Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023

CHUẨN BỊ CHO NHIỆM VỤ CAO CẢ, THIÊNG LIÊNG

 Ngày 15-7-1967, Bộ Chính trị mở phiên họp bất thường do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn chủ trì, quyết định lưu giữ thi hài Bác lâu dài và sẽ xây một ngôi lăng của Người.

Sau sinh nhật lần thứ 77, sức khỏe của Chủ tịch Hồ Chí Minh có dấu hiệu giảm sút rõ rệt. Trước tình hình đó, Bộ Chính trị đã có cuộc họp bất thường, khẩn trương và bí mật do Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lê Duẩn chủ trì. Cuộc họp đã bàn hai việc quan trọng. Một là, tiếp tục bằng mọi cách chăm lo sức khỏe của Bác. Mặt khác, không thể tránh khỏi quy luật của tạo hóa, tuổi Bác ngày càng cao mà bệnh tình như vậy có thể không lâu nữa Người sẽ “nằm xuống”. Do đó phải tính tới việc tổ chức lễ quốc tang và có ngay quyết định lưu giữ thi hài Bác lâu dài cho nhân dân cả nước, nhất là nhân dân miền Nam được thấy hình ảnh thật của Bác.
Chính vì vậy, để đáp ứng nguyện vọng của toàn dân, Bộ Chính trị quyết định lưu giữ thi hài Bác lâu dài và sẽ xây một ngôi lăng của Người. Quân ủy Trung ương được trao nhiệm vụ lưu giữ thi hài Bác nếu vạn nhất Người “nằm xuống”. Bộ Kiến trúc (nay là Bộ Xây dựng) được trao cho vai trò chủ yếu trong việc xây dựng lăng, với yêu cầu công trình phải làm sao tương xứng với công lao trời biển của Bác, với uy tín và lòng kính phục Bác của nhân dân ta và bạn bè thế giới. Trong phân công nhiệm vụ, Bộ Chính trị chỉ định đồng chí Nguyễn Lương Bằng (sau này được bầu là Phó chủ tịch nước) trực tiếp theo dõi và chăm sóc sức khỏe Bác hằng ngày.
Đồng chí Lê Thanh Nghị (Phó thủ tướng Chính phủ) được phân công bí mật, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ sớm sang Liên Xô, đề nghị bạn giúp đỡ ta đào tạo gấp một số cán bộ y tế chuyên về lưu giữ thi hài. Đồng thời giúp ta những phương tiện chuyên dùng và thuốc men đặc biệt cần thiết cho công việc này. “Sau cuộc họp chỉ vài ngày, cha tôi đã lên đường đi Liên Xô. Ông kể rằng, trong các cuộc hội đàm, mọi yêu cầu của ta về đề nghị giúp đỡ giữ gìn lâu dài thi hài Chủ tịch Hồ Chí Minh, đã được bạn đồng ý. Đồng thời, Chính phủ Liên Xô cũng cam kết sẵn sàng đào tạo cán bộ y tế cho Việt Nam về chuyên môn sâu”, bà Lê Thanh Bình-con gái của đồng chí Lê Thanh Nghị cho biết.
Về nước, đồng chí Lê Thanh Nghị báo cáo Bộ Chính trị, giao cho Quân ủy thành lập gấp tổ y tế gồm 3 bác sĩ: Lê Ngọc Mẫn (Chủ nhiệm Khoa Nội tiết, Bệnh viện Bạch Mai), Nguyễn Gia Quyền (Chủ nhiệm Khoa Giải phẫu bệnh, Quân y viện 108-nay là Bệnh viện Trung ương Quân đội 108) và Lê Điều (phụ trách Khoa Ngoại, Bệnh viện Hữu nghị Việt-Xô), đưa sang Liên Xô để học về lưu giữ thi hài lâu dài. Tháng 8-1968, sau 7 tháng học tập ở nước bạn, tổ y tế về đến Hà Nội.
Bác sĩ Lê Ngọc Mẫn được điều ngay sang nơi Bác ở, cùng với bác sĩ Nhữ Thế Bảo đã ở đây từ lâu để chăm sóc sức khỏe cho Bác. Các bác sĩ Nguyễn Gia Quyền và Lê Điều được Quân ủy bổ sung vào Tổ y tế đặc biệt mới thành lập, do bác sĩ Quyền làm Tổ trưởng, có nhiệm vụ chuẩn bị cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và bí mật làm các thực nghiệm khoa học trong điều kiện nước ta, để khi Bác “nằm xuống” có thể chủ động được công việc nếu chuyên gia Liên Xô chưa sang kịp.
Tại nhà riêng ở ngõ 38 đường Xuân La (Hà Nội), Đại tá, bác sĩ Lê Điều, thành viên của Tổ y tế đặc biệt năm xưa kể với chúng tôi: “Ngay khi được Trung ương cử sang Liên Xô học tập kỹ thuật bảo quản thi hài, 3 người chúng tôi biết rằng đây là bước chuẩn bị cho một nhiệm vụ đặc biệt đang chờ chúng tôi trở về đảm nhận. Mọi việc tiến hành gần như song song. Quân ủy đã quyết định làm một cơ sở thí nghiệm dựa vào Khoa Giải phẫu bệnh lý của Quân y viện 108 giao cho tổ phụ trách, mang mật danh 75A. Ngoài ra còn làm một cơ sở tương tự ở ngay Hội trường Ba Đình để đưa thi hài Bác từ 75A tới làm lễ quốc tang mang mật danh 75B”.
Sáng 2-9-1969, như có linh cảm nào đó mà trừ những người đi công tác xa, các đồng chí trong Bộ Chính trị đều tới thăm Bác khá sớm, dù trời mưa từ đêm vẫn chưa tạnh. Các đồng chí phục vụ ở nhà H67 đã căng sẵn bạt trước nhà và bày nhiều ghế. Mọi người đến khá đông, nhưng không một tiếng nói to, không khí im lặng bao trùm. Hơn lúc nào hết, các bác sĩ đã biết được tình thế khó biến chuyển. Bác bắt đầu thở gấp, các cơn đau dữ dội kéo đến. Mọi cố gắng day, xoa lồng ngực hồi sức cho Người đều không có hiệu quả. Bác sĩ Nhữ Thế Bảo nhấc điện thoại quay số máy đặc biệt gọi gấp về 75A, nghẹn ngào: “Chuẩn bị!...”.
Lúc đó ở 75A, các đồng chí Nguyễn Lương Bằng, Lê Quang Đạo, Phùng Thế Tài, Trần Kinh Chi cùng Tổ y tế đặc biệt cũng đã nhận được chỉ thị từ đêm trước, sẵn sàng đợi lệnh. Đúng 9 giờ 47 phút sáng 2-9, đồng chí Phùng Thế Tài là người đầu tiên nhận được tin, dù có tiếng là vô cùng gan góc mà lúc ấy ông cũng đã bật khóc. Nhưng rồi nhanh chóng nén lại, ông ra lệnh: “Tất cả về vị trí”. Thế là cán bộ, chiến sĩ, mặt còn đầy nước mắt và cả sự bàng hoàng, đều bật dậy nghiêm trang đáp: “Sẵn sàng!”.
Khi Bác mất, Tổ y tế đặc biệt đã cùng chuyên gia Liên Xô triển khai thực hiện tốt ngay từ những giờ đầu nhiệm vụ giữ gìn thi hài của Người. Sau lễ truy điệu, việc bảo vệ và giữ gìn thi hài Bác vẫn do Quân đội đảm trách theo nghị quyết của Bộ Chính trị. Từ đây, nhiệm vụ chính thức được giao cho Tổ y tế đặc biệt, lúc này đã có khoảng 30 thành viên cùng sự hỗ trợ trực tiếp, tại chỗ của các chuyên gia bạn.
“Từ Tổ y tế đặc biệt, một thời gian sau, Bộ Quốc phòng quyết định thành lập Đoàn 69-đơn vị tiền thân của Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày nay. Những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, trong điều kiện chiến tranh ác liệt, thi hài Bác phải di chuyển nhiều lần nhưng vượt qua mọi khó khăn, thử thách, Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bảo đảm giữ gìn thi hài Bác tuyệt đối an toàn, tạo ra những tiền đề rất cơ bản cho các giai đoạn tiếp theo. Ngày 2-9-1973, công trình lăng được khởi công xây dựng. Bộ Quốc phòng và Bộ Xây dựng được giao là lực lượng chủ công, nòng cốt trong quá trình tổ chức thi công. Sau khi khánh thành Lăng Bác, Viện 69 (thuộc Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh) có nhiệm vụ trọng tâm là cùng các chuyên gia Liên Xô trực tiếp tiến hành những biện pháp y tế chăm sóc, giữ gìn lâu dài, bảo vệ tuyệt đối an toàn thi hài của Người phục vụ nhân dân và khách quốc tế thăm viếng”, bác sĩ Lê Điều cho biết.
Ngày 29-8-1975, sau hai năm kể từ ngày khởi công xây dựng và sau hơn 3 tháng miền Nam giải phóng, Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được khánh thành trọng thể, chính thức mở cửa đón khách đến thăm viếng. Đây là một kỳ đài lịch sử của thế kỷ 20, công trình của lòng dân-ý Đảng, của tinh thần đoàn kết toàn dân tộc. Nói về việc phát huy ý nghĩa của công trình Lăng trong điều kiện hiện nay, mới đây chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với Thiếu tướng Đinh Quốc Hùng, Bí thư Đảng ủy Đoàn 969, Chính ủy Bộ tư lệnh Bảo vệ Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, anh khẳng định: “Từ khi mở cửa Lăng đến nay, đơn vị đã đón tiếp, phục vụ chu đáo, an toàn cho 70 triệu lượt người, trong đó có 11 triệu lượt khách quốc tế đến viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; hàng nghìn hoạt động quan trọng của Đảng, Nhà nước, các buổi mít tinh, diễu binh, diễu hành mừng những ngày lễ lớn của dân tộc; các sinh hoạt chính trị, văn hóa của những tổ chức chính trị, đoàn thể... Điều đó đã cho thấy ý nghĩa và giá trị đặc biệt của công trình Lăng. Giá trị ấy không phải ở sự nguy nga, tráng lệ của Lăng Bác mà bởi ở đó đang giữ gìn và lan tỏa những giá trị của một vĩ nhân đã đi vào lịch sử nhân loại-nơi hội tụ tình cảm, niềm tin thiêng liêng và cao quý!”.
St


QUẢN LÝ VĂN HÓA PHẢI THỂ CHẾ HÓA ĐƯỢC CHÍNH SÁCH CỦA NGÀNH VÀ ĐẦU TƯ VÀO CÁN BỘ NGÀNH!

         Chúng ta phải thực hiện định hướng như Bác Hồ đã nói: "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi" và trong Nghị quyết các kỳ Đại hội đề cập văn hóa là mục tiêu, động lực để phát triển. Tuy nhiên, chúng ta cần thể chế hóa những định hướng, mục tiêu đó hóa thành chính sách.

Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 28/8/1945, trong Tuyên cáo của Chính phủ Lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Bộ Thông tin - Tuyên truyền, tiền thân của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) được thành lập. Với ý nghĩa đó, năm 2001, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định chọn ngày 28/8 hằng năm là ngày truyền thống của ngành để khắc ghi dấu mốc hình thành cơ quan Nhà nước trên lĩnh vực Văn hóa - Thông tin.

     Nhân 78 năm kỷ niệm Ngày truyền thống ngành Văn hóa (28/8/1945-28/8/2023), Báo điện tử Tổ Quốc đã có cuộc trò chuyện với TS Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu ứng dụng văn hóa và du lịch về những đóng góp của ngành vào sự phát triển của đất nước.
+ Thưa PGS.TS Trần Hữu Sơn, với nhiều năm quản lý và nghiên cứu về ngành VHTTDL, ông đánh giá như thế nào về vị trí, vai trò của văn hóa đối với sự nghiệp phát triển đất nước hiện nay?
- Bác Hồ đã nói: "Văn hóa phải soi đường cho quốc dân đi". Và trong Nghị quyết các kỳ Đại hội, Đảng ta đều xác định vai trò quan trọng của văn hóa. Trong Nghị quyết Trung ương 5 ( Khóa VIII), Đảng ta khẳng định: Văn hóa Việt Nam là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do cộng đồng các dân tộc Việt Nam sáng tạo ra trong quá trình dựng nước và giữ nước…, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam đã hun đúc nên tâm hồn, khí phách, bản lĩnh Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang của dân tộc.

Văn hóa là mục tiêu của sự phát triển bởi lẽ, văn hóa do con người sáng tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt động của con người, là hoạt động sản xuất nhằm cung cấp năng lượng tinh thần cho con người, làm cho con người ngày càng hoàn thiện, xa rời trạng thái nguyên sơ ban đầu khi từ con vật phát triển thành con người. Con người tồn tại, không chỉ cần những sản phẩm vật chất mà còn có nhu cầu hưởng thụ sản phẩm văn hóa tinh thần, con người và xã hội loài người càng phát triển thì nhu cầu văn hóa tinh thần đòi hỏi ngày càng cao. Đáp ứng nhu cầu văn hóa tinh thần đó chính là đảm bảo sự phát triển ngày càng nhiều của cải vật chất cho con người và xã hội.

Từ ý nghĩa đó, Đảng ta đã xác định: văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực của sự phát triển.

Gần đây nhất, trong 2 năm 2021, 2022, liên tiếp 3 Hội nghị/Hội thảo về văn hóa được tổ chức ở quy mô quốc gia gồm: Hội nghị Văn hóa toàn quốc 2021; Hội thảo quốc gia "Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới" và Hội thảo Văn hóa 2022 với chủ đề "Thể chế, chính sách và nguồn lực cho phát triển văn hóa" cho thấy văn hóa ngày càng được quan tâm, đầu tư, đặc biệt là sự chuyển biến trong nhận thức về vai trò của văn hóa ở các cấp cơ sở. Từ đó đầu tư cho văn hóa tăng lên.

+ Ông rất trăn trở về đầu tư cho văn hóa. Ông có thể cho biết, mức đầu tư cho văn hóa hiện nay đã tương xứng với vị trí, vai trò của văn hóa trong đời sống?
- Vấn đề đầu tư cho văn hóa đã được đề cập trong các văn kiện ở nhiều kỳ đại hội, trở thành nghị quyết của các hội nghị ban chấp hành Trung ương. Trong đó nổi bật là Hội nghị Lần thứ X của Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Kết luận 30 - KL/TW ngày 20 tháng 7 năm 2004 về đầu tư văn hóa: "Tăng đầu tư cho văn hóa, phấn đấu đến năm 2010 ít nhất đạt 1,8% tổng chi ngân sách văn hóa nhà nước".

Đây là văn kiện đầu tiên của Đảng ghi rõ tỷ lệ đầu tư cho lĩnh vực văn hóa. Tìm hiểu vấn đề này, cần căn cứ vào thực tế chi ngân sách ở các địa phương cho sự nghiệp văn hóa thông tin, để từ đó phân tích, đồng thời so sánh mức chi cho kinh tế nhằm tìm hiểu sự quan tâm đến văn hóa của các địa phương. Chỉ tiêu đầu tư cho văn hóa không chỉ phản ánh chỉ số phát triển văn hóa mà còn nêu bật thực trạng thực hiện đường lối của Đảng và Nhà nước về văn hóa. Vì vậy xem xét mức đầu tư cho văn hóa là minh chứng quan trọng. Đầu tư cho văn hóa là đầu tư cho phát triển, đầu tư cho con người ở các địa phương.

Khảo sát và dựa vào niên giám thống kê ở một số tỉnh từ năm 2015 - 2020 đều nhận thấy tình trạng chung là đầu tư cho lĩnh vực văn hóa còn rất thấp. Mười năm sau Kết luận số 30 - KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, chưa một tỉnh nào đạt mức đầu tư 1,8% tổng chi ngân sách địa phương cho văn hóa. Thủ đô Hà Nội - Trung tâm văn hóa của cả nước nhưng trong 5 năm từ 2015 - 2020, mức chi cho sự nghiệp văn hóa thông tin chưa bao giờ đạt 0,8% tổng chi ngân sách địa phương. Cụ thể năm 2015, Hà Nội chi cho sự nghiệp văn hóa thông tin là 812 tỉ đồng, chiếm 0,72% tổng chi ngân sách, nhưng đến 2018, mức chi chỉ có 127 tỉ đồng chiếm 0,095% tổng chi ngân sách. Năm 2020, Hà Nội mới chi cho sự nghiệp văn hóa thông tin với tỉ lệ cao nhất là 0,767% tổng chi ngân sách.

Như vậy, năm 2004, Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhận thấy thực trạng các địa phương chi ngân sách cho văn hóa thông tin rất thấp nên đã có kết luận: Phấn đấu đến năm 2010, ít nhất đạt được 1,8% trong tổng chi ngân sách. Nhưng thực tế thì mãi đến năm 2020, hầu hết các tỉnh chỉ đạt được từ 50-60% định mức tỉ lệ chi cho sự nghiệp văn hóa thông tin. Mức chi cho ngành văn hóa thông tin thấp, khiến cho hoạt động của lĩnh vực này chậm phát triển, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng khi xét đến chức năng của nó. Đó là sự xuống cấp của đạo đức xã hội, các giá trị nhân văn bị bào mòn, văn hóa không trở thành động lực cho phát triển. Mức đầu tư cho văn hóa thấp, nhiều địa phương không phát huy được lợi thế xây dựng một bộ phận văn hóa trở thành ngành công nghiệp văn hóa quan trọng giúp tăng nhanh nguồn thu cho ngân sách. Vì thế, ở nhiều địa phương luôn rơi vào tình trạng bất cập, tạo thành một vòng luẩn quẩn trong đầu tư phát triển lĩnh vực văn hóa. Đầu tư cho văn hóa thấp nên chậm phát triển, vì chậm phát triển nên tỉ lệ dành cho đầu tư văn hóa lại càng thấp.

+ Vậy theo ông, làm sao để tăng đầu tư cho văn hóa?
- Nhằm khắc phục tình trạng này, cần có các giải pháp hiệu quả. Vấn đề cấp bách hiện nay là các địa phương cần đổi mới nhận thức cụ thể, đúng đắn và thiết thực về vai trò của văn hóa đối với sự phát triển như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định: "Tăng đầu tư cho phát triển sự nghiệp văn hóa. Xây dựng, phát triển, tạo môi trường và điều kiện xã hội thuận lợi nhất để khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng của đất nước".

Giải pháp thứ hai là cần nhanh chóng thể chế hóa, đổi mới cơ chế, chính sách về đầu tư cho văn hóa, xóa bỏ cơ chế xin cho hoặc định mức đầu tư chỉ do một số người ở Sở Tài chính quyết định.

Giải pháp thứ ba là cần chú trọng thay đổi nhận thức cố hữu rằng văn hóa chỉ là "ngành tiêu tiền", ngành không sản xuất, nên "khi thu được thì cho", khi khó khăn thì cắt bỏ nhiều nguồn lực đầu tư cho văn hóa.

+ Trong bối cảnh hội nhập mạnh mẽ với quốc tế, ngoài tinh hoa văn hóa nhân loại, nền văn hóa Việt Nam cũng đứng trước nguy cơ bị "xâm lược". Theo ông, có những giải pháp gì để nâng cao "sức đề kháng" của văn hóa?
- Trong nền kinh tế thị trường, một mặt văn hóa dựa vào chuẩn mực của nó là chân, thiện, mỹ (cái đúng, cái tốt, cái đẹp) để hướng dẫn và thúc đẩy người lao động không ngừng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, nâng cao tay nghề, sản xuất hàng hóa với số lượng ngày càng nhiều với chất lượng ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu không ngừng tăng lên của xã hội; mặt khác, văn hóa sử dụng sức mạnh của các giá trị truyền thống, của đạo lý, dân tộc để hạn chế xu hướng sùng bái hàng hóa, sùng bái đồng tiền, nghĩa là hạn chế xu hướng tiêu cực của hàng hóa và đồng tiền "xuất hiện với tính cách là lực lượng có khả năng xuyên tạc bản chất con người, cũng như những mối liên hệ khác". Hạn chế những tiêu cực này chỉ có thể là văn hóa và chủ yếu bằng văn hóa.

Theo tôi, chúng ta phải thực hiện định hướng như Bác Hồ đã nói: "Văn hóa soi đường cho quốc dân đi" và trong Nghị quyết các kỳ Đại hội đề cập văn hóa là mục tiêu, động lực để phát triển. Tuy nhiên, chúng ta cần thể chế hóa những định hướng, mục tiêu đó hóa thành chính sách.

Bên cạnh chính sách, chúng ta còn thiếu nhiều Luật khác về văn hóa như: Luật về quyền văn hóa của người dân, Luật về xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, Luật công nghiệp văn hóa, Luật về nghệ thuật biểu diễn.... Theo tôi, tất cả những điều đó cần được thể chế hóa.

Mặt khác, tôi cho rằng bản thân ngành Văn hóa cần nâng cao công tác đào tạo cán bộ. Ví dụ như lĩnh vực thể thao, vận động viên Ánh Viên mới hơn 20 tuổi đã xin nghỉ là thiệt thòi cho đất nước, cần phải xem xét nghiêm túc. Bởi, chúng ta đào tạo được những người như vậy không dễ dàng. Hoặc như hiện nay, công tác đào tạo ở các trường múa, nghệ thuật rất khó tuyển học sinh, sinh viên. Tôi cho rằng, nếu khó khăn như vậy thì phải đầu tư lớn hơn. Bởi, đầu tư cho những ngành khác đã tốn kém nhưng đầu tư cho văn hóa, nghệ thuật còn tốn kém hơn.

Bên cạnh đó, để văn hóa phát triển, chúng ta phải xây dựng được một nền công nghiệp văn hóa. Nghĩa là, văn hóa phải là nguồn lực về kinh tế. Hiện nay, văn hóa, nghệ thuật ở lĩnh vực điện ảnh, âm nhạc, biểu diễn đã phát triển nhưng công nghiệp văn hóa còn nhiều lĩnh vực khác cần phải có định hướng.

Muốn bảo vệ, phát triển văn hóa dân gian cần tôn trọng môi trường sản sinh ra văn hóa dân gian. Từ việc tôn trọng văn hóa dân gian, cần tiếp tục kế thừa truyền thống để áp dụng có chọn lọc vào văn hóa dân gian của thời đại.

Tôi nghĩ, chúng ta phải thay đổi cách nhìn nhận về văn hóa, vì nếu đến giờ vẫn nhìn nhận văn hóa như thế kỷ XX chưa đúng. Đảng đã xác định văn hóa là động lực phát triển. Nhưng cán bộ cấp cơ sở lại chưa nhận thức được như vậy. Do đó, người quản lý văn hóa phải thể chế hóa được chính sách của ngành và đầu tư vào cán bộ ngành.

Vấn đề thể chế rất quan trọng, có thể nói quản lý thì trọng tâm là thể chế. Thước đo của người tư lệnh ngành là nghĩ ra thể chế và quản lý bằng thể chế.

Qua theo dõi, tôi nhận thấy điều đáng mừng cho Ngành là Bộ trưởng hiện nay rất quan tâm vấn đề thể chế, xác định trọng tâm là thể chế để quản lý.
+ Xin trân trọng cảm ơn ông!./.




Môi trường ST.

VỮNG NHƯ “KIỀNG BA CHÂN”, TOÀN QUÂN MỘT Ý CHÍ!

1. Ngày 02-02-2023, Hạ viện Mỹ đã chính thức thông qua Nghị quyết H.Con.Res 9: “Lên án sự khủng khiếp của chủ nghĩa xã hội (CNXH)”. Trong đó, quy kết “nguyên nhân của mọi tội ác là do chủ nghĩa Mác - Lênin”, “các Đảng Cộng sản và các nhà lãnh đạo CNXH là C.Mác, Ph. Ăngghen, V.I.Lênin...” gây nên. 

Dựa vào bản nghị quyết này, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã “đổ thêm dầu vào lửa”, đồng loạt viết tin, bài, dàn dựng các video clip, các cuộc phỏng vấn, trả lời phỏng vấn rồi tung lên mạng xã hội vu cáo Đảng, Nhà nước ta gây ra hai cuộc chiến tranh trong thế kỷ XX, là “nguyên nhân sinh ra các nạn đói, g.i.ế.t n.g.ư.ờ.i, kìm hãm sự phát triển của dân tộc”. Từ đó, họ xuyên tạc, phủ nhận mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; cho rằng “đi theo con đường CNXH là đi vào ngõ cụt” để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước ta. Thâm độc hơn, họ tung tin rằng, hiện nay Quân đội ta đã xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; không còn trung thành với mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH.

2. Trở thành niềm tin và lẽ sống cao đẹp, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH đã ngấm vào máu thịt, trở thành lý tưởng sống, chiến đấu cao đẹp của Quân đội ta. Vì vậy, sự kiên định này chính là kiên định con đường cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân đã lựạ chọn. Thực tiễn gần 80 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng và trưởng thành đã chứng minh: Quân đội ta không chỉ làm nên những chiến công hiển hách, mà còn kiên định đấu tranh tư tưởng, lý luận, đập tan mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Chúng ta không mắc mưu “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” quân đội, không xa rời “con đường chính trị” của Đảng; không bị chệch hướng, lạc đường; trọn vẹn tấm lòng “tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân”.

Trong bối cảnh tình hình mới, Quân đội ta kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là yêu cầu khách quan, nhiệm vụ cấp bách trong xây dựng quân đội “tinh, gọn, mạnh” tiến lên hiện đại theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng; Nghị quyết Đảng bộ Quân đội lần thứ XI.

Đây là sự tổng kết sâu sắc về lý luận và thực tiễn, là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt toàn bộ đường lối cách mạng Việt Nam, là vấn đề mang ý nghĩa sống còn đối với cách mạng và sự phát triển của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

3. Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta, phản ánh tập trung bản chất giai cấp công nhân của Quân đội cách mạng; biểu hiện cụ thể ở: Trung với Đảng, trung với nước, hiếu với dân. Đây là nhân tố bảo đảm cho Quân đội ta thực sự là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân. 

Thước đo lòng trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân của Quân đội ta là việc hoàn thành tốt nhất các chức năng, nhiệm vụ của Quân đội, nhất là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân, chế độ XHCN”. 

Sự kiên định, vững vàng của Quân đội ta thể hiện ở niềm tin quyết chiến, quyết thắng; không dao động, ngả nghiêng, thay đổi lập trường trước mọi khó khăn, thách thức; là sự vững vàng niềm tin tiếp tục đi tiếp con đường cách mạng và hiện thực hóa mục tiêu ấy. Trong đó, kiên định, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối đổi mới của Ðảng là vấn đề căn cốt nhất, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Điều sâu sắc ấy có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong xây dựng Quân đội ta vững mạnh về chính trị, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Đây là cơ sở khoa học để củng cố, tăng cường bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội ta; góp phần giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội, bảo đảm và tăng cường sự lãnh đạo của các tổ chức đảng trong Quân đội. 

Vì vậy, trong bất luận điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đều chủ động, tích cực đấu tranh phê phán mọi biểu hiện dao động, ngả nghiêng, thoái thác nhiệm vụ; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH của các thế lực thù địch.

4. Để mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ Quân đội cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm trước các tổ chức, các lực lượng trong toàn quân về kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Chú trọng nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể, lực lượng về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch. Cùng với đó, tiếp tục nâng cao trình độ nhận thức, tinh thần trách nhiệm của đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chỉ huy, cán bộ chính trị, đội ngũ chính ủy, chính trị viên... 

Một trong những vấn đề có tính nguyên tắc là kiên định nguyên tắc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội nhân dân Việt Nam; giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của cấp ủy đảng, đội ngũ cán bộ các cấp đối với việc kiên định mục tiêu, lý tưởng chiến đấu. Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định để đến năm 2025 cơ bản xây dựng Quân đội tinh, gọn, mạnh, từ năm 2030 xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. 

Chủ động, tích cực đổi mới nội dung, hình thức, biện pháp nghiên cứu, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với CNXH trong Quân đội là vấn đề rất quan trọng đối với công tác giáo dục chính trị. Cùng với đó, tích cực, chủ động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biển hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, các hiện tượng vi phạm kỷ luật và sự chống phá của các thế lực thù địch.

Đây là công việc hệ trọng và nội dung đặc biệt quan trọng đối với Quân đội ta trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ là đội quân chiến đấu, đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất trong bối cảnh tình hình mới, mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, bộ đội của nhân dân./.
Yêu nước ST.

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 1945 - GIÁ TRỊ TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY!

        Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không chỉ tuyên bố với thế giới về nền độc lập của nước Việt Nam, mà còn khẳng định ý chí sắt đá của dân tộc Việt Nam kiên quyết bảo vệ nền độc lập đó. Tinh thần và khí phách dân tộc thể hiện trong Bản Tuyên ngôn mãi mãi là kim chỉ nam cho các thế hệ Việt Nam hôm nay và mai sau trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. 

Ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố với thế giới về sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật, đã trở thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Tuyên bố đó, đã thể hiện ý chí và khí phách của dân tộc Việt Nam “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Đó cũng là lời hịch truyền gửi đến muôn đời con cháu mai sau với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.

Lịch sử đã lùi xa 78 năm, nhưng ý nghĩa và giá trị của Bản Tuyên ngôn Độc lập đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam chưa bao giờ xưa cũ. Trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn coi “Củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt”. Với nhận thức đúng đắn về sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp, những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiều chủ trương, chính sách trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng, an ninh, đối ngoại,… để xây dựng tiềm lực, thế trận cho sự nghiệp đó và đã giành được những thành tựu quan trọng. Đại hội XII của Đảng khẳng định: “Trong bối cảnh quốc tế và khu vực có nhiều phức tạp, chúng ta kiên quyết, kiên trì đấu tranh giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc… Chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp phù hợp, bảo vệ được chủ quyền, biển, đảo, vùng trời và giữ được hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Mặc dù tiềm lực kinh tế của đất nước còn hạn chế, nhưng Đảng và Nhà nước ta, với sự đồng lòng của toàn dân đã quan tâm đầu tư xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân trên phạm vi cả nước; chăm lo xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện, đưa một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại.

Hiện nay, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển mới, với nhiều thuận lợi do thế và lực của ta đã được cải thiện nhiều so với trước, nhưng cũng đứng trước những thách thức gay gắt. “Các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Tình hình Biển Đông tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường. Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo và toàn vẹn lãnh thổ của nhân dân ta còn cam go, phức tạp, lâu dài”. Trước tình hình đó, lời thề “quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy” lại vang vọng, thúc giục các thế hệ hôm nay phải nỗ lực nhiều hơn, để thực hiện trọn vẹn mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, bằng những hành động thiết thực.

Trước hết, phải đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị cho các tầng lớp nhân dân về nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và của toàn dân. Kiên trì tuyên truyền, làm rõ nội hàm của mục tiêu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay không chỉ là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ”, mà còn bao gồm cả “bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa, nền văn hóa và lợi ích quốc gia - dân tộc”.

Thứ hai, tích cực tuyên truyền nâng cao hiểu biết của người dân về chủ quyền, lãnh thổ đất nước; làm cho họ hiểu đúng vấn đề chủ quyền với nội dung toàn diện, cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc hiện nay, chúng ta cần nắm vững phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến” để xử lý các tình huống một cách tỉnh táo, bản lĩnh, vừa đảm bảo giữ được độc lập, chủ quyền, lãnh thổ, vừa giữ được môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước về mọi phương diện. Cùng với đó, cần nhận thức đúng việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc phải được thực hiện trên toàn bộ đường biên giới quốc gia. Theo đó, phải chăm lo xây dựng tiềm lực và thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, thế trận biên phòng toàn dân trên phạm vi cả nước, trên toàn bộ tuyến biên giới quốc gia, nhằm xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển với các nước láng giềng.

Thứ ba, tập trung xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đó chính là một trong những nội dung quan trọng để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Bởi, bảo vệ Tổ quốc hiện nay không chỉ về phương diện tự nhiên - lãnh thổ, mà còn về phương diện chính trị - xã hội, nên việc xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện tốt nội dung này, chúng ta cần kiên trì đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; gắn với thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”. Cùng với đó, cần chủ động tiến công, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, giữ vững sự ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, bảo vệ công cuộc đổi mới và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thứ tư, thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hiện nay phải trên cơ sở tích cực nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế; thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế; nắm vững phương châm “vừa hợp tác, vừa đấu tranh”, có cách nhìn biện chứng về “đối tượng”, “đối tác” để có thể tranh thủ hợp tác khía cạnh “đồng thuận” ở mỗi “đối tượng”; kiên quyết đấu tranh với từng “đối tác” về những vấn đề còn mâu thuẫn, trên nguyên tắc bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, lấy giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước là lợi ích cao nhất.

Thứ năm, giữ vững phương châm “kiên quyết sử dụng mọi biện pháp phù hợp với luật pháp nước ta và luật pháp quốc tế để bảo vệ vững chắc chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa; nhưng đồng thời cũng phải quyết tâm giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng đất nước”.

Thứ sáu, phát huy sức mạnh toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh thời đại tạo nên sức mạnh tổng hợp trong cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Chúng ta vừa phải ra sức tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vừa phải coi việc phát huy nội lực luôn là nhân tố quyết định. Muốn vậy, cần chăm lo xây dựng để “kinh tế phải vững, quốc phòng phải mạnh, thực lực phải cường, lòng dân phải yên, chính trị - xã hội ổn định, cả dân tộc là một khối thống nhất”; nắm vững và hành động đúng chủ trương của Đảng coi “nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên”.

78 năm đã trôi qua, nhưng Tuyên ngôn Độc lập 1945 vẫn mãi là kim chỉ nam cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam yêu dấu. Ý nghĩa và khí phách của dân tộc trong Bản Tuyên ngôn tiếp tục được các thế hệ người Việt Nam hiện thực hóa trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau./.
Yêu nước ST.

THỦ ĐOẠN BÔI LEM THÀNH QUẢ, Ý NGHĨA LỊCH SỬ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM

         Cách đây 78 năm, Nhân dân ta đã nhất tề vùng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, tạo bước ngoặt trong lịch sử phát triển của dân tộc. Đó là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là thành quả của sự đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian khổ, hy sinh của toàn dân tộc Việt Nam

Vậy nhưng, đến hẹn lại lên, vào thời điểm kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, một số phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước, một số tổ chức, báo đài thiếu thiện chí, chống phá Việt Nam lại cố tình đăng tải các bài viết phủ nhận ý nghĩa và thành quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám đối với dân tộc ta.

Trên Facebook, YouTube, các đối tượng đã đăng tải nhiều bài viết cho rằng, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là “sai lầm lịch sử”, là “đi ngược lại sự bảo hộ của mẫu quốc”, không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị”. Chúng còn cho rằng, thắng lợi mà Việt Nam giành được đó là “sự ăn may của lịch sử khi Nhật thua trong Chiến tranh thế giới thứ hai, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì”; vu cáo “Cách mạng Tháng Tám thực chất chỉ là một cuộc cướp chính quyền”; “Tổng khởi nghĩa là do quốc gia đề xướng nhưng cộng sản nhảy ra cướp công”; “Đảng Cộng sản Việt Nam đã hứng được quả ngọt trời cho là tình thế của Pháp, Nhật và hào khí của dân tộc lúc đó để cướp chính quyền cho riêng mình”...

        Một số lại quy kết: “Cách mạng Tháng Tám là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”; “nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta đã giàu mạnh từ lâu và không mất dân chủ như bây giờ”; “Cách mạng Tháng Tám là mở ra thời kỳ Đảng đã áp đặt một chế độ độc tài toàn trị, một đảng duy nhất nắm quyền thống trị với một nhà nước “chuyên chính vô sản”... Những gì mà các cá nhân, tổ chức chống phá, các phần tử cơ hội theo chủ nghĩa xét lại đã xuyên tạc, bôi lem về ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; hạ thấp, phủ nhận sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam; xem nhẹ giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Nhìn lại lịch sử, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là thành quả của sự đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian khổ, hy sinh của dân tộc. Đặc biệt, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là nhờ tư duy sắc sảo, nhạy bén, sáng tạo, quyết đoán của Đảng, Bác Hồ trong xác định, lựa chọn thời cơ tiến hành Tổng khởi nghĩa. Điều này được thể hiện trên các điểm sau:

        Thứ nhất, Cách mạng Tháng Tám không phải là “sai lầm lịch sử” hay là “sự ăn may”. Từ những năm còn bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”. Các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945 thực sự là những “cuộc tổng diễn tập” là tiền đề cho Cách mạng Tháng Tám thành công. Khi tình thế và thời cơ cách mạng chín muồi, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước đúng vào thời điểm thuận lợi nhất.

          Thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của một quá trình chuẩn bị đầy đủ lực lượng cách mạng của Đảng ta. Đồng thời, là kết quả của việc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động, tích cực theo dõi tình hình, dự đoán chính xác thời cơ và kiên quyết lãnh đạo Nhân dân đứng lên chớp thời cơ “nghìn năm có một” để tiến hành Tổng khởi nghĩa. Trong hai yếu tố chủ quan và khách quan thì yếu tố chủ quan là động lực chính, quyết định đến thắng lợi, hoàn toàn không phải thụ động “ăn may”.

        Thứ hai, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã xóa bỏ sự thống trị của thực dân, phát xít và phong kiến, xây dựng Nhà nước dân chủ Nhân dân đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Đó không phải là sự chuyển giao từ chế độ “vua trị” sang “đảng trị” mà là sự thay đổi về bản chất từ chế độ cai trị tàn bạo của thực dân, phong kiến sang chế độ Nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng đồng bào ta khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích thực dân”. Đồng thời, đối với công cuộc xây dựng một chế độ xã hội mới, khác hẳn về chất so với chế độ phong kiến, thực dân và đến quốc: “Cách mạng Tháng Tám đã xây dựng cho Nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ Cộng hòa và thống nhất độc lập”.

        Thứ ba, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không phải là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam. Sau khi nhân dân ta giành được chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa được bao lâu, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp quay lại cướp nước ta một lần nữa. Trước tình thế đất nước đang “ngàn cân treo sợi tóc”, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều chính sách để gìn giữ hòa bình, tránh cuộc chiến tranh đổ máu.

        Tuy nhiên, “chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”. Với tinh thần “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân và dân ta đã trường kỳ kháng chiến và giành thắng lợi, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp phải ký Hiệp định Geneva tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam và các nước trên bán đảo Đông Dương. Song, Pháp đã cấu kết và “bật đèn xanh” cho đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược Việt Nam và Đông Dương, buộc Nhân dân ta phải tiếp tục bước vào cuộc trường chinh chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm sau đó.

        Bằng đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tinh thần đấu tranh anh dũng kiên cường, bất khuất, bất chấp mọi gian khổ hy sinh, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta giành thắng lợi vẻ vang, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Chính vì vậy, nguyên nhân sâu xa, trực tiếp dẫn đến hai cuộc kháng chiến của Nhân dân ta chính là bản chất hiếu chiến xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc chứ không phải một lý do nào khác và đương nhiên không phải do Thủ đoạn bôi lem thành quả, ý nghĩa lịch sử Cách mạng Tháng Tám

TRÁNH NHẸ DẠ, VÔ TÌNH BỊ LỢI DỤNG

 

Chuyện chẳng phải mới nhưng chưa bao giờ cũ. Liên tục trong thời gian qua, ở nhiều nơi diễn ra tình trạng cán bộ hưu trí, cán bộ nghỉ chế độ, cán bộ bị kỷ luật buộc phải rời khỏi tổ chức… có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, tuyên bố “cạch mặt” tổ chức, bôi nhọ cơ quan, đơn vị cũ; nêu chính kiến đi ngược lại với quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.

Thậm chí, một số cá nhân còn chủ ý cổ xúy hoặc vô tình bị các lực lượng thù địch lợi dụng, lôi kéo tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam.

Thực tế đáng lo ngại đó cần phải sớm được thẳng thắn nhận diện và có giải pháp đấu tranh quyết liệt, tẩy trừ dứt điểm.

Nguy hại từ những câu chuyện làm quà

Ông cán bộ nọ, từng công tác ở cơ quan trọng yếu hẳn hoi, nhưng khi vừa về hưu, trong câu chuyện trà nước đã lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán, chê bai chính tổ chức mà mình từng gắn bó suốt quãng đời công tác. Ông cho rằng sở dĩ bản thân phải tá túc với “cái nơi ấy” là vì “cơm, áo, gạo, tiền” chứ nội bộ cơ quan “chẳng đẹp đẽ” gì. Và rồi ông chê trách cách ứng xử, cách sống của người đứng đầu đương chức; chế nhạo, nói xấu cả những đồng nghiệp cũ.

Lại có chuyện một cán bộ vừa bị kỷ luật do vi phạm nhưng không nhận thức rõ khuyết điểm cá nhân để tự sửa chữa, lại huênh hoang livestream, viết bài đăng lên tài khoản facebook cá nhân bày tỏ sự không vừa lòng và kêu gọi cộng đồng lên tiếng bảo vệ mình?! Nhiều người không hiểu nội dung vụ việc nên đã vô tư a dua, lớn tiếng đặt điều, lên án tập thể, cơ quan chức năng.

Rồi lại thêm chuyện một số cá nhân do phẩm chất, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ công tác, bị tổ chức thải loại, buộc phải nghỉ chế độ theo yêu cầu tinh giản biên chế, được hưởng các chế độ đãi ngộ theo đúng quy định… nhưng có vẻ trong lòng ấm ức nên cố tình “trở cờ” với tổ chức. Các vị này “hồn nhiên” mang những chuyện nội bộ, cả những việc có yếu tố bí mật (theo quy định của Nhà nước) để công khai trên diễn đàn xã hội. Tệ hơn, họ coi đó như một phương tiện hòng “câu like”, “câu view” hoặc “nói cho bõ tức”…

Những câu chuyện như trên diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi, mà tính chất, mức độ nguy hại của nó thì thật khó lường. Vì tiếp nhận thông tin một chiều, không có điều kiện thẩm định thực-hư, không nắm chắc bản chất vấn đề, cũng không nhận rõ yếu tố chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ của những người lớn tiếng “kêu oan”, bày tỏ bức xúc… nên dư luận xã hội, nhất là trên cộng đồng mạng được dịp a dua, theo đóm ăn tàn, like, share cảm tính, vô hình trung tạo nên làn sóng dư luận tiêu cực trong cộng đồng. Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần xã hội. Theo chiều tiêu cực, nhiều người dần dần hình thành cách nhìn phiến diện, thiếu thiện cảm đối với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ. Nhiều người hiểu sai bản chất và không nhận rõ tính khoa học, khách quan từ những chủ trương, giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách đối với cán bộ, đảng viên; không thấy hết nỗ lực của các cấp, các ngành trong hiện thực hóa chủ trương tinh giản biên chế, quyết tâm xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; không nhận thức đủ tính ưu việt trong chính sách trọng dụng hiền tài và quyết tâm thải loại những thành phần yếu kém về năng lực, phẩm chất ra khỏi tổ chức… Những hành vi lệch lạc đó đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của quần chúng đối với tổ chức đảng và bộ máy chính quyền Nhà nước.

Nguy hại hơn là từ những sự vụ, sự việc nêu trên, các lực lượng thù địch lấy đó làm nguyên cớ hòng đưa đẩy vấn đề theo hướng tiêu cực, rồi suy diễn, quy chụp về những tồn tại, hạn chế trong nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước. Từ một vài ví dụ trên mạng xã hội, chúng rêu rao rằng “nội bộ tổ chức đảng và chính quyền đang mất đoàn kết, phân chia bè cánh, kèn cựa, đấu đá hạ bệ lẫn nhau nên mới có chuyện thải loại và đẩy cán bộ tốt vào đường cùng”… Từ đó, chúng đề xuất, tự thúc đẩy trào lưu đấu tranh, kích động biểu tình, gây rối trên một số địa bàn. Sự việc diễn ra năm 2018 ở nhiều địa phương, nhất là ở Bình Thuận càng giúp chúng ta thấm, ngấm được bài học về việc cộng đồng xã hội và người dân bị các thế lực thù địch “dắt mũi” thông qua những bài viết trên mạng xã hội.

Bắt bệnh và trị bệnh

Phải khẳng định ngay, những cá nhân nêu trên đã tự đánh mất mình, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Họ đã mặc nhiên quay lưng với chính hệ tư tưởng, quan điểm, lý tưởng cống hiến trong suốt quãng đời công tác trước đây của bản thân. Chính họ đã tự xúc phạm, giẫm đạp lên quá khứ của chính mình!

Vì sao lại thế? Có muôn nghìn câu trả lời. Cũng thấy rõ muôn vàn lý do, nguyên nhân đưa đến thực trạng đó. Nào là do những xích mích, mất lòng trong hàng ngũ lúc còn đương chức; do về hưu phải đối diện với sự cô đơn, cô độc, lại có nhiều thời gian nên “rảnh rỗi sinh nông nổi”; do thiếu thông tin, không tìm hiểu cặn kẽ sự việc… nên nhận thức phiến diện, cực đoan; do tác động từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù, nhất là khi chúng xác định nhóm công dân này là một trong những đối tượng có thể tập trung lợi dụng, lôi kéo…

Thế nhưng, dù căn nguyên ra sao thì vấn đề cốt tử vẫn nằm ở bản lĩnh chính trị và bản chất của những người từng khoác lên mình màu áo đảng viên và danh dự, tư cách người cán bộ cách mạng. Thực tế cho thấy, một khi cán bộ thật sự có bản lĩnh, chí công, vô tư phục vụ tổ chức, cơ quan, đơn vị, sống chân thành, tử tế với đồng chí, đồng đội lúc đương chức thì khi nghỉ hưu, rời tổ chức, họ vẫn một lòng gắn bó với sự nghiệp của tập thể. Họ vẫn theo dõi, quan sát từng bước phát triển, trưởng thành của tổ chức, xem đó là nguồn hạnh phúc của mình. Thậm chí, nhiều người còn chủ động tham mưu, hiến kế, giúp đỡ thế hệ đi sau hoàn thành nhiệm vụ. Nhiều cán bộ khi nghỉ hưu hoặc luân chuyển đi nơi khác… vẫn nhận được sự quan tâm, động viên, kính trọng của đồng nghiệp, anh em nơi cơ quan cũ. Cấp trên đương chức, nhân viên, đồng nghiệp vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi, trò chuyện, giữ mối liên hệ mật thiết, sẻ chia vui buồn. Ngược lại, những kẻ đã, đang và sẽ hống hách, rao giảng, kêu than trên mạng xã hội thì lúc đương chức tâm địa có lẽ cũng có vấn đề…

Nói như vậy sẽ không hẳn là đúng với mọi trường hợp, mà câu chuyện này còn chịu sự chi phối đa chiều bởi các quy luật tâm lý-xã hội. Có nghĩa, bất cứ ai nghỉ hưu, bị thải loại, rời xa tổ chức cũ… cũng đều ít nhiều rơi vào các biểu hiện, vấn đề của tư tưởng, tâm lý. Con người ta sẽ không tránh khỏi những nỗi buồn khách quan và sự hẫng hụt về mặt tinh thần khi phải bắt đầu một nếp sống mới. Nói như vậy để thấy, việc quan tâm, làm tốt công tác tư tưởng cho đối tượng sắp nghỉ hưu, đối tượng tinh giản… cần phải được cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành thường xuyên, liên tục. Bởi có một thực tế là, ở một số cơ quan, đơn vị hiện nay, việc tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ trước và sau khi nghỉ công tác vẫn bị coi nhẹ, ít có sự động viên, quan tâm thường xuyên.

Thế nhưng, dù các tác động khách quan có đến mức nào đi chăng nữa thì yếu tố chủ quan vẫn giữ vai trò quyết định. Nhiều cá nhân trước khi nghỉ hưu vẫn mưu toan giữ ghế, tham vọng bám trụ lại tổ chức vì quyền lợi riêng nên thật khó chiến thắng được sự xung đột tâm lý cá nhân. Và nhất là khi mưu cầu tư lợi không đạt được thì sinh ra bệnh tư tưởng, rồi “giận cá chém thớt”, làm những chuyện trái khoáy… khiến dư luận phải dị nghị, xem thường!

Nhiều chuyên gia tâm lý cho rằng: Trong khi toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đang quyết liệt thực hiện chủ trương “có lên, có xuống, có vào, có ra” thì tinh thần này phải được thấu triệt đến mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương. Từng cấp ủy, tổ chức phải đẩy mạnh giáo dục để cán bộ lúc đương chức luôn thông suốt về tư tưởng, nhận thức rõ việc nghỉ hưu, rời tổ chức là việc đương nhiên, tất yếu. Từng cá nhân phải cố gắng duy trì quan điểm dù đang công tác hay nghỉ công tác thì đều giữ đúng chức phận của mình; là người đảng viên kiên định, kiên trung của Đảng. Có được tư duy và cách nghĩ đó thì chắc chắn việc nghỉ hưu, rời tổ chức sẽ tự nó trở nên thanh thản, nhẹ nhàng…

Còn xét dưới góc độ tổ chức, đối với những trường hợp vừa rời tập thể đã hòa vào đám đông một cách tiêu cực thì cần phải được cấp có thẩm quyền nhận diện, đấu tranh phê bình nghiêm khắc; thậm chí xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục chung. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, những trường hợp như đã nêu ở trên diễn ra khá phổ biến, ở nhiều cơ quan, đơn vị, nhưng việc xử lý vẫn chưa triệt để, nghiêm khắc. Có chăng chỉ là sự nhắc nhở, động viên, đối thoại, cảnh tỉnh… rồi “đâu lại vào đấy”. Do vậy, cùng với giáo dục, thuyết phục, các cơ quan chức năng cần có thái độ quyết liệt xử lý thực trạng này. Khi phát hiện các đối tượng lợi dụng mạng xã hội để nói xấu Đảng, chế độ, bôi nhọ tổ chức, cơ quan, đơn vị thì kiên quyết xử lý nghiêm minh đến cùng, đúng người, đúng mức độ vi phạm, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”…

Làm cán bộ, đảng viên của Đảng thì cần phải khắc ghi và hiểu sâu sắc lời dạy quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”.

CẦN LOẠI BỎ TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM - NHÓM PHẢN ĐỘNG

 

            Kẻ cẩm đầu cái gọi là Hội đồng liên tôn Việt Nam là Thích Không Tánh, tên thật là Phan Ngọc Ấn, sinh năm 1943, nguyên quán Phước Thuận, Tuy Phước, Bình Định; thường trú tại chùa Liên Trì, số 153 đường Lương Định Của, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, Thích Không Tánh đảm nhiệm công tác liên lạc, tổ chức các hoạt động nhằm khuếch trương thanh thế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (một tổ chức tôn giáo không được thừa nhận ở nước ta) và làm cầu nối thông tin với các tổ chức Phật giáo Việt Nam lưu vong. Từ năm 1978 đến 1986, Thích Không Tánh bị đưa đi cải tạo, do tham gia các hoạt động của những phần tử đội lốt tu hành chống phá Nhà nước và vi phạm pháp luật. Đến năm 1987, Thích Không Tánh được trả tự do. Song, với bản chất của kẻ phản động, ngày 02/10/1992, Thích Không Tánh bị các lực lượng chức năng bắt quả tang khi đang lưu hành nhiều tài liệu có nội dung chống lại Nhà nước và bị án phạt 5 năm tù giam và quản chế 5 năm sau khi mãn hạn tù. Sau thời gian này, Thích Không Tánh cùng với số tu sỹ bất mãn trong Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài,.. lập ra tổ chức Hội đồng liên tôn Việt Nam với ý đồ liên tôn, liên kết số tu sĩ bất mãn trong các tôn giáo để chống phá Nhà nước Việt Nam.

          Hoạt động của cái gọi là Hội đồng liên tôn Việt Nam chủ yếu hướng vào các vụ việc phức tạp về tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước ta. Chúng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phá hoại tư tưởng thông qua việc lợi dụng các vụ việc phức tạp, nhạy cảm trong nước sau đó, thêm tình tiết, thổi phồng, bịa đặt nhằm tác động gây chia rẽ nội bộ, hạ uy tín các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gây tâm lý hoài nghi trong nhân dân… thông qua đó để từng bước làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kích động tâm lý bức xúc, “bất tuân dân sự”, sử dụng bạo lực để phản kháng lại chính quyền.

          Bên cạnh đó, chúng móc nối, phát triển lực lượng cho tổ chức thông qua mạng internet và các trang mạng xã hội đưa thông tin xuyên tạc tình hình trong nước, tác động móc nối, lôi kéo thanh niên, sinh viên, trí thức, chức sắc, tín đồ tôn giáo cực đoan, người dân tộc thiểu số có tư tưởng ly khai, hẹp hòi, số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất… Các hoạt động của tổ chức phản động này với thủ đoạn lừa đảo, mị dân để móc nối, lôi kéo người tham gia tổ chức. Trên thực tế, một bộ phận quần chúng nhân dân do hoàn cảnh khó khăn, hám lợi và nhận thức còn hạn chế nên đã đăng ký tham gia; trong đó, một số cán bộ, đảng viên do nhận thức chưa đầy đủ, chưa thấy tính chất nguy hiểm trong luận điệu tuyên truyền của Hội đồng liên tôn Việt Nam nên đã bị chúng chuyển hóa, lợi dụng, lôi kéo, công khai ủng hộ các hoạt động chống phá Việt Nam…

          Thời gian qua, Bộ Công an đã phối hợp với các Bộ, Ban, ngành và cấp ủy chính quyền các cấp đấu tranh làm thất bại âm mưu, ý đồ chống phá của các thế lực thù địch nói chung và bọn tổ chức phản động lưu vong nói riêng; trong đó, ngăn chặn, vô hiệu hóa nhiều kế hoạch khủng bố, phá hoại của tổ chức phản động Hội đồng liên tôn Việt Nam. Căn cứ vào hoạt động của Hội đồng liên tôn Việt Nam và theo quy định của pháp luật Việt Nam, Bộ Công an đã công bố công khai đưa Hội đồng liên tôn Việt Nam vào danh sách các tổ chức phản động chống Nhà nước Việt Nam; bắt, xử lý 17 đối tượng về tội chống chính quyền nhân dân theo Điều 84 và Điều 230a Bộ luật Hình sự 1999; đồng thời, tổ chức tuyên truyền, tấn công chính trị toàn diện tổ chức Hội đồng liên tôn Việt Nam.

          Thời gian tới, để công tác đấu tranh với các tổ chức các tổ chức phản động lưu vong nói chung, tổ chức phản động Hội đồng liên tôn Việt Nam nói riêng đạt hiệu quả, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị, chính quyền địa các phương cần:

Một là, tổ chức tuyên truyền với hình thức, nội dung hợp lý, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân hiểu rõ âm mưu, ý đồ, phương thức, thủ đoạn tuyền truyền phá hoại tư tưởng, phát triển lực lượng, khủng bố, phá hoại của Hội đồng liên tôn Việt Nam, trên cơ sở đó nâng cao tinh thần cảnh giác, không ủng hộ, tham gia các tổ chức phản động lưu vong nói chung, Hội đồng liên tôn Việt Nam nói riêng; không truy cập, tìm hiểu thông tin, bình luận trên các trang web, tài khoản mạng xã hội do tổ chức Hội đồng liên tôn Việt Nam và số đối tượng liên quan lập ra.

          Hai là, tích cực, chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước những âm mưu, ý đồ, phương thức, thủ đoạn hoạt động hoạt động tuyên truyền, phát triển lực lượng của bọn phản động lưu vong nói chung, Hội đồng liên tôn Việt Nam nói riêng; kịp thời xử lý các tình huống xảy ra, không để bị động, bất ngờ; giải quyết tốt những vấn đề bất cập, bức xúc xã hội, không để chúng lợi dụng kích động khiếu kiện, biểu tình gây mất ổn định chính trị. Thực hiện phương châm: lấy tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính, nhưng kiên quyết đấu tranh với những phần tử chống đối cực đoan.

Ba là, tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức trong các cấp ủy đảng và cán bộ, đảng viên về vai trò, tầm quan trọng của công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa; tích cực đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch và phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; xác định đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy.

          Bốn là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ và quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; ngăn chặn tác hại của hoạt động phá hoại tư tưởng; xử lý nghiêm những trường hợp trong nội bộ tham gia hoặc ủng hộ các đối tượng phản động lưu vong nói chung, Hội đồng liên tôn Việt Nam nói riêng./.

CẦN CHẤM DỨT BÁO CÁO VÔ CĂN CỨ VỀ TỰ DO INTERNET Ở VIỆT NAM

 

Theo thống kê, tỷ lệ người sử dụng Internet tại Việt Nam đạt khoảng 70%, trong khi tỷ lệ trung bình thế giới là hơn 51% và Việt Nam thuộc nhóm 20 nước có số người sử dụng Internet cao nhất thế giới.

Freedom House lại vừa ra báo cáo năm 2022 với những đánh giá định kiến, thiếu khách quan về tình hình tự do Internet ở Việt Nam.

Những đánh giá của Freedom House là sự bịa đặt, được đưa ra một cách vô căn cứ và cố tình phớt lờ thực tế sinh động ở Việt Nam về tự do Internet cũng như những thành tựu đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận về các quyền con người mà Việt Nam đạt được trong nhiều năm qua.

Thực tế cho thấy những nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam đã được các nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao tại Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc qua các chu kỳ.

Việt Nam cũng là một trong số những quốc gia đã về đích sớm trong việc thực hiện nhiều Mục tiêu thiê0n niên kỷ của Liên hợp quốc và đang nỗ lực thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững.

Những thành tích của Việt Nam về Internet cũng hết sức ấn tượng. Theo thống kê, tỷ lệ người sử dụng Internet tại Việt Nam đạt khoảng 70%, trong khi tỷ lệ trung bình của thế giới là hơn 51%. Việt Nam thuộc nhóm 20 nước có số người sử dụng Internet cao nhất thế giới. Tại Việt Nam, hàng chục triệu người dân đang sử dụng Internet để phục vụ cho việc học tập, làm việc, giải trí,…

Ở Việt Nam, hiện có hàng trăm mạng xã hội khác nhau đăng ký hoạt động, trong đó một số mạng xã hội được sử dụng phổ biến như Facebook, Zalo, Twitter, Instagram, Tiktok,… trong đó, Facebook là mạng xã hội phổ biến nhất với hơn 65 triệu người sử dụng.

Người dân có thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, quan điểm cá nhân thông qua Internet, nhất là qua các trang web, mạng xã hội. Nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương đã và đang sử dụng Internet, mạng xã hội để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính và liên hệ trực tiếp với người dân,…

Đó là những minh chứng sinh động của việc Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo vệ quyền phát triển của mỗi người dân, quyền được tự do thông tin, tự do Internet. Vì thế, việc Freedom House chỉ trích Luật An ninh mạng của Việt Nam nhằm kiểm soát người dân sử dụng Internet là hết sức phi lý.

Cần khẳng định rằng Luật An ninh mạng của Việt Nam ra đời nhằm làm lành mạnh hóa không gian mạng xã hội và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên không gian mạng, xuất phát từ thực tế rằng việc có số lượng người sử dụng mạng xã hội quá lớn kéo theo nhiều hành vi vi phạm như bán hàng lừa đảo, đưa những video clip trái với thuần phong mỹ tục lên không gian mạng, lợi dụng mạng xã hội để đưa thông tin sai sự thật, thông tin xấu độc vì động cơ cá nhân, kích động, gây rối trật tự xã hội,…

Việc thực hiện quyền tự do Internet và mạng xã hội tại Việt Nam luôn được đặt trong khung khổ pháp luật, qua đó mới bảo đảm an ninh mạng, phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng mạng xã hội để vi phạm pháp luật Việt Nam nhằm kích động, chia rẽ xã hội, tạo cớ để các thế lực bên ngoài can thiệp vào Việt Nam.

Cũng cần phải nói rõ rằng Luật An ninh mạng của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với quy định của luật pháp quốc tế, cụ thể ở đây là Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR).Hiện có hàng trăm mạng xã hội khác nhau đăng ký hoạt động tại Việt Nam, trong đó một số mạng xã hội được sử dụng phổ biến như Facebook, Zalo, Twitter, Instagram…

Internet là không gian truyền thông lớn nhất trên thế giới hiện nay, là nơi các tầng lớp, cộng đồng và cá nhân trên thế giới có quyền bày tỏ chính kiến, quan điểm. Quyền tự do này đã được Liên hợp quốc quy định rõ ràng tại Khoản 2 và Khoản 3, Điều 19 của ICCPR.

Tuy nhiên, Khoản 3 cũng nêu rõ: “Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định. Tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật và cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức công chúng.”

Rõ ràng, khi đưa ra các đánh giá về tự do Internet tại Việt Nam, Freedom House đã cố tình phớt lờ những quy định trên của ICCPR, đồng thời bỏ qua môt thực tế hiển nhiên là không chỉ Việt Nam ban hành Luật An ninh mạng mà trên thế giới đã có hơn 180 quốc gia đã ban hành luật này hoặc quy định các điều luật về an ninh mạng trong bộ luật bảo đảm an ninh quốc gia. Nhiều quốc gia như Mỹ, Đức, Pháp, Hàn Quốc, Singapore,… đã có luật và điều khoản luật xử lý nghiêm khắc những hành vi vi phạm trên không gian mạng.

Những đánh giá thiếu khách quan, thiên lệch của Freedom House về tự do Internet của Việt Nam được lặp đi lặp lại kể từ khi Việt Nam ban hành Luật An ninh mạng là nhằm kích động, gây rối xã hội. Những thông tin mà Freedom House tiếp cận được về tình hình Việt Nam chủ yếu thông qua các tổ chức phản động, các đối tượng hoạt động chống phá Việt Nam.

Rõ ràng, những thông tin đó phản ánh không đúng thực tiễn. Mục đích là nhằm tạo ra nhận thức lệch lạc về vấn đề tự do Internet và nhân quyền tại Việt Nam nhằm bôi xấu hình ảnh, hạ thấp uy tín, vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế.

Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Vladimir Kolotov – Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh tại Saint-Peterburg (Liên bang Nga), khẳng định: “Năm nào, Freedom House cũng công bố bảng danh sách mang tính chủ quan, không có gì thay đổi, không phản ánh tình hình thực tiễn về các khía cạnh nhân quyền của các nước trên thế giới. Họ không dựa trên cơ sở trên thực tế. Họ tự cho mình quyền cáo buộc nước khác vi phạm nhân quyền, quyền tự do tín ngưỡng… và dựa vào đó để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.” 

Rõ ràng, Freedom House không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác và càng không thể gây sức ép với Việt Nam bằng những nhận xét thiếu khách quan, thiên lệch về tình hình tự do Internet và nhân quyền ở Việt Nam. Freedom House cần chấm dứt ngay những báo cáo vô giá trị như vậy./.

ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG ''DIỄN BIẾN HÒA BÌNH'' CHỐNG PHÁ VIỆT NAM BÌNH MỚI RƯỢU CŨ

 

Bản chất, âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, xúc tiến thực hiện “cách mạng màu” và đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động cấu kết với nhau diễn trò “kẻ tung người hứng” để cố tình chống phá cách mạng Việt Nam thật lố bịch; dù có che đậy, giấu kỹ đến đâu thì bản chất “phi nhân tính”, “dã thúc ác độc” của nó vẫn lộ ra, mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng là không bao giờ thay đổi. Các chiêu trò, thủ đoạn chống phá mới chỉ là cái “điệp khúc” nhai lại với việc “thay hình, đổi dạng”, làm cho mới, tinh vi hơn, sảo quyệt hơn các thủ đoạn chống phá Việt Nam cũ thành mới, “mốt hơn”, phù hợp với tình hình mới và diễn biến của thời cuộc: chúng chĩu mũi nhọn vào chống phá việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội III của Đảng, xuyên tạc bản chất cuộc chiến “chống dịch như chống giặc” của Đảng, Nhà nước với sự tham gia tích cực, hiệu quả của Quân đội, Công an và nhân dân cả nước…

Với đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, hơn 35 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta đã vượt qua tình trạng đói nghèo, kém phát triển, trở thành một nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội và quốc phòng – an ninh tiếp tục ổn định, phát triển, tiến bộ; uy tín, vị thế của nước ta không ngừng nâng cao trên trường quốc tế.

Thế nhưng, một số người thiếu thiện chí, có quan điểm đối lập với Đảng ta, vì lợi ích cá nhân mà nuôi dã tâm cấu kết với các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động tiếp tục lợi dụng quá trình đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam, nhất là việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội III của Đảng và chống đại dịch Covid-19 để thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm “chuyển hóa” Việt Nam, với nhiều thủ đoạn thâm độc, chống phá Đảng. Nếu những năm trước đây, chúng thường sử dụng một số biện pháp “cứng rắn” để “nắn gân”, chống phá Việt Nam, thì hiện nay, chúng đã thay đổi chiến thuật, chuyển từ “cứng rắn” sang “mềm dẻo”, vừa “cứng rắn” vừa “mềm dẻo” để thúc đẩy mở rộng quan hệ, hợp tác để mua chuộc, lôi kéo, củng cố lực lượng có lợi cho chúng; vừa áp đặt, răn đe, gây sức ép để tác động, “chuyển hóa” chế độ chính trị ở Việt Nam theo hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là chính để “nắn chỉnh” đường lối chính trị Việt Nam.

Chiêu bài tác động, biến đổi kinh tế để chuyển hóa, thay đổi dần dần “chế độ chính trị” của Việt Nam đã và đang được thúc đẩy rất tinh vi, thông qua việc đầu tư phát triển kinh tế của các doanh nghiệp tư nhân, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, bằng nhiều cách “giương đông, kích tây”, “ném đá giấu tay”, “chọc gậy bánh xe”, họ đang từng bước phá vỡ quan hệ của Việt Nam với các nước láng giềng, đặc biệt chống phá, xuyên tạc mối quan hệ, hợp tác hữu nghị giữa Việt Nam với Trung Quốc, Việt Nam với Lào, Việt Nam với Campuchia và ngược lại.

Với âm mưu và mục tiêu chiến lược này, phương Tây đang nới rộng các chính sách nhằm đẩy mạnh hợp tác toàn diện với Việt Nam, thực hiện “ba bước tiến” trên lộ trình “chuyển hóa” Việt Nam.

Thứ nhất, đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới, từ đó phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, đẩy nhanh hơn quá trình tư nhân hóa nền kinh tế Việt Nam, làm cho thành phần kinh tế nhà nước mất dần vai trò chủ đạo, dẫn đến chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là phương cách hữu hiệu nhất để làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước xã hội chủ nghĩa và làm xói mòn các yếu tố xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đã xây dựng.

Thứ hai, hình thành “xã hội dân sự” ở Việt Nam với các tổ chức “phi đảng”, tạo môi trường và cơ hội để các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện và hoạt động công khai, gây rối loạn trật tự, an ninh, an toàn xã hội Việt Nam; làm cho Đảng, Nhà nước ta không thể kiểm soát được tình hình, buộc phải chấp nhận “dân chủ chính hiệu” hoặc suy thoái, dẫn đến tan vỡ do đột biến chính trị – xã hội từ bên trong, với sự hỗ trợ đắc lực của các thế lực phản động “ngầm’ từ bên trong cấu kết với các thế lực phản động từ bên ngoài. Đây là “chìa khóa” để “châm ngòi nổ” chính trị xúc tiến việc “chuyển hóa” Việt Nam sau khi đã thực hiện xong “phi chính trị hóa” quân đội và công an.

Thứ ba, thực hiện “dân chủ hóa” vô hạn độ chính quyền các cấp, từ Trung ương đến địa phương, cơ sở; từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng, kêu gọi “tẩy chay Đảng”; đồng thời, đẩy mạnh thực hiện “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an, từng bước gây áp lực phát triển kinh tế, chống đại dịch Covid-19, làm cho Đảng, Nhà nước ta mất chỗ dựa tin cậy, mất lực lượng chính trị tuyệt đối trung thành, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đánh sập chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Hiện nay, một số người coi “bước một” của “lộ trình” nêu trên cơ bản đã hoàn thành; và cho rằng, chỉ có đi vào Việt Nam bằng còn đường “ngoại giao thân thiện”, hợp tác toàn diện, nhất là hợp tác, đầu tư về kinh tế, cho “đồng Đô-la nhảy múa ở Việt Nam” thì mới đáp ứng nhanh, kịp thời các nhu cầu mà xã hội Việt Nam đang đặt ra, người Việt Nam đang mong muốn, cần đến, thì phương Tây mới có điều kiện, môi trường và cơ hội để thực hiện “diễn biến hòa bình”, kéo “con tim, khối óc” của nười dân Việt Nam ra xa Đảng Cộng sản, về gần với phương Tây. Đây là một trong những chiêu trò, thủ đoạn mới hết sức tinh vi, thâm độc, chúng ta không thể xem thường.

Gần đây, nhân việc lợi dụng “hỗ trợ vaccine” phòng, chống đại dịch Covid-19 cho Việt Nam, phương Tây đã thay đổi hướng tiếp cận thông qua một số tổ chức phi chính phủ để thực hiện mục tiêu chiến lược và ý đồ thâm độc chống phá Việt Nam. Họ đã tung tiền, hỗ trợ vaccine hoặc tiếp tay cho các cuộc “cách mạng màu” tại một số nước trên thế giới và đưa các tổ chức nay vào Việt Nam. Với kinh nghiệm và thành công trong việc tung tiền hỗ trợ hoặc tiếp tay cho các cuộc “cách mạng màu” tại một số nước trên thế giới, họ đang tìm cách đưa các tổ chức này vào Việt Nam hoạt động để tránh sự chú ý của các cơ quan chức năng.

Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động đặc biệt coi trọng sử dụng phương tiện truyền thông phản động như BBC, RFA, RFI, YOUTUBE, ZALO, VIBER…và Tổ chức khủng bố Việt Tân để tuyên truyền, tác động, thúc đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hóa” ở Việt Nam. Vì vậy, phương Tây đã chi những khoản tiền lớn cho đài “Á Châu tự do” (RFA) để nâng cấp hệ thống phát thanh, truyền hình vệ tinh.

Cổ súy cho cái gọi là “dân chủ, nhân quyền”, “dân tộc, tôn giáo” được phương Tây sử dụng làm chiêu bài để xuyên tạc tình hình, vu cáo Việt Nam thiếu dân chủ, vi phạm nhân quyền, không có tự do tôn giáo… Họ cho rằng: Đảng, Nhà nước ta đối xử không công bằng với đồng bào các dân tộc thiểu số; không quan tâm đến đời sống và không tiêm vaccine cho đồng bào sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo. Qua đó, họ tìm cách đưa người vào Việt Nam với các danh nghĩa khác nhau để xúc tiến tìm hiểu tình hình, thu nhập thông tin, lôi kéo, hỗ trợ các lực lượng “ngầm” gây rối trên một số địa phương; đồng thời, triệt để lợi dụng vấn đề “tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền”, “đa nguyên chính trị” để chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Dù có che đậy tinh vi, xảo trá đến đâu, bản chất của các thủ đoạn trên là không thay đổi; vẫn chỉ là “bình mới, rượu cũ”. Mục tiêu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài của các thế lực thù địch đối với nước ta là thực hiện “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo loạn lật đổ, cách mạng màu nhằm xóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, đưa Việt Nam theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

Hơn ai hết, Đảng, Nhà nước, quân và dân ta hiểu rõ điều đó. Vì vậy, tăng cường đoàn kết, thống nhất trong Đảng trên cơ sở nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, xây dựng Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, chiến thắng đại dịch Civid-19 là giải pháp có ý nghĩa quyết định để chúng ta làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch.

Trên cơ sở đó, Đảng và Nhà nước cần bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật, nâng cao chất lượng hệ thống truyền thông, thông tin đại chúng, đặc biệt là báo điện tử, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin tích cực cho các tầng lớp nhân dân, vô hiệu hóa các thông tin bịa đặt, xuyên tạc mà các thế lực thù địch đang sử dụng để chống phá ta.

Cùng với đó, cần tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, ngoại giao và quân sự…, tạo ra nội lực bền vững để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế; giữ môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động. Quyền quyết định đánh bại chúng thuộc về chúng ta, là của chúng ta./.

PHÓNG SINH THEO PHONG TRÀO: NGHĨ LÀ TỪ BI NHƯNG THỰC RA LÀ TỘI ÁC!

     Hiện nay, tại nhiều thành phố xuất hiện nhiều người tự xưng là Phật tử thuần thành, tự cho mình là giàu lòng từ bi… vào các dịp lễ Vu Lan, Rằm tháng Giêng, những ngày mồng Một, ngày Rằm thường vung tiền đặt hàng tấn cá, ốc, cua, tôm… mời thầy làm lễ phóng sinh rùm beng.

Cũng có người, khi đến các chùa thường mua ngay tại cửa chùa cả lồng chim, chậu cá… để phóng sinh. Có người, vì điều kiện kinh tế eo hẹp hơn lại được dạy dỗ không đầy đủ là phóng sinh được nhiều con vật thì công đức càng nhiều, nên cố công mua cho thật nhiều ốc, cua “thiếu niên”… để phóng sinh.

Bên cạnh đó, ở nhiều chùa chiền, vào các dịp lễ sư sãi thường tổ chức kèm theo lễ phóng sinh để cầu "quốc thái dân an", chim chóc, ốc ếch, cá tôm bị thu gom rất nhiều để các thầy đem đi thả. 

Họ đều coi đó là làm việc thiện, thu được nhiều công đức và ra sức làm mỗi khi có dịp.

Phóng sinh mang ý nghĩa tốt đẹp nhưng nó đang bị biến tướng khi tình trạng săn bắt, hành hạ động vật diễn ra ở nhiều nơi, làm ảnh hưởng môi trường sống. 

Vì thế, ở chợ vào những dịp lễ hay mồng Một, hôm Rằm bỗng tăng vọt số lượng chim, cá, ốc, cua, tôm… và có hàng còn ghi rõ: Bán giá rẻ phục vụ phóng sinh! Người mua đâu ngờ vào trước những dịp như thế, hoặc khi có đơn đặt hàng thì người bán đã đặt hàng cho người săn bắt.

Thật buồn cười khi những con chim vốn đang tự do bay lượn nay bị bắt để nhiều người đem đi thả nhằm... biểu thị lòng từ bi?! 

Những loài dưới nước còn có nhiều khả năng được sống, nhưng các chú chim thường bị bỏ đói nên chẳng bay được xa, bị bắt lại và lại tiếp tục vào vòng quay bị bắt, bị nhốt, được mua, phóng sinh như thế…

Sau mỗi lễ phóng sinh, nhiều khúc sông có tình trạng cá nổi chết vì không hợp môi trường, chim bay chết đầy các gốc cây vì kiệt sức, thậm chí có nơi phóng sinh cả những loài thuộc danh mục nguy hại bị cấm ra môi trường... còn những kẻ đang niệm "Nam mô A Di Đà Phật" thì cứ chắc mẩm tin rằng mình có thêm nhiều phước sau khi gián tiếp sát sinh! 

Thêm vào đó, những nghi lễ rình rang, hành động khoa trương kẻ cả của những người đi làm lễ phóng sinh khiến nhiều cuộc phóng sinh mất đi ý nghĩa từ bi, buông xả của Đạo Phật mà chỉ tăng thêm sự bức xúc của người đời, khiến cho Phật giáo bị méo mó, hình ảnh tăng sĩ trở nên phù phiếm, rất đáng quan ngại! 

Bản chất của phóng sinh là khi thấy con vật khác sắp bị giết hại thì người phóng sinh phát lòng từ bi mà tìm cách cứu rồi thả đi. Chứ không phải đi đặt hành cho người khác bắt rồi mình đem đi thả. Trong kinh Phạm Võng có ghi: “Người con Phật vì lòng từ bi mà làm việc phóng sinh và khuyên bảo người khác làm. Nếu thấy người đời sát sinh thì nên tìm cách cứu cho chúng được thoát khỏi nạn khổ”. 

Phóng sinh mà làm theo kiểu biến tướng thì khác gì tội ác?
Yêu nước ST.