Thứ Năm, 6 tháng 7, 2023

NHẬN DIỆN ÂM MƯU LỢI DỤNG ĐƯỜNG LỐI ĐỐI MỚI ĐỂ CHỐNG PHÁ SỰ NGHIỆP CÁCH MẠNG CỦA ĐẢNG

 

Cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch hiện nay đối diện nhiều khó khăn, phức tạp do việc các thế lực thù địch, phản động, các phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng công nghệ số để xuyên tạc, hướng lái, lan toả thông tin xấu độc với các thủ đoạn nguy hiểm. Những âm mưu, thủ đoạn phá hoại trong thời đại số

Thời đại công nghệ số 4.0 làm thay đổi tư duy, nhận thức, tư tưởng, tình cảm của con người với thế giới chung quanh. Con người tiếp cận với tri thức nhanh chóng hơn, mở ra khả năng tương tác; phương thức tác động của chính quyền với người dân đa dạng hơn, nhất là thông qua mạng xã hội. Từ những tiến bộ về khoa học và công nghệ sẽ xuất hiện nhiều hơn một số xu thế mang tính phổ quát bên cạnh những giá trị chung, truyền thống trong quan hệ xã hội ở các quốc gia nói chung với nhiều mức độ, đặc điểm khác nhau. Đó là xu thế dân chủ hóa đi đôi với cá thể hóa; xu thế đổi mới quản lý, quản trị quốc gia và trách nhiệm giải trình (chuyển đổi hệ thống hành chính mạnh mẽ sang chính phủ điện tử; phân cấp, phân quyền, minh bạch hóa thông tin; tăng cường nguồn lực cho bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả); xu thế tăng cường vai trò giám sát của người dân đối với hoạt động của bộ máy công quyền. Tuy nhiên, bên cạnh mặt tích cực, các hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng trong giai đoạn công nghệ số được các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị triệt để lợi dụng, thực hiện tinh vi và xảo quyệt, nguy hiểm hơn.

Tình hình mới đan xen giữa thời cơ và nguy cơ đòi hỏi phải có nhận thức mới có tính biện chứng, sâu sắc và khách quan. Nhận thức mới sẽ đưa đến những nhiệm vụ mới, lý luận mới, phương pháp đầy sức sáng tạo trong sự nghiệp bảo vệ ANQG nhằm tận dụng, khai thác những yếu tố thuận lợi và hạn chế những khó khăn, thách thức. Các thế lực thù địch, cơ quan tình báo nước ngoài đã triệt để lợi dụng bối cảnh tình hình và chính sách mở cửa, hội nhập sâu rộng của Việt Nam để tiến hành các hoạt động xâm phạm lợi ích, an ninh quốc gia của ta. 

Trong xu thế hội nhập, Việt Nam tham gia ngày càng sâu trong các kênh hợp tác song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực, làm nảy sinh nhu cầu của các thế lực thù địch, cơ quan tình báo nước ngoài thu thập thông tin tình báo nhằm phục vụ thực hiện ý đồ chính trị với nước ta. Đồng thời cũng tạo ra môi trường mới, trong đó đối tác, đối tượng đan xen; đối phương nhiều điều kiện lợi dụng vỏ bọc “đối tác” để tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước. Điển hình như thông qua các hình thức hợp tác trong lĩnh vực kinh tế - thương mại, sử dụng các tổ chức bình phong để hoạt động tình báo; thông qua các hình thức hợp tác văn hóa, giáo dục, du lịch, nghiên cứu khoa học... để lôi kéo, tác động, hướng lái hoặc thu thập thông tin bí mật.

Bên cạnh đó, việc tăng cường hội nhập quốc tế còn kéo theo số lượng, quy mô các cơ quan, tổ chức và người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, người Việt Nam ra nước ngoài tăng nhanh. Điều này cũng tạo ra điều kiện hết sức thuận lợi cho cơ quan tình báo nước ngoài trong việc đưa nhân viên tình báo, mạng lưới cơ sở, trang thiết bị kỹ thuật xâm nhập vào nội địa ta; cũng như có cơ sở xã hội, nguồn tuyển lựa cơ sở phong phú, rộng rãi trong số người Việt Nam đã và đang ra nước ngoài công tác, học tập, lao động...

Đổi mới hình thức đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Tình hình trên cho thấy, cuộc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái thù địch trong thời đại công nghệ số hiện nay là rất khó khăn, phức tạp. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn gần 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. Nghị quyết số 35-NQ/TW nêu rõ, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

Đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị là một trong những nội dung trong 12 định hướng phát triển đất nước giai đoạn 2021-2030 được Đảng ta xác định trong Văn kiện Đại hội XIII. Việc tăng cường, đẩy mạnh các biện pháp đấu tranh chống các luận điệu sai trái, xuyên tạc không chỉ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ chế độ và sự ổn định của đất nước mà còn nhằm bảo vệ uy tín, hình ảnh Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.

 

TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC GIÁO DỤC NÂNG CAO NHẬN THỨC VỀ BẢO VỆ TỔ QUỐC VIỆT NAM XÃ HỘI CHỦ NGHĨA TRONG TÌNH HÌNH MỚI

  Công tác giáo dục quốc phòng và an ninh có vai trò quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; trực tiếp góp phần củng cố, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Trong giai đoạn cách mạng mới, việc nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác này càng trở nên cấp thiết. Trước yêu cầu bức thiết của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng ta nhận thức sâu sắc và thể hiện rõ quan điểm về phát triển kinh tế độc lập tự chủ, kinh tế biển, bảo vệ chủ quyền biển, đảo trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế; bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, là nhân tố quan trọng bảo đảm cho dân tộc ta phát triển bền vững.

Phát huy vai trò của các đoàn thể chính trị - xã hội và của nhân dân đối với xây dựng quân đội. Mặt khác, cần tiếp tục nâng cao nhận thức, đề cao trách nhiệm của cơ quan chính trị các cấp trong quân đội, nhất là cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, chỉ huy các cấp. Tăng cường giáo dục chủ nghĩa yêu nước, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ chủ trì các cấp, đội ngũ cán bộ chính trị, chính ủy, chính trị viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng và lối sống trong sáng, có kiến thức, năng lực tư duy và khả năng tổ chức hoạt động thực tiễn; xây dựng cơ quan chính trị các cấp vững mạnh. Đẩy mạnh hơn nữa công tác nghiên cứu phát triển lý luận gắn với tổng kết thực tiễn và làm tốt chức năng tham mưu cho Đảng, Nhà nước để có đường lối, chủ trương lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo trong xây dựng quân đội và thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

cần tập trung thực hiện tốt một số nội dung, biện pháp chính như sau:

Một làtăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu cơ quan, tổ chức các cấp đối với công tác giáo dục quốc phòng và an ninh. Theo đó, tiếp tục quán triệt, cập nhật, thực hiện nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về giáo dục quốc phòng và an ninh; trọng tâm là Chỉ thị số 12-CT/TW, ngày 03/5/2007 của Bộ Chính trị (khóa X); Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Luật Giáo dục quốc phòng và an ninh; Quy định số 07-QĐ/BTCTW, ngày 16/4/2008 của Ban Tổ chức Trung ương về tiêu chuẩn kiến thức quốc phòng và an ninh cho cán bộ, đảng viên, v.v. Trên cơ sở đó, huy động sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, một tiêu chí đánh giá năng lực lãnh đạo, quản lý của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và cán bộ chủ trì các cấp. Các bộ, ngành Trung ương, địa phương theo chức năng, nhiệm vụ tích cực đổi mới, tăng cường công tác quản lý nhà nước, hiệu quả phối hợp trong thực hiện công tác này. Thường xuyên rà soát, bổ sung, đẩy mạnh thực hiện các kế hoạch, chương trình hành động, đề án về giáo dục quốc phòng và an ninh, phù hợp với điều kiện của cơ quan, đơn vị, địa phương mình.

