào đặc điểm tình hình cụ thể của mình để định hình con đường đi lên CNXH phù hợp. Tùy theo tư duy, nhận thức, cách thức tổ chức thực hiện ở từng Đảng Cộng sản, từng quốc gia khác nhau sẽ có độ dài-ngắn trên con đường đi đến đích.

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra rằng: “CNXH là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân và do nhân dân tự xây dựng lấy”. 

Thứ ba, CNXH là chế độ xã hội đã được hiện thực hóa trên thực tế, khác biệt về chất so với các chế độ xã hội trước đó.

Từ học thuyết của Chủ nghĩa Mác về CNXH khoa học, thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga đã biến CNXH trở thành hiện thực với đầy đủ hình hài của một xã hội tương lai: Giải phóng giai cấp vô sản thoát khỏi ách áp bức, bóc lột của giai cấp tư sản; giải phóng giai cấp nông dân khỏi gông cùm của địa chủ phong kiến... Những thành tựu trong thời kỳ quá độ đi lên CNXH ở Việt Nam, ở Trung Quốc cho thấy con đường đi lên CNXH hoàn toàn là hiện thực, hướng tới xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn xã hội cũ, chứ không phải là điều không tưởng.

Thứ tư, CNXH đang được xây dựng toàn diện cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội ở Việt Nam. Đây là minh chứng sinh động, cụ thể về một mô hình CNXH được xác định qua 8 đặc trưng cơ bản về mục tiêu; về trình độ lực lượng sản xuất; quan hệ sản xuất; nền văn hóa; về con người, về nhà nước pháp quyền XHCN... 8 đặc trưng này là sự khái quát hóa mô hình của CNXH, nó không chỉ dừng lại trong chiến lược, trong nghị quyết mà được hiện thực hóa trong đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội. Biểu hiện rất cụ thể của dân chủ XHCN là “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Đó là minh chứng rõ ràng, thuyết phục về sự hiện thực hóa nội hàm của con đường đi lên CNXH. Bởi xét cho cùng, giá trị của cách mạng XHCN đều kết tinh ở chỗ người dân làm chủ cái gì, thụ hưởng được cái gì. Và cũng chính điều này khẳng định sự khác biệt về bản chất của chế độ XHCN so với chế độ TBCN.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: Xã hội chúng ta đang xây dựng là một xã hội mà ở đó mọi sự phát triển thực sự là vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà chà đạp lên phẩm giá con người; đó cũng là một xã hội nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới những giá trị tiến bộ, nhân văn chứ không vì lợi ích vị kỷ của một số ít cá nhân và phe nhóm. Đảng và Nhà nước ta, toàn dân ta nỗ lực xây dựng một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về nhân dân, do nhân dân và phục vụ lợi ích của nhân dân chứ không phải chỉ cho một thiểu số giàu có.

Rõ ràng những giá trị tốt đẹp chúng ta đang xây dựng không hề xa vời, viển vông mà ngược lại đó là những giá trị đích thực của CNXH, chúng ta hoàn toàn có thể xác lập, xây dựng và hiện thực hóa. Điều đó cũng khẳng định rằng con đường đi lên CNXH không phải là bất định như nhiều kẻ xấu rêu rao mà là con đường hiện thực, có đích đến cụ thể mà chúng ta có quyền lựa chọn, có quyền nỗ lực, kiên định, kiên trì thực hiện và có quyền tin tưởng rằng CNXH sẽ được xây dựng thành công trên đất nước Việt Nam. Tuy nhiên, CNXH không phải là cái gì đó sẵn có, nó phải được định hình về mục tiêu, cách thức xây dựng, nó phải do chính bàn tay, khối óc và quyết tâm chính trị mạnh mẽ của những người cộng sản, những người lao động để đấu tranh, xác lập, sáng tạo nên./.

          V3.

Cảnh giác với âm mưu xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”

 


            Thời gian qua, các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách bôi nhọ, xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, với âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và chia rẽ mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân đội với nhân dân. Vì vậy, cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết hiện nay.

Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là một hệ thống chuẩn mực, giá trị tư cách đạo đức của người quân nhân cách mạng. Phẩm chất đó bắt nguồn từ bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam, thấm đượm tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh và phản ánh sự tin yêu, quý trọng, thừa nhận, tôn vinh của nhân dân. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trở thành một biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, được hình thành, phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam. Giữ vững, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” có ý nghĩa, vai trò quan trọng góp phần trực tiếp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị, bảo đảm quân đội trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và Nhân dân; là nhân tố quan trọng tạo thành sức mạnh tổng hợp hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó.

Hiện nay, Đảng bộ Quân đội và toàn quân đang đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28/12/2021 của Quân ủy Trung ương về “Phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới”. Trong khi đó, các thế lực thù địch cũng dùng mọi thủ đoạn, cách thức thâm độc và xảo quyệt nhằm xuyên tạc, bôi nhọ phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, hạ thấp vai trò của quân đội. Chúng lợi dụng hiện tượng một số quân nhân vi phạm pháp luật, kỷ luật trong quan hệ với nhân dân..., để đưa ra luận điệu “Quân đội đã hư hỏng, thoái hóa, biến chất”, “Quân đội không còn gắn bó máu thịt với nhân dân”, “đã đánh mất bản chất, truyền thống tốt đẹp”, “không còn xứng đáng với danh hiệu Bộ đội Cụ Hồ”. Đó thực chất là các chiêu trò “diễn biến hòa bình” nhằm “phi chính trị hóa” quân đội, xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”.

Với thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt, các thế lực thù địch cũng triệt để sử dụng internet, mạng xã hội để tung tin xấu độc, nhằm tuyên truyền sai lệch về bản chất, truyền thống Quân đội, làm phai mờ hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Chúng cắt ghép, ngụy tạo những bức ảnh, video clip... lồng vào tin, bài bóp méo, xuyên tạc những việc làm của cán bộ, chiến sĩ quân đội trong các hoạt động thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, dân vận, hỗ trợ, giúp đỡ nhân dân khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh...

Thực tiễn hơn 78 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của quân đội ta đã khẳng định: Dù ở điều kiện hoàn cảnh nào, quân đội luôn sẵn sàng hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xứng đáng là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị đặc biệt tin cậy của Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Cán bộ, chiến sĩ quân đội đều son sắt thủy chung với Đảng, với Nhân dân; một lòng một dạ “phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân”.

Để đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” của các thế lực thù địch hiện nay, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần chủ động, tích cực tổ chức tuyên truyền, giáo dục chính trị tư tưởng, nâng cao nhận thức cho mọi quân nhân về “Bộ đội Cụ Hồ”, gắn với vạch trần âm mưu, thủ đoạn hoạt động lợi dụng mạng xã hội của các thế lực thù địch, phản động để xuyên tạc phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, không vô tình tiếp tay cho các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và các hành vi tiêu cực, phản cảm, thiếu văn hóa khác trên mạng xã hội. Cấp uỷ, tổ chức đảng cần quan tâm và chủ động hơn nữa trong lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục chính trị tư tưởng, phổ biến giáo dục pháp luật cho mọi quân nhân, nhất là việc tổ chức quán triệt các quy định của Đảng, Nhà nước, Quân đội về công tác quản lý, sử dụng mạng internet, mạng xã hội nhằm nâng cao nhận thức và hành động đúng đắn cho mọi quân nhân. Thường xuyên, tăng cường chỉ đạo công tác giáo dục cảnh giác cho quân nhân có nhận thức đúng đắn về âm mưu, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch và phản động lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước và Quân đội ta, thu thập tin tức tình báo, cùng các hành vi vi phạm pháp luật khác; từ đó nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng, tích cực đấu tranh cho mọi quân nhân góp phần làm thất bại âm mưu, ý đồ của các thế lực thù địch.

Đặc biệt, cần tích cực đổi mới phương thức tuyên truyền của các cơ quan báo chí trong quân đội, phát huy lợi thế của mạng internet, tăng cường cung cấp, cập nhật thường xuyên các thông tin, quan điểm đúng đắn của Đảng, Nhà nước trên các báo điện tử, trang thông tin điện tử, mạng xã hội về phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”. Qua đó, nâng cao nhận thức, ý thức chính trị, nhiệm vụ đấu tranh chống quan điểm sai trái cho mọi cán bộ, chiến sĩ. Tổ chức và tăng cường hoạt động của lực lượng tham gia đấu tranh chuyên sâu phản bác các quan điểm phản động, sai trái trên mạng internet, nhất là trên mạng xã hội. Các đơn vị tổ chức lực lượng đấu tranh chuyên sâu phản bác các quan điểm phản động, sai trái trên mạng internet, cần thường xuyên quan tâm, tạo điều kiện về thời gian, cơ sở vật chất, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kiến thức cho cán bộ, chiến sĩ tham gia.

Đồng thời, tăng cường công tác quản lý nội bộ, nắm chắc tình hình quản lý, sử dụng, hoạt động trên internet nói chung cũng như tham gia mạng xã hội của quân nhân trong đơn vị nói riêng; kịp thời chấn chỉnh, nhắc nhở, xử lý, ngăn chặn những hành vi tán phát các thông tin, hình ảnh... có nội dung tiêu cực, phản cảm và các biểu hiện lơ là, mất cảnh giác của quân nhân khi tham gia trên mạng xã hội; hạn chế các tác động tiêu cực của mạng xã hội đối với tư tưởng, nhận thức, hành động của quân nhân, góp phần tạo sự “miễn dịch” cho mọi quân nhân trước các tác động, ảnh hưởng tiêu cực của thông tin trên mạng xã hội, làm trong sạch nội bộ. Qua đó, tạo dựng, lan tỏa hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”.

Các cơ quan chuyên môn cần chủ động triển khai đồng bộ các biện pháp ngăn chặn, bóc gỡ các thông tin, tài liệu có nội dung phản cảm, sai quy định ảnh hưởng tới hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Kịp thời phát hiện, chấn chỉnh, xử lý nghiêm các hành vi sai trái của quân nhân khi tham gia mạng xã hội. Khi có vụ việc, tình hình liên quan đến quân nhân vi phạm các quy định trên mạng xã hội, cần kịp thời chỉ đạo cơ quan nghiệp vụ đơn vị chủ động báo cáo, phối hợp với các cơ quan nghiệp vụ cấp trên và cơ quan chức năng có liên quan tiến hành các biện pháp xử lý, ngăn chặn, bóc gỡ, không để các thông tin, tài liệu, hình ảnh xấu liên quan đến quân nhân tán phát rộng rãi trên mạng xã hội, internet và để các thế lực thù địch, phản động và đối tượng xấu lợi dụng tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta./.

            V3.