Một trong những luận điệu thiếu
thiện chí của một số tổ chức, cá nhân đối với Việt Nam là xuyên tạc ở đất nước
Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí. Tuy nhiên, lập luận của họ đa
phần có sự đánh tráo khái niệm giữa tự do ngôn luận, tự do báo chí với ngôn
luận tự do, báo chí tự do.
Ý nghĩa chân chính của tự do ngôn luận, tự do báo chí
Vốn dĩ tự do là quyền cơ bản của con người, nhưng cùng với đó là
nhận thức và hành xử phù hợp với cộng đồng, quốc gia, dân tộc, để tôn trọng
quyền tự do của người khác và tuân thủ pháp luật. Điều 29 trong “Tuyên ngôn thế
giới về nhân quyền” năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa
vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu
những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và
tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi
chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân
chủ”.
Tự do ngôn luận và tự do báo chí là hai khái niệm trong cùng lĩnh vực, chỉ khác
nhau về cấp độ. Báo chí là diễn đàn trong một xã hội phát triển, để mọi công
dân, mọi tầng lớp, mọi độ tuổi, giới tính, ngành nghề khác nhau được quyền phát
ngôn, bày tỏ tư tưởng, ý kiến, thể hiện hành động và báo chí trở thành nơi mà
tự do ngôn luận thể hiện tập trung, mạnh mẽ và được lan tỏa nhiều nhất.
Cũng chính vì thế, tự do báo chí trở thành mối quan tâm đặc biệt ở mọi nơi, mọi
quốc gia, mọi thể chế chính trị-xã hội. Dù ở nền báo chí tư bản hay báo chí xã
hội chủ nghĩa, thì báo chí đều có những chức năng chung như: Thông tin, phản
ánh, hình thành và định hướng dư luận xã hội, giáo dục, giải trí...
Những chức năng cơ bản này tạo ra cho báo chí một trách nhiệm xã hội, vì sự
tiến bộ và phát triển chung của xã hội, hướng tới những giá trị hạnh phúc phổ
quát của con người. Vì vậy, khi thực hiện quyền tự do báo chí cũng phải gắn với
các chức năng đó, không đi ngược lại các giá trị chân lý, đạo đức, văn hóa,
không chống lại an ninh chung của cộng đồng, không trái với xu thế tiến bộ của
nhân loại.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có lời giải thích rất rành mạch về tự do ngôn luận, tự
do báo chí như sau: “Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày
tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý... Chân lý là cái gì có lợi cho Tổ
quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là
không phải chân lý”. Như vậy, có thể thấy, tự do báo chí chân chính phải đặt
trên nền tảng một xã hội dân chủ, tốt đẹp, nhân văn, mọi hoạt động báo chí đều
phục vụ lợi ích của đông đảo nhân dân.
Không có tự do báo chí thuần túy, tuyệt đối, đứng bên ngoài xã hội, cộng đồng,
thể chế chính trị và bị bóp nghẹt trong chế độ độc tài, khi nhà cầm quyền đã
trở thành vật cản bước tiến xã hội. Không có quyền nào vượt lên ở mức cao hơn
chế độ kinh tế và sự phát triển xã hội do chế độ kinh tế đó quy định. Chỉ có tự
do báo chí trong xã hội dân chủ, khi giai cấp cầm quyền có vai trò tiến bộ dẫn
dắt xã hội.
Trong thực tiễn, hầu hết mọi thể chế chính trị khác nhau đều coi việc chống lại
nhà cầm quyền là vi phạm pháp luật và không có nơi nào có văn bản coi tự do
ngôn luận, tự do báo chí là quyền tuyệt đối. Khi là Tổng thư ký Liên hợp quốc,
ông Ban Ki-moon từng nói: “Tự do ngôn luận được bảo vệ khi nó được sử dụng vào
mục đích công lý và cộng đồng... Khi một số người sử dụng quyền tự do này để
khiêu khích hoặc sỉ nhục các giá trị niềm tin của người khác thì hành động đó
sẽ không được bảo vệ”.
Cảnh giác mưu đồ cổ xúy “ngôn luận tự do, báo chí tự do”
Trong các luận điệu chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí,
có thể thấy các lập luận đã cố tình tập trung vào vế đầu của “Tuyên ngôn thế
giới về nhân quyền” năm 1948, khẳng định tự do tư tưởng, tự do xuất bản là
quyền cơ bản của con người, mà bỏ đi vế sau là quyền tự do đó nằm trong khuôn
khổ pháp luật và thể chế mỗi quốc gia.