Hai làthường xuyên củng cố, kiện toàn, bổ sung quy chế, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hội đồng và cơ quan thường trực hội đồng giáo dục quốc phòng và an ninh các cấp. Cơ quan thường trực hội đồng các cấp thường xuyên rà soát, tham mưu cho cấp ủy, chính quyền cùng cấp bổ sung, kiện toàn hội đồng bảo đảm số lượng, cơ cấu, thành phần hợp lý; xây dựng, hoàn thiện quy chế hoạt động, phát huy vai trò, trách nhiệm của từng thành viên trong hội đồng. Chú trọng nâng cao hiệu quả công tác phối hợp giữa các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể trong triển khai thực hiện; chất lượng tham mưu, dự báo, hướng dẫn các cơ quan, đơn vị trong tổ chức bồi dưỡng kiến thức quốc phòng và an ninh cho các đối tượng; giáo dục quốc phòng và an ninh cho học sinh, sinh viên; tuyên truyền, phổ biến kiến thức quốc phòng và an ninh cho toàn dân, bảo đảm thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19. Đồng thời, tăng cường kiểm tra, thanh tra các cơ quan, đơn vị, địa phương thuộc quyền, kịp thời nhân rộng những điển hình tiên tiến, kinh nghiệm, cách làm hay, khắc phục, chấn chỉnh yếu kém trong chỉ đạo, tổ chức thực hiện công tác này.

 

Tỉnh táo khi sử dụng mạng xã hội

Khi tham gia mạng xã hội, chúng ta có điều kiện giao lưu, kết bạn, chia sẻ nhanh và rộng rãi hơn quan điểm cá nhân đối với các vấn đề xã hội mà mình quan tâm. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực mà mạng xã hội mang lại, vẫn còn những hạn chế, rủi ro, nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến lợi ích người dùng, đặc biệt là tình trạng nhiễu loạn thông tin, gây mất định hướng tư tưởng, nhận thức và hành động của mỗi cá nhân, tổ chức.

Nhiều kẻ xấu lợi dụng mạng xã hội lập ra các tài khoản facebook để thu thập, nhào nặn, trộn lẫn thông tin thật, giả; cắt ghép hình ảnh, tán phát nhằm thu hút, lợi dụng sự hiếu kỳ của người đọc, nhất là thanh thiếu niên để lừa đảo, trục lợi và đôi khi còn để thỏa mãn những mong muốn ảo tưởng tầm thường... gây ra hậu quả khó lường. Đó là chưa kể đến mặt tiêu cực, số đông người sử dụng tuy không có nhiều thông tin, chưa tìm hiểu sự việc nhưng lại thừa quan điểm và thường xuyên quan tâm, bày tỏ quan điểm hoặc chính kiến của mình trên mạng xã hội.

Trên mạng xã hội đang xuất hiện những thông tin sai trái, độc hại có tính chất chính trị như: chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng và cách mạng Việt Nam hòng phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; xuyên tạc, phủ nhận thành tựu, đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước; xuyên tạc lịch sử dân tộc; xuyên tạc thân thế, sự nghiệp, công lao to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; vu cáo, bôi nhọ, giả mạo lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang. Thậm chí nhiều đối tượng còn đưa thông tin kích động xu hướng ly khai, phá hoại sự thống nhất quốc gia, dân tộc, gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, tổ chức các hoạt động bạo lực phá hoại dưới cái mác “ôn hòa”, “bất bạo động”; truyền bá lối sống ích kỷ vụ lợi, xa hoa, trụy lạc, bạo lực và thù hận đối với cá nhân và tổ chức; phá hoại bản sắc văn hóa dân tộc, tuyên truyền, áp đặt các giá trị văn hóa và lối sống phương Tây. Thủ đoạn tuyên truyền, xuyên tạc tinh vi, xảo quyệt… đã tác động tiêu cực đến tư tưởng, hành vi của một bộ phận, nhất là các tầng lớp trí thức, học sinh, sinh viên, văn nghệ sĩ, thậm chí cả người dân bình thường nhưng có lập trường tư tưởng không kiên định. Điều này dễ kiểm chứng nhất khi vừa qua, thông qua mạng xã hội, chúng tổ chức lôi kéo nhiều người tụ tập, kích động bạo lực ở một số địa phương, điển hình là vụ tấn công trụ sở UBND hai xã Ea Tiêu và Ea Ktur (Cư Kuin, Đắk Lắk) sáng 11-6.

  Những thủ đoạn tán phát thông tin xấu, độc bao gồm: sử dụng điện thoại smartphone, máy tính bảng… để quay phim, chụp ảnh, truyền tải video, hình ảnh livestream từ thực địa, tác động nhanh chóng và trực tiếp tới những người tham gia mạng xã hội, tạo hiệu ứng lan truyền rộng khắp; giả mạo các hình ảnh, video hoặc sử dụng các thông tin cũ có hiệu ứng kích động cao đối với cộng đồng mạng để xuyên tạc, lôi kéo người dân; giả mạo lực lượng chức năng (quân đội, công an) trà trộn vào lực lượng tham gia biểu tình hoặc có những hành vi phản cảm để quay phim, chụp ảnh phát tán lên mạng internet, mạng xã hội. Đặc biệt, có nhiều tài khoản được thế lực thù địch mạo danh các nhân vật nổi tiếng, có ảnh hưởng đến cộng đồng để phát huy tối đa khả năng lan truyền thông tin gây hoang mang trong quần chúng, kích động người dân tụ tập biểu tình ngoài thực địa và có hành vi vi phạm pháp luật.

Xu hướng tán phát thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội trong thời gian tới sẽ tập trung chủ yếu vào những vấn đề như: dựa trên những vấn đề phức tạp, mới nảy sinh, những yêu cầu phát triển của đất nước, các diễn biến theo chiều hướng phức tạp trong khu vực và Biển Đông; kích động, cổ vũ cho chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, cực đoan; khuyến khích xây dựng “Xã hội dân sự” ở Việt Nam, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền và hàng loạt vấn đề cốt lõi trong xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị để chống phá. Bên cạnh đó, chúng còn tập trung lựa chọn những nhân tố “điển hình”, “sám hối”, “trở cờ”, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ làm “ngọn cờ” để tập hợp lực lượng chống đối từ bên trong, coi đây là nguồn tán phát trực tiếp thông tin xấu, độc. 

