Thực hiện tốt công tác dân tộc, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần bảo đảm phát triển bền vững đất nước. Bài viết đánh giá vai trò của công tác dân tộc trong quản lý, khai thác và phát huy các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số (DTTS) thời gian qua, từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân tộc trong giai đoạn đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.
Trong
văn kiện Đại hội XIII của Đảng; Kết luận số 65-KL/TW, ngày
30-10-2019, của Bộ Chính trị “Về
tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới về thực hiện có hiệu quả
chủ trương, đường lối của Đảng về công tác dân tộc”; cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhận
thức về thực hiện chính sách dân tộc cho cán bộ, đảng viên và Nhân dân về các
Nghị quyết của Đảng về vấn đề dân tộc.
Tếp tục đẩy mạnh công tác
xóa đói giảm nghèo bền vững trên địa bàn các dân tộc. Huy động mọi nguồn lực để
phát triển kinh tế phù hợp với đặc điểm, điều kiện từng huyện, từng xã đảm bảo
cho đồng bào dân tộc thiểu số khai thác được thế mạnh của địa phương nhằm làm
giàu cho gia đình và xã hội. Xây dựng kết cấu hạ tầng mà trước hết là giao
thông nông thôn, công trình thủy lợi, nước sinh hoạt, điện thắp sáng và các
công trình phúc lợi công cộng khác. Phát triển nông lâm nghiệp ứng dụng công
nghệ cao, công nghiệp hóa hiện đại hóa gắn với xây dựng nông thôn mới. Khai
thác tiềm năng lợi thế về đất đai, khí hậu, khoáng sản, danh lam thắng cảnh,
các thế mạnh của từng địa phương trong phát triển kinh tế xã hội.
Thực trạng thực
thi chính sách dân tộc ở nước ta hiện nay
Bình
đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát triển là nguyên tắc cơ bản của
chính sách dân tộc được Đảng ta đề ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), được khẳng định trong văn kiện các
Đại hội, nghị quyết Hội nghị Trung ương của Đảng và trong Cương lĩnh bổ sung,
phát triển năm 2011(1).
Nguyên
tắc này được cụ thể hóa thông qua hệ thống chính sách phát triển kinh tế - xã
hội vùng dân tộc và miền núi(2). Nhờ đó, kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số
và miền núi đã có những bước phát triển.
Tuy
nhiên, nghiên cứu thực tiễn quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc
và miền núi thời kỳ đổi mới, các nhà nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế còn tồn
tại của hệ thống chính sách(3), đó là:
Thứ
nhất, hệ thống chính sách thiếu đồng bộ. Các chính sách phát triển vùng dân
tộc, miền núi ở nước ta hướng tới khai thác nguồn lực để phát triển kinh tế -
xã hội miền núi, từng bước cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần
cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Nhưng do cơ chế thực hiện thiếu đồng bộ, quá
trình triển khai còn hạn chế, nên chưa tạo điều kiện cho các hộ nghèo nâng cao
đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần. Các văn bản quản lý, hướng dẫn thực hiện
một số chính sách chậm được ban hành. Một số chính sách khó thực hiện, hoặc
không còn phù hợp với thực tiễn nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung.
Giải pháp nâng cao hiệu
quả công tác dân tộc, bảo đảm quyền bình đẳng, cơ hội phát triển và tăng cường
đoàn kết các dân tộc trong thời gian tới
Thứ
nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật về công tác quản lý nhà nước về phát triển
các dân tộc thiểu số.
Từ
kinh nghiệm của các quốc gia đa dân tộc và thực tiễn nước ta cho thấy, để thực
hiện quản lý nhà nước về phát triển DTTS, cần sớm ban hành Luật Hỗ trợ phát
triển vùng dân tộc thiểu số và miền núi, nhằm thể chế hóa đầy đủ, đúng đắn chủ
trương của Đảng trong lĩnh vực dân tộc. Luật Hỗ trợ phát triển vùng dân tộc
thiểu số và miền núi sẽ quy định các vấn đề về nguyên tắc hỗ trợ, các chính
sách hỗ trợ và tổ chức thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng
dân tộc và miền núi; cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 2013 về chính
sách dân tộc, về quyền con người, quyền công dân của các dân tộc; khắc phục
những bất cập về thể chế và chính sách hỗ trợ phát triển vùng dân tộc thiểu số
và miền núi; bảo đảm thực hiện các điều ước quốc tế liên quan đến vấn đề dân
tộc mà Việt Nam tham gia và cam kết thực hiện, như: Công ước về các quyền dân
sự, chính trị; Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, Công ước về
xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân
biệt đối xử đối với phụ nữ..., qua đó thể hiện sự tôn trọng và bảo đảm quyền
con người, quyền công dân của Nhà nước Việt Nam.
Việc
xây dựng chính sách phải bảo đảm đúng quy trình, thủ tục quy định trong Luật
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Nội dung chính sách phải bảo đảm tính khoa
học, thống nhất và có sự liên kết, tránh chồng chéo, xung đột, mâu thuẫn. Cần
tiến hành rà soát chính sách dân tộc hiện nay để điều chỉnh phù hợp với yêu cầu
tình hình mới.
Xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp lý không chỉ là những nội dung quy định về
quản lý, phân công trách nhiệm và quyền lợi giữa các cấp, các tổ chức, mà còn
bao gồm hướng dẫn xây dựng, cải tiến tổ chức và điều hành bộ máy, góp phần tăng
cường sự tham gia của người dân, các tổ chức chính trị - xã hội, các doanh
nghiệp ở địa phương trong thực hiện công tác dân tộc và hỗ trợ phát triển vùng
dân tộc và miền núi. Xây dựng mạng lưới, thúc đẩy sự liên kết giữa các tổ chức
và cá nhân trong hỗ trợ phát triển vùng dân tộc và miền núi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét