Thứ Ba, 4 tháng 7, 2023

Cảnh giác với các luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động

 

Trong công cuộc đổi mới đất nước Đảng ta lãnh đạo đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần làm thay đổi toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Sự phát triển đất nước được mỗi người dân Việt Nam trong nước cũng như kiều bào đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài cảm nhận sâu sắc, bạn bè quốc tế khâm phục, không ít những người trước đây đi theo hàng ngũ kẻ thù chống lại cách mạng cũng phải thừa nhận.

Tuy nhiên, trong những năm qua, lợi dụng tình hình thế giới diễn biến phức tạp các tổ chức phản động người Việt lưu vong ở nước ngoài cấu kết chặt chẽ với một số lực lượng chống đối, cơ hội chính trị ở trong nước tăng cường hoạt động chống phá sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Chúng tìm mọi thủ đoạn để truyền bá các quan điểm sai trái, phản động, xuyên tạc tình hình đất nước, lợi dụng những yếu kém, khuyết điểm để bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, làm cho cán bộ, nhân dân ta suy giảm lòng tin, hoài nghi vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn.

Cuộc đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực phản động trong nước đã phá hoại công cuộc đổi mới hiện nay, có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Để góp sức cùng Đảng, toàn dân đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và thủ đoạn hiểm độc của chúng, trước hết mỗi cán bộ, chiến sĩ cần nhận thức rõ một số hình thức, phương tiện mà chúng thường sử dụng chống phá trong những năm gần đây.

Có thể nói, sự chống phá quyết liệt nhất đều tập trung vào mặt chính trị tư tưởng. Các thế lực phản động đã huy động nhiều đối tượng viết và phát tán các loại tài liệu tuyên truyền xuyên tạc sự nghiệp đổi mới nước ta, bôi nhọ uy tín của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tẩy trừ "huyền thoại Hồ Chí Minh". Chúng sử dụng mọi hình thức, biện pháp để tuyên truyền, trong đó tập trung nhiều nhất là  lập các diễn đàn, website, blog trên mạng internet, tổ chức hội thảo, xúi giục một số thành phần viết “thư góp ý”, “hồi ký”; lợi dụng những ý kiến phản biện trong hội nghị để xuyên tạc đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách của Nhà nước, gây chia rẽ, kích động chống đối. Chúng khai thác những vấn đề bức xúc về kinh tế, xã hội, về chủ quyền biên giới, lãnh thổ để kích động tiến hành những hoạt động biểu tình gây rối an ninh, trật tự xã hội. Chúng lập 413 tổ chức phản động ở nước ngoài, thông qua đó chuyển về Việt Nam nhiều tài liệu có nội dung chống đối, phá hoại đường lối, quan điểm, lý luận và chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Điển hình gần đây là các tổ chức phản động “Việt Tân”, “Đảng nhân dân hành động” ở Mỹ, “Tập hợp dân chủ đa nguyên” ở Pháp, “Ủy ban bảo vệ người lao động Việt Nam” ở Ba Lan… Chúng không những trực tiếp chỉ đạo mà còn lập ra và tài trợ cho các tổ chức, cá nhân phản động người Việt lưu vong tuyên truyền, xuyên tạc sự nghiệp đổi mới đất nước ta, mà chúng còn lợi dụng hoạt động của một số tổ chức phi chính phủ ở nước ngoài vào các mục đích chính trị, can thiệp công việc nội bộ, xâm hại an ninh và chủ quyền của nước ta. Đặc biệt, chúng rất chú trọng việc hợp tác, đầu tư, tài trợ các chương trình, dự án để tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử phát triển, phong tục tập quán...để phục vụ ý đồ móc nối, tuyển lựa, cài cắm người, thu thập tin tức, kết hợp với tăng cường tuyên truyền, ráo riết gây dựng và huy động tối đa các phương tiện thông tin đại chúng với nhiều cấp độ, đặt tại nhiều vùng lãnh thổ của một số quốc gia để chĩa mũi nhọn tuyên truyền, đánh lạc hướng dư luận, xuyên tạc đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới và tìm mọi cách hạ bệ lãnh tụ, nói xấu lãnh đạo Đảng và Nhà nước.

Theo thống kê hiện nay các thế lực phản động chúng lập ra và đồng thời sử dụng một số nước sở tại với tổng số 88 nhà xuất bản, 62 đài phát thanh và truyền hình, xuất bản hơn 390 tờ báo và tạp chí phản động. Nội dung tập tung vào việc tuyên truyền, xuyên tạc đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta; kích động gây mâu thuẫn nội bộ, tạo sự hoang mang, dao động trong các tầng lớp nhân dân, nhất là đối với đội ngũ cán bộ chủ chốt của hệ thống chính trị, các giới trí thức, sinh viên, học sinh và đồng bào các dân tộc thiểu số, nhằm mục đích thực thi âm mưu “xâm lăng văn hóa”, từ đó đẩy nhanh sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa và xóa bỏ bản sắc văn hóa Việt Nam. Gần đây còn xuất hiện một số học sinh, sinh viên, thiếu lòng tin, nhận thức hạn chế về âm mưu, hoạt động của bọn phản động, viết bài trên blog, tán phát trên mạng đề cao quan điểm "dân chủ tư sản", nói xấu chế độ, vu cáo, nói xấu Đảng, Nhà nước; chống đối của một số cá nhân được các đài, báo và mạng điện tử nước ngoài khai thác triệt để, tạo hình ảnh về một lực lượng quần chúng đông đảo bất bình trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền, tôn giáo. Chúng ngày càng tăng cường tuyên truyền, quảng bá giá trị dân chủ, nhân quyền phương Tây, khuyến khích các hoạt động chống đối của các đối tượng cơ hội chính trị đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập tạo ra các nhân tố tiềm ẩn gây mất ổn định chính trị xã hội. Vì thế, việc đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của bọn phản động thực sự là cuộc đấu tranh phức tạp. Trên cơ sở nhận diện âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá hiện nay, ở mỗi cấp trong quân đội, tổ chức đảng và người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên cần quán triệt sâu sắc, xây dựng kế hoạch hành động cho đơn vị mình thực hiện tốt các nghị quyết, chỉ thị của Đảng trên lĩnh vực chính trị tư tưởng, văn hóa. Đó là cơ sở để đấu tranh bác bỏ các quan điểm sai trái, phản động, cùng mọi luận điệu xuyên tạc, những thông tin sai lệch của các thế lực phản đông và luôn được tiến hành một cách chủ động, tích cực, kịp thời trong quân đội ta hiện nay.

CẢNH GIÁC VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU KÍCH ĐỘNG, CHỐNG ĐỐI DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM TRÊN CÁC TRANG MẠNG XÃ HỘI

 

Được sự hậu thuẫn của chính giới một số nước và tổ chức quốc tế thiếu thiện chí với Việt Nam. Thời gian qua, các tổ chức phản động lưu vong người Việt và các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các trang mạng xã hội như Facebook, blog cá nhân,….khai thác vấn đề dân chủ, nhân quyền để tăng cường các hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam, nhằm thực hiện mưu đồ tác động, chuyển hóa, đa nguyên, đa đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ XHCN ở nước ta. Trong số đó, đáng chú ý trên blog Dân làm báo đã tán phát bài viết: “Có nhân quyền ở Việt Nam không”, với nội dung vu cáo Việt Nam vi phạm tự do, dân chủ, nhân quyền; bôi nhọ, nói xấu Đảng, nói xấu chế độ; đồng thời yêu cầu trả tự do cho các đối tượng Phạm Chí Dũng, Phạm Thị Đoan Trang, Cấn Thị Thiêu,…; qua đó các đối tượng còn kích động người dân xuống đường đấu tranh, đòi quyền “lập hội”, quyền “biểu tình”,…

Có thể khẳng định, nội dung bài viết chứa đầy những thông tin vu cáo, không có cơ sở khoa học và thiếu thực tiễn, đây rõ ràng là những luận điệu xuyên tạc, tráo trở với mục đích diễn biến hòa bình về chính trị, tư tưởng, làm cho mọi người lầm tưởng, hoang mang và nhận thức không đúng về thực tiễn tình hình nhân quyền ở Việt Nam. Sự thật là trong những năm qua, Nhà nước CHXHCN Việt Nam luôn coi con người là mục tiêu, động lực của mọi chính sách phát triển kinh tế - xã hội; luôn nhất quán bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người. Hiến pháp 2013 của Việt Nam bảo đảm mọi công dân có quyền bình đẳng về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, bình đẳng trước pháp luật; quyền tham gia quản lí công việc của nhà nước và xã hội; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do đi lại và cư trú trên đất nước Việt Nam; quyền khiếu nại và tố cáo; quyền lao động, học tập, chăm sóc sức khỏe... không phân biệt giới tính, sắc tộc, tôn giáo. Trên cơ sở hiến pháp, pháp luật Việt Nam tiếp tục cụ thể hóa các quyền này, phù hợp với các chuẩn mực pháp lí quốc tế về nhân quyền. 