Thay vì xem xét các mối quan hệ giữa Hiến pháp, pháp luật và hoạt động báo chí
thực tiễn, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí chỉ tập trung vào các vụ việc
và cá nhân cụ thể để xuyên tạc về tự do ngôn luận, tự do báo chí của Việt Nam.
Khái niệm mà họ sử dụng chính là "ngôn luận tự do", "báo chí tự
do", gần với khái niệm tự do tuyệt đối, không có giới hạn.
Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) nhiều năm gần đây xếp Việt Nam ở vị
trí gần cuối bảng xếp hạng về tự do báo chí của 180 quốc gia, với những lý do
chủ yếu là “đàn áp các blogger”, “bắt giam các nhà báo”, nhưng trong những vụ
việc này, các đối tượng bị bắt giữ đều có hành vi lợi dụng các quyền tự do dân
chủ để đưa tin sai sự thật, tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước, xuyên tạc
tình hình kinh tế-xã hội ở Việt Nam.
Trên một kênh truyền thông ở hải ngoại thiếu thiện chí, khi bình luận về Việt
Nam gần đây, có một bài viết về bảng xếp hạng của RSF. Nhưng tổ chức RSF lại
không đưa ra được khái niệm hay cách hiểu nào về tự do báo chí. Nếu họ cho rằng
không thể bắt giữ các nhà báo và cho rằng không ai đáng bị bắt vì lý do tham
gia ngôn luận, thì có lẽ họ đã bỏ qua hoàn toàn việc hoạt động báo chí phải nằm
trong khuôn khổ pháp luật. Với cách lập luận như vậy, họ đang cổ xúy cho ngôn
luận tự do, báo chí tự do mà không chịu bất cứ trách nhiệm xã hội nào.
Trong vụ việc bắt giữ một nữ nhà báo gần đây, có thể thấy rõ trong thời gian
dài, nhà báo này đã công khai chỉ trích nhiều cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức
trên trang cá nhân của mình, như Công ty Cổ phần Đại Nam, Quỹ Sống Foundation,
Mạng lưới Tự kỷ Việt Nam... với lời lẽ nặng nề nhưng không có căn cứ xác đáng.
Núp dưới chiêu bài “nêu nghi vấn”, “đặt dấu hỏi”, “phân tích giả định”, “đấu
tranh chống tiêu cực”, nhà báo này đã tùy tiện đưa ra những thông tin có nhiều
dấu hiệu quy chụp, phán xét không khách quan, sai sự thật, bất chấp luật pháp
và đạo lý.
Ngôn luận tự do dựa theo những phán đoán, suy diễn chủ quan, ác ý đã dẫn một
người từng là nhà báo kiêm luật sư phải chịu trách nhiệm trước pháp luật vì lợi
dụng quyền tự do dân chủ để xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và tổ
chức khác. Một số nhà báo, luật sư, người dùng mạng xã hội khác bị bắt cũng có
chung vi phạm pháp luật như vậy.
Khi phê phán, chỉ trích Việt Nam không có tự do ngôn luận và tự do báo chí, các
thế lực thù địch cũng không chỉ ra được điều luật nào, quy định nào ngăn cản tự
do của nhà báo, mà có xu hướng áp đặt hình mẫu phương Tây cho Việt Nam. Đó là
một cách tiếp cận không có cơ sở khoa học. Nội hàm của tự do ở mỗi quốc gia,
mỗi thời điểm có thể giống nhau về phổ quát, còn lại sẽ mang đặc điểm của mỗi
thể chế chính trị-xã hội. Thực chất, không có nơi nào có tự do tuyệt đối, đây
chỉ là một khái niệm mang tính tương đối và có sự phát triển trong các nền tảng
xã hội khác nhau.
Như vậy, ngôn luận tự do, báo chí tự do theo cách mà các thế lực thù địch tuyên
truyền là đề cao tư tưởng của các cá nhân, không đi kèm trách nhiệm và các
khuôn khổ luật pháp, đạo đức xã hội, không quan tâm hoặc xem nhẹ những hệ quả
gây ra cho xã hội, cộng đồng. Điều đó khác rất xa với tự do ngôn luận, tự do
báo chí chân chính có trách nhiệm với sự phát triển tiến bộ của xã hội và nhân
loại.
Việt Nam luôn bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận
Ở Việt Nam, ngay từ trong cuộc đấu tranh giành độc lập, Mặt trận Việt Minh do
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đứng đầu đã giương cao ngọn cờ đòi quyền tự do ngôn
luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức, tín ngưỡng, đi lại, bác bỏ áp bức bất công
của chính quyền thực dân.
Khi giành được chính quyền, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa năm 1946 đã hiến định quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản và các quyền tự
do khác của công dân. Trải qua các lần sửa đổi, bổ sung, Hiến pháp các năm
1959, 1980, 1992 và gần đây là Hiến pháp năm 2013 luôn nhất quán khẳng định
quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân.
Cùng với Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác, Luật Báo chí cũng đặt ra các
nền móng cơ bản và thống nhất cho tự do ngôn luận, tự do báo chí. Điều 10 Luật
Báo chí năm 2016 quy định: “Công dân có quyền: 1. Sáng tạo tác phẩm báo chí; 2.
Cung cấp thông tin cho báo chí; 3. Phản hồi thông tin trên báo chí; 4. Tiếp cận
thông tin báo chí; 5. Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí;
6. In, phát hành báo in”. Như vậy, dù Việt Nam không có báo chí tư nhân nhưng
luật pháp quy định mọi công dân đều có quyền tham gia vào hoạt động báo chí.
Các thế lực chống phá thường vin vào việc Việt Nam không có mô hình báo chí tư
nhân mà cố tình lờ đi rằng, mọi công dân đều được quyền tham gia sáng tạo và
xuất bản báo chí, mọi tầng lớp, tổ chức trong xã hội đều có cơ quan báo chí đại
diện của mình.
Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 nêu rõ: Công dân có quyền phát biểu ý kiến về
tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê
bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng,
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị-xã hội-nghề
nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội-nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân
khác. Điều 13 ghi rõ: “Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và
phát sóng”.
Không chỉ về phương diện pháp lý mà trong thực tiễn, tự do báo chí ở Việt Nam
cũng được biểu hiện sinh động. Nền báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ cả về số
lượng, loại hình, quy mô, công nghệ làm báo. Theo thống kê của Bộ Thông tin và
Truyền thông, tính đến tháng 5-2023, cả nước có 808 cơ quan báo chí (trong đó:
138 báo, 670 tạp chí) và 42.400 người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, gấp
khoảng 6 lần so với thập niên 2000.
Ngoài ra, không thể không kể đến mạng xã hội đã tham gia mạnh mẽ vào môi trường
truyền thông trong khoảng 10 năm trở lại đây. Ở Việt Nam, công dân không bị
ngăn cấm tham gia mạng xã hội. Quyền phát ngôn, tham gia ý kiến, thảo luận về
mọi vấn đề xã hội đã được mở rộng rất nhiều trên các phương tiện truyền thông
mới này. Báo chí cùng với mạng xã hội đã trở thành một diễn đàn lớn, nơi mà mọi
người dân đều có tiếng nói, mọi vấn đề quốc kế dân sinh được trao đổi, thảo
luận, đó là những biểu hiện rất rõ ràng của tự do báo chí, tự do ngôn luận.
Báo chí hiện đại trong những năm gần đây, cùng sự hỗ trợ của công nghệ truyền
thông số, đã tăng cường tính tương tác với công chúng. Trên các báo điện tử đều
mở phần bình luận cho người đọc. Các kênh phát thanh, truyền hình đều có những
chương trình phát sóng trực tiếp, có số điện thoại đường dây nóng để người
nghe, người xem gọi điện tương tác ngay khi chương trình đang diễn ra.
Với những thiết bị hiện đại, nhà đài có thể di chuyển đến phỏng vấn và phát
sóng trực tiếp ngay tại nhà của các công dân. Mặt khác, các cơ quan báo chí đều
thiết lập những chương trình thu thập chất liệu phản ánh từ các “nhà báo công
dân”. Đó là minh chứng rất rõ ràng về việc báo chí có thể xuất bản ngay mà
không qua kiểm duyệt.
Như vậy, cả trên phương diện pháp lý và hoạt động thực tiễn, quyền tự do ngôn
luận, tự do báo chí ở Việt Nam đều được thể hiện rõ ràng, luôn gắn với quy định
pháp luật, luôn hướng tới mục đích phụng sự nhân dân, góp phần thúc đẩy tiến bộ
xã hội. Tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam không phải là ngôn luận tự
do, báo chí tự do theo ý chí cá nhân, mà là tự do xây dựng vì những mục tiêu
tốt đẹp, vì trách nhiệm chân chính với cộng đồng, vì một thể chế chính trị-xã
hội của dân, do dân, vì dân.
Các thế lực thù địch dù có tấn công, chỉ trích, chống phá như thế nào cũng
không thể thay đổi bản chất tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Thực ra
đó chỉ là những tiếng nói tiêu cực, lạc lõng của những người cố tình đi ngược
chiều với sự phát triển bền vững của đất nước ta, nhân dân ta và của nền báo
chí cách mạng đáng tự hào của chúng ta./.
V3.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét