Ngày 15-7-1967, Bộ Chính trị mở phiên họp bất thường do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn chủ trì, quyết định lưu giữ thi hài Bác lâu dài và sẽ xây một ngôi lăng của Người.
Thứ Hai, 28 tháng 8, 2023
CHUẨN BỊ CHO NHIỆM VỤ CAO CẢ, THIÊNG LIÊNG
QUẢN LÝ VĂN HÓA PHẢI THỂ CHẾ HÓA ĐƯỢC CHÍNH SÁCH CỦA NGÀNH VÀ ĐẦU TƯ VÀO CÁN BỘ NGÀNH!
VỮNG NHƯ “KIỀNG BA CHÂN”, TOÀN QUÂN MỘT Ý CHÍ!
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 1945 - GIÁ TRỊ TRONG SỰ NGHIỆP BẢO VỆ TỔ QUỐC HIỆN NAY!
THỦ ĐOẠN BÔI LEM THÀNH QUẢ, Ý NGHĨA LỊCH SỬ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM
Cách đây 78 năm, Nhân dân ta đã nhất tề vùng lên tiến hành Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám, tạo bước ngoặt trong lịch sử phát triển của dân tộc. Đó là kết quả của sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là thành quả của sự đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian khổ, hy sinh của toàn dân tộc Việt Nam
Vậy nhưng,
đến hẹn lại lên, vào thời điểm kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, một số phần tử cơ
hội chính trị trong và ngoài nước, một số tổ chức, báo đài thiếu thiện chí,
chống phá Việt Nam lại cố tình đăng tải các bài viết phủ nhận ý nghĩa và thành
quả vĩ đại của Cách mạng Tháng Tám đối với dân tộc ta.
Trên
Facebook, YouTube, các đối tượng đã đăng tải nhiều bài viết cho rằng, Cách mạng
Tháng Tám năm 1945 là “sai lầm lịch sử”, là “đi ngược lại sự bảo hộ của mẫu
quốc”, không có gì thay đổi chế độ xã hội ở Việt Nam, chẳng qua chỉ là thay từ
chế độ “vua trị” sang chế độ “đảng trị”. Chúng còn cho rằng, thắng lợi mà Việt
Nam giành được đó là “sự ăn may của lịch sử khi Nhật thua trong Chiến tranh thế
giới thứ hai, chứ Đảng Cộng sản Việt Nam chẳng có tài cán gì”; vu cáo “Cách
mạng Tháng Tám thực chất chỉ là một cuộc cướp chính quyền”; “Tổng khởi nghĩa là
do quốc gia đề xướng nhưng cộng sản nhảy ra cướp công”; “Đảng Cộng sản Việt Nam
đã hứng được quả ngọt trời cho là tình thế của Pháp, Nhật và hào khí của dân
tộc lúc đó để cướp chính quyền cho riêng mình”...
Một số lại quy kết: “Cách mạng Tháng Tám là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam”; “nếu không có Cách mạng Tháng Tám, nước ta đã giàu mạnh từ lâu và không mất dân chủ như bây giờ”; “Cách mạng Tháng Tám là mở ra thời kỳ Đảng đã áp đặt một chế độ độc tài toàn trị, một đảng duy nhất nắm quyền thống trị với một nhà nước “chuyên chính vô sản”... Những gì mà các cá nhân, tổ chức chống phá, các phần tử cơ hội theo chủ nghĩa xét lại đã xuyên tạc, bôi lem về ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chính là luận điệu xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; hạ thấp, phủ nhận sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam; xem nhẹ giá trị lịch sử và ý nghĩa thời đại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Nhìn lại
lịch sử, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của sự lãnh đạo
sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, là thành quả của
sự đoàn kết, đồng lòng, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, gian khổ, hy
sinh của dân tộc. Đặc biệt, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là nhờ
tư duy sắc sảo, nhạy bén, sáng tạo, quyết đoán của Đảng, Bác Hồ trong xác định,
lựa chọn thời cơ tiến hành Tổng khởi nghĩa. Điều này được thể hiện trên các
điểm sau:
Thứ nhất, Cách mạng Tháng Tám không phải là “sai lầm lịch sử” hay là “sự ăn may”. Từ những năm còn bôn ba tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”. Các cao trào cách mạng 1930-1931, 1936-1939, 1939-1945 thực sự là những “cuộc tổng diễn tập” là tiền đề cho Cách mạng Tháng Tám thành công. Khi tình thế và thời cơ cách mạng chín muồi, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước đúng vào thời điểm thuận lợi nhất.
Thắng lợi vĩ đại của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là kết quả của một quá trình chuẩn bị đầy đủ lực lượng cách mạng của Đảng ta. Đồng thời, là kết quả của việc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ động, tích cực theo dõi tình hình, dự đoán chính xác thời cơ và kiên quyết lãnh đạo Nhân dân đứng lên chớp thời cơ “nghìn năm có một” để tiến hành Tổng khởi nghĩa. Trong hai yếu tố chủ quan và khách quan thì yếu tố chủ quan là động lực chính, quyết định đến thắng lợi, hoàn toàn không phải thụ động “ăn may”.
Thứ hai, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã xóa bỏ sự thống trị của thực dân, phát xít và phong kiến, xây dựng Nhà nước dân chủ Nhân dân đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Đó không phải là sự chuyển giao từ chế độ “vua trị” sang “đảng trị” mà là sự thay đổi về bản chất từ chế độ cai trị tàn bạo của thực dân, phong kiến sang chế độ Nhân dân làm chủ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Cách mạng Tháng Tám đã giải phóng đồng bào ta khỏi chế độ quân chủ chuyên chế và xiềng xích thực dân”. Đồng thời, đối với công cuộc xây dựng một chế độ xã hội mới, khác hẳn về chất so với chế độ phong kiến, thực dân và đến quốc: “Cách mạng Tháng Tám đã xây dựng cho Nhân dân ta cái nền tảng Dân chủ Cộng hòa và thống nhất độc lập”.
