Khi nhìn nhận lại thế kỷ XX, tác giả luận thuyết cho rằng, thế kỷ XX đã
chứng kiến nhiều cuộc đối đầu về tư tưởng,
trước hết là cuộc đụng độ giữa chủ nghĩa tự do với các tàn tích của chủ nghĩa
chuyên quyền, tiếp đến là giữa chủ nghĩa Bolshevic (cộng sản Nga) với chủ nghĩa
phát xít, và cuối cùng là giữa chủ nghĩa Mác hiện đại với các tư tưởng hoà bình
toàn thế giới. F. Fukuyama cho rằng, sở dĩ
chủ nghĩa Mác hiện đại đối đầu với các tư tưởng hoà bình là vì nó đe doạ đưa nhân loại đến cuộc chiến tranh hạt
nhân mà theo đó nhân loại sẽ bị tận diệt. Nhưng thế kỷ XX, theo tác giả, cũng đã
chứng kiến những bước đi vững chắc của lịch
sử tiến đến cái đích cuối cùng của nó là nền dân chủ tự do kiểu phương Tây.
Chủ nghĩa dân chủ tự
do của phương Tây được tác giả ca ngợi và tôn sùng giống như ý niệm tuyệt đối, tối thượng hay như mục đích cuối cùng mà lịch sử toàn nhân loại
phải đi đến bằng bất cứ giá nào. Đây quả thật là thứ sản phẩm phát sinh từ
thuyết mục đích luận trong triết học lịch sử của Hegel.
Francis Fukuyama cũng không ngại ngùng
thừa nhận công khai rằng, ông ta đã lấy từ triết học lịch sử của Hegel cái quan
niệm cho rằng, lịch sử phát triển theo
đường xoáy trôn ốc; rằng sự tiến lên thông qua các vòng khâu phủ định cũng là sự quay về với điểm khởi đầu nơi nó
đã xuất phát. Nhưng ở đây F.
Fukuyama đã thực hiện một "bước
ngoặt sáng tạo": thay vào ý niệm tuyệt đối của Hegel, tư tưởng dân chủ tự
do của phương Tây đã được ông chọn
làm điểm khởi đầu cho lịch sử nhân loại. ông ta viết: "Chủ nghĩa dân chủ
tự do phương Tây gần như đã hoàn tất chu trình phát triển theo vòng tròn
của nó để quay trở lại nơi nó đã
xuất phát và cũng là điểm cuối cùng của
lịch sử toàn thế giới; không phải là một "sự kết thúc của hệ tư
tưởng" (ám chỉ hệ tư tưởng cộng sản), cũng không phải là sự hội tụ giữa
chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội, như người ta đã từng dự đoán
trước đó, mà là một chiến thắng xác quyết của chủ nghĩa tự do về kinh tế và
chính trị" (Sđd, tr. 368). Duy có điều là nhà triết học chính trị này đã
quên mất rằng, để né tránh việc luận chứng
cho tính chân lý của điểm khởi đầu (và do đó, cũng là điểm kết thúc) của lịch
sử, Hegel đã phải viện đến tôn giáo.
Vậy mà "môn đệ sáng lạo" Fukuyama của Hegel, sau ngót 2 thế kỷ, lại
giải quyết vấn đề một cách hết sức giản đơn bằng cách mặc nhiên tuyên bố chứ
không luận chứng gì cả. Bởi lẽ, như
chúng ta biết, cái thứ chủ nghĩa dân chủ tự do của phương Tây được tác giả đề
cập đến ở đây chỉ mới ra đời vào giai đoạn hình thành chủ nghĩa tư bản cách đây chưa bao lâu và cũng chỉ bó hẹp
trong phạm vi một số quốc gia châu âu Vậy làm sao nó xứng đáng và có thể đảm
nhận vai trò là điểm khởi đầu mang
tính phổ quát của lịch sử toàn nhân loại.