Do vậy, mỗi người sử dụng mạng xã hội cần có bản lĩnh vững vàng, hết sức tỉnh táo khi xem, đọc những thông tin trên mạng xã hội để tự bảo vệ mình trước những thông tin sai trái, tiêu cực; nâng cao ý thức cảnh giác, sàng lọc thông tin trước khi tiếp cận, nghiên cứu, sử dụng.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC DÂN TỘC TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Thực hiện tốt công tác dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần bảo đảm phát triển bền vững đất nước. Bài viết đánh giá vai trò của công tác dân tộc trong quản lý, khai thác và phát huy các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số (DTTS) thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân tộc trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.

 Trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng; Kết luận số 65-KL/TW, ngày 30-10-2019, của Bộ Chính trị “Về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới về thực hiện có hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc; cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức về thực hiện chính sách dân tộc cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân về các Nghị quyết của Đảng về vấn đề dân tộc.

Tếp tục đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo bền vững trên địa bàn các dân tộc. Huy động mọi nguồn lực để phát triển kinh tế phù hợp với đặc điểm, điều kiện từng huyện, từng xã đảm bảo cho đồng bào dân tộc thiểu số khai thác được thế mạnh của địa phương nhằm làm giàu cho gia đình và xã hội. Xây dựng kết cấu hạ tầng mà trước hết là giao thông nông thôn, công trình thủy lợi, nước sinh hoạt, điện thắp sáng và các công trình phúc lợi công cộng khác. Phát triển nông lâm nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với xây dựng nông thôn mới. Khai thác tiềm năng lợi thế về đất đai, khí hậu, khoáng sản, danh lam thắng cảnh, các thế mạnh của từng địa phương trong phát triển kinh tế xã hội.

 Thực trạng thực thi chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay

Bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển là nguyên tắc cơ bản của chính sách dân tộc được Đảng ta đề ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), được khẳng định trong văn kiện các Đại hội, nghị quyết Hội nghị Trung ương của Đảng và trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011(1).

Nguyên tắc này được cụ thể hóa thông qua hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi(2). Nhờ đó, kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi đã có những bước phát triển.

Tuy nhiên, nghiên cứu thực tiễn quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi thời kỳ đổi mới, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế còn tồn tại của hệ thống chính sách(3), đó là:

Thứ nhất, hệ thống chính sách thiếu đồng bộ. Các chính sách phát triển vùng dân tộc, miền núi ở nước ta hướng tới khai thác nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội miền núi, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhưng do cơ chế thực hiện thiếu đồng bộ, quá trình triển khai còn hạn chế, nên chưa tạo điều kiện cho các hộ nghèo nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần. Các văn bản quản lý, hướng dẫn thực hiện một số chính sách chậm được ban hành. Một số chính sách khó thực hiện, hoặc không còn phù hợp với thực tiễn nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung.

Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dân tộc, bảo đảm quyền bình đẳng, cơ hội phát triển và tăng cường đoàn kết các dân tộc trong thời gian tới

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật về công tác quản lý nhà nước về phát triển các dân tộc thiểu số.

Từ kinh nghiệm của các quốc gia đa dân tộc và thực tiễn nước ta cho thấy, để thực hiện quản lý nhà nước về phát triển DTTS, cần sớm ban hành Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nhằm thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn chủ trương của Đảng trong lĩnh vực dân tộc. Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi sẽ quy định các vấn đề về nguyên tắc hỗ trợ, các chính sách hỗ trợ và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc và miền núi; cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về chính sách dân tộc, về quyền con người, quyền công dân của các dân tộc; khắc phục những bất cập về thể chế và chính sách hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi; bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề dân tộc mà Việt Nam tham gia và cam kết thực hiện, như: Công ước về các quyền dân sự, chính trị; Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ..., qua đó thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân của Nhà nước Việt Nam.

Việc xây dựng chính sách phải bảo đảm đúng quy trình, thủ tục quy định trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung chính sách phải bảo đảm tính khoa học, thống nhất và có sự liên kết, tránh chồng chéo, xung đột, mâu thuẫn. Cần tiến hành rà soát chính sách dân tộc hiện nay để điều chỉnh phù hợp với yêu cầu tình hình mới.

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý không chỉ là những nội dung quy định về quản lý, phân công trách nhiệm và quyền lợi giữa các cấp, các tổ chức, mà còn bao gồm hướng dẫn xây dựng, cải tiến tổ chức và điều hành bộ máy, góp phần tăng cường sự tham gia của người dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh nghiệp ở địa phương trong thực hiện công tác dân tộc và hỗ trợ phát triển vùng dân tộc và miền núi. Xây dựng mạng lưới, thúc đẩy sự liên kết giữa các tổ chức và cá nhân trong hỗ trợ phát triển vùng dân tộc và miền núi.

 

 

PHÁT TRIỂN KINH TẾ XÃ HỘI VỚI XÂY DỰNG QUỐC PHÒNG AN NINH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Kết hợp phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh là một tất yếu khách quan, một nội dung quan trọng trong đường lối phát triển đất nước của Đảng ta, nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực tế phát triển nền kinh tế thị trường (KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) cho thấy không phải mọi lúc, mọi nơi, sự kết hợp này được bảo đảm. Vì vậy, cần xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách cũng như tổ chức thực hiện nhằm kết hợp hài hòa, hiệu quả giữa phát triển kinh tế với củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước. Phát triển kinh tế xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng an ninh phải toàn diện, cơ bản, lâu dài ngay từ trong chiến lược, quy hoạch kế hoạch phát triển kinh tế xã hội với tăng cường quốc phòng an ninh trên phạm vi cả nước, từng vùng, từng ngành và ở từng địa phương. Phát triển kinh tế xã hội gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng an ninh phải tập trung có trọng điểm, quan tâm đầu tư vào những vùng, địa bàn chiến lược trọng yếu, biên giới, hải đảo, những ngành, những lĩnh vực hoạt động kinh tế xã hội quan trọng.

Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý giữa các vùng, miền trong cả nước; sẵn sàng động viên nền kinh tế, động viên công nghiệp khi chuyển địa phương từ thời bình sang thời chiến. Bảo đảm an ninh trong công nghiệp, nông nghiệp (an ninh lương thực), chú trọng dự trữ quốc gia. Gắn việc nâng cao năng lực, hiệu quả đánh bắt thủy hải sản xa bờ, hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí, vận tải biển và phát triển hải đảo với bảo vệ chủ quyền biển, đảo của tổ quốc. Phát triển văn hóa, giáo dục, khoa học công nghệ, y tế với việc thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh; tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang từng bước được trang bị hiện đại.