Thứ ba, Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không
phải là nguyên nhân dẫn đến hai cuộc chiến tranh đẫm máu ở Việt Nam. Sau khi
nhân dân ta giành được chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa
được bao lâu, ngày 23/9/1945, thực dân Pháp quay lại cướp nước ta một lần nữa.
Trước tình thế đất nước đang “ngàn cân treo sợi tóc”, Chính phủ Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện nhiều chính sách để
gìn giữ hòa bình, tránh cuộc chiến tranh đổ máu.
Tuy nhiên, “chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa”. Với tinh thần “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, quân và dân ta đã trường kỳ kháng chiến và giành thắng lợi, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp phải ký Hiệp định Geneva tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam và các nước trên bán đảo Đông Dương. Song, Pháp đã cấu kết và “bật đèn xanh” cho đế quốc Mỹ nhảy vào xâm lược Việt Nam và Đông Dương, buộc Nhân dân ta phải tiếp tục bước vào cuộc trường chinh chống Mỹ cứu nước kéo dài 21 năm sau đó.
Bằng đường lối lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và tinh thần đấu tranh anh dũng kiên cường, bất khuất, bất chấp mọi gian khổ hy sinh, Đảng đã lãnh đạo Nhân dân ta giành thắng lợi vẻ vang, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Chính vì vậy, nguyên nhân sâu xa, trực tiếp dẫn đến hai cuộc kháng chiến của Nhân dân ta chính là bản chất hiếu chiến xâm lược của chủ nghĩa thực dân, đế quốc chứ không phải một lý do nào khác và đương nhiên không phải do Thủ đoạn bôi lem thành quả, ý nghĩa lịch sử Cách mạng Tháng Tám
TRÁNH NHẸ DẠ, VÔ TÌNH BỊ LỢI DỤNG
Chuyện chẳng
phải mới nhưng chưa bao giờ cũ. Liên tục trong thời gian qua, ở nhiều nơi diễn
ra tình trạng cán bộ hưu trí, cán bộ nghỉ chế độ, cán bộ bị kỷ luật buộc phải
rời khỏi tổ chức… có những phát ngôn thiếu chuẩn mực, tuyên bố “cạch mặt” tổ
chức, bôi nhọ cơ quan, đơn vị cũ; nêu chính kiến đi ngược lại với quan điểm,
đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước.
Thậm chí, một số
cá nhân còn chủ ý cổ xúy hoặc vô tình bị các lực lượng thù địch lợi dụng, lôi
kéo tham gia vào các hoạt động tuyên truyền chống phá cách mạng Việt Nam.
Thực tế đáng lo
ngại đó cần phải sớm được thẳng thắn nhận diện và có giải pháp đấu tranh quyết
liệt, tẩy trừ dứt điểm.
Nguy hại từ
những câu chuyện làm quà
Ông cán bộ nọ,
từng công tác ở cơ quan trọng yếu hẳn hoi, nhưng khi vừa về hưu, trong câu
chuyện trà nước đã lắc đầu tỏ vẻ ngao ngán, chê bai chính tổ chức mà mình từng
gắn bó suốt quãng đời công tác. Ông cho rằng sở dĩ bản thân phải tá túc với
“cái nơi ấy” là vì “cơm, áo, gạo, tiền” chứ nội bộ cơ quan “chẳng đẹp đẽ” gì.
Và rồi ông chê trách cách ứng xử, cách sống của người đứng đầu đương chức; chế
nhạo, nói xấu cả những đồng nghiệp cũ.
Lại có chuyện
một cán bộ vừa bị kỷ luật do vi phạm nhưng không nhận thức rõ khuyết điểm cá
nhân để tự sửa chữa, lại huênh hoang livestream, viết bài đăng lên tài khoản
facebook cá nhân bày tỏ sự không vừa lòng và kêu gọi cộng đồng lên tiếng bảo vệ
mình?! Nhiều người không hiểu nội dung vụ việc nên đã vô tư a dua, lớn tiếng
đặt điều, lên án tập thể, cơ quan chức năng.
Rồi lại thêm
chuyện một số cá nhân do phẩm chất, năng lực chưa đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ
công tác, bị tổ chức thải loại, buộc phải nghỉ chế độ theo yêu cầu tinh giản
biên chế, được hưởng các chế độ đãi ngộ theo đúng quy định… nhưng có vẻ trong
lòng ấm ức nên cố tình “trở cờ” với tổ chức. Các vị này “hồn nhiên” mang những
chuyện nội bộ, cả những việc có yếu tố bí mật (theo quy định của Nhà nước) để
công khai trên diễn đàn xã hội. Tệ hơn, họ coi đó như một phương tiện hòng “câu
like”, “câu view” hoặc “nói cho bõ tức”…
Những câu chuyện
như trên diễn ra khá phổ biến ở nhiều nơi, mà tính chất, mức độ nguy hại của nó
thì thật khó lường. Vì tiếp nhận thông tin một chiều, không có điều kiện thẩm
định thực-hư, không nắm chắc bản chất vấn đề, cũng không nhận rõ yếu tố chủ nghĩa
cá nhân, chủ nghĩa vị kỷ của những người lớn tiếng “kêu oan”, bày tỏ bức xúc…
nên dư luận xã hội, nhất là trên cộng đồng mạng được dịp a dua, theo đóm ăn
tàn, like, share cảm tính, vô hình trung tạo nên làn sóng dư luận tiêu cực
trong cộng đồng. Chính điều đó đã tác động không nhỏ đến đời sống tinh thần xã
hội. Theo chiều tiêu cực, nhiều người dần dần hình thành cách nhìn phiến diện,
thiếu thiện cảm đối với hệ thống chính trị và đội ngũ cán bộ. Nhiều người hiểu
sai bản chất và không nhận rõ tính khoa học, khách quan từ những chủ trương,
giải pháp của Đảng, Nhà nước về công tác tư tưởng, tổ chức và chính sách đối
với cán bộ, đảng viên; không thấy hết nỗ lực của các cấp, các ngành trong hiện
thực hóa chủ trương tinh giản biên chế, quyết tâm xây dựng hệ thống chính trị
tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; không nhận thức đủ tính ưu việt trong
chính sách trọng dụng hiền tài và quyết tâm thải loại những thành phần yếu kém
về năng lực, phẩm chất ra khỏi tổ chức… Những hành vi lệch lạc đó đã gây ảnh
hưởng nghiêm trọng đến nhận thức, tình cảm, ý chí, niềm tin của quần chúng đối
với tổ chức đảng và bộ máy chính quyền Nhà nước.
Nguy hại hơn là
từ những sự vụ, sự việc nêu trên, các lực lượng thù địch lấy đó làm nguyên cớ
hòng đưa đẩy vấn đề theo hướng tiêu cực, rồi suy diễn, quy chụp về những tồn
tại, hạn chế trong nội bộ Đảng và bộ máy Nhà nước. Từ một vài ví dụ trên mạng
xã hội, chúng rêu rao rằng “nội bộ tổ chức đảng và chính quyền đang mất đoàn
kết, phân chia bè cánh, kèn cựa, đấu đá hạ bệ lẫn nhau nên mới có chuyện thải
loại và đẩy cán bộ tốt vào đường cùng”… Từ đó, chúng đề xuất, tự thúc đẩy trào
lưu đấu tranh, kích động biểu tình, gây rối trên một số địa bàn. Sự việc diễn
ra năm 2018 ở nhiều địa phương, nhất là ở Bình Thuận càng giúp chúng ta thấm,
ngấm được bài học về việc cộng đồng xã hội và người dân bị các thế lực thù địch
“dắt mũi” thông qua những bài viết trên mạng xã hội.
Bắt bệnh và trị
bệnh
Phải khẳng định
ngay, những cá nhân nêu trên đã tự đánh mất mình, rơi vào “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa”. Họ đã mặc nhiên quay lưng với chính hệ tư tưởng, quan điểm, lý
tưởng cống hiến trong suốt quãng đời công tác trước đây của bản thân. Chính họ
đã tự xúc phạm, giẫm đạp lên quá khứ của chính mình!
Vì sao lại thế?
Có muôn nghìn câu trả lời. Cũng thấy rõ muôn vàn lý do, nguyên nhân đưa đến
thực trạng đó. Nào là do những xích mích, mất lòng trong hàng ngũ lúc còn đương
chức; do về hưu phải đối diện với sự cô đơn, cô độc, lại có nhiều thời gian nên
“rảnh rỗi sinh nông nổi”; do thiếu thông tin, không tìm hiểu cặn kẽ sự việc…
nên nhận thức phiến diện, cực đoan; do tác động từ âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù,
nhất là khi chúng xác định nhóm công dân này là một trong những đối tượng có
thể tập trung lợi dụng, lôi kéo…
Thế nhưng, dù
căn nguyên ra sao thì vấn đề cốt tử vẫn nằm ở bản lĩnh chính trị và bản chất
của những người từng khoác lên mình màu áo đảng viên và danh dự, tư cách người
cán bộ cách mạng. Thực tế cho thấy, một khi cán bộ thật sự có bản lĩnh, chí
công, vô tư phục vụ tổ chức, cơ quan, đơn vị, sống chân thành, tử tế với đồng
chí, đồng đội lúc đương chức thì khi nghỉ hưu, rời tổ chức, họ vẫn một lòng gắn
bó với sự nghiệp của tập thể. Họ vẫn theo dõi, quan sát từng bước phát triển,
trưởng thành của tổ chức, xem đó là nguồn hạnh phúc của mình. Thậm chí, nhiều
người còn chủ động tham mưu, hiến kế, giúp đỡ thế hệ đi sau hoàn thành nhiệm
vụ. Nhiều cán bộ khi nghỉ hưu hoặc luân chuyển đi nơi khác… vẫn nhận được sự
quan tâm, động viên, kính trọng của đồng nghiệp, anh em nơi cơ quan cũ. Cấp
trên đương chức, nhân viên, đồng nghiệp vẫn thường xuyên lui tới thăm hỏi, trò
chuyện, giữ mối liên hệ mật thiết, sẻ chia vui buồn. Ngược lại, những kẻ đã,
đang và sẽ hống hách, rao giảng, kêu than trên mạng xã hội thì lúc đương chức
tâm địa có lẽ cũng có vấn đề…
Nói như vậy sẽ
không hẳn là đúng với mọi trường hợp, mà câu chuyện này còn chịu sự chi phối đa
chiều bởi các quy luật tâm lý-xã hội. Có nghĩa, bất cứ ai nghỉ hưu, bị thải
loại, rời xa tổ chức cũ… cũng đều ít nhiều rơi vào các biểu hiện, vấn đề của tư
tưởng, tâm lý. Con người ta sẽ không tránh khỏi những nỗi buồn khách quan và sự
hẫng hụt về mặt tinh thần khi phải bắt đầu một nếp sống mới. Nói như vậy để
thấy, việc quan tâm, làm tốt công tác tư tưởng cho đối tượng sắp nghỉ hưu, đối
tượng tinh giản… cần phải được cấp ủy, lãnh đạo, chỉ huy các cấp tiến hành
thường xuyên, liên tục. Bởi có một thực tế là, ở một số cơ quan, đơn vị hiện
nay, việc tiến hành công tác tư tưởng cho cán bộ trước và sau khi nghỉ công tác
vẫn bị coi nhẹ, ít có sự động viên, quan tâm thường xuyên.
Thế nhưng, dù
các tác động khách quan có đến mức nào đi chăng nữa thì yếu tố chủ quan vẫn giữ
vai trò quyết định. Nhiều cá nhân trước khi nghỉ hưu vẫn mưu toan giữ ghế, tham
vọng bám trụ lại tổ chức vì quyền lợi riêng nên thật khó chiến thắng được sự
xung đột tâm lý cá nhân. Và nhất là khi mưu cầu tư lợi không đạt được thì sinh
ra bệnh tư tưởng, rồi “giận cá chém thớt”, làm những chuyện trái khoáy… khiến
dư luận phải dị nghị, xem thường!
Nhiều chuyên gia
tâm lý cho rằng: Trong khi toàn Đảng và cả hệ thống chính trị đang quyết liệt
thực hiện chủ trương “có lên, có xuống, có vào, có ra” thì tinh thần này phải
được thấu triệt đến mọi cấp, mọi ngành, mọi địa phương. Từng cấp ủy, tổ chức
phải đẩy mạnh giáo dục để cán bộ lúc đương chức luôn thông suốt về tư tưởng,
nhận thức rõ việc nghỉ hưu, rời tổ chức là việc đương nhiên, tất yếu. Từng cá
nhân phải cố gắng duy trì quan điểm dù đang công tác hay nghỉ công tác thì đều
giữ đúng chức phận của mình; là người đảng viên kiên định, kiên trung của Đảng.
Có được tư duy và cách nghĩ đó thì chắc chắn việc nghỉ hưu, rời tổ chức sẽ tự
nó trở nên thanh thản, nhẹ nhàng…
Còn xét dưới góc
độ tổ chức, đối với những trường hợp vừa rời tập thể đã hòa vào đám đông một
cách tiêu cực thì cần phải được cấp có thẩm quyền nhận diện, đấu tranh phê bình
nghiêm khắc; thậm chí xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật để giáo dục
chung. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, những trường hợp như đã nêu ở trên diễn
ra khá phổ biến, ở nhiều cơ quan, đơn vị, nhưng việc xử lý vẫn chưa triệt để,
nghiêm khắc. Có chăng chỉ là sự nhắc nhở, động viên, đối thoại, cảnh tỉnh… rồi
“đâu lại vào đấy”. Do vậy, cùng với giáo dục, thuyết phục, các cơ quan chức
năng cần có thái độ quyết liệt xử lý thực trạng này. Khi phát hiện các đối
tượng lợi dụng mạng xã hội để nói xấu Đảng, chế độ, bôi nhọ tổ chức, cơ quan,
đơn vị thì kiên quyết xử lý nghiêm minh đến cùng, đúng người, đúng mức độ vi
phạm, “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”…
Làm cán bộ, đảng
viên của Đảng thì cần phải khắc ghi và hiểu sâu sắc lời dạy quý báu của Chủ
tịch Hồ Chí Minh: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ
đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người
yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá
nhân”.
CẦN LOẠI BỎ TỔ CHỨC PHẢN ĐỘNG HỘI ĐỒNG LIÊN TÔN VIỆT NAM - NHÓM PHẢN ĐỘNG
Kẻ cẩm đầu cái gọi là Hội đồng liên tôn Việt Nam là Thích Không Tánh, tên thật là Phan Ngọc Ấn, sinh năm 1943, nguyên quán Phước Thuận, Tuy Phước, Bình Định; thường trú tại chùa Liên Trì, số 153 đường Lương Định Của, quận 2, thành phố Hồ Chí Minh. Tại đây, Thích Không Tánh đảm nhiệm công tác liên lạc, tổ chức các hoạt động nhằm khuếch trương thanh thế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (một tổ chức tôn giáo không được thừa nhận ở nước ta) và làm cầu nối thông tin với các tổ chức Phật giáo Việt Nam lưu vong. Từ năm 1978 đến 1986, Thích Không Tánh bị đưa đi cải tạo, do tham gia các hoạt động của những phần tử đội lốt tu hành chống phá Nhà nước và vi phạm pháp luật. Đến năm 1987, Thích Không Tánh được trả tự do. Song, với bản chất của kẻ phản động, ngày 02/10/1992, Thích Không Tánh bị các lực lượng chức năng bắt quả tang khi đang lưu hành nhiều tài liệu có nội dung chống lại Nhà nước và bị án phạt 5 năm tù giam và quản chế 5 năm sau khi mãn hạn tù. Sau thời gian này, Thích Không Tánh cùng với số tu sỹ bất mãn trong Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Phật giáo Hòa Hảo, Cao Đài,.. lập ra tổ chức Hội đồng liên tôn Việt Nam với ý đồ liên tôn, liên kết số tu sĩ bất mãn trong các tôn giáo để chống phá Nhà nước Việt Nam.
Hoạt động của cái gọi là Hội đồng liên
tôn Việt Nam chủ yếu hướng vào các vụ việc phức tạp về tôn giáo để chống phá Đảng
và Nhà nước ta. Chúng đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền, phá hoại tư tưởng thông
qua việc lợi dụng các vụ việc phức tạp, nhạy cảm trong nước sau đó, thêm tình
tiết, thổi phồng, bịa đặt nhằm tác động gây chia rẽ nội bộ, hạ uy tín các đồng
chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, gây tâm lý hoài nghi trong nhân dân… thông qua đó
để từng bước làm xói mòn lòng tin của quần chúng nhân dân đối với Đảng, Nhà
nước, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, kích động tâm lý bức xúc, “bất
tuân dân sự”, sử dụng bạo lực để phản kháng lại chính quyền.
Bên cạnh đó, chúng móc nối, phát triển
lực lượng cho tổ chức thông qua mạng internet và các trang mạng xã hội đưa
thông tin xuyên tạc tình hình trong nước, tác động móc nối, lôi kéo thanh niên,
sinh viên, trí thức, chức sắc, tín đồ tôn giáo cực đoan, người dân tộc thiểu số
có tư tưởng ly khai, hẹp hòi, số cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất… Các
hoạt động của tổ chức phản động này với thủ đoạn lừa đảo, mị dân để móc nối,
lôi kéo người tham gia tổ chức. Trên thực tế, một bộ phận quần chúng nhân dân
do hoàn cảnh khó khăn, hám lợi và nhận thức còn hạn chế nên đã đăng ký tham
gia; trong đó, một số cán bộ, đảng viên do nhận thức chưa đầy đủ, chưa thấy
tính chất nguy hiểm trong luận điệu tuyên truyền của Hội đồng liên tôn Việt Nam
nên đã bị chúng chuyển hóa, lợi dụng, lôi kéo, công khai ủng hộ các hoạt động
chống phá Việt Nam…
Thời gian qua, Bộ Công an đã phối hợp
với các Bộ, Ban, ngành và cấp ủy chính quyền các cấp đấu tranh làm thất bại âm
mưu, ý đồ chống phá của các thế lực thù địch nói chung và bọn tổ chức phản động
lưu vong nói riêng; trong đó, ngăn chặn, vô hiệu hóa nhiều kế hoạch khủng bố,
phá hoại của tổ chức phản động Hội đồng liên tôn Việt Nam. Căn cứ vào hoạt động
của Hội đồng liên tôn Việt Nam và theo quy định của pháp luật Việt Nam, Bộ Công
an đã công bố công khai đưa Hội đồng liên tôn Việt Nam vào danh sách các tổ
chức phản động chống Nhà nước Việt Nam; bắt, xử lý 17 đối tượng về tội chống
chính quyền nhân dân theo Điều 84 và Điều 230a Bộ luật Hình sự 1999; đồng thời,
tổ chức tuyên truyền, tấn công chính trị toàn diện tổ chức Hội đồng liên tôn
Việt Nam.
Thời gian tới, để công tác đấu tranh
với các tổ chức các tổ chức phản động lưu vong nói chung, tổ chức phản động Hội
đồng liên tôn Việt Nam nói riêng đạt hiệu quả, cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn
vị, chính quyền địa các phương cần:
Một là, tổ chức
tuyên truyền với hình thức, nội dung hợp lý, nâng cao nhận thức cho cán bộ,
đảng viên, quần chúng nhân dân hiểu rõ âm mưu, ý đồ, phương thức, thủ đoạn
tuyền truyền phá hoại tư tưởng, phát triển lực lượng, khủng bố, phá hoại của
Hội đồng liên tôn Việt Nam, trên cơ sở đó nâng cao tinh thần cảnh giác, không
ủng hộ, tham gia các tổ chức phản động lưu vong nói chung, Hội đồng liên tôn
Việt Nam nói riêng; không truy cập, tìm hiểu thông tin, bình luận trên các
trang web, tài khoản mạng xã hội do tổ chức Hội đồng liên tôn Việt Nam và số
đối tượng liên quan lập ra.
Hai là, tích cực, chủ động nắm bắt
tình hình tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trước những
âm mưu, ý đồ, phương thức, thủ đoạn hoạt động hoạt động tuyên truyền, phát
triển lực lượng của bọn phản động lưu vong nói chung, Hội đồng liên tôn Việt
Nam nói riêng; kịp thời xử lý các tình huống xảy ra, không để bị động, bất ngờ;
giải quyết tốt những vấn đề bất cập, bức xúc xã hội, không để chúng lợi dụng
kích động khiếu kiện, biểu tình gây mất ổn định chính trị. Thực hiện phương
châm: lấy tuyên truyền, vận động, thuyết phục là chính, nhưng kiên quyết đấu
tranh với những phần tử chống đối cực đoan.
Ba là, tiếp tục quán triệt, nâng cao nhận thức trong các cấp ủy đảng và cán bộ, đảng viên về vai trò, tầm quan trọng của công tác đấu tranh chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa; tích cực đấu tranh, phản bác các thông tin, quan điểm sai trái, thù địch và phòng, chống nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; xác định đây là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp của cấp ủy.
Bốn là, tăng cường công tác bảo vệ chính trị nội bộ và quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; ngăn chặn tác hại của hoạt động phá hoại tư tưởng; xử lý nghiêm những trường hợp trong nội bộ tham gia hoặc ủng hộ các đối tượng phản động lưu vong nói chung, Hội đồng liên tôn Việt Nam nói riêng./.
CẦN CHẤM DỨT BÁO CÁO VÔ CĂN CỨ VỀ TỰ DO INTERNET Ở VIỆT NAM
Theo thống
kê, tỷ lệ người sử dụng Internet tại Việt Nam đạt khoảng 70%, trong khi tỷ lệ
trung bình thế giới là hơn 51% và Việt Nam thuộc nhóm 20 nước có số người sử
dụng Internet cao nhất thế giới.
Freedom House
lại vừa ra báo cáo năm 2022 với những đánh giá định kiến, thiếu khách quan về
tình hình tự do Internet ở Việt Nam.
Những đánh
giá của Freedom House là sự bịa đặt, được đưa ra một cách vô căn cứ và cố tình
phớt lờ thực tế sinh động ở Việt Nam về tự do Internet cũng như những thành tựu
đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận về các quyền con người mà Việt Nam đạt được
trong nhiều năm qua.
Thực tế cho
thấy những nỗ lực thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam đã được các
nước, tổ chức quốc tế đánh giá cao tại Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR)
của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc qua các chu kỳ.
Việt Nam cũng
là một trong số những quốc gia đã về đích sớm trong việc thực hiện nhiều Mục
tiêu thiê0n niên kỷ của Liên hợp quốc và đang nỗ lực thực hiện các Mục tiêu
phát triển bền vững.
Những thành
tích của Việt Nam về Internet cũng hết sức ấn tượng. Theo thống kê, tỷ lệ người
sử dụng Internet tại Việt Nam đạt khoảng 70%, trong khi tỷ lệ trung bình của
thế giới là hơn 51%. Việt Nam thuộc nhóm 20 nước có số người sử dụng Internet
cao nhất thế giới. Tại Việt Nam, hàng chục triệu người dân đang sử dụng
Internet để phục vụ cho việc học tập, làm việc, giải trí,…
Ở Việt Nam,
hiện có hàng trăm mạng xã hội khác nhau đăng ký hoạt động, trong đó một số mạng
xã hội được sử dụng phổ biến như Facebook, Zalo, Twitter, Instagram, Tiktok,…
trong đó, Facebook là mạng xã hội phổ biến nhất với hơn 65 triệu người sử dụng.
Người dân có
thể tự do chia sẻ, bày tỏ thông tin, quan điểm cá nhân thông qua Internet, nhất
là qua các trang web, mạng xã hội. Nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính
trị từ trung ương đến địa phương đã và đang sử dụng Internet, mạng xã hội để
làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính và liên hệ trực tiếp với người
dân,…
Đó là những minh chứng sinh
động của việc Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo vệ quyền phát triển của
mỗi người dân, quyền được tự do thông tin, tự do Internet. Vì thế, việc Freedom
House chỉ trích Luật An ninh mạng của Việt Nam nhằm kiểm soát người dân sử dụng
Internet là hết sức phi lý.
Cần khẳng
định rằng Luật An ninh mạng của Việt Nam ra đời nhằm làm lành mạnh hóa không
gian mạng xã hội và bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên không gian mạng, xuất
phát từ thực tế rằng việc có số lượng người sử dụng mạng xã hội quá lớn kéo
theo nhiều hành vi vi phạm như bán hàng lừa đảo, đưa những video clip trái với
thuần phong mỹ tục lên không gian mạng, lợi dụng mạng xã hội để đưa thông tin
sai sự thật, thông tin xấu độc vì động cơ cá nhân, kích động, gây rối trật tự
xã hội,…
Việc thực
hiện quyền tự do Internet và mạng xã hội tại Việt Nam luôn được đặt trong khung
khổ pháp luật, qua đó mới bảo đảm an ninh mạng, phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt
động lợi dụng mạng xã hội để vi phạm pháp luật Việt Nam nhằm kích động, chia rẽ
xã hội, tạo cớ để các thế lực bên ngoài can thiệp vào Việt Nam.
Cũng cần phải
nói rõ rằng Luật An ninh mạng của Việt Nam hoàn toàn phù hợp với quy định của
luật pháp quốc tế, cụ thể ở đây là Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và
chính trị (ICCPR).Hiện có hàng trăm mạng xã hội khác nhau đăng ký hoạt động tại
Việt Nam, trong đó một số mạng xã hội được sử dụng phổ biến như Facebook, Zalo,
Twitter, Instagram…
Internet là
không gian truyền thông lớn nhất trên thế giới hiện nay, là nơi các tầng lớp,
cộng đồng và cá nhân trên thế giới có quyền bày tỏ chính kiến, quan điểm. Quyền
tự do này đã được Liên hợp quốc quy định rõ ràng tại Khoản 2 và Khoản 3, Điều
19 của ICCPR.
Tuy nhiên,
Khoản 3 cũng nêu rõ: “Việc thực hiện những quyền quy định tại Khoản 2 điều này
kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải
chịu một số hạn chế nhất định. Tuy nhiên, những hạn chế này phải được quy định
trong pháp luật và cần thiết để: a) Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người
khác, b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức
công chúng.”
Rõ ràng, khi đưa ra các
đánh giá về tự do Internet tại Việt Nam, Freedom House đã cố tình phớt lờ những
quy định trên của ICCPR, đồng thời bỏ qua môt thực tế hiển nhiên là không chỉ
Việt Nam ban hành Luật An ninh mạng mà trên thế giới đã có hơn 180 quốc gia đã
ban hành luật này hoặc quy định các điều luật về an ninh mạng trong bộ luật bảo
đảm an ninh quốc gia. Nhiều quốc gia như Mỹ, Đức, Pháp, Hàn Quốc, Singapore,…
đã có luật và điều khoản luật xử lý nghiêm khắc những hành vi vi phạm trên
không gian mạng.
Những đánh
giá thiếu khách quan, thiên lệch của Freedom House về tự do Internet của Việt
Nam được lặp đi lặp lại kể từ khi Việt Nam ban hành Luật An ninh mạng là nhằm
kích động, gây rối xã hội. Những thông tin mà Freedom House tiếp cận được về
tình hình Việt Nam chủ yếu thông qua các tổ chức phản động, các đối tượng hoạt
động chống phá Việt Nam.
Rõ ràng,
những thông tin đó phản ánh không đúng thực tiễn. Mục đích là nhằm tạo ra nhận
thức lệch lạc về vấn đề tự do Internet và nhân quyền tại Việt Nam nhằm bôi xấu
hình ảnh, hạ thấp uy tín, vị thế và vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế.
Giáo sư, Tiến sỹ khoa học Vladimir Kolotov – Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh tại Saint-Peterburg (Liên bang Nga), khẳng định: “Năm nào, Freedom House cũng công bố bảng danh sách mang tính chủ quan, không có gì thay đổi, không phản ánh tình hình thực tiễn về các khía cạnh nhân quyền của các nước trên thế giới. Họ không dựa trên cơ sở trên thực tế. Họ tự cho mình quyền cáo buộc nước khác vi phạm nhân quyền, quyền tự do tín ngưỡng… và dựa vào đó để can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác.”