Đã có nhiều hệ thống triết học
và tôn giáo lớn của nhân loại bàn luận một cách có hệ thống về sự kết thúc của
lịch sử mà so với chúng, triết học của Francis Fukuyama mới chỉ là "một
mẩu vụn tầm thường". Tuy nhiên, vấn đề
không đơn giản là như vậy. Mác và Ăngghen ngay khi sinh thời cũng đã chỉ
ra rằng, một trong những điểm yếu nhất của
triết học Hegel là nhà triết học này đã cho sự phát triển ngưng đọng lại ở trạng thái tuyệt đối - một kết
cuộc hoàn toàn trái ngược với tinh thần phép biện chứng mà ông ta chính là
người sáng tạo ra. Một cách tất yếu và hợp lý, kết luận rút ra từ bản thân hệ
thống triết học của Hegel đáng ra phải là: không có gì là tối hậu,
thiêng liêng và tuyệt đích, và điều đó cũng
đúng trong lĩnh vực lịch sử.
Bản
thân phương pháp biện chứng của Hegel đã chỉ cho các nhà tư tưởng đi sau thấy rằng, một trong những điều
đáng vút bỏ nhất khỏi hệ thống này chính là sự kết thúc của ý niệm cũng
như sự kết thúc của lịch sử thế giới. Vậy
mà, gần 200 năm sau, nhà triết học Francis Fukuyama đã lại dựng lại
"sự kết thúc" ấy từ trong kho đồ
cũ của lịch sử và tuyên bố rằng, các tư tưởng gia vĩ đại hậu Hegel đã bỏ
đi phần tinh tuý nhất trong triết học
Hegel, rằng Hegel cũng đã dự đoán
được trạng thái tối hậu của nhân loại là sự khỏi thị của học thuyết dân chủ tự
do giống như điều mà ông ta (Fukuyama) đang khẳng định (Xem sđd, tr.373).
Rõ ràng, đây là một sự gò ép khiên cưỡng quan điểm của Hegel mà tác giả "Sự
kết thúc của lịch sử?” mong muốn tìm kiếm được chỗ dựa về mặt lý luận.
Thực ra, sự tiến bộ
của nhân loại là không có điểm tận cùng. Khẳng định này hầu như đã được các nhà khoa học trong thời đại ngày nay thừa nhận. Việc đặt cho
lịch sử một dấu chấm hết, chẳng qua chỉ là cái cách để Francis Fukuyama tán
dương và cổ xuý cho công cuộc Mỹ hoá
toàn cầu mà Washington đang theo đuổi dưới những chiêu bài khác nhau, như
"Chủ nghĩa tự do", thuyết "nhân quyền cao hơn chủ quyền",
thuyết "Đồng thuận Washington", thuyết "Sự đụng độ giữa các nền
văn minh" hay thuyết "Dân chủ toàn năng” (Unìversal Democraey)
v.v.., hiện đang được tất cả các phương
tiện thông tin đại chúng tuyên truyền rùm beng tại thế giới phương Tây. Tuy
nhiên, cách tán dương này không có sức thuyết phục, và trên thực tế nó đã
phải hứng chịu nhiều sự chỉ trích không chỉ từ phía các học giả mác xít, mà còn
cả từ phía các nhà tư tưởng của các nước
đang phát triển, cũng như của chính các học giả thuộc nền văn minh phương Tây.
Để giảm bớt sự chỉ
trích đối với học thuyết của mình, F. Fukyama biện hộ rằng, ông ta không phải là người duy nhất quan niệm về lịch sử có điểm tận
cùng. Ông đã lấy cuộc sống của Alexandre Kojevel ra làm dẫn chứng:
"Trên thực tế Kojeve đã sống đúng với triết lý mà ông giảng dạy. Khi tin tưởng
rằng, các nhà triết học đã không còn gì để làm nữa vì Hegel (được hiểu
một cách đúng đắn) đã hoàn tất một hệ thống tri thức tuyệt đối, nên sau chiến tranh thế giới thứ II, Kojeve
đã thôi giảng triết học và dành quãng
đời còn lại của mình làm việc tại Uỷ
ban Kinh tế châu âu (EEC)". Thêm vào đó,
ông ta còn xuyên tạc Mác khi cho
rằng, Mác cũng là bậc tiền bối của ông ta trong thuyết về sự kết thúc của lịch
sử, chỉ có điều là trong học thuyết của mình, Mác đi đến kết luận khác với ông ta. Về điểm này, F.