Gắn kết ngay từ khâu lực chọn đối tác trong các dự án đầu tư nước ngoài, những đối tác đầu tư vào nước ta phải có ưu thế chế ngự, cạnh tranh với các thế lực mạnh bên ngoài, làm cho các thế lực thù địch muốn chống phá ta cũng khó khăn. Lựa chọn, phân bố đầu tư vào các vùng, ngành phải chú ý lợi ích cả trước mắt và lâu dài, không ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Phải phối hợp chặt chẽ và toàn diện hoạt động giữa các ngành khoa học với các ngành khoa học của quốc phòng, an ninh trong việc hoạch định chiến lược nghiên cứu phát triển và quản lý sử dụng phục vụ cho cả xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Coi trọng giáo dục bồi dưỡng nhân lực, đào tạo nhân tài của đất nước, đáp ứng cả sự nghiệp xây dựng phát triển kinh tế xã hội, cả quốc phòng, an ninh. Thực hiện có hiệu quả công tác giáo dục quốc phòng, an ninh cho các đối tượng, đặc biệt là trong các nhà trường thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

Trong lĩnh vực y tế: Phối hợp, kết hợp chặt chẽ giữa ngành y tế dân sự với y tế quân sự trong nghiên cứu, ứng dụng, trong đào tạo nguồn nhân lực. Xây dựng kế hoạch động viên y tế dân sự cho quân sự khi có chiến tranh, dịch bệnh xảy ra. Phát huy vai trò của y tế quân sự trong phòng chống, khám chữa bệnh cho nhân dân thời bình và thời chiến. Sự phát triển KTTT cũng có những tác động tiêu cực đến tiềm lực quốc phòng, an ninh đất nước, cụ thể:

Một là, phát triển KTTT dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo, phân tầng xã hội. Đây là một tất yếu do có sự hoạt động và phát huy tác dụng của các quy luật kinh tế khách quan. Sự phân hóa giàu nghèo làm phát sinh những biểu hiện tiêu cực, bất mãn - cơ hội, điều kiện để các thế lực thù địch, tội phạm có thể lợi dụng để dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc, kích động người dân gây tình huống phức tạp về an ninh, trật tự xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm ảnh hưởng xấu tới việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân.

Hai là, phát triển KTTT tác động đến tư tưởng, tình cảm của cán bộ, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang. Kinh tế thị trường tạo điều kiện cho mọi cá nhân trong xã hội làm giàu hợp pháp và đang có nhiều người, bằng tài năng, sức lực và nguồn lực của mình trở nên giàu có. Nhưng cũng có không ít cá nhân làm giàu bất chính và một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức lợi dụng vị trí công tác có hành vi tham nhũng, nhận hối lộ, có nhiều tài sản bất hợp pháp. Điều này tác động đến nhận thức chính trị, tư tưởng, tình cảm, tâm lý, đạo đức của mỗi con người trong đó có cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang, đặc biệt là đối với những người có hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Ba là, đầu tư và thương mại quốc tế bên cạnh những kết quả tích cực mang lại cho nền kinh tế cũng có những tác động tiêu cực tới lĩnh vực quốc phòng, an ninh. Thông qua con đường hợp tác đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch, phản động có thể lợi dụng để thâm nhập vào trong nước, móc nối với các nhân vật bất mãn, phản động, tổ chức các hoạt động chống phá. Cũng thông qua hoạt động đầu tư, thương mại, các thế lực thù địch tìm cách mua chuộc, khống chế cán bộ, công chức trong các cơ quan trọng yếu của Đảng và Nhà nước để cung cấp cho chúng các thông tin liên quan đến quốc phòng, an ninh, phục vụ âm mưu phá hoại, lật đổ. Thông qua đầu tư, đặc biệt là đầu tư vào lĩnh vực giáo dục, đào tạo, văn hóa, nghệ thuật... để truyền bá tư tưởng, văn hóa độc hại, thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình.

N.T.T

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIỮ VỮNG AN NINH BIỂN ĐẢO

 

Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân; yếu tố quan trọng để đất nước phát triển bền vững. Trong bối cảnh thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, khó lường, để bảo vệ chủ quyền biển, đảo, vấn đề cần quan tâm hiện nay là tăng cường sức mạnh quốc gia, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển vững mạnh. Việt Nam đang đứng trước những thách thức gay gắt về bảo vệ an ninh, chủ quyền biển, đảo; về khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường biển; về tình trạng ô nhiễm môi trường biển… Vì vậy, việc bảo vệ an ninh biển, đảo, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu của Đảng, Nhà nước và của toàn dân.Triển khai đồng bộ, hiệu quả các hình thức tuyên truyền, nhất là tuyên truyền miệng ở cơ sở, tuyên truyền qua các tác phẩm văn học – nghệ thuật. Tăng cường thông tin tuyên truyền, cổ động thông qua các phương tiện trực quan (màn hình led, màn hình điện tử, panô, áp phích, băng rôn, tại những nơi tập trung đông người, các tuyến đường mẫu, khu chế xuất, khu công nghiệp, trường học, bệnh viện, siêu thị, nhà ga, bến xe, sân bay, khu dân cư, cao ốc, văn phòng, cơ quan, thang máy chung cư… Tiếp tục phát huy vai trò của đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên, cán bộ cơ sở; chức sắc tôn giáo; người có uy tín trong cộng đồng; hội viên các tổ chức chính trị - xã hội trong tuyên truyền về biển, đảo. Tích cực tiến hành các hoạt động trao đổi, đối thoại, đấu tranh với các cá nhân, tổ chức có nhận thức chưa đầy đủ về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo.

Đặc biệt, cần phát huy vai trò, hiệu quả của báo chí truyền thông trong công tác tuyên truyền biển, đảo. Cung cấp các thông tin nhanh chóng, chính xác và tạo điều kiện tốt cho các cơ quan báo chí Việt Nam và nước ngoài. Bên cạnh đó, kiên quyết xử lý nghiêm những tập thể, cá nhân đưa tin sai lệch về chủ trương, chính sách, lập trường của Đảng, Nhà nước ta trong vấn đề về Biển Đông.

Trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo cần: “Nỗ lực phấn đấu để ngăn ngừa xung đột, chiến tranh và giải quyết các tranh chấp bằng các biện pháp hoà bình phù hợp với luật pháp quốc tế. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển; giữ vững môi trường hoà bình, ổn định để phát triển”. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo là vấn đề hệ trọng, nhạy cảm, lâu dài, do đó, quan điểm chung trong đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo là “kiên quyết, kiên trì”, “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, “kiên định nguyên tắc chiến lược, linh hoạt về sách lược”; những gì thuộc về nguyên tắc kiên quyết giữ; những gì thuộc về độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ kiên quyết không nhân nhượng, song phải có đối sách phù hợp, giữ vững chủ quyền biển, đảo nhưng phải ổn định chính trị, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước. Đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo cần có sự kết hợp sức mạnh trên các mặt trận: Kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa, sự đồng tình, đồng thuận, đại đoàn kết toàn dân tộc và sử ủng hộ quốc tế. Quán triệt quan điểm đó, để bảo đảm tốt an ninh, chủ quyền biển, đảo, cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm sau:

Một là, phát triển mạnh mẽ, vững chắc kinh tế - xã hội vùng ven biển, hải đảo, làm cứ điểm phát triển toàn diện kinh tế biển. Đầu tư thích đáng cho các ngành kinh tế biển có thế mạnh, như khai thác, chế biến dầu khí, hệ thống cảng và dịch vụ vận tải biển, đánh bắt xa bờ, nuôi trồng, chế biến thủy, hải sản, du lịch biển, đảo,… Xây dựng các trung tâm dịch vụ có khả năng hỗ trợ mạnh mẽ cho khai thác kinh tế biển, tập trung phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh biển. Tăng cường nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong việc khai thác hiệu quả, bền vững các nguồn tài nguyên biển. Xây dựng các cơ sở hậu cần nghề cá, tránh trú bão, hỗ trợ ngư dân khai thác hải sản xa bờ và hoạt động dài ngày trên biển. Tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích người dân định cư lâu dài trên các đảo. Tăng cường công tác cứu hộ, cứu nạn và bảo đảm an ninh, an toàn trên biển, đảo. 

Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa thúc đẩy nhanh quá trình dân sự hóa các vùng biển, đảo để xây dựng thế trận lòng dân trên biển vững mạnh, đủ khả năng bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển. Dân sự hóa các vùng biển, đảo, tổ chức dân cư, tổ chức sản xuất nhằm khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên trên biển, đồng thời cũng là tiền đề để xây dựng, củng cố và phát huy lực lượng tại chỗ phục vụ chiến lược quốc phòng – an ninh trên biển. Khuyến khích nhân dân định cư ổn định và làm ăn dài ngày trên biển. 

Kết hợp hài hòa giữa các lợi ích kinh tế với yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh trong xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, kết cấu hạ tầng tại các vùng kinh tế ven biển. Gắn kết giữa phát triển kinh tế với nâng cao khả năng phòng thủ vùng biển. Phát huy hiệu quả tối đa các công trình, cơ sở vật chất kỹ thuật “lưỡng dụng” cho mục đích kinh tế và quốc phòng, an ninh. 

Gắn kết chặt chẽ các vùng kinh tế trọng điểm biển với các vùng kinh tế ven biển. Bảo đảm các vùng kinh tế ven biển là hậu cứ vững chắc cho vùng kinh tế biển, kịp thời ứng phó với những tình huống phức tạp phát sinh trên vùng kinh tế biển. Xây dựng các khu quốc phòng – kinh tế tại các đảo, quần đảo, vùng biển, tạo thành những căn cứ vững chắc để bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển, thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của nước ta. 

Ba là, xây dựng lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân vững mạnh đáp ứng yêu cầu bảo đảm an ninh biển, đảo. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ vững chắc biên giới và chủ quyền biển, đảo, vùng trời của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước. Hiện đại hóa, nâng cao sức chiến đấu của hải quân, không quân, bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, những binh chủng hợp thành các quân đoàn, quân khu ven biển và hải đảo. Tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của các lực lượng thực thi pháp luật trên biển. Xây dựng lực lượng vũ trang thành chỗ dựa vững chắc cho những lực lượng dân sự làm kinh tế biển.

Xây dựng lực lượng công an nhân dân bảo đảm đủ sức là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ an ninh chính trị, kinh tế, trật tự, an toàn xã hội vùng biển, hải đảo và các vùng ven biển. Bảo đảm an ninh, trật tự là điều kiện để phát triển kinh tế, nâng cao năng lực quốc phòng. Điều này lại càng cần thiết trong điều kiện biển và hải đảo, nơi gắn liền với công tác bảo vệ sự toàn vẹn biên giới, lãnh thổ. Trình độ bảo đảm an ninh, an toàn xã hội thể hiện trình độ, năng lực làm chủ vùng biển quốc gia. Theo đó, lực lượng công an nhân dân cần được xây dựng để đủ sức làm tốt các nhiệm vụ sau: Xây dựng lực lượng cảnh sát biển làm nòng cốt bảo đảm thực thi pháp luật trên biển. Bảo vệ hoạt động kinh tế biển, tính mạng người dân, tài sản của Nhà nước và nhân dân trên biển. Bảo đảm an toàn giao thông đường biển và ven bờ. Bảo vệ môi trường, kịp thời xử lý các hành vi làm tổn hại đến môi trường biển. Xử lý các tranh chấp lợi ích giữa các tổ chức hoặc cá nhân trong sản xuất, khai thác biển. Tham gia phòng, chống và khắc phục hậu quả thiên tai. Thực thi công tác cứu hộ, cứu nạn trên biển. Bảo đảm an ninh quốc gia trên biển, kịp thời ngăn chặn, xử lý các phương tiện xâm nhập đất liền nhằm các mục tiêu chính trị và các hành vi vi phạm pháp luật.

N.T.T

Phê phán quan điểm cho rằng “đổi mới ở Việt Nam đã cạn kiệt nguồn lực”

Trong xã hội, đổi mới là một cuộc vận động mang tính cách mạng không ngừng để thay cái cũ bằng cái mới tốt đẹp, tiến bộ hơn. Đối với Việt Nam, đổi mới mang tầm vóc của một cuộc cách mạng mà đích hướng tới là phát triển con người, vì mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Như vậy, đổi mới gắn liền với phát triển, là một phương thức của phát triển. Bên cạnh những nguồn lực, động lực thúc đẩy xã hội thì đổi mới cũng luôn gặp những lực cản, trở ngại của tư duy cũ, thể chế cũ, thói quen cũ.

Nguồn lực là một yếu tố quan trọng không thể thiếu trong bất kỳ hoạt động nào nếu muốn có kết quả. Đổi mới sẽ không thể thành công nếu không có các nguồn lực bảo đảm. Nguồn lực của đổi mới là nguồn sức mạnh vật chất và tinh thần được huy động để tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước.

Thế nhưng, vẫn có những luận điệu cho rằng: “đổi mới ở Việt Nam đã cạn kiệt nguồn lực”, “đổi mới như vậy coi như đã xong, không cần đổi mới nữa”! Để phản bác tính chất sai trái của luận điệu này, chúng ta hãy xem xét các chiều cạnh của vấn đề.  Có thể thấy rằng, luận điệu trên không đơn thuần là một bình luận, một nhận định hay một đánh giá, mà ẩn ý của nó là một sự phủ định sạch trơn về nguồn lực của đổi mới. Điều đó cũng đồng nghĩa với phủ định đổi mới. Bởi, khi không còn nguồn lực tiếp sức thì đổi mới tự nó cũng kết thúc. Ẩn ý là rõ ràng và rất tinh vi. Họ không trực tiếp phủ nhận đổi mới, mà phủ nhận đổi mới thông qua phủ định nguồn lực của nó. Từ đó họ “khuyên” ta không nên đổi mới nữa, vì “đổi mới đã xong”, nghĩa là “đổi mới đã chết”(!?). Không đổi mới đồng nghĩa với không phát triển theo mục tiêu, con đường đã xác định, đã lựa chọn; là dừng lại, thỏa hiệp, đầu hàng trước cái cũ, cái lỗi thời, lạc hậu. Chúng ta đã lựa chọn “đổi mới” và có được những thành quả như hôm nay, ấy vậy mà những người đưa ra luận điệu trên lại thấy thành quả đổi mới chỉ là làm “cạn kiệt nguồn lực” của đất nước (!?). Từ đây, một câu hỏi được đặt ra: sự “cạn kiệt nguồn lực” này là do đâu và ai sẽ phải chịu trách nhiệm trước hiện trạng này? Ai cũng biết rằng, công cuộc đổi mới là do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo nhân dân thực hiện, theo đó, một hệ luận rất sâu xa ngầm được rút ra mà ai cũng hiểu sự ám chỉ của nó. Cái tinh vi là họ không trực tiếp đổ lỗi, không quy cho một chủ thể nào một cách trực diện, võ đoán, nhưng đích mà họ nhắm đến là nhất quán, không thay đổi, đó là: phủ nhận đổi mới, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Chỉ một đảng yếu kém, không đủ năng lực và phẩm chất lãnh đạo đất nước, lãnh đạo đổi mới, mới đem lại kết quả tệ hại như vậy, làm tiêu tan mọi nguồn lực của đất nước, triệt tiêu động lực của phát triển. Như vậy, chỉ với một luận điệu nêu ra, họ đã nhằm hai đích: phủ nhận công cuộc đổi mới và vai trò lãnh đạo của Đảng ta.

Chúng ta có thể khẳng định rằng, đổi mới ở Việt Nam chưa bao giờ và sẽ không bao giờ cạn kiệt nguồn lực  bởi đổi mới ở Việt Nam là đổi mới sáng tạo và tự giác. Đó là một chương trình cải cách có mục tiêu, nguyên tắc, lộ trình và những bước đi thích hợp, do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo nhân dân thực hiện. Đổi mới vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, do đó đã phát huy được mọi nguồn lực to lớn trong nhân dân. Mục tiêu đó không chỉ có tác dụng định hướng công cuộc đổi mới mà còn đóng vai trò nguồn lực thúc đẩy đổi mới các lĩnh vực khác. Sự kết hợp giữa “ý Đảng với lòng dân và kỷ cương phép nước” đã tạo ra nguồn lực to lớn, có tính quyết định của đổi mới. Đổi mới ở Việt Nam là sự kết hợp, bắt gặp, đồng thuận giữa đổi mới từ cơ sở, từ phía người dân với đổi mới từ các cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng. Đó là sự đồng thuận giữa “ý Đảng và lòng dân”, làm cho sự nghiệp đổi mới của Việt Nam trở thành sự nghiệp chung của toàn dân, do Đảng lãnh đạo. Bản thân đổi mới là một nguồn lực quan trọng nhất để duy trì lợi thế phát triển. Đổi mới không chỉ là phương thức, mà còn là một nguồn lực của phát triển. Đó là nguồn lực được sinh ra trong quá trình đổi mới, là kết quả của đổi mới, do chính những thành tựu của đổi mới tạo ra. Nguồn lực tự sinh này bắt nguồn từ tầm vóc lịch sử, quyết sách chiến lược của đổi mới; triết lý giải phóng - sáng tạo - phát triển của đổi mới; đặc điểm, tính chất của đổi mới, v.v. Nguồn lực này tiếp thêm sức mạnh cho đổi mới, tạo thế và lực mới cho đất nước ta.

Thời gian qua, bên cạnh những thành công trong khai thác, phát huy các nguồn lực thì những hạn chế, yếu kém trong quản lý cùng với những tiêu cực, lãng phí đã làm thất thoát rất lớn các nguồn lực của đất nước. Điều này đã làm không ít người hiểu sai bản chất của đổi mới, bản chất của Đảng ta, để một số phần tử cơ hội chính trị lợi dụng reo rắc những luận điệu sai trái, thù địch nhằm kích động, gây phân tâm trong một bộ phận nhân dân, cán bộ, đảng viên. Việc vạch trần các thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc và phản bác các luận điệu sai trái của các phần tử cơ hội này là hết sức cần thiết và phải được tiến hành thường xuyên, liên tục.

MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XÂY DỰNG QUỐC PHÒNG AN NINH TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân nhằm nâng cao sức mạnh quốc phòng của đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ chế độ, bảo vệ mọi thành quả cách mạng, bảo vệ sự nghiệp đổi mới; đồng thời ngăn chặn, đẩy lùi âm mưu, thủ đoạn bạo loạn lật đổ, xung đột vũ trang, chiến tranh xâm lược, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và sẵn sàng đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực thù địch.  Xây dựng nền quốc phòng toàn dân nhằm nâng cao sức mạnh quốc phòng của đất nước, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ chế độ, bảo vệ mọi thành quả cách mạng, bảo vệ sự nghiệp đổi mới; đồng thời ngăn chặn, đẩy lùi âm mưu, thủ đoạn bạo loạn lật đổ, xung đột vũ trang, chiến tranh xâm lược, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế, xã hội của đất nước và sẵn sàng đánh thắng mọi cuộc chiến tranh xâm lược của các thế lực thù địch. Bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, là nhân tố quan trọng bảo đảm cho dân tộc ta phát triển bền vững. Nghị quyết của Đảng chỉ rõ: Mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Thực hiện có hiệu quả cải tiến hiện đại hóa giữ gìn, khai thác và sử dụng tốt vũ khí trang bị kỹ thuật trong qui hoạch. Bảo đảm tốt vũ khí trang bị kỹ thuật cho huấn luyện sẵn sàng chiến đấu, các đơn vị làm nhiệm vụ đặc biệt, tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, các đơn vị làm nhiệm vụ bảo vệ vùng trời, biển đảo. Tiếp tục đầu tư nâng cấp hệ thống cơ sở sửa chữa các cấp, làm chủ công nghệ sửa chữa các loại vũ khí trang bị kỹ thuật trong biên chế, đặc biệt các loại vũ khí trang bị kỹ thuật hiện đại mới mua sắm, nâng cao khả năng sửa chữa cơ động.

Cùng với việc xây dựng quân đội, cần tăng cường xây dựng lực lượng an ninh nhân dân bảo vệ an ninh quốc gia. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp, có chất lượng tổng hợp cao, nâng cao khả năng sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu trong các tình huống xảy ra ở cơ sở. Coi trọng xây dựng dân quân cơ động, thường trực ở biên giới, địa bàn trọng điểm. Nghiên cứu trang bị ngày càng hiện đại cho dân quân tự vệ đáp ứng yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. cần tập trung thực hiện một số nhiệm vụ chủ yếu đó là:

   Một là, Các cấp ủy cần tăng cường công tác giáo dục, quán triệt, tuyên truyền trong mọi cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân hiểu rõ hơn về mục tiêu, yêu cầu, nội dung, nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân trong tình hình mới; trong đó chú trọng nâng cao công tác bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho các đối tượng và giáo dục, tuyên truyền kiến thức quốc phòng, an ninh cho học sinh và trong nhân dân, để từ đó nâng cao trình độ nhận thức, ý thức cảnh giác cách mạng cho mọi người, chủ động đấu tranh có hiệu quả với các âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, không để bị động bất ngờ trong mọi tình huống.

   Hai là, Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, năng lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp, các ngành, nhằm bảo đảm việc thực hiện kết hợp phát triển KT-XH với tăng cường QP-AN đúng định hướng, quan điểm của Đảng. Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân, nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển KT-XH gắn với tăng cường QP-AN trên địa bàn. Thường xuyên chú trọng phối hợp đồng bộ, chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, các lực lượng và toàn dân trong triển khai thực hiện kết hợp phát triển KT-XH với tăng cường QP-AN.

   Ba là, Tham mưu xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Phát huy tốt vai trò nòng cốt của lực lượng vũ trang trong giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; nâng cao chất lượng xây dựng và hoạt động của khu vực phòng thủ thành phố vững chắc, làm nòng cốt để xây dựng KVPT tỉnh. Xây dựng lực lượng dự bị động viên, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp. Kết hợp chặt chẽ quốc phòng, an ninh với thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế và phòng chống thiên tai, dịch bệnh. 

N.T.T

Những vấn đề có tính nguyên tắc trong đấu tranh với những biểu hiện của chủ nghĩa xét lại ở Việt Nam hiện nay

Chủ nghĩa xét lại là trào lưu tư tưởng - chính trị thù địch, đối lập với chủ nghĩa Mác - Lênin, xuất hiện trong nội bộ phong trào công nhân và cộng sản quốc tế dưới chiêu bài “xét lại”. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhắc nhở chúng ta: “Cần phải tăng cường giáo dục theo tinh thần chủ nghĩa Mác - Lênin và đấu tranh chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa như chủ nghĩa dân tộc tư sản, chủ nghĩa sô vanh, chủ nghĩa giáo điều và chủ nghĩa xét lại, đặc biệt là chủ nghĩa xét lại”1. Vì vậy, nhận diện và đấu tranh với những biểu hiện của chủ nghĩa xét lại hiện đại để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Chủ nghĩa xét lại không phải là “định mệnh” đối với tất cả các Đảng Cộng sản; sự xuất hiện của nó phản ánh tính chất gay go, quyết liệt của cuộc đấu tranh giai cấp giữa giai cấp công nhân với giai cấp tư sản. Vì vậy, để đấu tranh giành thắng lợi phải luôn tuân theo những vấn đề có tính nguyên tắc sau:

Một là, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân. Trong xã hội có giai cấp và đấu tranh giai cấp, không có khoa học nào vô tư đứng trên giai cấp, đứng ngoài chính trị mà đều phải phục vụ mục đích chính trị của giai cấp nhất định - giai cấp thống trị xã hội. Do đó, thiếu một lập trường kiên định, vững vàng thì sớm muộn sẽ rơi vào những quan điểm sai lầm của chủ nghĩa xét lại và bị giai cấp tư sản đánh gục. Chỉ kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân mới có thế giới quan khoa học, phương pháp luận biện chứng, nhân sinh quan cách mạng để xem xét, nhận định, phân tích một cách khách quan toàn diện các hiện tượng chính trị - xã hội đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ trên thế giới, khu vực và trong nước để có thái độ, trách nhiệm và đề ra quyết sách chính trị đúng đắn, giải quyết hợp lý, hợp tình mọi vấn đề chính trị - xã hội. Vì vậy, để đấu tranh giành thắng lợi, chúng ta phải kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời, kiên trì đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, đấu tranh cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.

Hai là, thường xuyên xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động. Phải vận dụng một cách khoa học, sáng tạo nền tảng tư tưởng đó vào những điều kiện lịch sử, cụ thể, từng thời điểm thích hợp. Đồng thời, phải tuân thủ những nguyên tắc xây dựng Đảng kiểu mới của chủ nghĩa Mác - Lênin làm tốt công tác tư tưởng, công tác tổ chức, cán bộ để toàn Đảng tạo thành một khối thống nhất về ý chí và hành động, thực sự là lãnh tụ chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân, của cả dân tộc Việt Nam.

Ba là, tăng cường giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối chính sách của Đảng, làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ địa vị thống trị trong đời sống tinh thần xã hội, tạo chất miễn dịch tư tưởng cho quần chúng để chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn của chủ nghĩa xét lại. Đặc biệt, chú ý giáo dục lý tưởng cách mạng, động cơ phấn đấu cho thế hệ trẻ, vì chính họ sẽ là người chủ tương lai đất nước và thế hệ kế tục để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản.

Bốn là, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận. Phải thường xuyên lấy lý luận cách mạng soi rọi, dẫn đường cho thực tiễn phát triển đúng hướng, đúng quy luật; đồng thời, phải thông qua thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện và phát triển lý luận, nhất là phát hiện kịp thời những vấn đề nảy sinh, bất cập để sửa chữa kịp thời, tránh giáo điều, máy móc hoặc lợi dụng “đổi mới”, “phát triển” để từng bước xa rời những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Năm là, kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh với quan điểm, tư tưởng chống chủ nghĩa xã hội và đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, xét lại. Sở dĩ như vậy, bởi hai đối tượng đấu tranh này thường cấu kết với nhau, dựa vào nhau để chống phá chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội hiện thực và phong trào cách mạng thế giới. Trong đó, việc đấu tranh với quan điểm, tư tưởng chống chủ nghĩa xã hội phải kiên quyết, triệt để, không khoan nhượng. Nhưng đối với chủ nghĩa cơ hội, xét lại phải hết sức thận trọng, cứng rắn về nguyên tắc, mềm dẻo về sách lược, biết tôn trọng, chờ đợi và không can thiệp vào công việc nội bộ từng đảng để tránh đẩy bạn thành thù, tạo ra mâu thuẫn trong nội bộ phong trào Đảng Cộng sản và công nhân quốc tế.

Sáu là, nêu cao tinh thần đoàn kết quốc tế, phối hợp chặt chẽ cả hành động và lời nói trong cuộc đấu tranh vì lợi ích chung. Quá trình thực hiện, phải luôn nắm chắc tình hình; chủ động vận dụng, triển khai nhiều biện pháp phối hợp sáng tạo, phù hợp; tiến hành một cách thường xuyên ở mọi nơi, mọi lúc, tạo đoàn kết, thống nhất cao cả ở trong nước, khu vực và quốc tế, nhằm tạo sức mạnh tổng hợp trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, những biểu hiện của chủ nghĩa xét lại gắn với cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Đấu tranh có hiệu quả những biểu hiện của chủ nghĩa xét lại hiện đại dưới mọi màu sắc là nhiệm vụ có tính chất mở đường, đóng vai trò rất quan trọng đối với sự thắng lợi của mặt trận đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.

MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TÔN GIÁO

 

Bên cạnh những quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với tôn giáo nhất quán và xuyên suốt, thì thực tế trong hoạt động tôn giáo cũng đặt ra nhiều vấn đề cần tăng cường các giải pháp về quản lý nhà nước; tuyên truyền, giáo dục, phổ biến pháp luật và đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực thực hiện công tác tôn giáo. Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác tôn giáo, tạo điều kiện thuận lợi cho các tôn giáo, chức sắc, tín đồ sinh hoạt tôn giáo bình thường theo quy đúng chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước, Hiến chương, Điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận. Thực hiện quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa thành các văn bản luật, pháp lệnh. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thể hiện nhất quán chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáoTiếp tục quán triệt sâu sắc và thực hiện có hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng; truyên truyền Luật Tín ngưỡng tôn giáo và các quy định của Nhà nước về công tác tôn giáo. Tăng cường sự chỉ đạo của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự phối kết hợp của các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể trong công tác tôn giáo. Về công tác lãnh đạo, chỉ đạo: Phải có nhận thức đúng, hiểu biết thấu đáo về tôn giáo và chính sách tôn giáo, quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng và các văn bản pháp luật của Nhà nước về công tác tôn giáo. Thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý hoạt động tôn giáo theo pháp luật; phát huy vai trò của các cơ quan tham mưu, sự phối hợp giữa các cấp, các ngành, Mặt trận và đoàn thể, đảm bảo tập trung, thống nhất, chủ động, kịp thời, chặt chẽ và đúng pháp luật trong giải quyết các vấn đề tôn giáo phát sinh.  Tạo được sự thống nhất về tư tưởng, nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức các cấp, các ngành về vị trí, vai trò của công tác tôn giáo trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh. Nâng cao ý thức, trách nhiệm quản lý của các cấp, các ngành đối với công tác tôn giáo; xác định rõ trách nhiệm, thẩm quyền, thời hiệu giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan đến tôn giáo của các cấp chính quyền; đồng thời tạo được sự đồng thuận giữa các tôn giáo và chính quyền khi giải quyết các vấn đề có liên quan đến tôn giáo; thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, cập nhật kiến thức cho cán bộ chủ chốt các cấp, cán bộ làm công tác tôn giáo, kinh nghiệm giải quyết các vụ việc phức tạp về tôn giáo. cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau:

Một là, tập trung nâng cao nhận thức, thống nhất quan điểm, trách nhiệm của hệ thống chính trị và toàn xã hội về vấn đề tôn giáo. Trong đó, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến các quan điểm, chủ trương, chính sách về tôn giáo của Đảng và Nhà nước trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là trong chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo. Giáo dục truyền thống yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất Tổ quốc. Làm cho các tôn giáo gắn bó với dân tộc, với đất nước và chủ nghĩa xã hội, hăng hái thi đua xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Giữ gìn và phát huy truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh và nhớ ơn những người có công với Tổ quốc, dân tộc và nhân dân, tôn trọng tín ngưỡng truyền thống của đồng bào các dân tộc và đồng bào có đạo.

Thông qua đó, tăng cường sự đồng thuận giữa những người có tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo; giữa những người có các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Đồng thời, tạo cơ sở để đấu tranh chống những tà đạo, những hoạt động mê tín, dị đoan, lợi dụng tôn giáo làm hại đến lợi ích của Tổ quốc dân tộc và nhân dân.

Hai là, tăng cường công tác vận động quần chúng, xây dựng lực lượng chính trị ở cơ sở. Chú trọng thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở. Đổi mới nội dung, phương thức công tác vận động đồng bào tín đồ các tôn giáo phù hợp với đặc điểm của đồng bào có nhu cầu luôn gắn bó với sinh hoạt tôn giáo và tổ chức tôn giáo.

Tăng cường hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân trong việc tuyên truyền chủ trương, chính sách đối với các chức sắc, chức việc, nhà tu hành và tín đồ tôn giáo. Đặc biệt quan tâm củng cố và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn nơi có đông đồng bào tôn giáo.

N.T.T

Đấu tranh với biểu hiện của chủ nghĩa xét lại hiện đại - nhiệm vụ cấp bách để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng

Chúng ta đều biết, trong từng giai đoạn lịch sử khác nhau, chủ nghĩa xét lại cũng được biểu hiện dưới nhiều hình thức và tên gọi khác nhau, nhưng bản chất của nó không hề thay đổi. Đó là trào lưu tư tưởng đối lập với chủ nghĩa Mác, là tàn dư của tư tưởng tư sản, tiểu tư sản trong phong trào công nhân, là sự phản bội quyền lợi cơ bản lâu dài của phong trào công nhân vì những lợi ích trước mắt, cục bộ của một nhóm người cam tâm đầu hàng trước hệ tư tưởng tư sản. Đặc điểm chung của chủ nghĩa xét lại, về lý luận là triết trung, nguỵ biện, pha tạp cả chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm; về chính trịthì xu thời gió chiều nào che chiều ấy; về kinh tế theo quan điểm thực dụng, cục bộ, vụ lợi cá nhân; về hành động thì phiêu lưu, lúc tả, lúc hữu nhưng thủ đoạn chính trị lại rất tinh vi, xảo quyệt, luồn lách để chui sâu, leo cao. Đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa xét lại là sự dao động ngả nghiêng về chính trị, không kiên định những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, khi cách mạng thuận lợi thì tỏ ra “cấp tiến”, khi cách mạng gặp khó khăn thì thoái lui, thỏa hiệp.

Ở Việt Nam, chủ nghĩa xét lại không có cơ sở kinh tế, chính trị - xã hội để tồn tại dưới dạng “chủ nghĩa”, nó chỉ tồn tại với tính cách là quan điểm, tư tưởng không thành hệ thống lý luận, không nhất quán và biểu hiện ở lời nói, trang viết và hành động,... của một số người, một số tổ chức phi pháp. Bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta cũng còn nhiều hạn chế, khuyết điểm”4 trong bối cảnh quốc tế, khu vực còn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định; các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam,… là mảnh đất màu mỡ để những kẻ xét lại có điều kiện trỗi dậy như “nấm độc sau mưa” với những biểu hiện chính là:

Về sự lựa chọn con đường phát triển của Việt Nam. Trước những vấn đề lớn, phức tạp, cùng một số hạn chế, yếu kém của đất nước chậm được khắc phục,… những phần tử xét lại cho rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam đã sai lầm khi lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội”, họ coi “Chủ nghĩa xã hội mác xít cũng chỉ để tuyên truyền, mơ mộng, phải từ bỏ”5. Và rằng, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ là phương tiện, độc lập dân tộc là mục đích; Cụ Hồ mượn chủ nghĩa Mác - Lênin (phương tiện) để đạt mục đích (độc lập dân tộc), nay mục đích đã đạt được thì từ bỏ phương tiện ấy mới là thức thời, v.v. Từ đó, họ phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Về nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những kẻ xét lại cho rằng, C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh đã tự phủ nhận nhận thức của mình về chủ nghĩa xã hội. Bằng thủ đoạn viện dẫn theo kiểu cắt ghép, xuyên tạc một số ý kiến của C. Mác, Ph. Ăngghen, V.I. Lênin, Hồ Chí Minh để “chứng minh” cho thủ đoạn xét lại toàn bộ những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin về chủ nghĩa xã hội, từ đó phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng ta là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Về vấn đề lịch sử. Thủ đoạn quen thuộc của những phần tử xét lại là xuyên tạc, bôi đen lịch sử tiến đến phủ nhận lịch sử, nhất là những thành quả hào hùng của cách mạng Việt Nam; thậm chí một số trí thức, nhà khoa học, nhất là khoa học lịch sử thoái hóa, biến chất đã từ bỏ tính giai cấp, tính Đảng và tính khách quan khi nghiên cứu lịch sử, cố tình “lật sử”. Họ tìm mọi cách để xuyên tạc lịch sử, “giải thiêng lịch sử”, “giải thiêng anh hùng dân tộc”, hạ bệ lãnh tụ, nói xấu Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời, cổ súy, tô hồng công lao của những kẻ đã từng làm tay sai cho giặc, những kẻ nợ máu với đồng bào ta, v.v.

Những vấn đề trên cho thấy, ở nước ta đang có sự trỗi dậy của tư tưởng xét lại và những kẻ xét lại - một nguy cơ hiện hữu, cần được nhận rõ và đấu tranh kịp thời.