Rõ ràng, Freedom House không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác và càng không thể gây sức ép với Việt Nam bằng những nhận xét thiếu khách quan, thiên lệch về tình hình tự do Internet và nhân quyền ở Việt Nam. Freedom House cần chấm dứt ngay những báo cáo vô giá trị như vậy./.
ÂM MƯU, HOẠT ĐỘNG ''DIỄN BIẾN HÒA BÌNH'' CHỐNG PHÁ VIỆT NAM BÌNH MỚI RƯỢU CŨ
Bản chất, âm
mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ, xúc tiến thực hiện “cách mạng màu” và đòi “phi chính
trị hóa” lực lượng vũ trang mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản
động cấu kết với nhau diễn trò “kẻ tung người hứng” để cố tình chống phá cách
mạng Việt Nam thật lố bịch; dù có che đậy, giấu kỹ đến đâu thì bản chất “phi
nhân tính”, “dã thúc ác độc” của nó vẫn lộ ra, mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước
và chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng là không bao giờ thay
đổi. Các chiêu trò, thủ đoạn chống phá mới chỉ là cái “điệp khúc” nhai lại với
việc “thay hình, đổi dạng”, làm cho mới, tinh vi hơn, sảo quyệt hơn các thủ
đoạn chống phá Việt Nam cũ thành mới, “mốt hơn”, phù hợp với tình hình mới và
diễn biến của thời cuộc: chúng chĩu mũi nhọn vào chống phá việc triển khai thực
hiện Nghị quyết Đại hội III của Đảng, xuyên tạc bản chất cuộc chiến “chống dịch
như chống giặc” của Đảng, Nhà nước với sự tham gia tích cực, hiệu quả của Quân
đội, Công an và nhân dân cả nước…
Với đường lối
đổi mới đúng đắn, sáng tạo, hơn 35 năm qua, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã
vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, giành được những thành tựu to lớn, có ý
nghĩa lịch sử. Đất nước ta đã vượt qua tình trạng đói nghèo, kém phát triển,
trở thành một nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; tình hình chính
trị, kinh tế, văn hóa – xã hội và quốc phòng – an ninh tiếp tục ổn định, phát
triển, tiến bộ; uy tín, vị thế của nước ta không ngừng nâng cao trên trường
quốc tế.
Thế nhưng,
một số người thiếu thiện chí, có quan điểm đối lập với Đảng ta, vì lợi ích cá
nhân mà nuôi dã tâm cấu kết với các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản
động tiếp tục lợi dụng quá trình đổi mới, mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt
Nam, nhất là việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội III của Đảng và chống
đại dịch Covid-19 để thực hiện âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” nhằm
“chuyển hóa” Việt Nam, với nhiều thủ đoạn thâm độc, chống phá Đảng. Nếu những
năm trước đây, chúng thường sử dụng một số biện pháp “cứng rắn” để “nắn gân”,
chống phá Việt Nam, thì hiện nay, chúng đã thay đổi chiến thuật, chuyển từ
“cứng rắn” sang “mềm dẻo”, vừa “cứng rắn” vừa “mềm dẻo” để thúc đẩy mở rộng
quan hệ, hợp tác để mua chuộc, lôi kéo, củng cố lực lượng có lợi cho chúng; vừa
áp đặt, răn đe, gây sức ép để tác động, “chuyển hóa” chế độ chính trị ở Việt
Nam theo hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là chính để “nắn chỉnh” đường
lối chính trị Việt Nam.
Chiêu bài tác
động, biến đổi kinh tế để chuyển hóa, thay đổi dần dần “chế độ chính trị” của
Việt Nam đã và đang được thúc đẩy rất tinh vi, thông qua việc đầu tư phát triển
kinh tế của các doanh nghiệp tư nhân, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài, bằng nhiều cách “giương đông, kích tây”, “ném đá giấu tay”, “chọc
gậy bánh xe”, họ đang từng bước phá vỡ quan hệ của Việt Nam với các nước láng
giềng, đặc biệt chống phá, xuyên tạc mối quan hệ, hợp tác hữu nghị giữa Việt
Nam với Trung Quốc, Việt Nam với Lào, Việt Nam với Campuchia và ngược lại.
Với âm mưu và
mục tiêu chiến lược này, phương Tây đang nới rộng các chính sách nhằm đẩy mạnh
hợp tác toàn diện với Việt Nam, thực hiện “ba bước tiến” trên lộ trình “chuyển
hóa” Việt Nam.
Thứ nhất, đẩy
nhanh quá trình hội nhập kinh tế của Việt Nam vào nền kinh tế thế giới, từ đó
phát triển kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, đẩy nhanh hơn quá trình tư nhân
hóa nền kinh tế Việt Nam, làm cho thành phần kinh tế nhà nước mất dần vai trò
chủ đạo, dẫn đến chệch hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là phương cách hữu hiệu nhất
để làm suy yếu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước xã hội chủ
nghĩa và làm xói mòn các yếu tố xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đã xây dựng.
Thứ hai, hình
thành “xã hội dân sự” ở Việt Nam với các tổ chức “phi đảng”, tạo môi trường và
cơ hội để các tổ chức chính trị đối lập xuất hiện và hoạt động công khai, gây
rối loạn trật tự, an ninh, an toàn xã hội Việt Nam; làm cho Đảng, Nhà nước ta
không thể kiểm soát được tình hình, buộc phải chấp nhận “dân chủ chính hiệu”
hoặc suy thoái, dẫn đến tan vỡ do đột biến chính trị – xã hội từ bên trong, với
sự hỗ trợ đắc lực của các thế lực phản động “ngầm’ từ bên trong cấu kết với các
thế lực phản động từ bên ngoài. Đây là “chìa khóa” để “châm ngòi nổ” chính trị
xúc tiến việc “chuyển hóa” Việt Nam sau khi đã thực hiện xong “phi chính trị
hóa” quân đội và công an.
Thứ ba, thực
hiện “dân chủ hóa” vô hạn độ chính quyền các cấp, từ Trung ương đến địa phương,
cơ sở; từng bước cô lập, tách các tổ chức đảng, đảng viên ra khỏi quần chúng,
kêu gọi “tẩy chay Đảng”; đồng thời, đẩy mạnh thực hiện “phi chính trị hóa” Quân
đội và Công an, từng bước gây áp lực phát triển kinh tế, chống đại dịch
Covid-19, làm cho Đảng, Nhà nước ta mất chỗ dựa tin cậy, mất lực lượng chính
trị tuyệt đối trung thành, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, đánh sập chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
Hiện nay, một
số người coi “bước một” của “lộ trình” nêu trên cơ bản đã hoàn thành; và cho rằng,
chỉ có đi vào Việt Nam bằng còn đường “ngoại giao thân thiện”, hợp tác toàn
diện, nhất là hợp tác, đầu tư về kinh tế, cho “đồng Đô-la nhảy múa ở Việt Nam”
thì mới đáp ứng nhanh, kịp thời các nhu cầu mà xã hội Việt Nam đang đặt ra,
người Việt Nam đang mong muốn, cần đến, thì phương Tây mới có điều kiện, môi
trường và cơ hội để thực hiện “diễn biến hòa bình”, kéo “con tim, khối óc” của
nười dân Việt Nam ra xa Đảng Cộng sản, về gần với phương Tây. Đây là một trong
những chiêu trò, thủ đoạn mới hết sức tinh vi, thâm độc, chúng ta không thể xem
thường.
Gần đây, nhân
việc lợi dụng “hỗ trợ vaccine” phòng, chống đại dịch Covid-19 cho Việt Nam,
phương Tây đã thay đổi hướng tiếp cận thông qua một số tổ chức phi chính phủ để
thực hiện mục tiêu chiến lược và ý đồ thâm độc chống phá Việt Nam. Họ đã tung
tiền, hỗ trợ vaccine hoặc tiếp tay cho các cuộc “cách mạng màu” tại một số nước
trên thế giới và đưa các tổ chức nay vào Việt Nam. Với kinh nghiệm và thành
công trong việc tung tiền hỗ trợ hoặc tiếp tay cho các cuộc “cách mạng màu” tại
một số nước trên thế giới, họ đang tìm cách đưa các tổ chức này vào Việt Nam
hoạt động để tránh sự chú ý của các cơ quan chức năng.
Các thế lực
thù địch, cơ hội chính trị, phản động đặc biệt coi trọng sử dụng phương tiện
truyền thông phản động như BBC, RFA, RFI, YOUTUBE, ZALO, VIBER…và Tổ chức khủng
bố Việt Tân để tuyên truyền, tác động, thúc đẩy nhanh tiến trình “dân chủ hóa”
ở Việt Nam. Vì vậy, phương Tây đã chi những khoản tiền lớn cho đài “Á Châu tự
do” (RFA) để nâng cấp hệ thống phát thanh, truyền hình vệ tinh.
Cổ súy cho
cái gọi là “dân chủ, nhân quyền”, “dân tộc, tôn giáo” được phương Tây sử dụng
làm chiêu bài để xuyên tạc tình hình, vu cáo Việt Nam thiếu dân chủ, vi phạm
nhân quyền, không có tự do tôn giáo… Họ cho rằng: Đảng, Nhà nước ta đối xử
không công bằng với đồng bào các dân tộc thiểu số; không quan tâm đến đời sống
và không tiêm vaccine cho đồng bào sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, biên giới,
hải đảo. Qua đó, họ tìm cách đưa người vào Việt Nam với các danh nghĩa khác
nhau để xúc tiến tìm hiểu tình hình, thu nhập thông tin, lôi kéo, hỗ trợ các
lực lượng “ngầm” gây rối trên một số địa phương; đồng thời, triệt để lợi dụng
vấn đề “tôn giáo, dân tộc, dân chủ, nhân quyền”, “đa nguyên chính trị” để chống
phá Đảng, Nhà nước ta.
Dù có che đậy
tinh vi, xảo trá đến đâu, bản chất của các thủ đoạn trên là không thay đổi; vẫn
chỉ là “bình mới, rượu cũ”. Mục tiêu cơ bản, xuyên suốt và lâu dài của các thế
lực thù địch đối với nước ta là thực hiện “diễn biến hòa bình” kết hợp với bạo
loạn lật đổ, cách mạng màu nhằm xóa vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt
Nam, làm sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng, đưa Việt
Nam theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.
Hơn ai hết,
Đảng, Nhà nước, quân và dân ta hiểu rõ điều đó. Vì vậy, tăng cường đoàn kết,
thống nhất trong Đảng trên cơ sở nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, xây
dựng Đảng ta thật sự là đạo đức, là văn minh, thực hiện thắng lợi Nghị quyết
Đại hội XIII của Đảng, chiến thắng đại dịch Civid-19 là giải pháp có ý nghĩa
quyết định để chúng ta làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực
thù địch.
Trên cơ sở
đó, Đảng và Nhà nước cần bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật, nâng
cao chất lượng hệ thống truyền thông, thông tin đại chúng, đặc biệt là báo điện
tử, nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin tích cực cho các tầng lớp nhân dân, vô hiệu
hóa các thông tin bịa đặt, xuyên tạc mà các thế lực thù địch đang sử dụng để
chống phá ta.
Cùng với đó,
cần tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội, giáo dục và đào tạo, khoa
học và công nghệ, ngoại giao và quân sự…, tạo ra nội lực bền vững để giữ vững
định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế; giữ môi trường hòa bình để xây dựng, phát
triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến
hòa bình” của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, phản động. Quyền quyết
định đánh bại chúng thuộc về chúng ta, là của chúng ta./.