Việc thực hiện “Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo” Việt Nam trở thành một trong những quốc gia đầu tiên đạt mục tiêu thiên niên kỉ về xóa đói giảm nghèo. Mọi chính sách phát triển của Việt Nam luôn lấy con người làm trung tâm: Phát triển kinh tế vì con người; tăng trưởng kinh tế gắn với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, giáo dục, nâng cao dân trí, bảo vệ và cải thiện môi trường…Việt Nam đã gia nhập hầu hết các công ước nhân quyền quốc tế chủ chốt và luôn ủng hộ hoạt động của Hội đồng Nhân quyền; hợp tác đầy đủ với các cơ chế nhân quyền Liên hợp quốc. Bạn bè quốc tế đều công nhận và trên thực tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu về thúc đẩy quyền con người, cụ thể là các quyền dân sự và chính trị; quyền của các nhóm dễ bị tổn thương... Chúng ta đã và đang kết hợp hài hòa giữa các giá trị phổ quát của các quyền con người và hoàn cảnh đặc thù riêng của quốc gia, tăng cường hợp tác quốc tế, mở rộng đối thoại trong lĩnh vực quyền con người; nâng cao nhận thức và năng lực của người dân trong việc thụ hưởng các quyền. 

Đảng, Nhà nước ta luôn xác định các quyền con người không thể tách rời độc lập dân tộc và chủ quyền quốc gia. Bằng cuộc đấu tranh bất khuất, kiên cường qua nhiều thế kỉ, dân tộc Việt Nam đã khẳng định, quyền thiêng liêng, cơ bản nhất của con người là quyền được sống trong độc lập, tự do, quyền được tự quyết định vận mệnh của mình. Cùng với thực hiện các chính sách nhất quán của Nhà nước trong việc bảo đảm và thúc đẩy các quyền con người, các lực lượng chức năng của Việt Nam đã chủ động đấu tranh vạch mặt các cá nhân, tổ chức lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền chống Nhà nước Việt Nam, góp phần bảo đảm an ninh quốc gia, giữ vững ổn định chính trị xã hội. Tuy nhiên, mưu đồ lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền hòng vu cáo Việt Nam, thực hiện mưu đồ xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta của các thế lực phản động không hề thay đổi, thậm chí còn gia tăng trong thời gian tới. 

Cùng với đề cao cảnh giác, phát hiện kịp thời, đấu tranh, vô hiệu hóa âm mưu, thủ đoạn mới của các đối tượng phản động lưu vong, chúng ta cần triệt để khai thác, sử dụng các tiện ích của mạng internet và các phương tiện truyền thông đại chúng đẩy mạnh tuyên truyền, làm cho quần chúng nhân dân, chính giới các nước, thành viên các tổ chức quốc tế, bà con Việt kiều hiểu rõ về thực chất, thành tựu nhân quyền đất nước ta đã đạt được, từng bước xóa bỏ quan niệm sai lầm, sự hoài nghi của về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam trước những luận điệu vu cáo, xuyên tạc sự thật. Các cơ quan, ban, ngành liên quan chủ động tham mưu, đề xuất xây dựng chiến lược tuyên truyền về dân chủ, nhân quyền; chủ động trao đổi thông tin với đại sứ quán các nước, không để các tổ chức và đối tượng phản động lưu vong cung cấp cho chính giới, quốc hội các nước những thông tin sai sự thật về tình hình nhân quyền Việt Nam. Chúng ta cũng chủ trương đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao, vạch trần bản chất chống Nhà nước Việt Nam của các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, đề nghị chính giới, Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế không bao che, dung túng, hậu thuẫn cho các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong hoạt động chống Nhà nước Việt Nam.

Tự do ngôn luận, tự do báo chí phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam

 

Tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn là vấn đề nóng bỏng mang tính toàn cầu, đây không chỉ là sự quan tâm của chính quyền ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ mà còn là một đòi hỏi cơ bản về quyền con người; là nhu cầu tinh thần trao đổi thông tin trong quá trình tồn tại, phát triển của mỗi cộng đồng quốc gia, dân tộc nhất là trong thời đại phát triển công nghệ thông tin hiện nay. Tuy nhiên, đây cũng là vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị thường lợi dụng để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ.

Cứ thành một thói quen, vào dịp kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6), trên nhiều trang mạng trong và ngoài nước cũng như một số phương tiện truyền thông quốc tế đã có những đánh giá sai lệch, xuyên tạc thực tế tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam.

Sự thật đằng sau chiêu trò lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn trong và ngoài nước lấy danh nghĩa “dân chủ, nhân quyền” ra sức nguỵ biện để đổi trắng thay đen, nói không thành có, có thành không về thực tế tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay. Đồng thời, họ triệt để lợi dụng sự đánh giá không khách quan, trung thực, thiếu thiện chí của một số hãng thông tấn, báo chí nước ngoài về tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam để vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền nhằm hạ thấp vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

Để đạt được mục đích, họ thành lập một số tổ chức nhân danh báo chí như: “Phóng viên không biên giới”, “The project 88”… để đấu tranh cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”, đưa ra bảng xếp hạng sai lệch về tự do báo chí ở Việt Nam và một số quốc gia, vu khống Việt Nam bóp nghẹt tự do ngôn luận, tự do báo chí. Gây sức ép đòi thả tự do cho các đối tượng bị cơ quan chức năng bắt giữ do vi phạm pháp luật Việt Nam như: Trần Thị Tuyết Diệu, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy, Lê Hữu Minh Tuấn, Phạm Đoan Trang, Lê Trọng Hùng, Trần Quốc Khánh, Trương Châu Hữu Danh, Nguyễn Thanh Nhã, Đoàn Kiên Giang, Nguyễn Phước Trung Bảo… Sâu xa hơn là lợi dụng danh nghĩa đấu tranh “tự do báo chí” để tập hợp lực lượng, hình thành các tổ chức chống đối lật đổ chính quyền.

Cần khẳng định Việt Nam là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, chúng ta tuân thủ luật pháp quốc tế, trong đó có Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và biểu đạt; bao gồm tự do giữ ý kiến mà không bị can thiệp, cũng như tự do tìm kiếm, thu nhận và truyền bá thông tin và tư tưởng bằng bất cứ phương tiện truyền thông nào và không giới hạn về biên giới”.

Tuyên ngôn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa nhân văn cao cả, luôn được Nhà nước Việt Nam tuân thủ, kế thừa, phát triển phù hợp trong từng điều kiện hoàn cảnh. Ngược dòng lịch sử, ngày 9/11/1946, Quốc hội đã thông qua Hiến pháp gồm 7 chương, 70 điều, trong đó, quyền tự do ngôn luận được hiến định ở Điều thứ 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”.

Kế thừa quy định về quyền tự do ngôn luận từ bản Hiến pháp đầu tiên, các văn kiện của Đảng, các bản Hiến pháp các năm 1959, 1980, 1992 và 2013 đều khẳng định và hiện thực hóa quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

Để quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được bảo đảm, thực thi trong thực tế đời sống, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí sửa đổi năm 2016. Trong đó, Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin”. Điều 10 của luật này cũng quy định công dân có quyền tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin.

Như vậy, từ khi Nhà nước ta ra đời đến nay, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí luôn được tôn trọng, bảo đảm và ngày càng được thực thi trong cuộc sống, tạo điều kiện cho công dân được nói lên tiếng nói của mình, đóng góp tài năng, trí tuệ công sức của mình vào công cuộc dựng nước và giữ nước. Đồng thời với việc bảo vệ, tôn trọng, bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật; không để các tổ chức, cá nhân lợi dụng để thực hiện sự tự do vượt quá luật định, với những mưu lợi bất chính, đi ngược lại giá trị của quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí.

Những con số thể hiện giá trị đích thực

Đến hết năm 2021, Việt Nam có 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động, 779 cơ quan báo chí (trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền. Việt Nam còn được ghi nhận là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng Internet cao nhất trên thế giới. Công nghệ thông tin và mạng xã hội đã và đang được sử dụng rộng rãi trong đời sống, sinh hoạt ở Việt Nam. 

Theo báo cáo "Thị trường ứng dụng di động 2021" do Appota phát hành, Việt Nam có khoảng 70% dân số sử dụng điện thoại di động, trong đó có 64% các thuê bao đã kết nối 3G và 4G. Tỷ lệ dân số sử dụng Internet cũng chiếm 70%, lượng người dùng sử dụng Internet qua thiết bị di động chiếm khoảng 95% và trung bình họ có 3 giờ 18 phút để sử dụng Internet qua di động. Đây là con số khá ấn tượng, chứng minh smartphone đang được ưu tiên làm thiết bị kết nối chính nhờ sự tiện lợi và phổ biến.

Số người dùng Facebook tại Việt Nam có 69.280.000 người, chiếm 70,1% dân số. Chất lượng truy cập Internet Việt Nam cơ bản đáp ứng tiêu chuẩn, một số thông số cao hơn số liệu công bố bởi các hệ thống quốc tế. Điều này phản ánh nỗ lực của các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ Internet tại Việt Nam phục vụ nhu cầu sử dụng Internet. Sóng của những hãng thông tấn, báo chí lớn như CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg… đều được tiếp cận dễ dàng tại Việt Nam.

Những minh chứng trên cho thấy, không thể phủ nhận những thành thành tựu to lớn, vững chắc đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam và sự chủ động thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các cam kết quốc tế nhằm bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí mà Việt Nam tham gia. Hãy để người dân Việt Nam tự chấm điểm về thực tế việc thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mình, vì không ai khác, chính mỗi công dân Việt là người trong cuộc, rõ hơn hết việc thực hiện quyền hạn, trách nhiệm, nghĩa vụ đó đến đâu.

Như vậy, cả về lý luận, pháp lý và thực tế cho thấy: pháp luật Việt Nam đã tương thích với luật quốc tế về quyền con người; tôn trọng và bảo đảm quyền con người nói chung, quyền tự do ngôn luận, báo chí nói riêng. Quyền và nghĩa vụ công dân trong thực hiện quyền tự do ngôn luận, báo chí không chỉ thống nhất, mà còn là điều kiện, tiền đề cho nhau. Công dân muốn được hưởng đầy đủ các quyền tự do ngôn luận, báo chí thì phải có nghĩa vụ thực hiện các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ chế độ xã hội, Nhà nước, các quyền và lợi ích của người khác. Ngược lại, các quyền này có thể bị hạn chế hoặc tước bỏ nếu có hành vi vi phạm pháp luật./.

GIÁ TRỊ SOI ĐƯỜNG CỦA TƯ TƯỞNG MÁC!

     Các Mác (Karl Heinrich Marx, sinh ngày 5-5-1818 tại Trier, Vương quốc Phổ, nay là Cộng hòa Liên bang Đức, mất ngày 14-3-1883) là nhà tư tưởng vĩ đại, người khai sinh chủ nghĩa Mác - Lênin. Sự tổng kết khoa học về lịch sử trên cơ sở hiện thực, thực tiễn nhất định làm cho tư tưởng Các Mác có giá trị soi đường của một lý luận “mở”, lý luận phát triển. Cùng với tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nhìn tổng quát, giá trị tư tưởng Các Mác gắn với giá trị cách mạng, bởi tư tưởng của ông là kim chỉ nam để hiểu về bản chất, quy luật vận động và phát triển của thế giới trong quá khứ, hiện tại và tương lai, hướng những người bị nô dịch, bị bóc lột làm cách mạng, “thay cũ đổi mới, thay xấu thành tốt”. Các Mác đã xây dựng và trang bị một thế giới quan và phương pháp luận khoa học cho giai cấp vô sản và nhân loại không chỉ để nhận thức thế giới mà còn cải tạo thế giới; để giai cấp bị áp bức bước lên địa vị làm chủ xã hội mới.

Giá trị tư tưởng Các Mác hợp thành chủ nghĩa mang tên ông - chủ nghĩa Mác - là sự đúc rút, nghiên cứu, phê phán, tiếp thu, “vượt gộp” các nguyên lý đi trước; là sự khái quát lý luận và tổng kết thực tiễn cực kỳ sôi động thông qua một bộ óc sáng tạo thiên tài. Không phải ảo tưởng chủ quan, duy ý chí, sự tổng kết khoa học về lịch sử trên cơ sở hiện thực, thực tiễn nhất định làm cho tư tưởng Các Mác có giá trị soi đường của một lý luận “mở”, lý luận phát triển…

Bằng chủ nghĩa duy vật lịch sử, Các Mác là người đầu tiên đã tìm ra quy luật phát triển của lịch sử loài người thay cho những quan niệm lộn xộn, tùy tiện về lịch sử và chính trị. Thay cho nhận thức sự vận động của lịch sử là nhờ sức mạnh siêu tự nhiên hay ý chí của con người, Các Mác khẳng định quần chúng nhân dân chính là những người sáng tạo chân chính ra lịch sử, vì chính họ là người sáng tạo ra của cải vật chất, thúc đẩy sự vận động của lịch sử.

Trong khi xác nhận sức mạnh từ chính quần chúng, Các Mác đã vạch rõ vai trò lịch sử toàn thế giới của giai cấp công nhân, giai cấp cách mạng nhất trong tất cả các giai cấp từng tồn tại trong lịch sử. Giai cấp công nhân đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản không phải vì sự giải phóng của riêng họ - mặc dầu công cuộc giải phóng đó là trung tâm của sự nghiệp giải phóng con người - mà còn vì lợi ích của mọi tầng lớp nhân dân, trước hết là nhân dân lao động, bằng cách giải phóng họ thoát khỏi mọi sự nô dịch làm tha hóa con người. Học thuyết Các Mác chứng minh rằng, sự giải phóng nhân loại gắn bó chặt chẽ và thống nhất với sự nghiệp giải phóng giai cấp công nhân; giai cấp công nhân chỉ có thể thực hiện công cuộc giải phóng mình bằng sự liên minh với những người bị áp bức, bóc lột để giành chính quyền và tổ chức cuộc sống mới theo con đường cách mạng chứ không thể bằng con đường cải lương.

Những quan điểm nêu trên của Các Mác gắn liền và đồng nghĩa với nhận thức về “quá trình lịch sử - tự nhiên”, tức là vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của mọi hình thái kinh tế - xã hội và sự thay thế các hình thái đó cũng là một quá trình lịch sử - tự nhiên. Gạt bỏ chủ nghĩa chủ quan và thái độ tùy tiện, Các Mác nghiên cứu rộng rãi và toàn diện quá trình phát sinh, phát triển và suy tàn của các hình thái kinh tế - xã hội, bằng cách xem xét toàn bộ các xu hướng mâu thuẫn nhau, tác động lẫn nhau thông qua các điều kiện sinh hoạt và sản xuất của các giai cấp trong xã hội. Điều đó có nghĩa là con người có thể khám phá, nhận thức và vận dụng được các quy luật vận động của lịch sử.

Theo Các Mác, con người nhận thức được quy luật và phải hành động theo quy luật, không được duy tâm, ảo tưởng, lấy lý tưởng thay cho hiện thực, bắt hiện thực phải khuôn theo lý tưởng, mà phải dựa vào những tiền đề khách quan để xóa bỏ xã hội cũ, xây dựng xã hội mới một cách hiện thực. Hiện thực hay tiền đề khách quan nói tới ở đây chính là tất cả những lực lượng sản xuất trong lòng bản thân xã hội cũ phải phát triển chín muồi.

Trên cơ sở tìm thấy mối quan hệ giữa người với người qua sự trao đổi tiền tệ, dẫn tới sức lao động của con người trở thành hàng hóa của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, giá trị tư tưởng Các Mác còn ở chỗ phát hiện ra bí mật của phương thức bóc lột tư bản chủ nghĩa làm cho người lao động bần cùng, cũng là bí mật của lịch sử, đó là học thuyết về giá trị thặng dư. Theo Các Mác, ngay cả khi nhân loại bước vào kinh tế tri thức, tri thức xã hội đã chuyển hóa thành lực lượng sản xuất trực tiếp thì vẫn không thể thiếu được lao động sống với chất lượng lao động cao hơn, tri thức nhiều hơn của một lực lượng công nhân tri thức. Gốc rễ của vấn đề là bản chất bóc lột của tư bản chứ không phải là hình thức bóc lột, bản chất đó xuất phát từ mâu thuẫn kinh tế cơ bản của xã hội tư bản là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất của xã hội ngày càng xã hội hóa cao với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất. Việc phát hiện ra học thuyết này là công lao lịch sử vĩ đại của Các Mác, trở thành điểm trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học.

Cần phải khẳng định một giá trị lớn của tư tưởng Các Mác, đó là tầm nhìn xuyên thế kỷ của ông. Những phát hiện của Các Mác về tính khủng hoảng kinh tế của chủ nghĩa tư bản có rất nhiều mối liên hệ với cuộc khủng hoảng kinh tế ở nước Mỹ và một số nước tư bản khác trong những năm qua. Một số nhà chính trị và doanh nhân thế giới đã tìm thấy trong di sản của Các Mác lời giải thích về nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ hệ thống tài chính của thế giới đương đại.

Chính từ sự trải nghiệm, phân tích thực tiễn và tổng kết lý luận mà những nhà triết học phương Tây như Giăccơ Đêriđa đã khẳng định rằng “tất cả mọi người trên trái đất này, dù họ muốn, họ biết hay là không, đều là những người kế thừa Mác và chủ nghĩa Mác với mức độ nhất định". Vì vậy, luôn luôn sẽ là một sai lầm nếu không đọc đi đọc lại và tranh luận những tác phẩm của Mác. Phải trung thành với Các Mác trong một tinh thần nhất định của Các Mác để chống lại cái “trật tự thế giới mới” của thị trường tư bản chủ nghĩa với nhiều “vết loét”./.
Yêu nước ST.

QUÂN ĐỘI LÀ CHỖ DỰA VỮNG CHẮC, TIN CẬY CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ NHÂN DÂN



“Cán bộ, chiến sỹ luôn gắn bó máu thịt với nhân dân; tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, giúp dân xoá đói, giảm nghèo; phối hợp xử lý có hiệu quả các tình huống phức tạp, nhất là trên những địa bàn chiến lược, trọng yếu về quốc phòng, an ninh.


Đồng thời, Quân đội luôn là lực lượng nòng cốt, xung kích đi đầu trong phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục sự cố môi trường; qua đó, ngày càng làm sâu sắc hơn, toả sáng hơn phẩm chất "Bộ đội Cụ Hồ" trong tình hình mới; khẳng định vai trò của "Đội quân chiến đấu - Đội quân công tác - Đội quân lao động sản xuất."


Đặc biệt, trong những nỗ lực phòng, chống đại dịch Covid-19 thời gian qua cũng như hiện nay, cán bộ, chiến sỹ toàn quân đã thực sự là chỗ dựa vững chắc, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, xứng đáng là Quân đội của nhân dân, Quân đội trong lòng dân.”


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng



NỮ ANH HÙNG BIẾN MÌNH THÀNH THUỐC N.Ổ 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳

 


Nữ anh hùng biến mình thành thuốc n.ổ là chị Hồ Thị Kỷ, sinh năm 1949 ở ấp Cây Khô, xã Tân Lợi, huyện Thới Bình, trong một gia đình nông dân nghèo, năm 10 tuổi Hồ Thị Kỷ đã được hướng dẫn đưa thư bí mật, đưa tin, năm 12 tuổi được kết nạp vào đội thanh niên tiền phong, sau đó tiếp tục làm giao liên ở ấp, xã. Năm 1968 chị được kết nạp vào Đoàn Thanh niên.


Hồ Thị Kỷ tham gia trận đầu vào ngày 25/4/1969, dùng m.ìn đ.ánh vào Kho Hậu cần của Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 32, ph.á h.uỷ 1 kho đạn, làm cháy 232 căn trại lính và trên 2.000 lít xăng. Hồ Thị Kỷ được tặng bằng khen.


Năm 1969 chị tổ chức nhiều trận đánh biệt động vào thị xã Cà Mau d.iệt á.c ôn và ph.á h.ủy kho tàng v.ũ k.hí, xe của địch, với những thành tích xuất sắc đó chị được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.


Ngày 03/04/1970 chị đưa 10 kg mìn vào đánh Ty Cảnh sát nhưng tình huống diễn ra ngoài dự kiến, không bỏ lỡ thời cơ chi giả vờ làm quen với địch và kịp ấn kíp m.ìn, một tiếng n.ổ long trời từ chi phát ra d.iệt 27 tên á.c ô.n ( trong đó có 01 sĩ quan M.ỹ ) 03 xe quân sự và bốt đ.ịch bị p.há sập, là trận đ.ánh mà Hồ Thị Kỷ đã anh dũng h.y sinh trong tiếng n.ổ, chị là biểu tượng của tuổi trẻ anh hùng trên quê hương cách mạng Cà Mau, chị h.y sinh để lại muôn vàn tình thương của nhân dân với người con gái 21 tuổi vì nước quên mình.


Trong mấy năm làm chiến sĩ biệt động, chị đã đánh 6 trận d.iệt 46 tên đ.ịch, ph.á h.ủy nhiều xe, đ.ạn dược, kho tàng của địch.


Với thành tích đó năm 1972 chị được truy tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang. Để ghi nhận chiến công oanh liệt của nữ anh hùng, xã Tân Lợi quê hương của chị đã mang tên chị, một trường cấp 3, một đường phố Cà Mau cũng mang tên Hồ Thị Kỷ.



Phòng chống tham nhũng là sự nghiệp của toàn dân

Vừa qua, trên trang “Vietnamthoibao” Phạm Đình Bá có bài viết: “Ông Trọng ơi, nhân quyền và đa đảng sẽ giải quyết tham nhũng”, cho rằng tự do báo chí và chế độ đa đảng sẽ giải quyết tham nhũng ở Việt Nam. Thực tế, Phạm Đình Bá đang xuyên tạc tình hình chống tham nhũng ở Việt Nam.


Thứ nhất, lịch sử hai cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc khỏi ách xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ (1945-1975) bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam còn có các Đảng phái khác. Năm 1946, ngoài Đảng Cộng sản, còn có hai đảng khác là Việt Nam Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mạng Đồng Minh Hội. Tuy nhiên, về thực chất lãnh đạo cách mạng Việt Nam vẫn chỉ có Đảng Cộng sản, còn hai đảng Việt Quốc và Việt Cách “theo đuôi Tưởng” không hề đứng về lợi ích dân tộc. Cho đến khi quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, hai đảng này cũng ra đi theo quân Tưởng, trên vũ đài chính trị chỉ còn lại duy nhất Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Thời kỳ sau đó, bên cạnh Đảng Cộng sản Việt Nam cũng tồn tại hai đảng khác là Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam. Cả hai đảng này đều ủng hộ, thừa nhận vai trò, sứ mệnh lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và sau này tự nguyện giải tán. Như vậy, Việt Nam đã từng có chế độ đa đảng, nhưng chính lịch sử cách mạng và nhân dân Việt Nam đã phủ định chế độ đó. Cho nên, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và toàn thể Nhân dân Việt Nam khẳng định, thừa nhận: “Đảng Cộng sản Việt Nam độc tôn lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc mà không cần sự tồn tại của nhiều đảng, nhất thiết, không cần và không thể chấp nhận đa đảng đối lập như các thế lực thù địch mong muốn”.


 Đảng ta khẳng định tham nhũng là: “quốc nạn”, là “giặc nội xâm”, phải lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt vấn đề phòng, chống tham nhũng. Vì vậy, phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng với quyết tâm chính trị ngày càng cao hơn, hành động mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn, với phương châm, “không ngừng, không nghỉ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Phòng, chống tham nhũng là sự nghiệp của toàn dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong năm 2022, đã thi hành kỷ luật cán bộ, đảng viên có hành vi tham nhũng, cố ý làm trái, trong đó có cả cán bộ, đảng viên thuộc diện Bộ chính trị, Ban chấp hành Trung ương quản lý. Việc xử lý kỷ luật và xét xử các vụ án được nhân dân đồng tình ủng hộ, củng cố niềm tin của nhân dân vào công tác phòng chống tham nhũng của Đảng.


Thứ hai, Luật báo chí của Việt Nam khẳng định: báo chí là diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của nhân dân; đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội. Điều 75 Luật Phòng, chống tham nhũng quy định: Cơ quan báo chí, nhà báo có trách nhiệm đấu tranh chống tham nhũng, đưa tin về hoạt động phòng, chống tham nhũng và vụ việc tham nhũng; có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền cung cấp thông tin liên quan đến hành vi tham nhũng. Cơ quan báo chí, nhà báo có trách nhiệm phản ánh khách quan, trung thực và chấp hành các quy định khác của pháp luật về báo chí, quy tắc đạo đức nghề nghiệp khi đưa tin về hoạt động phòng, chống tham nhũng và vụ việc tham nhũng.


Đảng ta khẳng định: công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thời gian qua có bước đột phá là nhờ sự đóng góp rất quan trọng của báo chí nói chung và của các cơ quan báo chí phối hợp nói riêng. Các cơ quan báo chí đã thể hiện rõ vai trò xung kích, đi đầu trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ quyền lợi của nhân dân; là tai mắt của Ðảng, là cầu nối giữa Ðảng với nhân dân trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay. Như vậy, báo chí đã và đang phát huy tốt vai trò của mình trong công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng.


Cả lý luận và thực tiễn cho thấy Phạm Đình Bá đang lợi dụng công tác phòng, chống tham nhũng của Đảng để kích động, chống phá vai trò lãnh đạo của Đảng, cổ suý tư tưởng đa nguyên, đa đảng. Chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với luận điệu xuyên tạc này./.



Bản chất thuyết "Sự kết thúc của lịch sử”

Khi nhìn nhận lại thế kỷ XX, tác giả luận thuyết cho rằng, thế kỷ XX đã chứng kiến nhiều cuộc đối đầu về tư tưởng, trước hết là cuộc đụng độ giữa chủ nghĩa tự do với các tàn tích của chủ nghĩa chuyên quyền, tiếp đến là giữa chủ nghĩa Bolshevic (cộng sản Nga) với chủ nghĩa phát xít, và cuối cùng là giữa chủ nghĩa Mác hiện đại với các tư tưởng hoà bình toàn thế giới. F. Fukuyama cho rằng, sở dĩ chủ nghĩa Mác hiện đại đối đầu với các tư tưởng hoà bình là vì nó đe doạ đưa nhân loại đến cuộc chiến tranh hạt nhân mà theo đó nhân loại sẽ bị tận diệt. Nhưng thế kỷ XX, theo tác giả, cũng đã chứng kiến những bước đi vững chắc của lịch sử tiến đến cái đích cuối cùng của nó là nền dân chủ tự do kiểu phương Tây.

Chủ nghĩa dân chủ tự do của phương Tây được tác giả ca ngợi và tôn sùng giống như ý niệm tuyệt đối, tối thượng hay như mục đích cuối cùng mà lịch sử toàn nhân loại phải đi đến bằng bất cứ giá nào. Đây quả thật là thứ sản phẩm phát sinh từ thuyết mục đích luận trong triết học lịch sử của Hegel.

Francis Fukuyama cũng không ngại ngùng thừa nhận công khai rằng, ông ta đã lấy từ triết học lịch sử của Hegel cái quan niệm cho rằng, lịch sử phát triển theo đường xoáy trôn ốc; rằng sự tiến lên thông qua các vòng khâu phủ định cũng là sự quay về với điểm khởi đầu nơi nó đã xuất phát. Nhưng ở đây F. Fukuyama đã thực hiện một "bước ngoặt sáng tạo": thay vào ý niệm tuyệt đối của Hegel, tư tưởng dân chủ tự do của phương Tây đã được ông chọn làm điểm khởi đầu cho lịch sử nhân loại. ông ta viết: "Chủ nghĩa dân chủ tự do phương Tây gần như đã hoàn tất chu trình phát triển theo vòng tròn của nó để quay trở lại nơi nó đã xuất phát và cũng là điểm cuối cùng của lịch sử toàn thế giới; không phải là một "sự kết thúc của hệ tư tưởng" (ám chỉ hệ tư tưởng cộng sản), cũng không phải là sự hội tụ giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, như người ta đã từng dự đoán trước đó, mà là một chiến thắng xác quyết của chủ nghĩa tự do về kinh tế và chính trị" (Sđd, tr. 368). Duy có điều là nhà triết học chính trị này đã quên mất rằng, để né tránh việc luận chứng cho tính chân lý của điểm khởi đầu (và do đó, cũng là điểm kết thúc) của lịch sử, Hegel đã phải viện đến tôn giáo. Vậy mà "môn đệ sáng lạo" Fukuyama của Hegel, sau ngót 2 thế kỷ, lại giải quyết vấn đề một cách hết sức giản đơn bằng cách mặc nhiên tuyên bố chứ không luận chứng gì cả. Bởi lẽ, như chúng ta biết, cái thứ chủ nghĩa dân chủ tự do của phương Tây được tác giả đề cập đến ở đây chỉ mới ra đời vào giai đoạn hình thành chủ nghĩa tư bản cách đây chưa bao lâu và cũng chỉ bó hẹp trong phạm vi một số quốc gia châu âu Vậy làm sao nó xứng đáng và có thể đảm nhận vai trò là điểm khởi đầu mang tính phổ quát của lịch sử toàn nhân loại.

Đã có nhiều hệ thống triết học và tôn giáo lớn của nhân loại bàn luận một cách có hệ thống về sự kết thúc của lịch sử mà so với chúng, triết học của Francis Fukuyama mới chỉ là "một mẩu vụn tầm thường". Tuy nhiên, vấn đề không đơn giản là như vậy. Mác và Ăngghen ngay khi sinh thời cũng đã chỉ ra rằng, một trong những điểm yếu nhất của triết học Hegel là nhà triết học này đã cho sự phát triển ngưng đọng lại ở trạng thái tuyệt đối - một kết cuộc hoàn toàn trái ngược với tinh thần phép biện chứng mà ông ta chính là người sáng tạo ra. Một cách tất yếu và hợp lý, kết luận rút ra từ bản thân hệ thống triết học của Hegel đáng ra phải là: không có gì là tối hậu, thiêng liêng và tuyệt đích, và điều đó cũng đúng trong lĩnh vực lịch sử.

Bản thân phương pháp biện chứng của Hegel đã chỉ cho các nhà tư tưởng đi sau thấy rằng, một trong những điều đáng vút bỏ nhất khỏi hệ thống này chính là sự kết thúc của ý niệm cũng như sự kết thúc của lịch sử thế giới. Vậy mà, gần 200 năm sau, nhà triết học Francis Fukuyama đã lại dựng lại "sự kết thúc" ấy từ trong kho đồ cũ của lịch sử và tuyên bố rằng, các tư tưởng gia vĩ đại hậu Hegel đã bỏ đi phần tinh tuý nhất trong triết học Hegel, rằng Hegel cũng đã dự đoán được trạng thái tối hậu của nhân loại là sự khỏi thị của học thuyết dân chủ tự do giống như điều mà ông ta (Fukuyama) đang khẳng định (Xem sđd, tr.373). Rõ ràng, đây là một sự gò ép khiên cưỡng quan điểm của Hegel mà tác giả "Sự kết thúc của lịch sử?” mong muốn tìm kiếm được chỗ dựa về mặt lý luận.

Thực ra, sự tiến bộ của nhân loại là không có điểm tận cùng. Khẳng định này hầu như đã được các nhà khoa học trong thời đại ngày nay thừa nhận. Việc đặt cho lịch sử một dấu chấm hết, chẳng qua chỉ là cái cách để Francis Fukuyama tán dương và cổ xuý cho công cuộc Mỹ hoá toàn cầu mà Washington đang theo đuổi dưới những chiêu bài khác nhau, như "Chủ nghĩa tự do", thuyết "nhân quyền cao hơn chủ quyền", thuyết "Đồng thuận Washington", thuyết "Sự đụng độ giữa các nền văn minh" hay thuyết "Dân chủ toàn năng” (Unìversal Democraey) v.v.., hiện đang được tất cả các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền rùm beng tại thế giới phương Tây. Tuy nhiên, cách tán dương này không có sức thuyết phục, và trên thực tế nó đã phải hứng chịu nhiều sự chỉ trích không chỉ từ phía các học giả mác xít, mà còn cả từ phía các nhà tư tưởng của các nước đang phát triển, cũng như của chính các học giả thuộc nền văn minh phương Tây.

Để giảm bớt sự chỉ trích đối với học thuyết của mình, F. Fukyama biện hộ rằng, ông ta không phải là người duy nhất quan niệm về lịch sử có điểm tận cùng. Ông đã lấy cuộc sống của Alexandre Kojevel ra làm dẫn chứng: "Trên thực tế Kojeve đã sống đúng với triết lý mà ông giảng dạy. Khi tin tưởng rằng, các nhà triết học đã không còn gì để làm nữa vì Hegel (được hiểu một cách đúng đắn) đã hoàn tất một hệ thống tri thức tuyệt đối, nên sau chiến tranh thế giới thứ II, Kojeve đã thôi giảng triết học và dành quãng đời còn lại của mình làm việc tại Uỷ ban Kinh tế châu âu (EEC)". Thêm vào đó, ông ta còn xuyên tạc Mác khi cho rằng, Mác cũng là bậc tiền bối của ông ta trong thuyết về sự kết thúc của lịch sử, chỉ có điều là trong học thuyết của mình, Mác đi đến kết luận khác với ông ta. Về điểm này, F. Fukuyama viết: "ý tưởng về sự kết thúc của lịch sử cũng không có gì là mới mẻ. Người cổ vũ và tuyên truyền mạnh mẽ nhất cho nó không phải ai khác chính là Mác - người đã tin tưởng rằng khuynh hướng phát triển của lịch sử là mang tính mục đích, được quy định bởi sự tương tác của các lực lượng vật chất, và sẽ đi đến điểm kết thúc chỉ khi tính không tưởng của chủ nghĩa cộng sản được hiện thực hoá và bằng cách này, mọi mâu thuẫn trước đó cuối cùng sẽ được giải quyết".

Cần lưu ý rằng, Francis Fukuyama tuy coi Mác là người cùng trường phái triết học về lịch sử với mình, nhưng lại phê phán Mác từ mọi phương diện, trong đó ông ta tập trung nhiều nhất vào hai luận điểm được coi là hết sức quan trọng. Thứ nhất, Franeis Fukuyama cho rằng, Mác đã xuyên tạc và làm nghèo đi di sản triết học về lịch sử của Hegel, rằng Mác chỉ thuần tuý đề cao động lực vật chất của lịch sử mà không biết đến tác động của che động lực tinh thần đối với lịch sử, thúc đẩy lịch sử tiến lên. Ở đây, ông ta đã cố tình xuyên tạc triết học Mác, khi viết: "Chủ nghĩa duy tâm Hegel đã bị làm nghèo đi trong tay những tư tưởng gia hậu bối. Mác đã lật ngược lại bằng cách đề cao tính thứ nhất của hiện thực, còn tư tưởng hay tất cả những gì thuộc về vương quốc của ý thức như tôn giáo, nghệ thuật, văn hoá, và cả bản thân triết học... đều đã bị đẩy sang "kiến trúc thượng tầng" là cái bị quy định hoàn toàn bởi phương thức sản xuất thống trị".

Thứ hai, “cái di sản bất hạnh của chủ nghĩa Mác để lại cho chúng ta (tức các tư tưởng gia của thế giới phương Tây hiện đại - ND) chính là khuynh hướng quay về với phương pháp duy vật và với chủ nghĩa vị lợi, mỗi khi tiến hành lý giải các hiện tượng chính trị hay lịch sử". Ở đây, Franeis Fukuyama đã phê phán Paul Kennedy (tác giả của cuốn Sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc) cho rằng, Paul Kennedy đã "phạm tội" coi kinh tế là động lực của lịch sử. Hàng loạt các triết gia chính trị theo chủ nghĩa hiện thực của nền văn hoá phương Tây cũng đã trở thành đối tượng của sự phê phán này, bị quy chụp là mang hơi hướng quan điểm duy vật về lịch sử của Mác.

Hơn thế nữa, tác giả của "Sự kết thúc của lịch sử?” còn đánh đồng chủ nghĩa thực dụng Mỹ mà ông gọi là trường phái của Tạp chí phố Wall (The Wall street Joumal School) với quan niệm duy vật khoa học về lịch sử của Mác. Đơn giản là vì trường phái này nhấn mạnh sự chi phối của lợi ích vật chất đối với hành vi của các cá thể trong xã hội.

Để chống lại tính khoa học không thể chối cãi mà quan điểm duy vật về lịch sử của Mác đưa lại cho các nghiên cứu xã hội, Francis Fukuyama đã viện dẫn luận điểm trong tác phẩm The Protestant Ethic and the Spirit ofcapitahsm của Max Weber: "Thực ra chủ đề trung tâm trong tác phẩm của Weber là nhằm chứng minh rằng, hoàn toàn trái ngược với điều Mác nghĩ, tức là với cái quan niệm cho rằng phương thức sản xuất vật chất là nền tảng của sự phát triển xã hội, rằng chính những cái bị coi là miến trúc thượng tầng", chẳng hạn như tôn giáo và văn hoá..., mới thực sự là nền tảng định hì sự phát triển của xã hội...”.

Tất cả những lý lẽ dài Đảng được trình bày nói trên đây chỉ là sự dọn đường cho Francis Fukuyama đi đến các mệnh đề trung tâm đầy tính chất duy tâm chủ nghĩa trong thuyết "Sự kết thúc của lịch sử?”của ông ta. Dưới đây là các luận đề chính:

1. Văn hoá - văn minh của một cộng đồng, một dân tộc, hay một khu vực trong lịch sử chính là cái cơ sở quyết định sự thịnh vượng của các xã hội ấy. Bởi vậy, suy luận ngược theo chiều ngược lại là: khu vực nào thịnh vượng nhất sẽ là khu vực có nền văn hoá - văn minh ưu việt hơn những khu vực khác.

2. Trong bức tranh toàn cầu hiện nay, khu vực phát triển nhất chính là phương Tây. Điều đó đã chúng tỏ rằng, các giá trị của nền văn hoá - văn minh phương Tây là vượt trội hơn hẳn so với các khu vực khác trên thế giới.

3. Đi sâu vào mổ xẻ bản chất của nền văn hoá - văn minh phương Tây, tác giả của luận thuyết đã đột nhiên "phát giác" ra (mà không cần phải luận chứng) rằng: nét đặc trưng tạo thành tính quy định riêng có của nền văn hoá - văn minh ấy chính là ý thức hệ dân chủ tự do.

4. Từ đây có thể đi đến kết luận là, nếu các nước, các khu vực khác trên thế giới muốn đạt đến sự thịnh vượng như trạng thái hiện nay của phương Tây, thì họ buộc phải hấp thụ ý thức hệ của phương Tây, tức là phải coi những chuẩn mực của ý thức hệ ấy là mang tính phổ quát và toàn năng; như vậy, đối với các quốc gia, các xã hội phi phương Tây sẽ không có sự lựa chọn con đường phát triển nào khác ngoài con đường của phương Tây hiện nay.

5. Với ý nghĩa đó, lịch sử đã kết thúc bằng sự đắc thắng của các giá trị văn hoá phương Tây. Văn hoá - văn minh phương Tây với cái tôi là ý thức hệ dân chủ tự do sẽ là điểm tận cùng mà mọi cộng đồng và quốc gia trong lịch sử nhân loại phải đi đến.

6. Sau chủ nghĩa dân chủ tự do phương Tây, sẽ không còn bất cứ bước đột phá nào nữa trong lĩnh vực ý thức hệ. Chủ nghĩa dân chủ tự do đã là điểm tận cùng trong thang bậc tiến hoá của ý thức hệ toàn nhân loại. Từ nay về sau, những bước nhảy về chất chỉ có thể diễn ra trong đời sống vật chất, theo nghĩa là hiện thực hoá khuôn mẫu lý tưởng của chủ nghĩa dân chủ tự do phương Tây. Đó là bản chất của bức thông điệp về Sự kết thúc của lịch sử mà Franeis Fukuyama đưa đến, hay nói đúng hơn, mong muốn đưa đến cho các dân tộc trên thế giới.

Tuy nhiên, thực tiễn phát triển nhân loại đã lần lượt vứt bỏ đủ loại mưu toan thiết lập các trạng thái "tối hậu”, "tuyệt đích", "tận cùng" cho lịch sử hay những gì đại loại như vậy Thuyết Sự tận cùng của lịch sử cũng không tránh khỏi số phận như vậy.

Nhận diện âm mưu, thủ đoạn DBHB trên lĩnh vực quốc phòng an ninh

Gây mất ổn định về an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; phá hoại sức mạnh quốc phòng, an ninh nước ta; tạo cớ cho các hành động can thiệp bằng vũ lực khi có thời cơ là những nội dung cơ bản trong âm mưu "diễn biến hoà bình" chống phá ta trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh.

Các thế lực thù địch tăng cường các hoạt động gây mất ổn định chính trị và an ninh quốc gia. Bằng các thủ đoạn và các biện pháp vừa ngấm ngầm vừa công khai, chúng sẽ ráo riết hoạt động nhằm gây mất ổn định chính trị - xã hội từ nay đến Đại hội X của Đảng. Một mặt, chúng tăng cường nuôi dưỡng, tiếp tay cho các hoạt động chống phá của các tổ chức phản động, các phần tử cơ hội chính trị bất mãn chế độ ở trong nước, đưa lực lượng phản động, chống đối trong số người Việt lưu vong ở nước ngoài thâm nhập vào nội địa; mặt khác, tăng cường các hoạt động vi phạm chủ quyền vùng biển, biên giới, uy hiếp an ninh của nước ta. Để phá hoại Đại hội X, các hoạt động này sẽ được tăng cường cả về quy mô và cường độ. Nếu chúng ta xử lý vấn đề không tốt thì các thế lực thù địch sẽ lợi dụng, tạo cớ để có thể biến thành xung đột vũ trang, thậm chí thành chiến tranh cục bộ chống nước ta. Đây chính là âm mưu của các thế lực thù địch mà chủng chỉ cần có "thời cơ", có "cơ" là thực hiện.

Phá hoại sức mạnh quốc phòng - an ninh, tập trung chống phá lực lượng vũ trang luôn luôn là một trọng điểm ưu tiên của chúng.

Âm mưu "phi chính trị hoá", "vô hiệu hoá" quân đội và công an là âm mưu cơ bản, nội dung chính yếu trong chiến lược chống phá lực lượng vũ trang ta của các thế lực thù địch. Từ nay đến năm 2010, nếu chưa thể “phi chính trị hoá", "vô hiệu hoá", làm cho quân đội và công an ta biến chất, thì chúng cũng hy vọng tạo nên sự dao động nhất định về tư tưởng, sự hoài nghi, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự quản lý của Nhà nước ở một số bộ phận cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang.

Những luận điệu: "quân đội và công an chỉ là của quốc gia, dân tộc, không cần đặt dưới sự lãnh dạo của đảng phái nào, lực lượng chính trị nào!' (!). "Cần phải “chuyên nghiệp" hoá quân đội và công an càng sớm càng tốt", "cần phải học tập kinh nghiệm xây dựng lực lượng vũ trang theo mô hình của quân đội tư sản" (!)... sẽ được chúng sử dụng với nhiều thủ đoạn vừa công khai vừa ngấm ngầm tác động vào quân dội và công an, vào Đảng, Nhà nước và trong xã hội ta. Từ nay đến Đại hội X, những luận điệu trong âm mưu "phi chính trị hoá", "vô hiệu hoá", được chúng thực hiện nhằm làm suy yếu sức mạnh mà trước hết và trực tiếp là sức mạnh chính trị - tinh thần quân dội và công an, gây nên sự mơ hồ, mất cảnh giác trong cán bộ, chiến sĩ, làm cho quân đội và công an không hoàn thành được các nhiệm vụ chính trị của mình.

Tăng cường tiếp xúc, gặp gỡ với một số cán bộ quân đội và công an của ta thông qua việc trao đổi các đoàn quân sự, quân đội và công an thăm viếng lẫn nhau. Đề nghị ta phải tham gia tập trận chung, giúp nhau huấn luyện "chống khủng bố", tham gia tổ chức quân sự, an ninh chung nào đó. Thông qua đó, chúng nắm chắc hơn quần đội và công an của ta, tác động tư tưởng đòi xây dựng lực lượng theo hướng "'chuyên nghiệp”, “quân đội nhà nghề", tìm mọi cách móc nối, đe doạ, mua chuộc cán bộ, nhất là cán bộ cao cấp trong quân đội và công an để cài cắm lực lượng, tạo thời cơ hành động.

Các hoạt động tình báo quân sự, thu thập thông tin tình báo, bí mật quân sự, bí mật quốc gia của ta, tác động vào vấn đề nhân sự Đại hội X cũng được chúng thực hiện ráo nết trong thời gian tới, nhất là từ nay đến Đại hội X bằng các thủ đoạn rất thâm độc như: mua chuộc, chia rẽ, xuyên tạc, công kích, vừa trắng trợn công khai, vừa ngấm ngầm khó thấy. Trong chống phá lực lượng vũ trang, chúng hết sức coi trọng đội ngũ cán bộ cao cấp, cán bộ ở các cơ quan tham mưu chiến lược, chỉ huy các đơn vị, cơ quan trọng yếu.

“Diễn biến hoà bình" là một chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ nhằm thủ liêu phong trào cộng sản quốc tế, thủ tiêu các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó Việt Nam là một trọng điểm. Những dạng chống phá của địch được rút ra từ thực tiễn cách mạng Việt Nam phải được coi là con đường mà đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch thân Mỹ triệt để lợi dụng để chống phá nước ta

Hơn bao giờ hết vấn đề đoàn kết trong Đảng, vấn đề đại đoàn kết toàn dân tộc vì mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" phải được thực hiện thật tốt. Chính việc thực hiện tốt mục tiêu trên sẽ là bức tường thành vững chắc đối phó có hiệu quả nhất sự tấn công của chiến lược "diễn biến hoà bình"./.

Thực hiện nghiêm nguyên tắc Đảng lãnh đạo công tác cán bộ trong hệ thống chính trị.

 Phát huy dân chủ, công khai, minh bạch trong quy trình đánh giá, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, chú trọng ý kiến của Mặt trận Tổ quốc, cấp ủy và nhân dân để tránh chủ quan, lọt những phần tử cơ hội chính trị, cá nhân chủ nghĩa, ngăn chặn tình trạng “mua quan, bán chức”. Xây dựng và thực thi cơ chế thực sự trọng dụng người có đức, có tài, trong đó đức là gốc. Xây dựng cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài cho đất nước.

Nhận diện âm mưu thủ đoạn DBHB trên lĩnh vực đối ngoại

Các thế lực thù địch tiếp tục chống phá đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ quốc tế của ta.

Đây là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu trong âm mưu “diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch trên lĩnh vực đối ngoại, là một trong những mục tiêu quan trọng trong âm mưu chống phá Đại hội X của các thế lực thù địch.

Chúng lợi dụng các diễn đàn, các công ước, luật pháp quốc tế để bôi nhọ hình ảnh và uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Nói xấu, xuyên tạc chính sách của Đảng và Nhà nước ta, ép chúng ta phải theo cái gọi là “luật chơi" quốc tế, cô lập nước ta về chính sách và ngoại giao.Các chiêu bài “dân chủ”, "nhân quyền" sẽ được chúng sử dụng như một thứ vũ khí lợi hại nhằm cô lập Việt Nam về ngoại giao, ép buộc chúng ta phải thay đổi đường lỗi đối ngoại độc lập tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá trong quan hệ quốc tế.

Ra sức lợi đụng quá trình chúng ta mở rộng hoạt động đối ngoại, giao lưu, hội nhập quốc tế để đẩy mạnh các hoạt động "diễn biến hoà bình" chống phá ta trên các lĩnh vực khác.

Cần khẳng định rằng, các nội dung chống phá cách mạng nước ta về chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hoá, quốc phòng, an ninh cũng đều được thực hiện thông qua lĩnh vực đối ngoại. Một số thế lực ở các nước phương Tây thực hiện chính sách hai mặt trong quan hệ với Việt Nam theo hướng: một mặt, tiếp tục cải thiện và phát triển quan hệ song phương, đa phương với nước ta trên các lĩnh vực kinh tế, văn hoá, nhưng mặt khác, vẫn ngấm ngầm đẩy mạnh, khuyến khích các lực lượng, các hoạt động chống phá chế độ ta.

Chúng sẽ thực hiện những thủ đoạn vừa tinh vi, mềm dẻo vừa mang tính đe doạ, đòi chúng ta phải có chính sách "mở rộng" hơn, "thông thoáng" hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, nhưng thực chất là tạo cho chúng có điều kiện ngày càng bám sâu hơn vào cơ thể xã hội ta để chống phá.

Lợi dụng quá trình nước ta gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) để đưa ra những điều kiện về kinh tế, chính trị và ngoại giao buộc nước ta phải có sự "hy sinh", nhượng bộ, thoả hiệp.

Chúng lợi dụng những bất đồng, những sự khác biệt về chế độ chính trị giữa nước ta với các nước ASEAN, các nước láng giềng để chia rẽ, gây mất đoàn kết, phá hoại quan hệ hữu nghị giữa nước ta với các nước bạn, đặc biệt là chia rẽ ba nước Đông Dương, phá hoại quan hệ đoàn kết hữu nghị đặc biệt Việt - Lào, tạo ra sự mất ổn định trong khu vực, để chúng dễ bề đứng ra dàn xếp can thiệp theo ý muốn của chúng.

Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng cách mạng, tăng cường sự thống nhất ý chí, hành động trong Đảng, giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân.

 

 Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, nhất là chi bộ, đảng bộ cơ sở, đặc biệt trong việc giao nhiệm vụ, kiểm tra, giám sát, quản lý. Thực hiện tốt Quy định số 76-QĐ/TW duy trì mối liên hệ chặt chẽ giữa cấp ủy cơ quan và cấp ủy nơi cư trú, bảo đảm sự giám sát thường xuyên của tổ chức đảng và nhân dân đối với cán bộ, đảng viên, công chức. Tạo dư luận mạnh, tích cực để biểu dương các cá nhân, việc làm tốt, lên án các hành động sai trái, vi phạm về tư cách, đạo đức, lối sống.

Những vấn đề chính cần tập trung thực hiện để khắc phục sự suy thoái về đạo đức, lối sống

 

- Thực sự coi trọng việc giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Tăng cường đấu tranh chống các âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình”; ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức, lối sống tư sản.

- Nâng cao chất lượng, triển khai theo chiều sâu và lồng ghép các nội dung của việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với các nhiệm vụ chính trị, chương trình phát triển kinh tế - xã hội, trong các lĩnh vực xã hội khác nhau, duy trì thường xuyên trong sinh hoạt đảng. Bổ sung vào thang giá trị đạo đức, các phẩm chất đạo đức cơ bản của cán bộ, đảng viên các tiêu chí: dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; có tinh thần dũng cảm đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ.

- Tăng cường cơ chế giám sát về tư cách đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, công chức từ phía cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, nhất là từ tổ chức đảng. Hoàn thiện hệ thống các văn bản quy định, các thiết chế bảo đảm việc phòng ngừa và khắc phục sự suy thoái trong Đảng, Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội có quy định về trách nhiệm và nêu gương của cán bộ lãnh đạo các cấp trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.

Nhận diện âm mưu thủ đoạn DBHB trên lĩnh vực xã hội

Một nội dung trọng điểm trong chiến lược chống phá cách mạng nước ta là phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, gây chia rẽ, bất ổn và rối loạn về xã hội. Chúng tiếp tục lợi dụng vấn đề "dân chủ', "nhân quyền", "chống tham nhũng", "tôn giáo", "dân tộc” để chống phá ta một cách quyết liệt hơn.

1. Tạo ra các "điểm nóng" về xã hội cũng như "điểm nóng" về chính trị xã hội, tạo sự bất ổn xã hội từ nhỏ đến lớn, lan rộng, kéo dài, từ mâu thuẫn nội bộ nhân dân đẩy lên thành chống đối chính quyền.

2. Tiếp tục kích động vấn đề "dân tộc" tạo ra mâu thuẫn giữa các dân tộc nhất là dân tộc thiểu số. Năm 2005 và các năm tới, chúng sẽ tiếp tục kích động, lôi kéo đồng bào các dân tộc thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên vượt biên trái phép sang Campuchia, tạo ra làn sóng "người tị nạn", hình thành các trại tị nạn ở giáp biên giới Việt Nam, đồng thời khuyến khích việc di dân tự do, nhất là người H'mông ở phía Bắc, làm bất ổn về chính trị - xã hội không chỉ trong nước mà cả khu vực để tạo cớ can thiệp.

3. Tăng cường truyền đạo trái phép, kết hợp hoạt động nhân đạo của các tổ chức NGO... nhất là trong vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc để nắm quần chúng, kích động tư tưởng ly khai dân tộc. Thúc đẩy việc liên kết hoạt động giữa các tôn giáo, phối hợp với các lực lượng phản động, cơ hội trong nước, tạo dựng ngọn cờ hình thành lực lượng đối lập công khai chống chính quyền, tạo ra bất ổn, rối loạn xã hội.

4. Bằng mọi biện pháp để cản trở, hạn chế, thậm chí vô hiệu hoá các chính sách xã hội, và những chủ trương của Đảng, Nhà nước ta giải quyết các vấn đề xã hội. Khoét sâu vào các vấn đề như: phân hoá giàu nghèo, chênh lệch thu nhập, mức sống của các tầng lớp dân cư, giữa thành thị và nông thông, miền xuôi và miền núi, những tiêu cực, tệ nạn xã hội, vấn đề việc làm, giáo dục, chữa bệnh, chăm sóc sức khoẻ v.v... tạo ra những bức xúc xã hội để tuyên truyền kích động trong nhân dân, làm giảm niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước, phá hoại sự đồng thuận trong xã hội.

Khắc phục các khiếm khuyết, bất hợp lý trong cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động của hệ thống chính trị nói chung, trong hệ thống pháp luật và cơ chế điều hành, quản lý đất nước nói riêng, dễ tác động tiêu cực đến tư tưởng chính trị trong cán bộ, đảng viên để phòng, chống suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống

 

- Đổi mới chính trị phải được tiến hành đồng thời với đổi mới kinh tế; cải cách bộ máy quản lý nhà nước theo hướng tinh gọn, có sự phân định chức năng, quyền hạn và trách nhiệm rõ ràng giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Tăng cường tính dân chủ, tính công khai, minh bạch trong hoạt động của hệ thống chính trị nói chung, bộ máy nhà nước nói riêng. Tăng cường cơ chế giám sát, quy định rõ trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, quản lý nhà nước. Tăng cường cơ chế giám sát lẫn nhau giữa các cơ quan quyền lực nhà nước.

- Đổi mới và tăng cường công tác cán bộ và quản lý cán bộ trong hệ thống chính trị. Cải cách cơ chế thi cử, tuyển dụng, đánh giá, đề bạt cán bộ để các công việc này diễn ra thực sự khách quan, công bằng, công khai theo tinh thần trọng dụng người hiền tài. Triệt để xóa bỏ bao cấp, đặc quyền, đặc lợi, bất bình đẳng, bảo đảm công khai, minh bạch các chế độ chính sách, các khoản chi trả cho cán bộ, kể cả xăng xe, nhà đất cho cán bộ trung, cao cấp..., theo hướng tiền tệ hóa và đưa vào tiền lương, phụ cấp. Tiền lương phải bảo đảm được các nhu cầu sống cơ bản của cán bộ. Bảo đảm cán bộ, công chức có thu nhập bằng tiền lương cao hơn mức trung bình của xã hội và hằng năm điều chỉnh theo mức tăng thu nhập quốc dân.

- Tăng cường cơ chế giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đối với hoạt động của các tổ chức, cơ quan trong hệ thống chính trị. Phát huy vai trò của nhân dân trong giám sát đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức, kể cả nơi công tác và nơi cư trú.

Đổi mới tư duy, phát triển lý luận về đạo đức, xây dựng hệ thống các giá trị, chuẩn mực đạo đức phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn đất nước trong giai đoạn hiện nay.

 Coi trọng việc nghiên cứu và truyền bá tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, bao gồm các triết lý, giá trị, chuẩn mực đạo đức truyền thống của dân tộc và đạo đức của người cộng sản. Cụ thể hóa, xây dựng các chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh cho từng giai cấp, tầng lớp, nhóm xã hội, gắn liền với lợi ích và thực tiễn cuộc sống của họ. Để việc rèn luyện, tu dưỡng và thực hành đạo đức cách mạng trở thành lối sống tất yếu thường nhật của mỗi cán bộ, đảng viên.

- Đấu tranh có hiệu quả với chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch; làm thất bại các thủ đoạn tác động vào tư tưởng trong Đảng; tạo cho cán bộ, đảng viên sức đề kháng cao, đủ sức chống lại “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; để mỗi cán bộ, đảng viên phòng, chống có hiệu quả mọi âm mưu, thủ đoạn dù tinh vi đến đâu của chiến lược “diễn biến hòa bình” và vượt lên chính mình, không rơi vào bẫy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Nhận diện những quan điểm sai trái, thù địch về công tác xây dựng, chỉnh đốn đảng

Thời gian qua, các thế lực thù địch đã ra sức công kích, xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng của Việt Nam. Những suy luận vô căn cứ nhưng rất nguy hiểm vừa nhằm xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; vừa nhằm chia rẽ mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân.

Trước những hạn chế, yếu kém trong công tác xây dựng Đảng, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ thời gian qua; các thế lực thù địch, cơ hội chính trị coi đây là cái cớ không gì thuyết phục hơn để xuyên tạc công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Các thế lực thù địch còn ra sức tuyên truyền, xuyên tạc và hơn nữa là cổ súy hành động “từ bỏ”  Đảng Cộng sản Việt Nam. Họ suy diễn một cách vô căn cứ, đồng nhất toàn bộ Đảng Cộng sản với một số đảng viên, cán bộ tham nhũng, thoái hóa, biến chất và lên tiếng rêu rao “Đảng không còn là Đảng do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng không còn mang bản chất cách mạng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động, của dân tộc”. Tinh vi hơn, với chiêu bài “tung hô thần tượng”, các phần tử cơ hội chính trị đã lấy đạo đức, nhân cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh để chỉ trích Đảng vì đã “dung túng”, “bao che” cho cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng cán bộ thoái hóa, biến chất, tham nhũng.

Những luận điệu xuyên tạc trên vẫn là trò “rượu cũ bình mới” nhằm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Vẫn là những quan điểm dân túy thường thấy, các thế lực phản động, cơ hội chính trị lấy danh nghĩa đứng về phía nhân dân để chỉ trích Đảng và Nhà nước nhằm kích động một bộ phận nhân dân chống lại những quy định của Nhà nước. Mục đích sâu xa của chiêu bài này là bẻ lái dư luận, phủ nhận chế độ của ta, từ đó ca ngợi, cổ xúy, hướng lái theo cái họ gọi là giá trị xã hội phương Tây. Bên cạnh đó, thông qua việc bóp méo tình hình Việt Nam, các thế lực thù địch cũng cố tình xuyên tạc bản chất ưu việt, nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng.

Những luận điệu cố tình xuyên tạc, phủ nhận công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam thời gian qua xuất phát từ dã tâm thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước. Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần tỉnh táo nhận diện; có thái độ khách quan, công tâm trong nhìn nhận, đánh giá; đồng thời, kiên quyết đấu tranh phản bác để luôn giữ vững niềm tin vào Đảng - một tổ chức ra đời không phải để “làm quan phát tài” mà luôn đứng về phía cả dân tộc và không có mục đích gì khác ngoài việc mang lại ấm no, hạnh phúc cho nhân dân./.

“Đoàn kết xuôi chiều”

"Đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức” mặc dù không gây tác hại tức thì, không biểu hiện rõ ràng như tình trạng mất đoàn kết để có thể “kích hoạt sự miễn dịch” của tổ chức Đảng, nhưng nó phá hoại sức mạnh của Đảng một cách từ từ, lặng lẽ.

Kết quả các cuộc kiểm tra của Đảng cho thấy nhiều tổ chức đảng và người đứng đầu vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, nội bộ các tổ chức đảng không thực hiện nghiêm túc chế độ phê bình và tự phê bình, đội ngũ cán bộ, đảng viên thiếu tinh thần đấu tranh với những hành vi vi phạm của đồng chí, đồng đội. Nhiều địa phương, cơ quan, đơn vị để cho những khuyết điểm, yếu kém kéo dài nhiều năm, không giải quyết thấu đáo, xử lý dứt điểm mà còn có biểu hiện bao che, dung túng bởi nội bộ tập thể gần như bị tê liệt do thái độ “im lặng đáng sợ” của số đông cán bộ, đảng viên trong đơn vị, cơ quan.

Như vậy, đoàn kết xuôi chiều được nhận diện là căn bệnh đáng báo động ngang hàng với sự mất đoàn kết nội bộ. Đoàn kết xuôi chiều được coi là sự suy thoái trong nhận thức và trong hành động của cán bộ, đảng viên.

Vì vậy, các tổ chức Đảng phải “khắc phục tình trạng xuê xoa, nể nang, thậm chí biến cuộc họp tự phê bình và phê bình thành nơi vuốt ve, ca tụng lẫn nhau; đồng thời cũng ngăn chặn, tránh tình trạng lợi dụng dịp này để "đấu đá," "hạ bệ" nhau với những động cơ không trong sáng”.

Cảnh giác trước chiêu trò xuyên tạc vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam

Không có chuyện cán bộ, chiến sĩ quân đội đang “vô công rồi nghề”, “đông mà không mạnh” như những kẻ hiềm khích, chống đối, chống phá cố tình tô vẽ, thêu dệt. Mỗi công dân Việt Nam cần có trách nhiệm nâng cao nhận thức, cảnh giác trước những chiêu trò thâm độc ấy.

Hãy ngước nhìn lên bầu trời xanh của Tổ quốc. Chắc chắn rồi, sự bình yên ấy không tự nhiên có được, mà là kết quả của sự phòng vệ quốc gia từ xa, từ sớm. Ở nhiều nơi trên đất nước này vẫn có sự hiện diện của tổ chức, đơn vị quân đội luôn “dõi mắt canh trời”, trực SSCĐ 24/24 giờ, với các loại vũ khí có khả năng đánh chặn mọi nguy cơ và các mối đe dọa trong mọi tình huống; sóng radar giăng từng tấc không khí để kịp thời phát hiện bất cứ mục tiêu nào dù là nhỏ nhất xâm phạm chủ quyền bầu trời quốc gia.

Và như vậy, chắc chắn sẽ có hàng nghìn ánh mắt của cán bộ, chiến sĩ dõi lên bầu trời canh giữ bình yên, hay miệt mài thao tác vũ khí trang bị để bảo vệ, vận hành sự bình yên đó.

Hãy hình dung về 3/4 diện tích đất nước thân yêu-biển, đảo của chúng ta dẫu còn nhiều “giông bão”, nhưng chủ quyền thiêng liêng luôn được giữ vững kể từ sau ngày đất nước thống nhất, Bắc-Nam sum họp một nhà. Nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ vẫn trung kiên ngày đêm thực hiện nhiệm vụ nơi đảo xa, trên những con tàu, nhà dàn DK giữa mênh mông biển lớn.

Tất cả những người lính Cụ Hồ đều đối diện với các thiệt thòi về vật chất lẫn tinh thần, nhưng luôn không hề nao núng, thoái thác nhiệm vụ. Hãy thử đặt mình vào vị trí của những người đang ở nơi “đầu sóng, ngọn gió”, để thêm trân trọng những đóng góp của những chiến sĩ hải quân một lòng trung hiếu, sẵn sàng hy sinh vì độc lập, chủ quyền Tổ quốc.

Hãy nhìn vào thực tế về một đất nước bước ra khỏi cuộc chiến tranh khốc liệt. Sau mấy chục năm hòa bình lập lại, vẫn còn đó không ít bom, mìn, vũ khí tồn đọng, có thể cướp đi sự sống của người dân và hãy khắc ghi sự đóng góp của lực lượng công binh can trường đối mặt với tử thần, tái tạo sự bình an, mang đến môi trường sống an toàn cho hôm nay, mai sau.

Hãy nhìn vào nỗi đau cả thể xác lẫn tinh thần của các nạn nhân chất độc da cam để thấy sự nguy hại đáng sợ của vũ khí hóa học mà kẻ đi xâm lược nhẫn tâm gieo rắc lên lãnh thổ Việt Nam, để thấm ngấm đầy đủ hơn đóng góp của cán bộ, chiến sĩ hóa học đang ngày đêm đối diện với thứ kẻ thù vô hình, xua đi hiểm họa, lấy lại những điều kiện sống cần thiết, tốt đẹp cho nhân dân...

Lại phải nói rõ hơn về trí tuệ của người lính Cụ Hồ đóng góp vào cấu hình môi trường sống hiện hữu. Khi chúng ta cảm nhận về một con đường, một cây cầu, một công trình dân sinh... chỉ nhận thấy tác dụng bảo đảm giao thông, phục vụ dân sinh, kết nối giữa các vùng miền để thông thương hàng hóa. Thế nhưng, sự thật không chỉ có thế.

Khi biến cố xảy ra, khi khởi mào chiến sự, kẻ thù gây hấn, thì lập tức những công trình ấy chuyển hóa phục vụ hiệu quả cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Các nhà máy, xí nghiệp đều có tính lưỡng dụng đến mức tối ưu; các làng xã văn hóa đều bảo đảm các yếu tố, thành tố cấu thành nên khu vực phòng thủ... Những giá trị mang lại ấy là thành quả của trí tuệ Việt Nam, là sản phẩm của nền quốc phòng toàn dân, mà người lính Cụ Hồ là chủ thể tiến hành công tác tham mưu, kiến tạo.

Đó là thành quả vô cùng to lớn, kết nên từ lịch sử chiến tranh và quá trình xây dựng, BVTQ mà QĐND Việt Nam giữ vai trò nòng cốt.

Trong đó, việc kiến tạo nên lực lượng 3 thứ quân; bồi đắp cho mỗi người dân lý tưởng, bản lĩnh, kiến thức quân sự cơ bản... để có thể trở thành người chiến sĩ quả cảm bảo vệ chủ quyền đất nước, thì quả là "phép màu thần kỳ" được kết nên từ một khối lượng công việc đồ sộ mà ngay trong thời bình lớp lớp cán bộ, chiến sĩ quân đội đã và đang dày công vun đắp./.