Thứ Ba, 5 tháng 9, 2023
TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP - VĂN KIỆN KẾT TINH TRUYỀN THỐNG YÊU NƯỚC, KHÁT VỌNG ĐỘC LẬP, TỰ DO
Cách đây đúng 78 năm, vào ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố với toàn thể đồng bào cả nước và các dân tộc trên thế giới về nền độc lập của dân tộc Việt Nam và sự ra đời của một nhà nước mới: Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Bản Tuyên ngôn độc lập có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với dân tộc Việt Nam, là văn kiện khẳng định và kết tinh truyền thống yêu nước, khát vọng độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam từ bao đời.
Tuyên ngôn độc lập ra đời sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công - một thắng lợi vĩ đại đầu tiên của Nhân dân ta từ khi có Đảng lãnh đạo, mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Đây không chỉ là văn bản chính thức công nhận sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mà còn chấm dứt ách đô hộ hơn 80 năm của thực dân Pháp đối với nước ta, mở ra mối quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới với tư cách và vị thế của một quốc gia - dân tộc có độc lập, có chủ quyền.
Kế thừa những tinh hoa, tiến bộ, hướng con người vươn tới các giá trị dân chủ, giá trị nhân văn cao cả về tự do, bình đẳng, bác ái trong Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1791 của Cách mạng Pháp, ngay phần mở đầu của Tuyên ngôn độc lập năm 1945 đã khẳng định: “Tất cả mọi người đều sinh ra bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.
Đây là một sự khẳng định rõ ràng về quyền cơ bản của con người, tất cả mọi người đều bình đẳng mà không phân biệt người đó được sinh ra ở đâu hay vào thời điểm nào. Trong đó 3 quyền cơ bản, cũng là quan trọng nhất, đó là quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc, không ai có thể xâm phạm hay tước đoạt hoặc chối cãi. Xuất phát từ những giá trị nhân văn cao cả, mang tính phổ quát toàn nhân loại làm cơ sở, mục tiêu cho cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam cũng là nhằm thực hiện những quyền chính đáng, thiêng liêng không ai có thể xâm phạm, là sự tiếp nối của lá cờ giải phóng dân tộc, giải phóng con người mà các cuộc cách mạng Pháp, cách mạng Mỹ đã giương cao.
Trong thời đại ngày nay, mỗi dân tộc, mỗi con người đều có quyền được sống trong hòa bình, độc lập, tự do, bình đẳng và hạnh phúc. Độc lập dân tộc gắn liền với sự thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đất nước, gắn liền với quyền tự quyết dân tộc, quyền được lựa chọn con đường phát triển, không phụ thuộc vào bên ngoài. “Tự do” theo tư tưởng Hồ Chí Minh là tự do theo lý tưởng xây dựng một xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa. Độc lập là tiền đề của tự do, bởi “nếu nước được độc lập, người dân mới được tự do, nếu mất nước, ai cũng làm nô lệ”; tự do là mục tiêu và cũng là kết quả của độc lập. Đó là những giá trị cao quý, thiêng liêng nhất, không một thế lực nào có thể xâm phạm. Độc lập của dân tộc gắn liền với quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc của nhân dân.
Từ sự khẳng định về chân lý lịch sử đó và từ quyền của mỗi người, của mọi người, trong Bản tuyên ngôn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã “suy rộng ra” để nâng lên tầm cao mới: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Đây không chỉ là một điểm mới, điểm đặc biệt mang đậm dấu ấn Hồ Chí Minh mà còn thể hiện tầm nhìn thời đại, vượt lên trên các bản tuyên ngôn trước đó về tư tưởng nhân quyền, nay được nâng lên thành quyền của cả dân tộc. Người khẳng định một cách rõ ràng, quyền là dành cho “tất cả mọi người”, không phân biệt địa vị, thành phần, tôn giáo, giới tính, sắc tộc. Đó là sự mở rộng tuyệt đối, đem lại những giá trị to lớn và phù hợp với sự phát triển tiến bộ của nhân loại.
Kết thúc Bản Tuyên ngôn độc lập khẳng định: “Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Tư tưởng đó đã củng cố ý chí quyết tâm và khát vọng theo đuổi cho nền độc lập, tự do trọn vẹn của dân tộc, thể hiện ở thắng lợi của nhân dân ta trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược; sau đó là chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và Tây Nam cũng như công cuộc bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Trải qua 78 năm, đất nước Việt Nam và thế giới đã có những thay đổi sâu sắc về mọi mặt, nhưng giá trị tư tưởng tiến bộ của thời đại trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 vẫn còn nguyên vẹn; tư tưởng và nội dung chủ đạo của Bản Tuyên ngôn vẫn mãi soi đường cho dân tộc Việt Nam trên hành trình xây dựng, củng cố và giữ gìn độc lập - tự do - hạnh phúc.
Quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn độc lập, Đảng, Nhà nước ta luôn kiên định: Phát huy mạnh mẽ sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc, của hệ thống chính trị để thực hiện các mục tiêu bảo vệ Tổ quốc với mục tiêu rộng hơn, mới hơn; chăm lo xây dựng “thế trận lòng dân”, tạo nền tảng vững chắc xây dựng nền quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân. Đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân; đổi mới công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức, trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, của mỗi cán bộ, đảng viên và mọi người dân đối với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, của cả hệ thống chính trị, do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ, lực lượng vũ trang làm nòng cốt trong bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Nguyễn Thanh (tổng hợp)
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
bài rất ý nghĩa
Trả lờiXóa