Thứ Tư, 6 tháng 9, 2023

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: PHÁT HUY TRÁCH NHIỆM NÊU GƯƠNG CỦA CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN!

         Nêu gương là một trong những phương thức lãnh đạo có sức lan tỏa, dẫn dắt, truyền cảm hứng, thúc đẩy hành động cách mạng của Đảng ta đối với Nhân dân. Trong đó, việc phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu chính là yếu tố căn cốt mang tính tiên quyết trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

“Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”

Nêu gương, noi gương có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ giúp mỗi người tự khắc phục, sửa chữa những khuyết điểm, hạn chế; mà còn góp phần lan tỏa những hành động, việc làm tốt để khích lệ, cổ vũ, động viên người khác học tập và làm theo, hướng con người tới các chuẩn mực chân - thiện - mĩ, các giá trị tốt đẹp và sự hoàn thiện bản thân trong mọi lĩnh vực của đời sống. Nêu gương là một vấn đề quan trọng mang tính khách quan, tất yếu, là phương thức lãnh đạo khoa học, trí tuệ, nhân văn của Đảng ta trên cơ sở thống nhất giữa lý luận và thực tiễn đối với sự liêm chính của một đảng cầm quyền. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (Bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Đảng ta lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên”. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ ra rằng: Chỉ có sự gương mẫu, hy sinh, thậm chí hy sinh cả tính mạng của mình thì đội ngũ đảng viên mới thuyết phục được đông đảo giai cấp công nhân đi theo cách mạng, thực hiện mục tiêu của cách mạng.

Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò to lớn của nêu gương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã bàn luận về vấn đề này ở nhiều góc độ với tần suất lớn, Người từng dạy: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”; “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng”. Đối với Đảng, quan điểm về nêu gương được cụ thể hóa bằng nhiều chủ trương, quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên; trong đó, nhấn mạnh nêu gương là trách nhiệm, bổn phận và là đạo lý của người cán bộ, đảng viên trước Nhân dân. Nhờ có những chủ trương, quy định đúng đắn và kịp thời đó, ý thức trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đã từng bước được nâng lên, tạo sự chuyển biến tích cực về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong làm việc; ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ; góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên; ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái, tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy kết quả thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên còn hạn chế, chưa đạt mục tiêu, yêu cầu đề ra. Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng tại Đại hội XIII chỉ rõ: “Thực hiện quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên chưa trở thành nền nếp, hiệu quả chưa cao. Một số cán bộ vi phạm đến mức phải kỷ luật, xử lý hình sự, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Việc đấu tranh với các biểu hiện lệch lạc về đạo đức, lối sống chưa mạnh mẽ”. Chúng ta không khỏi đau xót trước những con số vi phạm phải xử lý kỷ luật đảng trong nhiệm kỳ Đại hội XII. Chúng ta không thể thờ ơ trước thông tin: Chỉ tính riêng năm 2022, BCH Trung ương thi hành kỷ luật khai trừ ra khỏi Đảng 4 đảng viên; Bộ Chính trị thi hành kỷ luật 11 tổ chức đảng; Ban Bí thư thi hành kỷ luật 10 tổ chức đảng, 43 đảng viên; có 10 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng bị thi hành kỷ luật; ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 101 tổ chức đảng và 5.356 đảng viên. Tính đến giữa nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, BCH Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã xem xét cho thôi giữ chức vụ, cho nghỉ công tác, nghỉ hưu, bố trí công tác khác đối với 14 cán bộ diện Trung ương quản lý; các địa phương cũng bố trí công tác và thực hiện chính sách đối với 22 trường hợp cán bộ sau khi bị kỷ luật.

Phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại bế mạc Hội nghị giữa nhiệm kỳ BCH Trung ương khoá XIII ngày 17-5-2023 chỉ rõ: “Các thế lực xấu, thù địch, phản động tiếp tục lợi dụng tình hình này để đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ chúng ta, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta”. Một trong những đòn chống phá của các thế lực thù địch, phản động vào quan điểm của Đảng về nêu gương chính là lợi dụng những khuyết điểm của cán bộ, đảng viên do thiếu tu dưỡng, thiếu rèn luyện, suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống... để công kích, truyền bá những quan điểm sai trái, những luận điệu xuyên tạc nhằm “vô hiệu hóa” phương thức lãnh đạo bằng nêu gương bởi vì nó không chỉ làm tổn hại thanh danh của Đảng, mà còn ảnh hưởng tới sự tồn vong của chế độ.

Xuất phát từ yêu cầu xây dựng Đảng trong thời kỳ mới; nhằm hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước “Phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”, cùng với đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ vừa cấp bách trước mắt, vừa cơ bản lâu dài là đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên thì nhiệm vụ không thể thiếu chính là đẩy mạnh các biện pháp khắc phục biểu hiện lệch lạc trong thực hành nêu gương; kiên quyết đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn của thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ.

“Chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”

Để thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương, một trong những vấn đề tiên quyết là mỗi cán bộ, đảng viên cần quán triệt, nắm kỹ, hiểu sâu nội dung nêu gương.

Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 17-11-2022, Hội nghị lần thứ 6 BCH Trung ương Đảng khóa XIII về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị trong giai đoạn mới chỉ rõ: “Mọi đảng viên phải gương mẫu, nói đi đôi với làm, thực hiện nghiêm Điều lệ Đảng, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, phục tùng tuyệt đối sự phân công của Đảng; giữ mối liên hệ mật thiết với Nhân dân; học tập, rèn luyện, nâng cao năng lực, phẩm chất, lối sống; giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng”. Điều này nhất quán với nội dung được Đảng ta quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trên tất cả các mặt: Tư tưởng chính trị; đạo đức, lối sống, tác phong; tự phê bình và phê bình; quan hệ với nhân dân, trách nhiệm trong công tác; ý thức tổ chức kỷ luật và đoàn kết nội bộ.

Có thể thấy, khi cán bộ, đảng viên nắm kỹ, hiểu sâu và thực hành tốt nội dung nêu gương trong cả ba mối quan hệ (đối với mình, đối với người, đối với việc) như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy sẽ đầy đủ, trọn vẹn và phát huy được hiệu quả thiết thực. Theo đó, “đối với mình”: Không được tự cao tự đại, tự mãn, mà phải cần, kiệm, liêm, chính; phải là “Nhân, Trí, Dũng, Liêm”; bản thân mình phải làm gương trong công việc từ nhỏ đến lớn, thường xuyên học tập, rèn luyện, tự phê bình, khắc phục những hạn chế, khuyết điểm của bản thân về mọi mặt để tiến bộ. “Ðối với người”: Phải chân thành, khiêm tốn, thật thà, đoàn kết và có tình thương yêu, bao dung, độ lượng. “Đối với người”: Trước hết và quan trọng nhất là đối với đồng chí, đồng sự, nhất là đối với cấp dưới và sau đó là đối với quần chúng nhân dân. Đối với việc, phải tận tâm, tận lực, có trách nhiệm, gương mẫu phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao; phải luôn giữ vững nguyên tắc “dĩ công vi thượng”, phải “chí công vô tư”, phải biết hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích của Tổ quốc, Nhân dân và của Đảng.

Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, nhận thức của Đảng về phương thức lãnh đạo bằng nêu gương ngày càng được bổ sung, phát triển, hoàn chỉnh các quy định về nêu gương đã nâng cao tính pháp lý và trực tiếp điều chỉnh sự nêu gương của cán bộ cấp cao, tạo sự đồng bộ về xây dựng và chỉnh đốn Đảng. Trong đó, Đảng ta nhấn mạnh bốn yêu cầu chủ yếu trong thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên mà trước hết chính là thực hiện nhất quán phương châm nêu gương “Trên trước, dưới sau”, “Trong trước, ngoài sau”, đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ có chức vụ cao, cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp.

Trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng, cụm từ “Chức vụ càng cao càng phải gương mẫu” được khẳng định tới 7 lần, điều đó nghĩa là Đảng ta chú trọng hơn bao giờ hết trách nhiệm nêu gương của cán bộ có chức vụ cao, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, tổ chức. Bởi “người có chức vụ càng cao” là người “đứng mũi, chịu sào”, chịu trách nhiệm lớn nhất về tập thể mình phụ trách, cần phải có “tâm sáng - tri thông - chí bền” để giữ vững “liêm, chính”, khắc phục khó khăn, triển khai hiệu quả các nhiệm vụ; vì vậy càng cần phải gương mẫu, tiên phong, đi đầu trong tập thể, cơ quan, đơn vị mình.

Yêu cầu thứ hai là đề cao trách nhiệm tự giác nêu gương của cán bộ, đảng viên. Đảng ta xác định: “Đảng viên tự giác nêu gương để khẳng định vị trí lãnh đạo, vai trò tiên phong, gương mẫu, tạo sự lan tỏa, thúc đẩy các phong trào cách mạng”. Đây là vấn đề mới, yêu cầu, đòi hỏi cao của Đảng, từ “phải” thực hiện quy định thành “nhu cầu”, “mong muốn”, “tự giác” thực hiện quy định nêu gương; nhằm tạo sự lan tỏa sâu rộng trong toàn xã hội - thực sự trở thành phong trào tự giác nêu gương trong toàn Đảng và trong quần chúng nhân dân. Để nêu gương là tự giác, là nhu cầu tự thân, không phải bắt buộc, không hình thức thì mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải thực sự “chí công, vô tư” trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ; qua đó, sẽ tạo được sự đồng thuận và làm theo trong tập thể, cơ quan, đơn vị và quần chúng nhân dân.

Yêu cầu thứ ba Đảng ta đặt ra là đề cao trách nhiệm nêu gương “Nói đi đôi với làm”, chú trọng nêu gương việc “làm” của cán bộ, đảng viên. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ xây dựng đội ngũ cán bộ, trước hết là người đứng đầu theo tinh thần “7 dám”, đó là: “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung”. Và đối với trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên thì phải “dám nói” và “nói đi đôi với làm”. “Dám nói” theo quan điểm của Đảng là: Nói đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, không được nói sai, nói giảm, nói tránh, nói bừa mà phải nói trúng, nói những vấn đề thiết thực, nói đúng lòng mình. “Nói đi đôi với làm” là lời nói và việc làm phải gắn chặt với nhau; đã nói là phải làm, phải nhất quán từ nhận thức đến phát ngôn và hành động thực tiễn; nghĩa là nêu gương phải được biểu hiện sinh động cụ thể trong sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, giữa suy nghĩ và hành động, giữa tư tưởng đạo đức và hành vi đạo đức của mỗi người. Do đó, để khuyến khích, động viên những cán bộ, đảng viên “dám nghĩ, dám nói, dám làm, trách nhiệm cao, hiệu quả công việc lớn”, Đảng ta nhấn mạnh việc “Cổ vũ, biểu dương các gương sáng đạo đức, tạo ảnh hưởng sâu rộng trong Đảng và ngoài xã hội”. Có thể thấy, thực hiện tốt yêu cầu này chính là góp phần để nêu gương đi vào chiều sâu, thực chất, hiệu quả.

Yêu cầu thứ tư, điểm mới trong quan điểm của Đảng ta về đề cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên chính là phát huy vai trò phối hợp của các chủ thể trong kiểm soát quyền lực để thúc đẩy, đánh giá thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Việc kiểm soát quyền lực một mặt giúp ngăn ngừa khuyết điểm vi phạm, mặt khác nó chính là “chiếc gương soi” kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nêu gương của cán bộ, đảng viên. Thực chất yêu cầu này là tạo ra chính sách, quy định, chế tài, cơ chế, biện pháp để các chủ thể (Quốc hội, Hội đồng nhân dân; mặt trận Tổ quốc, báo chí, nhân dân…) ràng buộc, giám sát nhằm “nhốt quyền lực trong lồng cơ chế”, bảo đảm cán bộ, đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý khi thực thi nhiệm vụ phải hoạt động theo đúng khuôn khổ pháp luật cho phép, từ đó không ngừng tu dưỡng, rèn luyện bản thân, nêu gương trong thực thi công vụ. Và để đánh giá kết quả thực hiện quy định về trách nhiệm nêu gương, Đảng ta chỉ rõ: “Lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng cán bộ, đảng viên”.

Những nội dung, yêu cầu trên đây nêu ra hết sức ngắn gọn, song để thực hiện tốt và toàn diện lại cần một quá trình tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu nghiêm túc, bền bỉ, nỗ lực, kiên quyết chiến đấu và chiến thắng những dục vọng, cám dỗ, cạm bẫy giăng bủa mọi lúc, mọi nơi; qua đó, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ ngày càng hoàn thiện bản thân trên mọi phương diện, nhiều cá nhân nêu gương tốt sẽ góp phần xây dựng tập thể nêu gương, tổ chức đảng nêu gương, toàn Đảng nêu gương để xây dựng Đảng ta “là đạo đức, là văn minh”, xứng đáng với sự tin yêu của Nhân dân./.
Yêu nước ST.

CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VIỆC THỰC HIỆN DI CHÚC CỦA BÁC HỒ!

         Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã để lại tài sản vô giá cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, đó là bản Di chúc thiêng liêng, căn dặn bao điều hệ trọng mà cả dân tộc ta đã thực hiện và giành được nhiều thắng lợi quan trọng trong hơn nửa thế kỷ qua.  

54 năm qua, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành Cương lĩnh hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cũng như trong công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 

Thế nhưng các thế lực thù địch và cơ hội chính trị lại hằn học trước những thắng lợi mà chúng ta giành được khi thực hiện Di chúc thiêng liêng của Bác. Chúng tìm mọi cách xuyên tạc việc thực hiện Di chúc của Bác. Nào là “Đảng Cộng sản Việt Nam hô hào “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” nhưng lại làm sai ý nguyện của Hồ Chí Minh”; “Đảng Cộng sản Việt Nam nói một đằng, làm một nẻo”… Nguy hiểm hơn, chúng còn đòi “đưa thi hài Hồ Chí Minh đi hỏa thiêu theo ý nguyện của Bác Hồ”.  

Trước hết, phải khẳng định rằng, việc Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) chọn bản Di chúc Bác viết năm 1965 để công bố chính thức là hợp lý, vì đây là bản duy nhất được viết hoàn chỉnh, có chữ ký của Bác và bên cạnh có chữ ký chứng kiến của đồng chí Lê Duẩn, Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng lúc bấy giờ. Lấy đoạn mở đầu Bác viết năm 1969 thay cho đoạn mở đầu Bác viết năm 1965 là hoàn toàn hợp lý vì Bác qua đời năm 1969, và nội dung bản viết năm 1969 cũng phong phú hơn. Đoạn về việc riêng, bổ sung thêm phần Bác viết năm 1968 vào bản Bác viết năm 1965 là rất cần thiết, để phản ánh được cuộc đời đẹp đẽ, trong sáng, vì dân, vì nước của Bác.

Về việc miễn thuế nông nghiệp một năm cho các hợp tác xã nông nghiệp theo Di chúc của Bác, trước đây chưa có điều kiện thực hiện do tình hình đất nước sau giải phóng miền Nam chưa yên. Bên trong thì thế lực thù địch chống phá; vùng biên cương thì bị quấy nhiễu, xâm lăng; chúng ta hàn gắn vết thương chiến tranh trong tình thế bị bao vây cấm vận. Có thể thấy, đây là khoảng thời gian cả nước “gồng mình gánh khổ”; vết thương cũ chưa lành đã phải chịu tiếp cảnh thịt nát xương tan ở hai đầu biên giới. Đó là một thực tiễn bất lợi nên không thể thực hiện theo Di nguyện của Người. Nhưng trong tận cùng sâu thẳm, Đảng đã hứa với Bác rằng sẽ thực hiện đúng như lời Người để lại. Thế nên, đến năm 1989, dù đất nước vẫn còn rất nhiều khó khăn nhưng Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VI) đã có kế hoạch thực hiện điều mong muốn ấy của Bác. Thực tế đến nay, Nhà nước không những chỉ thực hiện một năm miễn thuế nông nghiệp cho nông dân mà đã nhiều năm không thu thuế nông nghiệp.   

Trong Di chúc, đoạn “về việc riêng”, năm 1965 Bác dặn dò việc tang và viết về hỏa táng, dặn để lại một phần tro xương cho miền Nam. Đến năm 1968, Bác viết lại đoạn này, dặn để tro vào ba hộp sành, cho Bắc, Trung, Nam, mỗi miền một hộp. Ngoài ra, Bác bổ sung một đoạn nói về cuộc đời của bản thân. Sở dĩ trước đây Đảng ta chưa công bố đoạn Bác viết về yêu cầu hỏa táng là thể theo nguyện vọng và tình cảm yêu kính, tiếc thương của nhân dân với Bác, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) thấy cần thiết phải giữ gìn lâu dài thi hài của Bác để sau này đồng bào cả nước, nhất là đồng bào miền Nam, bè bạn quốc tế có điều kiện tới viếng Bác, thể hiện tình cảm sâu đậm đối với Bác. Đây cũng là ý nguyện của hàng chục triệu người con đất Việt và bè bạn của chúng ta ở khắp năm châu.

Chính vì sự yêu thương, kính trọng, tôn thờ đó mà Bộ Chính trị đã xin phép Bác được làm khác với lời Bác dặn, không hỏa táng, gìn giữ lâu dài thi hài của Người để sau này đồng bào cả nước, nhất là đồng bào miền Nam, bạn bè quốc tế có điều kiện viếng thăm! Điều này dù trái ý nguyện của Bác, nhưng đúng với tiếng nói tự tâm của đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế. Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh hiện nay và mãi mãi về sau vẫn là không gian thiêng liêng, nơi góp phần bồi đắp, hun đúc lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc, nơi hội tụ tình cảm, niềm tin của các thế hệ người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế.  

Sự thật của việc công bố Di chúc và làm theo Di chúc của Bác đã được Đảng ta thông báo công khai. Trước lúc đi xa, Bác không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc duy nhất một điều là “không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” cho dân, cho nước, càng phản ánh sâu sắc phẩm chất, đạo đức cao quý của một con người, một lãnh tụ cách mạng suốt đời chỉ biết phấn đấu hy sinh vì dân, vì nước. Chính vì lẽ đó, việc thực hiện và làm theo Di chúc của Bác sẽ mãi mãi là kim chỉ nam cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Chúng ta cần cảnh giác trước những âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch xuyên tạc việc thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.
Yêu nước ST.

Thứ Ba, 5 tháng 9, 2023

KỶ NIỆM 121 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ LÊ HỒNG PHONG - TỔNG BÍ THƯ ĐẢNG TA, NGƯỜI HỌC TRÒ XUẤT SẮC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH, NGƯỜI CON ƯU TÚ CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM!

         Đồng chí Lê Hồng Phong tên thật là Lê Huy Doãn, sinh ngày 06/9/1902, trong một gia đình nông dân ở làng Đông Thôn, tổng Thông Lạng, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (nay là xã Hưng Thông, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An).

Đồng chí Lê Hồng Phong thuộc lớp chiến sĩ cách mạng tiền bối, lớp đảng viên đầu tiên của Ðảng, một trong những học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lãnh đạo kiên định và tài năng của Ðảng, chiến sĩ kiên cường trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

 Đồng chí Lê Hồng Phong có nhiều cống hiến to lớn đối với cách mạng Việt Nam, trước hết là sự khôi phục hệ thống tổ chức của Ðảng, khôi phục phong trào cách mạng, giữ vững ý chí bôn-sê-vích của đảng viên cộng sản, tinh thần chiến đấu của nhân dân, giữ vững niềm tin vào sự tất thắng của cách mạng sau những tháng ngày khủng bố trắng của kẻ thù. Ðồng chí Lê Hồng Phong quyết định thành lập Ban Lãnh đạo của Ðảng ở nước ngoài (còn gọi là Ban Chỉ huy ở ngoài) và cùng với các đồng chí trong Ban Chỉ huy ở ngoài hoàn thành tốt nhiệm vụ chuẩn bị Ðại hội toàn quốc lần thứ nhất của Ðảng (3-1935).

Trên cương vị Tổng Bí thư của Ðảng, đồng chí Lê Hồng Phong giải quyết tốt những vấn đề trong nước, phù hợp với xu thế của thời đại, thực hiện đường lối cách mạng đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định từ khi Ðảng ra đời, đó là làm tư sản dân quyền, đánh đổ đế quốc và phong kiến, giải phóng dân tộc, tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa. Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật và bản lĩnh của một người cộng sản chân chính, đồng chí Lê Hồng Phong thẳng thắn chỉ ra những ưu điểm, khuyết điểm của phong trào cộng sản, phong trào cách mạng Ðông Dương trong cao trào 1930 - 1931 cho đến năm 1935 trên diễn đàn Ðại hội VII Quốc tế Cộng sản. Ở cương vị cao nhất của Ðảng, đồng chí Lê Hồng Phong đã khẳng định bản lĩnh và trí tuệ của mình khi nhấn mạnh tất cả các phần tử của tất cả các giai cấp phải đặt lợi ích của dân tộc lên trên tất cả; lợi ích này là lợi ích của tất cả các tầng lớp, tất cả các giai cấp xã hội và đặc biệt là của quần chúng nhân dân rộng rãi.

Hy sinh ở tuổi 40, đồng chí Lê Hồng Phong đã để lại cho chúng ta hôm nay tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, giữ trọn lý tưởng cộng sản, quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Ðảng, cho cách mạng, tuyệt đối tin tưởng vào tinh thần, sức mạnh và trí tuệ của quần chúng nhân dân, biết dựa vào dân để đưa cách mạng vượt qua những bước hiểm nghèo. Dù trong gian lao, thử thách và trước cái chết, đồng chí vẫn giữ vững niềm tin vào thắng lợi cuối cùng của cách mạng.

Kỷ niệm 121 năm ngày sinh đồng chí Lê Hồng Phong, là dịp để chúng ta ôn lại cuộc đời, sự nghiệp, tôn vinh những cống hiến to lớn của Đồng chí. Biết ơn, noi gương đồng chí Lê Hồng Phong, chúng ta nguyện một lòng đi theo con đường mà Đảng ta và Bác Hồ đã chọn, không ngừng rèn luyện, trau dồi đạo đức cách mạng, đoàn kết, phấn đấu vựợt qua khó khăn thách thức quyết tâm đưa đất nước ta “Đến năm 2025, kỷ niệm 50 năm giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước: là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp. Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: trở thành nước phát triển, thu nhập cao”[1].
…………………………………
[1] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tập I, tr.112./.
Yêu nước ST.

DẤU ẤN TRÍ THỨC TRẺ TÌNH NGUYỆN NƠI BIÊN CƯƠNG ĐÔNG BẮC (Bài 2: "TRÁI NGỌT" VÙNG BIÊN CƯƠNG)

Những năm qua, thực hiện Dự án “Tăng cường TTTTN đến công tác tại các khu KTQP” đã giúp người dân nâng cao nhận thức, từng bước thay đổi tập quán canh tác manh mún, tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, phát triển kinh tế, gắn với Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, qua đó tạo nên sự khởi sắc chung cho các thôn, bản vùng biên cương Đông Bắc Tổ quốc. Có được thành quả này, ngoài sự quan tâm hỗ trợ của Đảng, Nhà nước và Quân đội, cùng sự nỗ lực của đồng bào các dân tộc, có sự đóng góp không nhỏ của lực lượng TTTTN thuộc Đoàn KTQP 327. Đến công tác tại huyện biên giới Bình Liêu (Quảng Ninh) trong những ngày đầu tháng 7, theo chân các đội viên TTTTN Lâm trường155 (Đoàn KTQP 327), chúng tôi đến với Đồng Văn - xã vùng biên của huyện, cảm nhận rõ nhất chính là những đổi thay của xã nghèo nhất huyện. Trước đây (thời điểm năm 2016 – 2018), xã có 9 thôn, bản, với hơn 700 hộ dân, chiếm hơn 96% người dân tộc thiểu số, trong đó cứ 10 hộ dân thì có 7 đến 8 hộ thuộc diện nghèo, cận nghèo, thậm chí hộ đói. Giờ đây, xã đã thay da đổi thịt, trường học, trạm y tế được tu bổ, làm mới, những ngôi nhà ngói đỏ được xây mới, nhiều con đường bê tông kiên cố được đổ đến tận các thôn, bản. Cùng các đội viên TTTTN xuống gia đình bà Nông Thị Chương (dân tộc Tày), ở bản Cốc Lỷ (xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu) để tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật trồng cây ăn quả, kết hợp phát triển chăn nuôi gia cầm; đây là hộ gia đình tiêu biểu trong phát triển mô hình trang trại VCR (vườn, chuồng, rừng) đã phát huy hiệu quả cao, giúp gia đình bà Chương từng bước vươn lên thoát nghèo bền vững. Đưa chúng tôi đi tham quan vườn cây kết hợp với nuôi gia cầm, bà Nông Thị Chương cởi mở chia sẻ: “Vài năm về trước, gia đình tôi thuộc hộ nghèo trong bản, nhờ được sự hỗ trợ giống vốn của Đảng, Nhà nước, sự giúp đỡ, hướng dẫn về kỹ thuật của đội viên TTTTN Lâm trường 155, đến nay, gia đình tôi đã nắm được cơ bản các kiến thức, kỹ thuật chăm sóc cây trồng, vật nuôi. Hằng năm, nhờ có nguồn thu nhập từ bán gia cầm, gia đình tôi có của ăn, của để, vươn lên thoát nghèo, mua sắm được nhiều phương tiện sinh hoạt tiện nghi”. Được biết, giai đoạn 2010 - 2020, lực lượng TTTTN cùng cán bộ, nhân viên đơn vị tham gia quản lý, hướng dẫn kỹ thuật trong triển khai các dự án KTQP như: Quản lý 22 lớp dạy nghề cho 770 lao động nông thôn theo Đề án 1956 dạy nghề cho lao động nông thôn của Thủ tướng Chính phủ giai đoạn (2010-2020); quản lý 21 lớp tập huấn khuyến lâm cho 735 lao động nông thôn; 20 lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho trên 700 lượt y tá thôn bản trong vùng dự án KTQP; tập huấn nghiệp vụ về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình cho cán bộ y tế, phụ nữ, đoàn thanh niên địa phương được 162 buổi với 12.735 lượt người; khảo sát và triển khai cho 1928 hộ dân tham gia Dự án giảm nghèo và nguồn vốn hỗ trợ sản xuất, ổn định dân cư; xây dựng 208 mô hình bền vững VAC-VACR; trên 200 mô hình trồng rau sạch, mô hình trồng cây dong riềng, khoai tây, xạ đen, mít thái, cây cam đường, ngô lai; xây dựng 57 chuồng trại chăn nuôi ra xa nhà ở; xây 140 nhà vệ sinh tự hoại; 08 mô hình nông - lâm kết hợp; xây dựng được 10 mô hình thôn, bản điểm kiểu mẫu của người dân tộc Dao như: Thôn Khe O, xã Lục Hồn (huyện Bình Liêu); thôn Lục Chắn, xóm Họ Đặng (xã Hải Sơn, TP Móng Cái); Bản văn hóa người Dao tại Sông Moóc B(xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu),... mô hình chiếu phim lưu động kết hợp với tuyên truyền vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng nông thôn mới; tổ chức tập huấn đầu bờ cho 4960 lượt người dân về chuyển dịch cơ cấu cây trồng vật nuôi… Từ các mô hình phát triển kinh tế hiệu quả do đội viên TTTTN tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật đã giúp nhiều gia đình vùng biên giới thoát nghèo, vươn lên trở thành hộ khá giả trong thôn, bản được cấp ủy, chính quyền địa phương ghi nhận và đánh giá cao. Đồng chí Lô Ngọc Hòe, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND xã Đồng Văn (huyện Bình Liêu) cho biết: “Các mô hình do đội viên TTTTN tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn cho bà con rất phù hợp với nhu cầu, điều kiện của từng hộ gia đình, từng bước làm thay đổi tập quán canh tác manh mún của người dân; đồng thời phù hợp với quy hoạch phát triển sản xuất, cơ cấu cây trồng, vật nuôi của địa phương, góp phần tạo công ăn việc làm và nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình. Một số hộ nghèo, cận nghèo đã vươn lên thoát nghèo và thoát nghèo bền vững”. Đồng chí Bí thư Đảng ủy xã Đồng Văn cho biết thêm, lực lượng TTTTN của Đoàn KTQP 327 đã tích cực tuyên truyền, vận động và làm nòng cốt trong tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật triển khai thực hiện các dự án xóa đói, giảm nghèo, chuyển giao ứng dụng khoa học kỹ thuật, xây dựng kinh tế hộ gia đình bền vững, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, từng bước nâng cao đời sống nhân dân. Nhiều mô hình xóa đói, giảm nghèo đã được xây dựng và nhân rộng, đem lại hiệu quả thiết thực như: Mô hình vườn, ao, chuồng, rừng (VACR); mô hình chăn nuôi lợn, gà, vịt; mô hình chăn nuôi Bò bản địa; mô hình thâm canh lúa nước; mô hình trồng doong riềng, khoai tây, xạ đen, mít thái, mận.... Trong chuyến công tác về Ban CHQS huyện Bình Liêu, khi trò chuyện với cán bộ đơn vị và địa phương để tìm hiểu về hiệu quả của Dự án 174, chúng tôi được các cán bộ ở đây hết sức khen ngợi, cho rằng đó là chủ trương hoàn toàn đúng đắn, hiệu quả. Thực hiện dự án này, lực lượng TTTTN ngoài làm tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hướng dẫn kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm, kỹ thuật thâm canh lúa nước cho bà con thì lực lượng TTTTN còn tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương củng cố, kiện toàn, duy trì có nền nếp, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh; tập hợp, giáo dục thanh thiếu niên; bồi dưỡng, tạo nguồn, phát triển đảng viên mới; củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể ở địa phương. Minh chứng cho những kết quả đó, Thiếu tá Nguyễn Trung Kiên, Trợ lý Ban Chính trị (Ban CHQS huyện Bình Liêu) giới thiệu với chúng tôi một số cán bộ tiêu biểu từng tham gia lực lượng TTTTN, về địa phương trở thành những cán bộ cốt cán của các xã, thị trấn. Tiêu biểu là đồng chí Hoàng Xuân Hiệp, ở khu Bình Đẳng (thị trấn Bình Liêu, huyện Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh); năm 2006 anh Hiệp tham gia TTTTN tại Lâm trường 155, trong quá trình công tác với sự nỗ lực của mình, anh vinh dự được kết nạp vào Đảng; trở về địa phương với tinh thần nhiệt huyết, cống hiến sức trẻ xây dựng quê hương, anh tích cực tham gia và đi đầu trong các hoạt động của địa phương; được sự tín nhiệm, tin tưởng của cấp trên và nhân dân, anh được bầu giữ các chức vụ phó bí thư, bí thư đoàn thị trấn, chủ tịch mặt trận Tổ quốc thị trấn, hiện nay anh Hiệp đang là Phó bí thư Đảng ủy thị trấn Bình Liêu. Trao đổi với chúng tôi, Đại tá Nguyễn Văn Huy, Chính ủy Đoàn KTQP 327 cho biết: Đảng ủy, chỉ huy Đoàn đã phối hợp chặt chẽ với Tỉnh đoàn, các ban ngành, đoàn thể, chính quyền địa phương các tỉnh, thành phố trong địa bàn Quân khu, đặc biệt là Tỉnh đoàn Quảng Ninh và các Huyện đoàn trong hai khu KTQP trong việc tuyên truyền, triển khai, đăng ký tổ chức tuyển chọn, bảo đảm đủ tiêu chuẩn về sức khoẻ với chuyên ngành phù hợp nhu cầu nhiệm vụ đơn vị, chú trọng ưu tiên TTTTN là người trong vùng dự án, nhất là đồng bào các dân tộc thuộc tỉnh Quảng Ninh, bởi họ hiểu rõ được tiếng nói, phong tục tập quán, tín ngưỡng đồng bào các dân tộc, thuận lợi trong tuyên truyền vận động nhân dân. Ngoài ra, Đoàn thường xuyên quan tâm tạo điều kiện để đội viên TTTTN tu dưỡng, rèn luyện phấn đấu trở thành Đảng viên, tạo nguồn cán bộ cho địa phương. Giai đoạn từ 2010- 2020, đơn vị tiếp nhận, quản lý 5 đợt với hơn 200 đội viên TTTTN về công tác tại các lâm trường, 100% đội viên được học lớp bồi dưỡng nhận thức về Đảng, trong đó có 76 đội viên ưu tú vinh dự được kết nạp vào Đảng. Từ hiệu quả của Dự án “Tăng cường TTTTN đến công tác tại các khu KTQP giai đoạn 2010 - 2020”, Chính phủ quyết định tiếp tục kéo dài Dự án 174 đến hết năm 2030. Triển khai thực hiện đợt 1 giai đoạn 2021 – 2030, Đoàn KTQP 327 tiếp nhận, quản lý23 đội viên TTTTN; trong đó có 11 đội viên thuộc dân tộc thiểu số (dân tộc Tày, Dao, Sán Chỉ) chiếm 47,8%; có 21 đội viên thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ninh chiếm hơn 90%, 17 đội viên cư trú trong vùng dự án Bình Liêu, Hải Hà, Móng Cái và Bắc Hải Sơn chiếm 73,9%; có 03 đội viên là đảng viên chiếm 13%, số còn lại là đoàn viên; họ sẽ là nguồn cán bộ bổ sung kịp thời cho các địa phương. Đánh giá về những đóng góp của lực lượng TTTTN trong quá trình tham gia xây dựng hệ thống chính trị ở địa phương, đồng chí Nguyễn Thị Tuyết Hạnh, Bí thư Huyện ủy Bình Liêu khẳng định: Hầu hết đội viên TTTTN có trình độ đại học, cao đẳng với các chuyên ngành như y tế, nông lâm, quản lý đất đai, văn hóa, xã hội nên khi được tăng cường xuống cơ sở trực tiếp kiêm nhiệm chức danh trong bộ máy chính quyền, đoàn thể chính trị, xã hội của địa phương họ sẽ là người cụ thể hóa, đưa các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đến người dân như Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới, Chương trình 135, Đề án 196 của tỉnh Quảng Ninh, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, góp phần xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh. Được rèn luyện, thử thách trong môi trường Quân đội, nhiều đội viên TTTTN ở Đoàn KTQP 327 đã trưởng thành hơn, chững chạc hơn và vinh dự được đứng trong hàng ngũ của Đảng. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, trở về địa phương các đội viên TTTTN tiếp tục phát huy tinh thần xung kích, dám nghĩ, dám làm; bằng vốn kiến thức, trình độ, năng lực và kinh nghiệm thực tiễn công tác, họ sẽ trở thành những “hạt giống đỏ” cho các địa phương, nhất là địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, góp phần xây dựng mảnh đất biên cương vùng Đông Bắc Tổ quốc ngày càng ổn định về chính trị, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, an ninh. Nguyễn Thanh – Phạm Quyết

DẤU ẤN TRI THỨC TRẺ TÌNH NGUYỆN NƠI BIÊN CƯƠNG ĐÔNG BẮC

Bài 1: CHỦ TRƯƠNG ĐÚNG ĐẮN, HIỆU QUẢ THIẾT THỰC LTS: Hơn 12 năm qua, thực hiện Dự án “Tăng cường Trí thức trẻ tình nguyện (TTTTN)đến công tác tại các Khu kinh tế quốc phòng(KTQP)”, những đội viên TTTTN của Đoàn KTQP 327 đã phát huy vai trò xung kích, nhiệt huyết của tuổi trẻ, bám cơ sở, gần gũi gắn bó cùng đồng bào các dân tộc trên tuyến biên giới của tỉnh Quảng Ninh tuyên truyền vận động người dân nâng cao nhận thức, xóa bỏ dần các hủ tục, thực hiện tốt đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp phần tham gia phát triển kinh tế- xã hội, xóa đói giảm nghèo, kết hợp với củng cố quốc phòng giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trong vùng dự án. Đưa TTTTN đến công tác tại các khu KTQP nói chung, Đoàn KTQP 327 nói riêng là chủ trương lớn của Đảng, Chính phủ, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng nhằm tăng cường nguồn lực trí thức trẻ, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh trên địa bàn vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo. NHỮNG KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU: Đoàn KTQP 327 có nhiệm vụ xây dựng 02 khu KTQP (Bình Liêu – Hải Hà - Móng Cái và Bắc Hải Sơn) trên tuyến biên giới Đông Bắc thuộc tỉnh Quảng Ninh, bao gồm 10 xã (phường), 98 thôn bản, trong đó có 35 thôn bản giáp biên giới có chiều dài hơn 118 km.Đây đều là những địa bàn biên giới, chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, giao thông đi lại khó khăn, trình độ dân trí không đồng đều, kinh tế chậm phát triển, đời sống bà con Nhân dân còn gặp nhiều khó khăn, thiếu thốn. Những năm qua, thực hiện Quyết định số 174/QĐ-TTg ngày 29/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Dự án “Tăng cường Trí thức trẻ tình nguyện đến công tác tại các Khu kinh tế quốc phòng giai đoạn 2010 - 2020” (gọi tắt là Dự án 174), Đảng ủy, chỉ huy và Ban Quản lý dự án 174 Đoàn KTQP 327 đã lãnh đạo, chỉ đạo đội ngũ TTTTN phát huy tốt vai trò xung kích, sát cánh cùng cán bộ, nhân viên của Đoàn gắn bó chặt chẽ cùng cấp ủy, chính quyền và người dân địa phương xây dựng và phát triển các khu KTQP, góp phần tăng cường, củng cố quốc phòng, giữ vững ổn định chính trị, xây dựng thế trận lòng dân khu vực biên giới vững chắc. Đại tá Phạm Khắc Dũng, Đoàn trưởng Đoàn KTQP 327 cho biết: Triển khai thực hiện Dự án 174, Đảng ủy Đoàn ra nghị quyết chuyên đề; chỉ đạo cấp ủy, chỉ huy các cấp tổ chức quán triệt tới 100% cán bộ, nhân viên trong toàn Đoàn về chương trình, mục tiêu của dự án; đồng thời ban hành các chỉ thị, kế hoạch, hướng dẫn, quy chế…để chỉ đạo, triển khai và tổ chức thực hiện đúng quy trình của dự án. Từ năm 2010 đến nay, Đoàn đã tiếp nhận 5 đợt TTTTN với hơn 200 đội viên (riêng đợt 5, giai đoạn 2018-2020 có 30 đội viên). Số trí thức trẻ được tuyển dụng đều có trình độ, năng lực, cơ cấu ngành, nghề phù hợp, có phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị vững vàng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Đây là nguồn nhân lực trẻ, chất lượng cao bởi các đội viên đều tốt nghiệp từ các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp trong và ngoài tỉnh với nhiều chuyên ngành khác nhau. Ngay sau khi tiếp nhận, Ban Quản lý dự án 174 của Đoàn đã chủ động đảm bảo nơi ăn, ở, sinh hoạt cho đội viên TTTTN và tổ chức ký hợp đồng trách nhiệm theo quy định; xây dựng kế hoạch, tổ chức tập huấn cho các đội viên; giới thiệu phong tục, tập quán chủ yếu của đồng bào các dân tộc... Do vậy, các TTTTN sớm bắt nhịp công việc, hòa đồng gần gũi với người dân để thực hiện các nhiệm vụ được giao. Tìm hiểu được biết, một trong những kết quả nổi bật trong 10 năm thực hiện Dự án 174 giai đoạn 2010 - 2020, các phân đội TTTTN đã cùng với cán bộ, chiến sĩ các đơn vị tham gia 06 đợt hành quân dã ngoại làm công tác dân vận, 05 đợt hoạt động xung kích của TTTTN đến những thôn, bản khó khăn nhất cùng cán bộ đơn vị lao động giúp nhân dân xây mới 07 cổng chào thôn, bản văn hóa; xây mới 04 nhà ở kiên cố cho 04 hộ dân; làm đường dân sinh dài hơn 12km cho 100 hộ dân; san lấp, đổ bê tông làm đường nội bản dài trên 20km; làm sân cho các hộ dân diện tích trên 2000m2; tu sửa, san đắp lề đường, phát quang đường nội bản; xây dựng mương cứng, nạo vét, khơi mương thoát nước trên 20 km; vận chuyển đá, rọ thép đắp 120m đập dâng nước phục vụ tưới tiêu cho hơn 30 ha lúa và hoa màu; chỉnh trang, tu sửa 37 nhà văn hóa, 37 điểm trường các thôn bản giáp biên giới... Với tổng số trên 15.000 ngày công. Trồng trên 3.620 ha rừng, xây dựng 5 mô hình tăng gia, chăn nuôi tập trung diện tích 3.500 m2, với số lượng 1.450 con gia cầm, gia súc các loại, 1.545 cây ăn quả các loại; xây dựng nhiều mô hình vườn điểm như: Mô hình trồng Dong Riềng, mô hình trồng Khoai Tây, mô hình trồng Xạ đen …. góp phần hình thành nhiều mô hình thôn, bản kiểu mẫu và giảm nghèo bền vững ở các địa phương. Bên cạnh đó, lực lượng TTTTN đã có những bước trưởng thành cả về nhận thức chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực, tác phong công tác cũng như kỹ năng giao tiếp, ứng xử trong cuộc sống, phát huy trí tuệ, nhiệt huyết của tuổi trẻ trong tham gia xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Những con số ấn tượng trên là minh chứng sinh động để khẳng định chủ trương “Tăng cường TTTTN đến công tác tại các khu KTQP”của Đảng, Nhà nước và Quân đội là hoàn toàn đúng đắn, hợp lòng dân. TIẾP TỤC TRIỂN KHAI DỰ ÁN QUYẾT LIỆT, ĐỒNG BỘ: Thành công của Dự án “Tăng cường TTTTN đến công tác tại các KTQP giai đoạn 2010 - 2020” đã thực sự đem lại lợi ích thiết thực cho nhân dân trong vùng dự án; nhằm tiếp tục huy động, phát huy và tăng cường nguồn lực TTTTN đến công tác tại các khu KTQP, tham gia phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững gắn với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh tại địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, biển đảo; ngày 15/9/2021, Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1529/QĐ-TTg phê duyệt nội dung thực hiện Dự án “Tăng cường TTTTN đến công tác tại các khu KTQP” đến hết năm 2030. Trò chuyện với cán bộ, đội viên TTTTN tại Hội nghị sơ kết một năm hoạt động của TTTTN đến công tác tại Đoàn KTQP 327 đợt 1 giai đoạn 2021 – 2030 mới đây, Thiếu tướng Bùi Công Chức, Phó chính ủy, Trưởng ban quản lý Dự án 174 Quân khu nhấn mạnh: Tiếp tục thực hiện Dự án 174 là cơ hội tốt để những đội viên TTTTN được rèn luyện, trải nghiệm, áp dụng kiến thức học được từ nhà trường vào thực tiễn. Sau hai năm hoàn thành nhiệm vụ trở về địa phương sẽ có tác phong chững chạc, làm việc chuẩn mực, khoa học. Vì vậy, Đảng ủy, chỉ huy Đoàn cần chú trọng thực hiện tốt công tác giáo dục, bồi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, tinh thần tự giác, trách nhiệm cho các TTTTN; phối hợp chặt chẽ với các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể địa phươngquản lý, sử dụng chặt chẽ hiệu quả, không để lãng phí nguồn nhân lực được tăng cường; tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các đội viên TTTTN phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ trong tham gia giúp đỡ nhân dân phát triển kinh tế- xã hội, xóa đói giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị trong vùng dự án ngày càng vững mạnh. Đồng thời tích cực quan tâm thực hiện tốt công tác bồi dưỡng, phát triển đảng viên trong TTTTN, góp phần xây dựng nguồn cán bộ cho các địa phương, tạo động lực để các TTTTN phấn đấu, cống hiến trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Được biết, sau 1 năm thực hiện đợt 1 của Dự án “Tăng cường TTTTN đến công tác tại các khu KTQP giai đoạn 2021 – 2030”,Đảng ủy, chỉ huy và Ban quản lý dự án 174 của Đoàn KTQP 327 đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ nhiều biện pháp quản lý, giáo dục, quán triệt, tổ chức thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc, toàn diện các hoạt động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, đạt hiệu quả thiết thực; trong đó có nhiều nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc, được cấp ủy, chính quyền và nhân dân địa phương ghi nhận, đánh giá cao. Các đội viên TTTTN của Đoàn luôn phấn đấu, rèn luyện, trưởng thành về mọi mặt; chủ động khắc phục khó khăn, bám sát địa bàn và đồng bào, phối hợp với các ban, ngành, đoàn thể địa phương góp phần thay đổi diện mạo của vùng biên cương Đông Bắc Tổ quốc. Lực lượng TTTTN tham gia 300 lượt tuần tra biên giới, bảo vệ hơn 7000 ha rừng phòng hộ vành đai biên giới; trồng, chăm sóc 20 ha rừng thay thế; tư vấn, hướng dẫn kỹ thuật, phòng chống dịch bệnh cho 67 hộ nghèo, cận nghèo nuôi bò sinh sản; xây dựng và phát triển 6 mô hình dân vận khéo, 4 mô hình nông, lâm kết hợp vườn, ao, chuồng; vận động 20 lượt trẻ em đủ tuổi đến trường. Bên cạnh giúp đỡ nhân dân xóa đói, giảm nghèo, TTTTN cũng tích cực tham gia các hoạt động xây dựng đơn vị, hoàn thành 100% nội dung huấn luyện, kết quả kiểm tra 100% đạt yêu cầu, trên 75% đạt khá, giỏi; tích cực tham gia củng cố, tu sửa doanh trại xanh, sạch, đẹp. Theo Thượng tá Trần Mạnh Trung, Phó chủ nhiệm Chính trị, Phó trưởng ban Quản lý dự án 174 Đoàn KTQP 327 cho biết, nhằm tiếp tục phát huy vai trò xung kích của TTTTN tham gia vào sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giữ vững an ninh chính trị vùng biên cương Đông Bắc Tổ quốc thì cần phải có cơ chế, chính sách ưu đãi hơn nữa để thu hút nguồn lực TTTTN; phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành của tỉnh Quảng Ninhgiới thiệu, tạo việc làm ổn định cho các đội viên sau khi hoàn thành nhiệm vụ. Có thể khẳng định, Dự án 174 được triển khai thực hiện đã mang lại hiệu quả thiết thực được cấp ủy, chính quyền địa phương trong vùng dự án đánh giá cao. Hiệu quả của dự án không chỉ thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói, giảm nghèo, từng bước cải thiện và nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần cho đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng xa, biên giới, biển đảo mà còn tạo thế vững nơi biên cương, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, góp phần giữ vững bình yên nơi phên dậu của Tổ quốc. (Còn nữa) Nguyễn Thanh – Phạm Quyết

BÀI HỌC VỀ CHỚP THỜI CƠ GIÀNH CHÍNH QUYỀN TRONG CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trang sử hào hùng, mốc son chói lọi trong lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã đập tan xiềng xích hơn 80 năm thống trị của chủ nghĩa thực dân, đế quốc. Đồng thời lật nhào chế độ chuyên chế phong kiến tồn tại hàng nghìn năm trên đất nước ta. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là hội tụ của ý chí độc lập tự chủ, tự lực, tự cường của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng; là thắng lợi vĩ đại của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng vận dụng một cách sáng tạo để “lựa tình thế, chọn thời cơ”, đưa ra những quyết sách đúng đắn, sáng tạo ở tầm chiến lược. Thắng lợi đó cũng chứng minh rằng, một dân tộc dù nhỏ bé nhưng nếu có truyền thống nồng nàn yêu nước, ý chí tự lực, tự cường, đoàn kết, sáng tạo dưới sự lãnh đạo của Đảng cách mạng chân chính có thể làm nên những sự kiện vĩ đại có tầm vóc đi vào lịch sử của dân tộc và thế giới. Lịch sử các cuộc cách mạng trên thế giới đã chứng minh, thời cơ rất quý và hiếm, song nó sẽ trôi qua nếu cách mạng chưa hội tụ đầy đủ điều kiện để nắm lấy thời cơ. Chỉ có Đảng tiền phong của giai cấp công nhân với bản chất cách mạng và khoa học, có tầm nhìn chiến lược, có sự phân tích, nhận định chính xác về tình hình, về thời cơ cách mạng sẽ và đang đến; đồng thời chủ động tạo ra được những nhân tố chủ quan, chuẩn bị công phu những điều kiện bên trong cần thiết, mới có thể mau lẹ chớp thời cơ để giành thắng lợi cho cách mạng. Mùa Xuân năm 1945, thực dân Pháp đã dâng Đông Dương cho phát xít Nhật, nhân dân Việt Nam phải chịu một cổ hai tròng ách áp bức, bóc lột hà khắc. Trước tình hình đó, Đảng ta đã nhận định đây là thời cơ cách mạng nhất định sẽ nổ ra. Bằng nhãn quan của một nhà chiến lược thiên tài, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã dự báo trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai, Liên Xô và các lực lượng chống phát xít nhất định chiến thắng sẽ mở ra thời cơ cho cách mạng Việt Nam tiến lên giành thắng lợi. Với quan điểm tự lực, tự cường và tinh thần chủ động, sáng tạo “Đem sức ta để giải phóng cho ta”, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng tích cực chuẩn bị lực lượng, chủ động tạo thế và lực bên trong để có thể động viên, tổ chức nhân dân cả nước đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến. Sau ngày Nhật đảo chính lật đổ Pháp (9-3-1945), Thường vụ Trung ương Đảng kịp thời ra Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, Đảng đã xác định những chủ trương rất sáng suốt, kịp thời đề ra các biện pháp cụ thể, phù hợp nhằm phát động cao trào kháng Nhật, cứu nước mạnh mẽ, đi từ khởi nghĩa từng phần lên tổng khởi nghĩa; kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, giữa nông thôn với thành thị, đồng thời coi trọng công tác binh vận, công tác đối ngoại… Cùng với quá trình chuẩn bị công phu về lực lượng, Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã có những quyết định chính xác trong việc chọn thời điểm và địa điểm tiến hành khởi nghĩa. Khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện, thời cơ cách mạng đã xuất hiện, Đảng ta đã chớp lấy thời cơ ngàn năm có một, phát động toàn dân đứng lên đấu tranh giành chính quyền với quyết tâm sắt đá: “Dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Lệnh Tổng khởi nghĩa giành chính quyền được phát ra trong toàn quốc, rất kịp thời không thể sớm hơn và cũng không thể muộn hơn, dù chỉ một ngày. Sự đồng loạt khởi nghĩa ở tất cả cá địa phương trong toàn quốc đã làm cho kẻ thù không kịp hỗ trợ, cứu viện, bảo vệ lẫn nhau. Các lực lượng nòng cốt tiến hành khởi nghĩa từ căn cứ cách mạng tiến thẳng về các đô thị lớn, kiên quyết lật đổ chế độ cũ, không thỏa hiệp với các đối tượng của cách mạng; rồi từ thắng lợi ở đô thị lớn phát triển đến các vùng đồng bằng và nông thôn. Bạo lực cách mạng của quần chúng đã làm tê liệt, tan rã nhanh chóng bộ máy chế độ thực dân, phong kiến thối nát và phản động. Chỉ trong vòng 7 ngày (từ 18 đến 25/8), cuộc khởi nghĩa ở Thủ đô Hà Nội và 11 tỉnh, thành phố ở đồng bằng Bắc Bộ đã diễn ra nhanh gọn, với nhiều hình thức sinh động, ít đổ máu. Nhân dân đồng bằng Bắc Bộ đã thực hiện đúng lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”. Ngày 2/9/1945, Hà Nội rợp bóng cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ; hàng chục vạn đồng bào trong Liên khu và Hà Nội đã tập trung ở vườn hoa Ba Đình để dự lễ độc lập. Trên lễ đài, Chủ tịch Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc lần đầu tiên xuất hiện trước công chúng, thay mặt Chính phủ lâm thời Người long trọng đọc Tuyên ngôn độc lập, tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã biểu hiện tinh thần độc lập, tự chủ và sáng tạo của Đảng ta trong tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền. Sự chuẩn bị nội lực đủ mạnh và chớp thời cơ, phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc chính là một trong những bí quyết của Đảng ta và lãnh tụ Hồ Chí Minh trong quá trình chuẩn bị tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. 78 năm sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, dân tộc Việt Nam lại đang nhận những thời cơ lịch sử mới. Bên cạnh các xu thế khách quan thuận lợi và những thành tựu đạt được trong hơn 35 năm đổi mới đất nước đã tạo thế và lực cho cách mạng nước ta mạnh lên rất nhiều. Với nhận thức đúng về thời cơ cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đang tập trung lãnh đạo toàn dân bứt phá để giành những thành tựu to lớn hơn. Tuy nhiên, nước ta cũng đang phải đối mặt với không ít nguy cơ và thách thức mới. Cơ hội và thách thức luôn đan xen với nhau, trong cơ hội bao hàm cả thách thức và trong thách thức cũng bao hàm cả cơ hội. Nếu như thời cơ giành được chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945 diễn ra thời gian rất ngắn, thì cơ hội để dân tộc ta thoát khỏi nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu và trở thành một nước công nghiệp phát triển còn phải kéo dài nhiều năm. Do còn tồn tại những nguy cơ và thách thức, đặc biệt nguy cơ chệch hướng XHCN, nguy cơ do nạn tham nhũng, quan liêu, lãng phí gây ra, cùng với âm mưu và thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”,…. Vì vậy đòi hỏi mỗi chúng ta phải luôn kiên định, giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước. Ra sức tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ trong tình hình mới của cách mạng nước ta phải luôn quán triệt sâu sắc phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ở đây, bất biến là trong mọi điều kiện, hoàn cảnh phải luôn giữ vững nền độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ là giữ vững định hướng XHCN, vì lợi ích của đất nước; không vì quyền lợi hay lợi ích nhất thời, cục bộ nào đó mà bất chấp nguyên tắc. Thực hiện đẩy mạnh hội nhập quốc tế ở nước ta hiện nay, việc không ngừng phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế phải luôn biết “Ứng vạn biến”, phải chớp và nắm thời cơ để đưa dân tộc vững bước tiến lên. Đó chính là thước đo bản lĩnh cách mạng, nhãn quan chính trị và nguyên tắc lãnh đạo của Đảng ta trong thời kỳ mới. Đó cũng là con đường mà Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã trải nghiệm và cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng với một bản lĩnh kiên định, tinh thần và phong cách đổi mới, sáng tạo của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta. Nguyễn Thanh (tổng hợp)

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - VĂN KIỆN KẾT TINH TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC, KHÁT VỌNG ĐỘC LẬP, TỰ DO

Cách đây đúng 78 năm, vào ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố với toàn thể đồng bào cả nước và các dân tộc trên thế giới về nền độc lập của dân tộc Việt Nam và sự ra đời của một nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Bản Tuyên ngôn độc lập có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với dân tộc Việt Nam, là văn kiện khẳng định và kết tinh truyền thống yêu nước, khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam từ bao đời. Tuyên ngôn độc lập ra đời sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công - một thắng lợi vĩ đại đầu tiên của Nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đây không chỉ là văn bản chính thức công nhận sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà còn chấm dứt ách đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp đối với nước ta, mở ra mối quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới với tư cách và vị thế của một quốc gia - dân tộc có độc lập, có chủ quyền. Kế thừa những tinh hoa, tiến bộ, hướng con người vươn tới các giá trị dân chủ, giá trị nhân văn cao cả về tự do, bình đẳng, bác ái trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của Cách mạng Pháp, ngay phần mở đầu của Tuyên ngôn độc lập năm 1945 đã khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đây là một sự khẳng định rõ ràng về quyền cơ bản của con người, tất cả mọi người đều bình đẳng mà không phân biệt người đó được sinh ra ở đâu hay vào thời điểm nào. Trong đó 3 quyền cơ bản, cũng là quan trọng nhất, đó là quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, không ai có thể xâm phạm hay tước đoạt hoặc chối cãi. Xuất phát từ những giá trị nhân văn cao cả, mang tính phổ quát toàn nhân loại làm cơ sở, mục tiêu cho cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam cũng là nhằm thực hiện những quyền chính đáng, thiêng liêng không ai có thể xâm phạm, là sự tiếp nối của lá cờ giải phóng dân tộc, giải phóng con người mà các cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ đã giương cao. Trong thời đại ngày nay, mỗi dân tộc, mỗi con người đều có quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, bình đẳng và hạnh phúc. Độc lập dân tộc gắn liền với sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước, gắn liền với quyền tự quyết dân tộc, quyền được lựa chọn con đường phát triển, không phụ thuộc vào bên ngoài. “Tự do” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là tự do theo lý tưởng xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Độc lập là tiền đề của tự do, bởi “nếu nước được độc lập, người dân mới được tự do, nếu mất nước, ai cũng làm nô lệ”; tự do là mục tiêu và cũng là kết quả của độc lập. Đó là những giá trị cao quý, thiêng liêng nhất, không một thế lực nào có thể xâm phạm. Độc lập của dân tộc gắn liền với quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc của nhân dân. Từ sự khẳng định về chân lý lịch sử đó và từ quyền của mỗi người, của mọi người, trong Bản tuyên ngôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “suy rộng ra” để nâng lên tầm cao mới: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Đây không chỉ là một điểm mới, điểm đặc biệt mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh mà còn thể hiện tầm nhìn thời đại, vượt lên trên các bản tuyên ngôn trước đó về tư tưởng nhân quyền, nay được nâng lên thành quyền của cả dân tộc. Người khẳng định một cách rõ ràng, quyền là dành cho “tất cả mọi người”, không phân biệt địa vị, thành phần, tôn giáo, giới tính, sắc tộc. Đó là sự mở rộng tuyệt đối, đem lại những giá trị to lớn và phù hợp với sự phát triển tiến bộ của nhân loại. Kết thúc Bản Tuyên ngôn độc lập khẳng định: “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Tư tưởng đó đã củng cố ý chí quyết tâm và khát vọng theo đuổi cho nền độc lập, tự do trọn vẹn của dân tộc, thể hiện ở thắng lợi của nhân dân ta trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; sau đó là chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và Tây Nam cũng như công cuộc bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Trải qua 78 năm, đất nước Việt Nam và thế giới đã có những thay đổi sâu sắc về mọi mặt, nhưng giá trị tư tưởng tiến bộ của thời đại trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 vẫn còn nguyên vẹn; tư tưởng và nội dung chủ đạo của Bản Tuyên ngôn vẫn mãi soi đường cho dân tộc Việt Nam trên hành trình xây dựng, củng cố và giữ gìn độc lập - tự do - hạnh phúc. Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập, Đảng, Nhà nước ta luôn kiên định: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của hệ thống chính trị để thực hiện các mục tiêu bảo vệ Tổ quốc với mục tiêu rộng hơn, mới hơn; chăm lo xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân; đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và mọi người dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, lực lượng vũ trang làm nòng cốt trong bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Nguyễn Thanh (tổng hợp)

 HAI CUỘC ĐỜI CHUNG MỘT ƯỚC MƠ 

Hai vì sao sáng của non sông

Yêu nước thương dân giống Lạc Hồng

Gươm súng lao tù không nhụt chí

Xua màn tăm tối đón vừng đông.

Hai tấm lòng trung sáng tựa gương

Vì dân vì nước trọn yêu thương

Đêm ngày khoai sắn thay cơm cháo

Mà khiếp hồn kinh giặc chiến trường.

Hai cuộc đời chung một ước mơ

Cùng đem tâm trí dựng cơ đồ

Mang áo ấm cơm no độc lập

Cho ngàn đời Tổ quốc tự do.

Nguồn: ST



 LỢI DỤNG TỰ DO TÔN GIÁO - CHIÊU TRÒ ĐÃ LỖI THỜI

Lợi dụng vấn đề tôn giáo để chống phá Việt Nam là hoạt động lỗi thời, không phù hợp với xu thế phát triển của nền chính trị thế giới trong thời đại hiện nay. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn tiếp tục lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo để chống phá Việt Nam. Tại một số nước, vẫn còn có các nhóm người công khai lợi dụng vấn đề tôn giáo, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam… 

Buổi “Hội luận Ngày Quốc tế tưởng niệm nạn nhân bị bạo hành vì tôn giáo hay niềm tin” (22/8) do cái gọi “Ủy ban Cứu trợ người vượt biển - BPSOS” tổ chức và được Đài RFA cùng một số trang mạng xã hội của các tổ chức phản động lưu vong ra sức khuyếch trương, có thể xem là một ví dụ. Nhiều tài liệu từ buổi “Hội luận…” này được RFA và một số trang mạng xã hội phát tán có nội dung thông tin xuyên tạc tình hình tôn giáo tại Việt Nam, vu cáo Việt Nam “đàn áp” các “nhóm tôn giáo độc lập”, “vi phạm tự do tôn giáo”…

Chúng ta chẳng lạ thực chất của buổi “Hội luận…” này không nhằm mục đích nào khác là tạo cơ hội cho các tổ chức, cá nhân thù địch xuyên tạc, bịa đặt, vu cáo về tự do tôn giáo ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Những thông tin, tài liệu từ buổi “Hội luận…” mà RFA cùng một số trang mạng xã hội phát tán về tự do tôn giáo ở Việt Nam là hồ đồ, vô căn cứ và trắng trợn xuyên tạc sự thật. Thực tế đời sống tôn giáo ở Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc phát đi từ buổi “Hội luận…”. 

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng cũng như trong việc quản lý xã hội, điều hành đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến tôn giáo và có chính sách tín ngưỡng, tôn giáo đúng đắn và phù hợp với từng giai đoạn của cách mạng. Ngay từ những ngày đầu thành lập, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã có những chính sách tôn giáo đúng đắn. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu sáu vấn đề cấp bách cần giải quyết, trong đó có việc thực hiện “tín ngưỡng tự do, Lương - Giáo đoàn kết”.

Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo. Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng; đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân”

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Đảng Cộng sản Việt Nam một lần nữa khẳng định: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với quan điểm của Đảng. Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo; động viên các tổ chức tôn giáo, chức sắc, tín đồ sống tốt đời, đẹp đạo, tham gia đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Quan tâm và tạo mọi điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt theo hiến chương, điều lệ của các tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, đúng quy định của pháp luật…”.

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục nhấn mạnh: “Tập trung hoàn thiện và triển khai thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tôn giáo; có những chính sách đặc thù giải quyết khó khăn cho đồng bào dân tộc thiểu số; thực hiện tốt đoàn kết tôn giáo, đại đoàn kết toàn dân tộc. Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”.

Trong Hiến pháp và các văn bản luật của Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân luôn được ghi nhận. Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc tôn trọng, bảo đảm các quyền con người, quyền công dân, trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Điều 24 (Chương II) của Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Đặc biệt, sự ra đời của Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 đã chứng tỏ Nhà nước Việt Nam rất quan tâm và quyết tâm phấn đấu đảm bảo ngày càng tốt hơn quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.

Các tôn giáo ở Việt Nam, đều bình đẳng trước pháp luật, không một tôn giáo nào hoạt động đúng pháp luật mà bị ngăn cấm. Mọi người dân Việt Nam hoàn toàn tự nguyện, tự do lựa chọn theo hoặc không theo một tín ngưỡng, tôn giáo nào, không bị ép buộc, cấm đoán. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân luôn được Nhà nước Việt Nam tôn trọng và đảm bảo. Ở Việt Nam ngày càng có thêm nhiều tổ chức tôn giáo được công nhận và hoạt động. Số lượng các tín đồ tôn giáo tăng nhanh. Các cơ sở thờ tự liên tục được xây dựng, mở mang, tạo điều kiện cho sinh hoạt tôn giáo. Hoạt động in ấn, phát hành kinh sách được xuất bản tự do theo nhu cầu của các tôn giáo… Có thể khẳng định, đời sống tôn giáo ở Việt Nam chưa bao giờ phong phú, sôi động như hiện nay. Các tổ chức nhân quyền và tôn giáo quốc tế đã nhiều lần đến thăm, làm việc, khảo sát thực tế và thừa nhận những tiến bộ của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo.

Cần khẳng định rằng, tại Việt Nam không bao giờ có chuyện “đàn áp tôn giáo”, “vi phạm tự do tôn giáo”… Các cá nhân, “nhóm tôn giáo độc lập”… mà một số tổ chức, cá nhân thù địch với Việt Nam cho là bị “đàn áp” vì thực hiện quyền tự do tôn giáo, thực chất đó là những trường hợp đã lợi dụng, đội lốt tôn giáo để hoạt động chống phá Nhà nước Việt Nam. Những hành vi đó đã vi phạm pháp luật Việt Nam và đương nhiên phải bị xử lý theo pháp luật. Đó là việc làm hoàn toàn chính đáng, hợp pháp nhằm bảo vệ an ninh trật tự, giữ nghiêm kỷ cương phép nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, trong đó có giáo dân.

Đi đôi với tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, pháp luật Việt Nam cũng nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản các tín đồ thực hiện nghĩa vụ công dân; đấu tranh và xử lý nghiêm đối với mọi hành động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “Chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh với những hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để mê hoặc, chia rẽ, phá hoại khối đoàn kết dân tộc…”.

Cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Nhà nước Việt Nam không cho phép bất kỳ tôn giáo nào được đứng ngoài luật pháp, đứng ngoài dân tộc, đứng trên lợi ích quốc gia. Một yêu cầu khách quan đặt ra trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam là dù nội sinh hay ngoại sinh, các tôn giáo muốn phát triển đều phải hòa đồng với dòng chảy văn hóa của dân tộc và phải chịu sự quản lý của Nhà nước. Khi xem xét, giải quyết các vấn đề có liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo, một trong những yêu cầu cơ bản mà Nhà nước Việt Nam đặt ra là: Trong sáng vô tư, không có sự phân biệt hay đối xử thiên vị giữa các tôn giáo. Mục tiêu trong thực hiện chính sách tôn giáo của Việt Nam là đoàn kết dân tộc, phát huy lòng yêu nước, trách nhiệm của đồng bào có đạo và đồng bào không có đạo đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

Nhân dân Việt Nam hiểu quá rõ những âm mưu và hoạt động của các cá nhân, tổ chức thù địch nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, lật đổ chế độ chính trị tại Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ đó, họ thường lợi dụng những vấn đề nhạy cảm, phức tạp, trong đó có vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo. Bằng mọi cách, họ tiến hành các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc, bôi nhọ, bóp méo sự thật nhằm làm giảm sút uy tín, vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, tạo cớ hòng can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam… Những âm mưu, thủ đoạn, hoạt động lợi dụng tự do tôn giáo để chống phá Việt Nam dù có thâm độc, tinh vi, nham hiểm đến đâu chăng nữa cũng nhất định sẽ bị dư luận trong nước vạch trần và dư luận quốc tế lên án./.


 VỮNG TIN THEO CON ĐƯỜNG CÁCH MẠNG ĐÃ LỰA CHỌN

Nhân dân thế giới cũng như nhân dân Việt Nam đã không lạ gì về cách mạng màu với những hậu quả nặng nề của nó. Thế nhưng, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại đang tỏ ra rất tôn sùng cách mạng màu và mong muốn cách mạng màu nhanh chóng diễn ra ở Việt Nam.

Vừa qua, trên cái gọi là “Kênh truyền thông của luật sư Nguyễn Văn Đài”, đối tượng Nguyễn Văn Đài đưa ra câu hỏi: “Cách mạng màu có xảy ra ở Việt Nam hay không? Hay là cách mạng màu sẽ là xu thế tất yếu ở Việt Nam” và có bài phân tích với chủ đề: “Cách mạng màu xu thế tất yếu ở Việt Nam”. Với bản chất và thói quen vốn có, Nguyễn Văn Đài vu cáo rằng, Việt Nam đang bị cai trị bởi một “Đảng Cộng sản với một chế độ độc tài cai trị dân rất hà khắc”. Y quy kết: Đảng và chế độ “là một cái Đảng phản động, phản quốc là một chế độ phản động, phản quốc”; “chế độ Cộng sản Việt Nam là chế độ tham nhũng, hủ bại”. Đài trắng trợn vu cáo chế độ cộng sản “đã biến người dân từ địa vị một người làm chủ đất nước” và “tước đoạt các quyền con người”.

Nguyễn Văn Đài xuyên tạc, vu cáo láo xược rằng: Duy trì chế độ độc tài cộng sản là không có lợi cho người dân Việt Nam; người dân bị bóc lột, người dân bị cai trị, người dân bị tước đoạt mọi thứ, làm gì có quyền gì?. Đài đưa ra ý kiến rất vô lý: duy trì ổn định chính trị chế độ độc tài cộng sản Việt Nam có hại cho người dân, có hại cho đất nước… Thật hài hước khi Nguyễn Văn Đài khuyên Đảng Cộng sản Việt Nam “phải học bài học… Ngay từ bây giờ Đảng Cộng sản Việt Nam phải từng bước, từng bước tôn trọng các quyền dân chủ của người dân, như thả tự do cho tù chính trị, tôn trọng các quyền tự do ngôn luận, cho thành lập các báo chí tư nhân, từng bước thành lập các tổ chức dân sự độc lập rồi sau đó thành lập các đảng phái chính trị. Nó phải từng bước, từng bước một để cho người dân nâng cao dân trí của mình lên và họ biết cách thụ hưởng những thành quả mà cách mạng màu mang lại”.  Đài cũng võ đoán, xấc xược đánh giá: “người dân sẽ mất kiểm soát và người ta sẽ hành động theo bản năng của người ta chứ không còn hành động theo lý trí và sự hiểu biết của họ nữa”. Nguyễn Văn Đài kích động, kêu gọi người dân Việt Nam: “có ý thức cùng nhau làm là cách mạng màu, cách mạng xã hội hay dân chủ để xóa bỏ chế độ độc tài”. Và Đài thể hiện ảo mộng ngông cuồng của mình khi cho rằng: “tôi tin là người Việt Nam hoàn toàn có thể giữ được ổn định đất nước sau khi chuyển đổi từ độc tài sang dân chủ thông qua cách mạng màu ở Việt Nam”. 

Thực chất những thông tin trên của Nguyễn Văn Đài là xấu độc, trắng trợn, xuyên tạc, bịa đặt nhằm mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam. Những hành vi, thủ đoạn đó không mới và Nguyễn Văn Đài cũng chẳng kêu gọi, kích động được người dân Việt Nam đi theo con đường cách mạng màu. Người dân Việt Nam luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, ý thức trách nhiệm, bản lĩnh và trình độ hiểu biết để phòng, chống có hiệu quả mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của kẻ xấu. Nhân dân Việt Nam đã, đang và mãi mãi tin tưởng vào con đường mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân đã lựa chọn: con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa với mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. 

Thực tế từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, nhân dân Việt Nam đã vững vàng, tuyệt đối tin tưởng sự lãnh đạo của Đảng. Chúng ta đã đánh đổ thực dân, đế quốc, giành và giữ vững độc lập, tự do, chung sức, đồng lòng xây dựng và bảo vệ đất nước giàu mạnh, như khẳng định của Đảng: “Thực tế từ ngày có Đảng, nhân dân ta đã có người lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt và nhờ thế chúng ta đã giành được hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, lập nên những kỳ tích trong thế kỷ XX”. Đặc biệt, sự nghiệp đổi mới với sức mạnh tổng hợp của ý Đảng, lòng dân đã đưa Việt Nam phát triển từng bước vững chắc, như Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII khẳng định: “Qua 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 30 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước… Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện hơn so với những năm trước đổi mới… Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. 

Thành tựu to lớn đó được dư luận trong nước và quốc tế đồng thuận, đánh giá cao. Từ năm 2016 đến 2019, kinh tế nước ta 4 năm liên tiếp đứng trong Tốp 10 nước có sự tăng trưởng cao nhất thế giới; Việt Nam cũng là một trong 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất. Năm 2020 nền kinh tế của chúng ta đứng thứ tư trong khối ASEAN. Mức sống của nhân dân được nâng lên với thu nhập đầu người tăng 17 lần; các quyền tự do dân chủ của người dân được tôn trọng, đời sống văn hóa, tinh thần của nhân dân ngày càng phát triển… 

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta cùng đồng thuận, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí với kết quả thu được rất toàn diện, có ý nghĩa sâu sắc về nhiều mặt. 

Những thắng lợi về mọi mặt của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng được dư luận trong nước và quốc tế đồng thuận, đánh giá cao. Ví dụ như trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kết quả điều tra dư luận xã hội của Ban Tuyên giáo Trung ương cho thấy có đến 93% ý kiến người dân đồng tình, tin tưởng vào cuộc đấu tranh này. Nhân dân cũng tuyệt đối tin tưởng vào đường lối, chính sách của Đảng, sự điều hành của chính phủ, hăng hái tham gia xây dựng Đảng, xây dựng đất nước, thực hiện tốt nghĩa vụ, trách nhiệm công dân của mình. Qua đó, Đảng càng thêm vững mạnh và nhân dân càng thêm tin tưởng, vững vàng đi theo Đảng, trong khi sự xuyên tạc, vu cáo của các thế lực thù địch, chống phá như Nguyễn Văn Đài thì trở nên “trơ trẽn, nực cười”. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam chính là: “Một đảng cách mạng chân chính có đường lối đúng, có tổ chức chặt chẽ, có đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, gương mẫu, tận tụy, gắn bó máu thịt với nhân dân, được nhân dân ủng hộ, thì đảng đó có sức mạnh vô địch, không thế lực nào ngăn cản nổi trên con đường dẫn dắt dân tộc đi lên”.

Sự nghiệp cách mạng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đã và đang tiếp tục được thực hiện với những thuận lợi lớn, nhưng vẫn còn không ít khó khăn, trở ngại, trong đó có sự chống phá của các thế lực thù địch, thế lực xấu với nhiều âm mưu, thủ đoạn trắng trợn, tinh vi, thâm độc. Nhưng chúng ta tin tưởng và kỳ vọng với sự đoàn kết thống nhất, niềm tin, ý chí quyết tâm và nỗ lực phấn đấu của cả dân tộc, nhất định chúng ta sẽ thành công trên con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh./.

     


                                                      

 🇻🇳TRƯỜNG TÔI TREO ẢNH BÁC HỒ🇻🇳


Đây là hình ảnh Trường trung cấp nghề Hòa Bình Xuân Lộc, một trường Công Giáo đầu tiên tại Việt Nam. Hiệu trưởng là linh mục Nguyễn Văn Uy. 


Điều đáng ghi nhận là song song với việc treo ảnh Chúa thì hiệu trưởng cũng treo ảnh Bác Hồ. Đó là tư tưởng "hòa nhập" vào lòng dân tộc.


Và mục tiêu của trường đó là tạo điều kiện cho các học sinh nghèo, không phân biệt tôn giáo có cơ hội được tiếp tục học và rèn luyện nghề nghiệp và nhân cách để trở thành những người hữu ích cho xã hội và Giáo hội.


Tuy nhiên, một số thành phần cực đoan trong Công giáo lại cho rằng điều này đã làm cho "người Công Giáo Việt Nam phải hổ thẹn". 


Nhưng mà gạt bỏ một số ý kiến từ số thành phần cực đoan đó, linh mục, hiệu trưởng Nguyễn Văn Uy đã khẳng định: 


"Là một linh mục dấn thân trong lĩnh vực giáo dục, tôi mong ước được giúp đỡ các em học sinh gia đình nghèo có cơ hội tiến thân và chu toàn công việc được giáo phận trao phó. 


Nếu mai đây, nhà nước mở rộng lãnh vực giáo dục cho giới Công giáo tham gia, ngay bây giờ, chúng ta cần có kế hoạch đào tạo nhân sự có chuyên môn cao, có tâm huyết với nghề và dám hy sinh cho sự nghiệp giáo dục, lúc đó, sự đóng góp của chúng ta mới có hiệu quả cho đất nước"



Nhận diện và đấu tranh với luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch: “Việt Nam vi phạm quyền tự do báo chí”

 

  Lợi dụng cái gọi là “Ngày Tự do báo chí thế giới 03/5”, trên các trang  mạng của tổ chức khủng bố “Việt Tân” đã đăng tải nhiều thông tin có nội dung xuyên tạc tình hình tự do báo chí ở Việt Nam. Chính vì vậy, mỗi chúng ta cần tỉnh táo, nhận diện và kiên quyết đấu tranh làm thất bại những luận điệu xuyên tạc đó, nhằm bảo đảm quyền tự do thông tin của mỗi người và khẳng định tính cách mạng, khoa học của nền báo chí cách mạng Việt Nam trong 97 năm qua.

Trở lại lịch sử, báo chí cách mạng Việt Nam ra đời được đánh dấu bằng sự kiện lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập “Báo Thanh niên” ngày 21/6/1925. Báo Thanh niên là tiếng nói của tổ chức “Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí hội”, đã góp phần giương cao ngọn cơ cách mạng Việt Nam, nói lên ý chí, khát vọng của dân tộc Việt Nam và chỉ rõ phương hướng đấu tranh của dân tộc Việt Nam theo con đường của Đảng, Bác Hồ đã lựa chọn “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” ngay từ năm 1930. Trải qua 96 năm, báo chí cách mạng Việt Nam đã góp phần làm nên thắng lợi vĩ đại của dân tộc trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, quyền tự do báo chí đã được hiến định rõ tại Điều 25 Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do phá luật quy định”(1). Trên thực tế, cùng với quyền tự do, dân chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, quyền tự do báo chí, ngôn luận ngày càng được thể hiện đầy đủ. Vậy mà, các thế lực thù địch lại tung ra những luận điệu xuyên tạc rằng: “Việt Nam đã tước đoạt quyền tự do phát biểu, tự do thông tin của người dân”; “vi phạm trầm trọng quyền tự do báo chí”…   Đây là những luận điệu rất phản động, nhằm gây nhiễu thông tin, vu khống, xuyên tạc trắng trợn quyền tự do thông tin, báo chí của công dân Việt Nam.

Bởi vì, ở Việt Nam chẳng có sự “tước đoạt” nào cả, mà chỉ có sự hướng về nhân dân, vì nhân dân với sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng, sự chỉ đạo quyết liệt với tinh thần liêm chính, kiến tạo, phát triển của Chính phủ với phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau”, để tiến tới mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, có thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Về quyền tự do phát biểu, tự do thông tin, ở nước ta không những không bị “tước đoạt”, mà quyền này được phát huy dân chủ rộng rãi, từ trong nguyên tắc hoạt động của các tổ chức, đến thực hiện quyền dân chủ của người dân “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhất là trong tham gia đóng góp ý kiến vào dự thảo các văn kiện trình các kỳ đại hội, đều được xin ý kiến đóng góp đầy đủ, rộng khắp của các tổ chức đảng các cấp, Quốc hội, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân, đặc biệt là các tầng lớp nhân dân. Trong kỳ Đại hội lần thứ XIII của Đảng, đã có hàng triệu ý kiến tâm huyết, trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đóng góp vào các văn kiện trình Đại hội. Quá trình diễn ra Đại hội, các phiên khai mạc, bế mạc và nhiều phiên họp quan trọng của Đại hội Đảng lần thứ XIII được Đài truyền hình Việt Nam truyền hình trực tiếp để cho toàn thể nhân dân được theo dõi, tiếp thu và lĩnh hội những quan điểm, chủ trương của Đảng. Sau Đại hội, toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân được quán triệt nhanh và học tập, triển khai Nghị quyết Đại hội. Điều đó cho thấy, không chỉ “ý Đảng, hợp lòng dân”, mà quyền tự do phát biểu, tự do thông tin ở Việt Nam được bảo đảm đầy đủ, chứ không phải như các thế lực thù địch rêu rao rằng “Việt Nam đã tước đoạt quyền tự do phát biểu, tự do thông tin của người dân”; “Việt Nam vi phạm trầm trọng quyền tự do báo chí”!

Trước sự xuyên tạc trắng trợn của các thế lực thù địch, chúng ta càng phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động báo chí và bảo đảm quyền thông tin của mọi công dân trước pháp luật. Tiếp tục nghiên cứu, nắm chắc luật báo chí, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mỗi công dân. Trên cơ sở đó, quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trên lĩnh vực thông tin, báo chí, phát ngôn bảo đảm đúng pháp luật. Đồng thời, nâng cao cảnh giác cách mạng, nhận diện và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch lợi dụng vấn đề tự do ngôn luận, tự do báo chí để xuyên tạc, vu khống trên lĩnh vực dân chủ, nhân quyền ở nước ta.

Nhận diện và đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống đối với chủ trương, quan điểm của Đảng về đổi mới, sắp xếp điều chỉnh tổ chức quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”

 

 Tổ chức lực lượng “tinh, gọn, mạnh” là yêu cầu tất yếu khách quan trong quá trình xây dựng và phát triển của Quân đội ta, nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, tiến lên hiện đại.

Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, phản động đã ra sức chống phá bằng chiêu trò, thủ đoạn xảo quyệt, tinh vi. Chúng tung rất nhiều tin tức xấu độc, bịa đặt… phát tán trên mạng xã hội hòng làm suy giảm niềm tin của cán bộ, chiến sĩ. Trong thời gian gần đây, các thế lực phản động, thù địch, những kẻ cơ hội chính trị vẫn tìm mọi cách chống phá gay gắt và quyết liệt hơn. Trên trang mạng Baotiengdan.com có bài viết của Trần Văn với nội dung “Liệu Việt Nam có học được gì từ bi kịch của Quân đội Nga?” và một số quan điểm về “tinh giảm biên chế của Quân đội ta” hay lợi dụng các trang mạng xã hội đưa tin sai sự thật về diễn tập khu vục phòng thủ, những hoạt động quân sự, quốc phòng, thổi phồng, xuyên tạc những sai lầm, khuyết điểm hoặc lợi dụng những hạn chế, sơ hở trong quản lý của các đơn vị để vu khống, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò của Quân đội.

 Những bài viết này đều nhằm thực hiện âm mưu phá hoại, xuyên tạc cắt xén thông tin, chế giễu, làm mất thanh danh hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”. Đồng thời, những hành động chống phá của một số cá nhân trên với mục đích làm mất ổn định tình hình chính trị - xã hội, hướng lái dư luận theo mưu đồ đen tối, phản động của chúng. Các ý kiến trên thực chất là luận điệu xuyên tạc, âm mưu bôi nhọ, chống phá Quân đội ta, hòng gieo rắc hoài nghi, làm mất niềm tin của nhân dân đối với Quân đội. Thủ đoạn này tuy không mới, nhưng nó dễ gây nên sự ngộ nhận, mơ hồ, lẫn lộn trong nhận thức về đúng - sai, thật - giả, gây nên sự dao động trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội.

Chúng phải nhận thức được rằng: đổi mới, sắp xếp điều chỉnh tổ chức quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”. Đây là nhiệm vụ trọng tâm giai đoạn 2020-2025 tầm nhìn 2030 và các năm tiếp của Quân đội. Với mục tiêu, yêu cầu là: Quân đội có sức mạnh tổng hợp, sức chiến đấu ngày càng cao, cơ cấu tổ chức đồng bộ, hợp lý giữa các thành phần, điều chỉnh lực lượng phù hợp; sẵn sàng đáp ứng nhiệm vụ khi đất nước chuyển sang thời chiến.

 Bên cạnh đó, chủ trương trên bắt nguồn từ quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng và tổ chức quân đội. Người khẳng định “Chúng ta phải ra sức xây dựng Quân đội ta thành một quân đội nhân dân hùng mạnh, một quân đội cách mạng tiến lên chính quy và hiện đại, để giữ gìn hòa bình, bảo vệ Tổ quốc”. 

Trong giai đoạn mới, đây là vấn đề cụ thể hóa chủ trương xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam của Đảng, Nhà nước về điều chỉnh tổ chức, biên chế, huy động tiềm lực quốc phòng; ưu tiên đầu tư, nâng cao sức mạnh cho các quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại.

Ngoài ra, thường xuyên quan tâm, chăm lo xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao cho Quân đội. Đây là một trong những đột phá chiến lược, có ý nghĩa quyết định, bảo đảm cho Quân đội tinh, gọn, mạnh, tiến lên hiện đại.

Sở dĩ Đảng ta xác định rõ phương hướng, mục tiêu xây dựng Quân đội như đã nêu trên là xuất phát từ tình hình thực tế trong nước và thế giới với những yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Tóm lại, khi điều chỉnh, tổ chức, biên chế trong Quân đội là một vấn đề phức tạp, liên quan đến tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị kỹ thuật, nghệ thuật quân sự. Đặc biệt là liên quan đến con người, nhất là ở các đơn vị phải giải thể, sáp nhập, chuyển đổi mô hình hoạt động. Vì vậy, trong quá trình tiến hành phải tiến hành đồng bộ, hiệu quả, có sự đồng thuận và quyết tâm cao của tất cả các cấp, lực lượng, lộ trình, bước đi cụ thể, phù hợp.

Như vậy, những luận điệuphản động, cơ hội chính trị, suy nghĩ cho rằng: “Quân đội tinh giảm để giảm bớt gánh nặng cho xã hội”. Các phát tán trên đều là bịa đặt, không đúng sự thật. Để góp phần đánh bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch chống phá chủ trương, quan điểm của Đảng về đổi mới, sắp xếp điều chỉnh tổ chức Quân đội theo hướng “tinh, gọn, mạnh”, mỗi quân nhân cần phải nâng cao tinh thần cảnh giác, đấu tranh vạch trần âm mưu, thủ đoạn đen tối của những kẻ như Trần Văn./.

Những nhiệm vụ, giải pháp hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta

 Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Về mục tiêu: Tiếp tục hoàn thiện và nâng cao chất lượng thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN đầy đủ, đồng bộ, hiện đại, hội nhập; tạo môi trường thuận lợi để huy động, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh; giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa Nhà nước và thị trường, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo; gắn kết hài hòa, hiệu quả thị trường trong nước và quốc tế; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, nhằm đưa đất nước phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp vào năm 2025, là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045(4).

Những nhiệm vụ, giải pháp hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta được nêu trong phần phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021 - 2025. Đó là: Thống nhất và nâng cao nhận thức về phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN; Tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN, tập trung tháo gỡ các điểm nghẽn; Nâng cao chất lượng, hiệu quả quản trị quốc gia, xây dựng và thực thi pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; Tiếp tục phát triển đầy đủ, đồng bộ các yếu tố thị trường, các loại thị trường; Tiếp tục thúc đẩy phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp; Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế. Những nhiệm vụ, giải pháp này có tính đột phá chiến lược, nhằm ổn định kinh tế vĩ mô, tạo môi trường, động lực, nguồn lực cho phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Đồng thời, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất, đồng bộ, hiệu quả; thể hiện sự sáng tạo, khát vọng phát triển, sức mạnh và ý chí, quyết tâm sắt đá của toàn Đảng và Nhân dân ta, phù hợp với tình hình thực tiễn, có tính khả thi cao trong tổ chức thực hiện.

Quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta cần đặc biệt coi trọng xây dựng và thi hành pháp luật, bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng, đầy đủ, đồng bộ, khả thi, hiện đại, hội nhập quốc tế. Tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp, kinh tế hợp tác, các yếu tố, các loại thị trường để nền kinh tế thị trường vận hành đồng bộ theo hướng hiện đại và hội nhập quốc tế; trong đó, trọng tâm là thị trường các yếu tố sản xuất, nhất là thị trường quyền sử dụng đất, khoa học - công nghệ. Huy động, sử dụng các nguồn lực thực hiện theo cơ chế thị trường. Như vậy, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã bám sát, vận dụng đúng quy luật khách quan của kinh tế thị trường, thông lệ quốc tế và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội ở nước ta. Điều đó làm cho thị trường, nhất là thị trường các yếu tố sản xuất hoạt động đồng bộ, đầy đủ, thông suốt và trở thành yếu tố quyết định trong phân bổ nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam…

Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta là việc làm mới mẻ, chưa có tiền lệ. Quá trình đó, có nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn đặt ra cần phải tiếp tục nghiên cứu, giải quyết kịp thời, thỏa đáng. Theo đó, cần nhất quán trong nhận thức và hành động của mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân những vấn đề cơ bản sau:

Một làHoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN là nhiệm vụ mới mẻ, quan trọng, vừa cấp bách, vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị, phải dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn; không thể tùy tiện, chủ quan duy ý chí, không thể nóng vội một sớm một chiều. Cần chủ động tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, bổ sung và phát triển lý luận về thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đặc biệt, cần tiếp tục nghiên cứu, làm rõ bản chất, đặc trưng và cơ chế vận hành của thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta; mối quan hệ, tác động qua lại của thể chế kinh tế ấy với các lĩnh vực khác của đời sống xã hội.

Hai là: Cần tiếp tục đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của Ðảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng đáp ứng yêu cầu lãnh đạo phát triển kinh tế trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực hiện nay có nhiều diễn biến mới rất nhanh chóng, phức tạp và khó lường; bảo đảm cho hoạt động lãnh đạo của Đảng đồng bộ, toàn diện, hiệu quả trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong phát triển kinh tế và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Ba là: Tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN thông qua hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách, nguyên tắc, công cụ, đòn bẩy kinh tế, đảm bảo đồng bộ, hiệu quả. Đẩy nhanh xây dựng khung chính sách, pháp luật đối với xây dựng chính quyền điện tử hướng tới chính phủ số, nền kinh tế số (Digital Economic) theo kịp khu vực và thế giới. Xây dựng, thử nghiệm, hoàn thiện khung khổ pháp lý cho các mô hình kinh doanh mới. Sớm hoàn thành việc xây dựng và khai thác, sử dụng cơ sở dữ liệu lớn (Big Data) và nền tảng kết nối, chia sẻ quốc gia. Nhận thức đúng đắn, đầy đủ và xử lý hiệu quả mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh, nâng cao phúc lợi xã hội và bảo vệ môi trường; khuyến khích làm giàu đi đôi với tích cực xóa đói, giảm nghèo bền vững, nhất là đối với vùng nông thôn, vùng núi, Tây Nguyên, vùng căn cứ địa cách mạng, biên giới, hải đảo, vùng di dân, tái định cư.

Bốn là: Ðẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tạo sự đồng thuận trong Ðảng, trong các tầng lớp nhân dân và trong xã hội đối với các chủ trương, chính sách của Ðảng. Phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội trong quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.

Năm là: Tiếp tục nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa phát triển nền kinh tế theo những quy luật khách quan của thị trường với bảo đảm định hướng XHCN; giữa phát triển nhanh, bền vững nền kinh tế đất nước với bảo đảm sự ổn định về chính trị - xã hội, củng cố quốc phòng - an ninh và sự bền vững của chế độ XHCN. Nhân lên những giá trị tốt đẹp, bản chất của chủ nghĩa xã hội; giảm thiểu, hạn chế đến mức thấp nhất những tiêu cực, khuyết tật của kinh tế thị trường đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội, truyền thống tốt đẹp và bản sắc văn hóa của dân tộc.

Nghiên cứu các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cho chúng ta thấy rõ sự nhất quán, kế thừa và phát triển trong nhận thức, tư duy của Đảng về hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, trong bối cảnh toàn cầu hóa và tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Điều đó càng khẳng định tư duy đúng đắn, sáng tạo và bản lĩnh vững vàng của Đảng ta trước thời cuộc. Tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, chủ động, sáng tạo xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện hiệu quả quan điểm, chủ trương và Nghị quyết của Đảng ở các cấp, các ngành, các lĩnh vực; đồng thời, kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, là trách nhiệm chính trị và vinh dự của mỗi cán bộ, đảng viên.