Fukuyama viết: "ý tưởng về sự
kết thúc của lịch sử cũng không có gì
là mới mẻ. Người cổ vũ và tuyên truyền mạnh mẽ nhất cho nó không phải ai khác
chính là Mác - người đã tin tưởng
rằng khuynh hướng phát triển của lịch sử là mang tính mục đích, được quy định
bởi sự tương tác của các lực lượng vật chất, và sẽ đi đến điểm kết thúc chỉ khi
tính không tưởng của chủ nghĩa cộng sản được hiện thực hoá và bằng cách này,
mọi mâu thuẫn trước đó cuối cùng sẽ được giải quyết".
Cần lưu ý rằng, Francis Fukuyama tuy
coi Mác là người cùng trường phái triết học
về lịch sử với mình, nhưng lại phê
phán Mác từ mọi phương diện, trong đó ông ta tập trung nhiều nhất vào hai luận
điểm được coi là hết sức quan trọng. Thứ nhất, Franeis Fukuyama cho rằng, Mác đã xuyên
tạc và làm nghèo đi di sản triết học về
lịch sử của Hegel, rằng Mác chỉ thuần tuý đề cao động lực vật chất của lịch sử
mà không biết đến tác động của che động lực tinh thần đối với lịch sử, thúc đẩy
lịch sử tiến lên. Ở đây, ông ta đã cố tình xuyên tạc triết học Mác, khi viết: "Chủ nghĩa duy tâm Hegel
đã bị làm nghèo đi trong tay những
tư tưởng gia hậu bối. Mác đã lật ngược
lại bằng cách đề cao tính thứ nhất của hiện thực, còn tư tưởng hay tất cả những gì thuộc về vương quốc của ý thức như tôn giáo, nghệ thuật, văn hoá, và cả bản thân
triết học... đều đã bị đẩy sang
"kiến trúc thượng tầng" là cái bị quy định hoàn toàn bởi phương thức
sản xuất thống trị".
Thứ hai, “cái di
sản bất hạnh của chủ nghĩa Mác để lại cho chúng ta (tức các tư tưởng gia của
thế giới phương Tây hiện đại - ND) chính là khuynh hướng quay về với phương
pháp duy vật và với
chủ nghĩa vị lợi, mỗi khi tiến hành lý giải các hiện tượng chính trị hay lịch sử". Ở đây, Franeis Fukuyama đã phê
phán Paul Kennedy (tác giả của cuốn Sự hưng
thịnh và suy vong của các cường quốc) cho rằng, Paul Kennedy đã
"phạm tội" coi kinh tế là động
lực của lịch sử. Hàng loạt các triết gia chính trị theo chủ nghĩa hiện thực của
nền văn hoá phương Tây cũng đã trở thành đối tượng của sự phê phán này, bị quy chụp là mang hơi hướng quan điểm
duy vật về lịch sử của Mác.
Hơn thế nữa, tác giả
của "Sự
kết thúc của lịch sử?” còn đánh đồng chủ
nghĩa thực dụng Mỹ mà ông gọi là trường phái của Tạp chí phố Wall (The
Wall street Joumal School) với quan niệm duy vật khoa học về lịch sử của Mác.
Đơn giản là vì trường phái này nhấn mạnh sự
chi phối của lợi ích vật chất đối với hành vi của các cá thể trong xã
hội.
Để chống lại tính
khoa học không thể chối cãi mà quan điểm duy vật về
lịch sử của Mác đưa lại cho các nghiên cứu xã hội, Francis Fukuyama đã viện dẫn luận điểm trong tác phẩm The Protestant
Ethic and the Spirit ofcapitahsm của
Max Weber: "Thực ra chủ đề trung tâm trong tác phẩm của Weber là nhằm
chứng minh rằng, hoàn toàn trái ngược với điều Mác nghĩ, tức là với cái quan
niệm cho rằng phương thức sản xuất vật chất là nền tảng của sự phát triển
xã hội, rằng chính những cái bị coi là miến
trúc thượng tầng", chẳng hạn như tôn giáo và văn hoá..., mới thực sự là
nền tảng định hì sự phát triển của xã hội...”.
Tất cả những lý lẽ dài Đảng được trình bày nói trên đây chỉ là sự dọn đường cho Francis Fukuyama đi
đến các mệnh đề trung tâm đầy tính chất duy tâm chủ nghĩa trong thuyết "Sự
kết thúc của lịch sử?”của ông
ta. Dưới đây là các luận đề chính:
1. Văn hoá - văn
minh của một cộng đồng, một dân tộc, hay một khu vực trong lịch sử chính là cái
cơ sở quyết định sự thịnh vượng của các xã hội ấy. Bởi vậy, suy luận ngược theo chiều ngược lại là: khu vực nào thịnh
vượng nhất sẽ là khu vực có nền văn hoá - văn minh ưu việt hơn những khu vực
khác.
2. Trong bức tranh
toàn cầu hiện nay, khu vực phát triển nhất chính là phương Tây. Điều đó đã chúng tỏ rằng, các giá trị
của nền văn hoá - văn minh phương Tây là
vượt trội hơn hẳn so với các khu vực khác trên thế giới.
3. Đi sâu vào mổ xẻ
bản chất của nền văn hoá - văn minh phương Tây, tác giả của luận thuyết đã đột nhiên "phát giác" ra (mà không cần phải luận chứng) rằng:
nét đặc trưng tạo thành tính quy định riêng có của nền văn hoá - văn minh ấy
chính là ý thức hệ dân chủ tự do.
4. Từ đây có thể đi
đến kết luận là, nếu các nước, các khu vực khác trên thế giới muốn đạt đến sự
thịnh vượng như trạng thái hiện nay của phương Tây, thì họ buộc phải hấp thụ ý thức hệ của phương Tây, tức là phải coi những chuẩn mực của ý
thức hệ ấy là mang tính phổ quát và toàn năng;
như vậy, đối với các quốc gia, các xã hội phi phương Tây sẽ không có sự lựa chọn con đường phát triển nào khác ngoài con
đường của phương Tây hiện nay.
5. Với ý nghĩa đó,
lịch sử đã kết thúc
bằng sự đắc thắng của các giá trị văn hoá
phương Tây. Văn hoá - văn minh phương Tây với cái tôi là ý thức hệ dân
chủ tự do sẽ là điểm tận cùng mà mọi cộng
đồng và quốc gia trong lịch sử nhân loại phải đi đến.
6. Sau chủ nghĩa dân
chủ tự do phương Tây, sẽ không còn bất cứ bước đột phá nào nữa
trong lĩnh vực ý thức hệ. Chủ nghĩa
dân chủ tự do đã là điểm tận cùng
trong thang bậc tiến hoá của ý thức
hệ toàn nhân loại. Từ nay về sau, những bước nhảy về chất chỉ có thể diễn ra
trong đời sống vật chất, theo nghĩa là hiện thực hoá khuôn mẫu lý tưởng của chủ nghĩa dân chủ tự do phương Tây. Đó
là bản chất của bức thông điệp về Sự kết thúc của lịch sử mà Franeis Fukuyama đưa đến, hay nói đúng hơn, mong
muốn đưa đến cho các dân tộc trên thế giới.
Tuy nhiên, thực tiễn
phát triển nhân loại đã lần lượt vứt bỏ đủ loại mưu
toan thiết lập các trạng thái "tối hậu”, "tuyệt đích", "tận
cùng" cho lịch sử hay những gì đại
loại như vậy Thuyết Sự tận cùng của lịch sử cũng không tránh khỏi số phận như vậy.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét