Thứ Tư, 20 tháng 12, 2023

LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM VÀ NGÀY HỘI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN 22/12

 

22/12 không chỉ là Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà đã trở thành Ngày hội Quốc phòng toàn dân, một ngày kỷ niệm đầy ý nghĩa đối với toàn thể nhân dân Việt Nam.
Tên gọi “Quân đội nhân dân” là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa “từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân phục vụ”.
Tháng 12/1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Chỉ thị nhấn mạnh: "Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền..., đồng thời nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc...".
Ngày 22/12/1944, tại khu rừng thuộc huyện Nguyên Bình (Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chính thức làm lễ thành lập, gồm 3 tiểu đội với 34 chiến sĩ được lựa chọn từ những chiến sĩ Cao-Bắc-Lạng, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.
Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm chính trị viên, đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách Kế hoạch - Tình báo, đồng chí Vân Tiên (Lộc Văn Lùng) quản lý. Đội có chi bộ Đảng lãnh đạo.
Chỉ có 34 người, với 34 khẩu súng các loại nhưng đó là những chiến sĩ kiên quyết, dũng cảm trong các đội du kích Cao-Bắc-Lạng, Cứu quốc quân,... là con em các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, chí căm thù địch rất cao, đã siết chặt họ thành một khối vững chắc, không kẻ thù nào phá vỡ nổi.
Sau lễ thành lập, đội tổ chức một bữa cơm nhạt không rau, không muối để nêu cao tinh thần gian khổ của các chiến sĩ cách mạng, đội tổ chức “đêm du kích” liên hoan với đồng bào địa phương để thắt chặt tình đoàn kết quân dân.
Chấp hành chỉ thị “phải đánh thắng trận đầu”, ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt (17h ngày 25/12/1944) và sáng hôm sau (7h ngày 26/12/1944) đột nhập đồn Nà Ngần, tiêu diệt gọn 2 đồn địch, giết chết 2 tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.
Hai trận đánh đồn Phai Khắt, Nà Ngần thắng lợi đã mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của quân đội ta suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.
Từ ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân luôn phát triển và trưởng thành. Ngày 22/12/1944 được xác định là Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của một tổ chức quân sự mới của dân tộc ta. Một quân đội "của dân, do dân, vì dân"; luôn gắn bó máu thịt với dân, luôn luôn được dân tin yêu, đùm bọc.
Năm 1989, theo chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và quyết định của Chính phủ, ngày 22/12 hàng năm không chỉ là ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là ngày Hội quốc phòng toàn dân.
Từ đó, mỗi năm, cứ đến ngày này, toàn dân Việt Nam lại tổ chức các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và quân đội, nhằm tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, giáo dục lòng yêu nước, yêu CNXH, động viên mọi công dân chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng Quân đội, bảo vệ Tổ quốc./.
ST

BA CHIẾN SĨ CÙNG H.Y S.INH TRONG MỘT TRẬN Đ.ÁNH Ở TUỔI ĐÔI MƯƠI

 

Ba người lính ấy tên Uyển (giữa) – người Hà nội, sinh viên Bách Khoa, Tiến (bên phải) và Thư (bên trái) cùng quê Thái Bình. Họ đã h.y s.inh trong trận đ.ánh vào cứ điểm pháo Pađu. Họ đều là lính đặc công tiểu đoàn 10, Quảng Trị.
Đêm hôm ấy tôi cùng hành quân vào trận với họ ( 29-5-1969) – Trận đ.ánh không thành. Uyển hy sinh nằm vắt trên vòng dây thép gai. Hai người còn lại h.y s.inh khi trận đánh bị lộ.
Khi đất nước vang tiếng bom đạn của k.ẻ t.hù các anh xếp bút mực xanh rồi băng mình vào gian khó với lòng nhiệt thành và tình yêu Tổ quốc trong tim.
Những người lính tuổi 20 đi vào chiến trường như một lẽ tự nhiên, lặng lẽ chia tay mẹ, chia tay người thân với “nước mắt chỉ để dành cho ngày gặp mặt”. M.áu lửa ở phía trước nhưng không mấy ai chùn lòng. Rất nhiều người đã nằm lại với những mảnh đất lành quê hương. Nằm lại trong lòng đất mẹ khi mới ở tuổi đôi mươi nhưng các anh là cả một thế hệ đi cùng đất nước hôm nay. Sự h.y s.inh của họ viết nên trang sử vẻ vang của dân tộc.
Bức ảnh chụp trước lúc đơn vị làm lễ truy điệu và tuyên thệ của các anh. (Truy điệu những người trong mũi cảm tử đánh vào trung tâm)...
ST

THÂN THIỆN BỘ ĐỘI VIỆT NAM

 Trong 4 năm qua, dù học tập ở Đoàn 871, Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật (VHNT) Quân đội hay thực tập ở Báo Quân đội nhân dân (QĐND), ở đâu chúng tôi cũng nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, động viên nhiệt tình, thân thiết của những người đồng chí, đồng đội, thầy cô Việt Nam.

Người Việt Nam luôn coi chúng tôi như anh em một nhà. Tôi cảm thấy Việt Nam giống như quê hương thứ hai của mình. Sau khi học xong và trở về nước Lào, chắc chắn tôi sẽ nhớ nhà trường, nhớ các thầy, cô giáo và các bạn bộ đội Việt Nam đã dành tình cảm yêu thương, thân thiết cho tôi khi học tập ở Việt Nam.
Tôi sinh ra và lớn lên tại xã Yone, huyện Paek, tỉnh Xiêng Khoảng (nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào). Năm 2013, tôi nhập ngũ vào Báo Quân đội nhân dân Lào. Đến đầu tháng 9-2019, tôi có cơ hội được cử sang học tập tại Việt Nam.
Lần đầu tiên đến Việt Nam, tôi không khỏi bỡ ngỡ vì chưa biết tiếng Việt, khó có thể giao tiếp với người Việt. Thời gian đầu, khi được học tập tiếng Việt tại Đoàn 871 (Tổng cục Chính trị), tôi không khỏi lúng túng. Nhiều hôm tôi ăn không ngon, ngủ không yên vì lo lắng cho việc học tập và cảm thấy buồn nên có ý định xin về nước. Nhưng sau một thời gian, được sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của các thầy, cô giáo, các bạn học viên cùng lớp và sự nỗ lực của bản thân, tôi dần làm quen với môi trường học tập mới, việc học tiếng Việt ngày càng tốt hơn. Sau một năm học tiếng Việt tại Đoàn 871, tôi được chuyển sang học ngành báo chí tại Trường Đại học Văn hóa Nghệ thuật Quân đội từ tháng 8-2020.
Thời gian đầu học tập tại trường, dù đã biết tiếng Việt song chưa thạo, trong khi tôi chưa bao giờ học về báo chí, lại chưa có kinh nghiệm về nghề làm báo nên chất lượng học tập của tôi ban đầu chưa tốt. Vì thế, tôi càng phải cố gắng học tập. Nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của Khoa Văn thư lưu trữ và Báo chí, các thầy, cô giáo, tôi không chỉ được học chuyên môn nghiệp vụ báo chí mà còn được giao lưu tiếng Việt với các bạn Việt Nam cũng như học ngoại khóa, chơi thể thao, giao lưu văn hóa-văn nghệ và tham gia các sự kiện, chương trình của nhà trường tổ chức. Đây là cơ hội giúp tôi tăng cường khả năng sử dụng tiếng Việt và tiếp thu được nhiều bài học bổ ích.
Vào cuối kỳ I, đầu kỳ II của năm học 2020-2021 là khoảng thời gian mà tôi và các bạn học viên không được về Lào thăm gia đình vì lúc ấy dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên thế giới và ở Việt Nam. Do vậy, tôi phải học online qua điện thoại, qua máy vi tính với các thầy cô. Tôi có cơ hội được ở lại Việt Nam và tham gia ăn Tết Nguyên đán nên có điều kiện hiểu biết về phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Vào năm học thứ ba, sau khi dịch Covid-19 kết thúc, trong kỳ học này, tôi cùng các bạn học viên Lào trở lại học tập bình thường và có nhiều giảng viên báo chí ở ngoài trường vào dạy trực tiếp cho chúng tôi. Chúng tôi được học nhiều và học sâu hơn về các thể loại báo chí như: Báo in, phát thanh, truyền hình và báo điện tử. Vào năm học thứ tư, tôi được học nhiều hơn về thể loại truyền hình, học cách viết kịch bản, tăng cường kỹ năng và khả năng ghi hình, cắt dựng. Từ đó tôi càng hiểu thêm về công việc làm báo của phóng viên chuyên nghiệp.
Cuối tháng 11-2023, nhóm 8 học viên Lào chúng tôi được đi học tập kinh nghiệm thực tế viết báo tại Báo Quân đội nhân dân. Tôi được phân công về tìm hiểu thực tế làm báo tại Phòng biên tập Văn hóa-Thể thao, Báo Quân đội nhân dân. Tôi nhận được sự thăm hỏi, động viên thân tình của các anh chị em phóng viên. Tôi được đồng chí Đại tá Nguyễn Văn Hải, Trưởng phòng biên tập Văn hóa-Thể thao trực tiếp trao đổi, gợi ý về công việc viết báo chuyên nghiệp. Đại tá Nguyễn Văn Hải kể cho tôi nghe về việc đồng chí đã được sang thăm, công tác, tác nghiệp tại nhiều đơn vị Quân đội nhân dân Lào trong dịp kỷ niệm 65 năm Ngày truyền thống Quân đội nhân dân Lào (20-1-1949 / 20-1-2014). Sau đó, đồng chí Hải đưa cho tôi những tác phẩm đồng chí viết về truyền thống anh hùng của Quân đội nhân dân Lào, gồm vệt 3 bài ghi chép “65 mùa Chăm-pa nở hoa” (đăng Báo Quân đội nhân dân Hằng ngày, từ ngày 11 đến 13-1-2014); phóng sự ảnh “Đẹp lắm Chăm-pa xanh” (đăng Báo Quân đội nhân dân Cuối tuần, ngày 12-1-2014); “Bạn bè là nghĩa tương tri” (đăng Nguyệt san Sự kiện và Nhân chứng, số tháng 2-2014). Những tác phẩm của đồng chí Nguyễn Văn Hải viết về bộ đội Lào không chỉ có nội dung tốt mà còn thể hiện tình cảm sâu nặng của tác giả đối với cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Lào. Nhờ đó, tôi vừa có cơ hội được học thêm cách viết báo, vừa có điều kiện trau dồi, nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt.
Trong 4 năm qua, dù học tập ở Đoàn 871, Trường Đại học VHNT Quân đội hay thực tập ở Báo Quân đội nhân dân, ở đâu chúng tôi cũng nhận được sự quan tâm, giúp đỡ, động viên nhiệt tình, thân thiết của những người đồng chí, đồng đội, thầy cô Việt Nam. Vì người Việt Nam luôn coi chúng tôi như anh em một nhà. Do vậy, tôi luôn biết ơn sự giúp đỡ quý báu đó.../.
St

MỖI NGƯỜI DÂN NÊU CAO TINH THẦN TRÁCH NHIỆM PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY

 Cục Cảnh sát phòng cháy chữa cháy và cứu nạn cứu hộ, Bộ Công an (C07) vừa đưa ra khuyến cáo bảo đảm an toàn PCCC dịp Tết Nguyên đán.

Những ngày giáp tết Nguyên đán đang đến gần, các cơ sở sản xuất, kinh doanh tăng cường sản xuất để hoàn thành kế hoạch; nguyên vật liệu, hàng hóa tập kết lớn, việc tiêu thụ điện, nhiên liệu tăng cao. Đây cũng là thời điểm miền Bắc bước vào mùa hanh khô, độ ẩm trong không khí giảm mạnh, vật liệu khô nỏ rất dễ bắt cháy càng làm nguy cơ cháy, nổ tăng cao, dễ xảy ra những vụ cháy lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng.
Để bảo đảm an toàn phòng cháy, chữa cháy (PCCC), Cục Cảnh sát PCCC và CNCH, Bộ Công an (C07) khuyến cáo các biện pháp nhằm bảo đảm an toàn PCCC dịp Tết Nguyên đán.
Cụ thể, đối với cơ sở sản xuất kinh doanh, người đứng đầu cần quan tâm tổ chức công tác tuyên truyền, nhắc nhở cán bộ công nhân viên và người lao động chấp hành nghiêm nội quy, quy định PCCC; Tăng cường công tác tự kiểm tra, kịp thời khắc phục những thiếu sót có thể phát sinh cháy, nổ; Sắp xếp nguyên vật liệu, hàng hóa cách xa nguồn lửa, nguồn nhiệt; Bảo đảm các điều kiện để lực lượng chữa cháy tại chỗ hoạt động hiệu quả; Tổ chức các ca trực trong quá trình sản xuất và ngoài giờ hành để kịp thời phát hiện và dập tắt cháy ngay khi mới phát sinh, không để xảy ra cháy lớn gây thiệt hại nghiêm trọng.
Đối với các khu dân cư, UBND địa phương cần xây dựng và duy trì hoạt động của lực lượng dân phòng và các mô hình như Tổ liên gia an toàn PCCC, điểm chữa cháy công cộng; Xây dựng phương án chữa cháy và tổ chức cho đội dân phòng thực tập giải quyết các tình huống giả định cháy sát thực tế; Xây dựng cơ chế phối hợp cùng các lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH, Công an, Điện lực, cấp nước, y tế... để giải quyết các tình huống cắt điện, cấp nước chữa cháy, cứu thương, giao thông...
Đối với các khu vực có nguồn nước tự nhiên cần xây dựng bến lấy nước để phục vụ công tác chữa cháy...
Đối với các hộ gia đình, cần thường xuyên kiểm tra hệ thống điện, các thiết bị điện, bếp đun… để kịp thời khắc phục những nguy cơ gây cháy; Tắt nguồn lửa và ngắt các thiết bị điện khi không sử dụng; Cẩn trọng trong việc thắp hương, đốt vàng mã; Trang bị phương tiện cảnh báo cháy sớm, báo rò rỉ khí gas, bình chữa cháy xách tay, xà beng, nước chữa cháy và hướng dẫn các thành viên trong gia đình cách sử dụng; chuẩn bị và thực hành phương án thoát nạn cho người và tài sản đề phòng cháy xảy ra.
Đặc biệt, đối với mỗi người dân, cần nêu cao tinh thần trách nhiệm trong công tác PCCC và CNCH, tự trang bị kiến thức, kỹ năng về PCCC và CNCH; thực hiện nghiêm các quy định, nội quy an toàn PCCC và CNCH. Khi phát hiện cháy phải nhanh chóng báo động cho mọi người xung quanh; ngắt nguồn điện; sử dụng phương tiện chữa cháy ban đầu để dập lửa, đồng thời báo ngay cho lực lượng Cảnh sát PCCC và CNCH số điện thoại 114 và tích cực tham gia chữa cháy, cứu người, cứu tài sản./.
St

TƯ TƯỞNG NHẤT QUÁN, XUYÊN SUỐT VỀ ĐƯỜNG LỐI NGOẠI GIAO VIỆT NAM

 Cuốn sách Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam" (Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ra mắt bạn đọc là sự kiện có ý nghĩa quan trọng.

Nội dung cuốn sách gồm ba phần. Phần thứ nhất: Vai trò quan trọng và đóng góp to lớn của công tác đối ngoại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Phần thứ hai: Ðối ngoại Việt Nam vì độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; Phần thứ ba: Dấu ấn đối ngoại, ngoại giao.
Cuốn sách đã nhìn lại chiều dài lịch sử của dân tộc, nhất là hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam, quá trình kế thừa, phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa của nhân loại, kiên định vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, và hình thành trường phái đối ngoại, ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam", đó là "gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển, thấm đượm tâm hồn, cốt cách, khí phách của dân tộc Việt Nam".
Những bài viết trong cuốn sách bao hàm giá trị cả về lý luận và thực tiễn, thể hiện đường lối và bản sắc đối ngoại, ngoại giao của Ðảng, đúc kết tư tưởng cốt lõi của đối ngoại, ngoại giao Việt Nam xuyên suốt lịch sử dân tộc mà đỉnh cao là nền ngoại giao thời đại Hồ Chí Minh; phương pháp luận trong đánh giá tình hình thế giới, nhận diện đặc điểm của thời đại, cơ hội, thách thức và ứng xử của Việt Nam trong từng giai đoạn lịch sử. Mỗi bài viết thể hiện tầm nhìn, tư duy, quan điểm chỉ đạo chiến lược toàn diện của đồng chí Tổng Bí thư. Cuốn sách thể hiện tư tưởng nhất quán, xuyên suốt của người đứng đầu Ðảng ta về đường lối đối ngoại, ngoại giao Việt Nam trong thời kỳ đổi mới; là minh chứng cho bước trưởng thành, phát triển về tư duy và thành tựu của đối ngoại, ngoại giao Việt Nam.
Bên cạnh đó, nội dung cuốn sách cũng thể hiện mạnh mẽ sự đồng tình, ủng hộ, cổ vũ của các tầng lớp nhân dân, đại biểu Quốc hội, chính khách, học giả nước ngoài đối với công tác đối ngoại, ngoại giao của Việt Nam.
Việc xuất bản cuốn sách Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam" của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một đóng góp to lớn, góp phần hoàn thiện hệ thống lý luận, cơ sở thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta.
Cuốn sách cần được nghiên cứu xuất bản bằng một số tiếng nước ngoài để giới thiệu đến bạn bè quốc tế.
Việc tuyên truyền, nghiên cứu quán triệt cuốn sách trên là hết sức cần thiết, có ý nghĩa quan trọng nhằm đưa những nội dung, tư tưởng lớn về đối ngoại, ngoại giao của Ðảng và Nhà nước ta vào cuộc sống có hiệu quả, tiếp tục xây dựng nền ngoại giao Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.
St

NHẬN DIỆN VÀ PHÒNG, CHỐNG HOẠT ĐỘNG “BẤT TUÂN DÂN SỰ” Ở NƯỚC TA

 Hiểu theo nghĩa phổ thông, “bất tuân dân sự” là hoạt động phản kháng bất bạo động nhằm công khai từ chối tuân theo, hoặc vi phạm một cách cố ý và có ý thức các chủ trương, chính sách, quy định pháp luật, gây cản trở quá trình thực thi chính sách, luật pháp của Nhà nước. Ở Việt Nam, những năm qua, các thế lực thù địch đã triệt để sử dụng hoạt động "bất tuân dân sự" nhằm gây mất ổn định an ninh chính trị (ANCT), trật tự, an toàn xã hội (TTATXH).

Ra đời từ rất sớm (thế kỷ 19), thuật ngữ "bất tuân dân sự" (hay còn gọi là chống đối chính phủ dân sự) lần đầu tiên xuất hiện trong một bài luận với nhan đề "Dân sự bất hợp tác" của nhà văn người Mỹ, Henry David Thoreau vào tháng 5-1849. Thoreau cho rằng, cá nhân có thể không tuân thủ, không phục tùng nhà nước; thậm chí, có thể chống lại luật pháp của nhà nước nếu thấy những điều luật đó không phù hợp với người dân, kể cả là với thiểu số bằng phương pháp "cách mạng hòa bình".
Thoreau đề cao quyền tự quyết của mỗi cá nhân hơn là sự phục tùng theo đa số, theo cộng đồng và các cá nhân có quyền làm bất cứ điều gì mà họ cho là đúng. Tác giả cho rằng, về bản chất "bất tuân dân sự" chính là “bất tuân nhà nước”. Đến thế kỷ 20, quan điểm của Thoreau về "bất tuân dân sự" đã được phát triển thành phương thức đấu tranh bất bạo động và trở thành một mũi tiến công quan trọng trong chiến lược "diễn biến hòa bình" của chủ nghĩa đế quốc nhằm thay đổi chế độ chính trị ở các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN) và những nước không cùng phe với họ.
Phương thức hoạt động này đã được áp dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới dưới những tên gọi khác nhau như: "Cách mạng màu", "cách mạng đường phố" ở Đông Âu và Liên Xô những năm cuối thế kỷ 20; làn sóng "Mùa xuân Ả Rập" ở các nước Trung Đông và Bắc Phi năm 2010; phong trào chống sửa đổi dự luật dẫn độ tại Hồng Công - Trung Quốc năm 2019...
Qua nghiên cứu thực tiễn cho thấy, "bất tuân dân sự" có mối quan hệ chặt chẽ với các tổ chức “xã hội dân sự”. Các nước phương Tây luôn coi hình thành “xã hội dân sự” là điều kiện, tiền đề cho việc cổ xúy tự do cá nhân, lấy "bất tuân dân sự" làm phương thức cơ bản để lật đổ chế độ chính trị ở một quốc gia. Có thể thấy "bất tuân dân sự" mang một số đặc trưng cơ bản như sau:
Thứ nhất, về mục đích và hình thức thể hiện: Thông qua việc từ chối tuân theo hay vi phạm một cách cố ý các quy định của pháp luật hoặc cản trở việc thực thi chính sách, pháp luật; các đối tượng thực hiện “bất tuân dân sự" nhằm mục đích cuối cùng là vô hiệu hóa hoạt động của chính quyền, tiến tới lật đổ nhà nước, thay thế bằng một chế độ chính trị mới theo mô hình của chủ nghĩa tư bản.
Để che giấu mục đích đó, các thế lực thù địch thường che đậy, ngụy trang dưới những vỏ bọc khác nhau, như: Tụ tập, tuần hành nhằm “phản kháng ôn hòa, bất bạo động”, “biểu tình ôn hòa”. Ở Việt Nam, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo hoặc lợi dụng những vấn đề chính trị-xã hội phức tạp, nhạy cảm liên quan đến quyền và lợi ích của con người để lôi kéo, kích động, thu hút đông đảo người dân tham gia các hoạt động với mưu đồ được gọi là đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, bảo vệ môi trường, bảo vệ chủ quyền biển, đảo, trả lại đất đai cho người dân... thực chất là để thực hiện “bất tuân dân sự” nhằm chống lại Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Thứ hai, về chủ thể tiến hành, các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị và những người dân có trình độ thấp, ngộ nhận, có bức xúc, mâu thuẫn với chính quyền, bị lừa bịp, mua chuộc tham gia; đứng sau hậu thuẫn là các cá nhân, tổ chức phản động lưu vong do phương Tây hậu thuẫn lập ra như: “Việt Tân”, “Hội anh em dân chủ”, “Hội văn đoàn độc lập Việt Nam”, “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam”, “Mạng lưới Blogger Việt Nam”... giữ vai trò chỉ đạo, tài trợ kinh phí, đào tạo, huấn luyện phương thức hoạt động cho các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, đối tượng hình sự trong nước... trở thành cộm cán thu hút, lôi kéo, tập hợp người dân tham gia các hoạt động “bất tuân dân sự”.
Số đối tượng trong nước ráo riết thu thập tình hình, phát triển lực lượng, hình thành các hội/nhóm hoạt động theo hình thức “bất bạo động”. Các thế lực thù địch thông qua mạng xã hội, internet để tuyên truyền, vận động thu hút, lôi kéo người dân tham gia các hoạt động “bất tuân dân sự” do chúng chỉ đạo.
Thứ ba, về thời điểm, các thế lực thù địch đặc biệt lợi dụng thời điểm trong nước diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng như: Đại hội Đảng toàn quốc, bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND; thời điểm có các đoàn nguyên thủ quốc tế đến thăm và làm việc tại Việt Nam; lợi dụng bối cảnh tình hình thế giới, khu vực diễn biến phức tạp, xuất hiện những vấn đề nhạy cảm về chính trị, kinh tế, tranh chấp chủ quyền lãnh thổ giữa các quốc gia... để kích động, lôi kéo người dân tham gia “bất tuân dân sự” và đưa ra những yêu sách, như: “Đòi bảo vệ chủ quyền, môi trường”, đòi “tự do tôn giáo”, “dân chủ, nhân quyền”... gây phức tạp về an ninh trật tự tại địa phương. Khi gặp thời điểm thuận lợi và đủ điều kiện chín muồi, các thế lực thù địch có thể chuyển hóa từ hình thức bất bạo động thành bạo động rất nhanh chóng.
Khi đó, các đối tượng cộm cán, cầm đầu kêu gọi, kích động những người tham gia đấu tranh “ôn hòa, bất bạo động” tiến hành các hoạt động bạo loạn như đập phá tài sản nhà nước và công dân; chiếm trụ sở chính quyền; bắt giữ người thi hành công vụ; cản trở hoạt động bình thường của xã hội... qua đó nhằm thực hiện kịch bản “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố” xâm phạm ANCT, TTATXH ở địa phương. Điển hình như vụ người dân phản đối trạm BOT Cai Lậy (Tiền Giang) năm 2017; vụ tụ tập đông người tại Bình Thuận, Bình Dương, Đồng Nai...
Bằng những phương thức và thủ đoạn nêu trên, các đối tượng kích động người dân đập phá trụ sở chính quyền, gây cản trở giao thông, đốt phá tài sản của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân, làm bị thương nhiều cán bộ thực thi nhiệm vụ, gây ngừng trệ hoạt động của các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và người dân, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền và lợi ích của Nhà nước, của công dân và xã hội. Ngoài ra, các thế lực thù địch còn lợi dụng việc các cơ quan chức năng xử lý những người vi phạm pháp luật; các đối tượng phản động, cơ hội chính trị ra sức rêu rao, xuyên tạc rằng Việt Nam “đàn áp” những người biểu tình ôn hòa, yêu nước và kêu gọi cộng đồng quốc tế can thiệp.
Để đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả với hoạt động “bất tuân dân sự” nhằm chống phá nước ta, cần thực hiện một số giải pháp trọng tâm như sau:
Một là, các cơ quan chức năng cần tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên và người dân về âm mưu, thủ đoạn, hoạt động của các thế lực thù địch lợi dụng “bất tuân dân sự” để xâm phạm ANCT, TTATXH; về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác phòng ngừa, đấu tranh ngăn chặn hoạt động “bất tuân dân sự” chống phá ta, coi đó là trách nhiệm của tất cả các cấp, các ngành và các tầng lớp nhân dân để huy động sự tham gia của cả xã hội trong công tác phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh với hoạt động này. Quan tâm, đẩy mạnh công tác vận động quần chúng và tranh thủ chức sắc tôn giáo, người có uy tín trong tôn giáo, dân tộc thiểu số, phát huy tác dụng của các tổ chức, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trong phòng ngừa, đấu tranh với hoạt động “bất tuân dân sự”.
Hai là, tiếp tục nâng cao chất lượng công tác nắm tình hình, phân tích, dự báo kịp thời mọi âm mưu, hoạt động lợi dụng dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo... của các thế lực thù địch hòng kích động, lôi kéo nhân dân tham gia "bất tuân dân sự" để triển khai các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh. Nắm tình hình tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để tham mưu, đề xuất các cơ quan chức năng giải quyết triệt để, thỏa đáng trên cơ sở pháp luật. Kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, dân tộc... để khắc phục; đồng thời phối hợp giải quyết dứt điểm các điểm nóng về an ninh trật tự ngay từ cơ sở, không để kéo dài, không lây lan, vượt cấp.
Ba là, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế-xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao chất lượng đời sống, bảo đảm an sinh xã hội, đặc biệt là đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, bảo đảm tốt các quyền tự do dân chủ của người dân, giải quyết tốt các vụ việc phức tạp liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của nhân dân, tránh tạo sơ hở để bên ngoài lợi dụng xuyên tạc, kích động chống phá. Xây dựng và củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở bảo đảm thực hiện tốt các chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước ở địa phương. Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp; tăng cường đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Tiếp tục tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, bảo đảm ANCT, TTATXH ở các địa phương, nhất là các địa bàn vùng sâu, vùng xa, miền núi.
Bốn là, quán triệt tinh thần giải quyết vấn đề tụ tập đông người, biểu tình, tuần hành theo đúng cơ chế: Đảng lãnh đạo trực tiếp, tuyệt đối và toàn diện; chính quyền quản lý, điều hành; lấy vận động thuyết phục là chính, kiên quyết thu hẹp vụ việc, không để lây lan, kéo dài. Khi phát hiện có tuần hành, tụ tập đông người hay lãn công, đình công, cần nhanh chóng đánh giá đúng tính chất, mức độ, xác định rõ nguyên nhân của vụ việc; thực hiện phân hóa số đối tượng cộm cán, cầm đầu với quần chúng bị dụ dỗ, lôi kéo; tuyên truyền vận động, thuyết phục quần chúng giải tán; kiên quyết xử lý nghiêm theo pháp luật số đối tượng cầm đầu, chủ mưu, cộm cán kích động, lôi kéo người dân tham gia "bất tuân dân sự".
Năm là, tiếp tục tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về tôn giáo, dân tộc, đất đai, chính sách đền bù giải phóng mặt bằng và các quy định về giải quyết khiếu nại, tố cáo. Tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên tham nhũng, xâm phạm quyền và lợi ích của người dân. Các ban, bộ, ngành chức năng thường xuyên rà soát, đánh giá việc thực hiện chính sách, pháp luật về tôn giáo, dân tộc, đất đai, các chính sách bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo để kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với thực tế./.
ST

 ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP VÀ 8 CÂU NÓI KHẮC CỐT GHI TÂM!

Mặc dù đã mãi mãi ra đi, nhưng hình ảnh về vị tướng tài cả đời lo cho dân, cho nước, hy sinh rất nhiều để người dân có được cuộc sống thái bình sẽ mãi mãi sống trong lòng hàng triệu người Việt Nam. Cùng khắc cốt ghi tâm 8 câu nói của Đại tướng Võ Nguên Giáp để tưởng nhớ đến Người anh hùng của Dân tộc.
1. Tôi sống ngày nào, cũng là vì đất nước ngày đó.” - Câu nói được Đại tướng nhắc đến trong ngày vị lão tướng cận kề tuổi 100, khi Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cũng các thành viên Chính phủ đến chúc thọ mong đại tướng giữ gìn sức khỏe, trí tuệ minh mẫn, trường thọ để tiếp tục có những ý kiến đóng góp quý giá cho Đảng và nhà nước.
2 “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; tranh thủ từng phút, từng giờ; xốc tới mặt trận; giải phóng miền Nam; quyết chiến và toàn thắng!”
3. “Mỹ thua ở Việt Nam vì Mỹ không hiểu người Việt Nam.”
4. “Giải phóng dân tộc là nghĩa vụ thiêng liêng nhất của mỗi người Việt Nam yêu nước, của toàn thể dân tộc Việt Nam. Nhân dân chúng tôi quyết tâm chiến đấu bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam và thực hiện hòa bình, thống nhất Tổ quốc.”
5. "Từ lo sợ không có trong tư duy quân sự Việt Nam” - Vào ngày 9/11/1995, tại nhà khách Bộ Quốc phòng (phố Phạm Ngũ Lão, Hà Nội), Đại tướng Võ Nguyên Giáp và ông Robert McNamara (cựu Bộ trưởng quốc phòng Mỹ) gặp nhau. Khi phía Mỹ đưa ra câu hỏi: “Những hành động quân sự nào của Mỹ làm tướng Giáp lo sợ nhất và vào những thời điểm nào?” Câu nói này đã được Đại Tướng nói ra và trở thành câu nói khắc cốt ghi tâm trong lòng người Việt.
6. “Nghệ thuật quân sự của chúng tôi, là lấy tinh thần chế ngự vật chất, lấy yếu chế ngự mạnh, lấy thô sơ chế ngự hiện đại. Chúng tôi đánh bại quân đội đế quốc hiện đại bằng tinh thần yêu nước của nhân dân cùng với chủ nghĩa anh hùng Cách mạng.”
7. “Chúng tôi trả lời là từ “lo sợ” không có trong tư duy quân sự của chúng tôi, bởi vì với chúng tôi, không có gì quý hơn độc lập tự do, chúng tôi quyết đánh Mỹ và chúng tôi luôn tin tưởng là sẽ thắng.”
8. “Quân đội Nhân dân Việt Nam ở cả miền Bắc và miền Nam, như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói là một quân đội anh hùng của một dân tộc anh hùng, có tinh thần quyết chiến rất cao, thông minh và sáng tạo. Còn vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là giọt nước trong biển cả. Chỉ có nhân dân Việt Nam là người đánh thắng Mỹ. Các ngài gọi tôi là vị tướng thần thoại, nhưng tôi tự nghĩ tôi bình đẳng với những người lính của mình."

Thanh niên học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh

Nhận thức rõ vị trí, vai trò của thanh niên và công tác thanh niên trong thời kỳ mới, Nghị quyết Trung ương 7 (khóa X) khẳng định: “Thanh niên là rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và xây dựng chủ nghĩa xã hội”(5). Mục tiêu đặt ra là: “Tiếp tục xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam giàu lòng yêu nước, tự cường dân tộc; kiên định lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; có đạo đức cách mạng, ý thức chấp hành pháp luật, sống có văn hoá, vì cộng đồng; có năng lực, bản lĩnh trong hội nhập quốc tế; có sức khoẻ, tri thức, kỹ năng và tác phong công nghiệp trong lao động tập thể trở thành những công dân tốt của đất nước”(6).

Thực hiện lời dạy của Chủ tich Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta coi công tác thanh niên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Vì vậy, Đảng thường xuyên chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo, phát triển toàn diện thế hệ trẻ cả về chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa, sức khỏe và nghề nghiệp. Đồng thời tạo mọi điều kiện để thanh niên có việc làm, phát huy tài năng, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Những năm qua, nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng về công tác thanh niên và giáo dục thế hệ trẻ đã được triển khai, đạt nhiều kết quả. Hệ thống pháp luật, công tác quản lý nhà nước về thanh niên ngày càng được hoàn thiện. Giáo dục về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ không ngừng được tăng cường và đổi mới. Nhờ đó trong các thời kỳ cách mạng, thanh niên luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, có tinh thần yêu nước, hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh, kế tục và phát huy truyền thống cách mạng của thế hệ đi trước. Thông qua các hoạt động giáo dục, các cuộc vận động, phong trào thi đua yêu nước đã tạo môi trường lành mạnh để thế hệ trẻ rèn luyện, trưởng thành, góp phần hình thành lý tưởng cách mạng, đạo đức cao đẹp, lối sống nghĩa tình, tuân thủ pháp luật, từng bước hoàn thiện nhân cách. 

Thanh niên Việt Nam ngày nay có hạnh phúc được sinh ra và lớn lên trong hòa bình. Họ đã và đang thừa hưởng những thành quả đấu tranh do cha ông để lại. Họ đang đi theo con đường mà dân tộc, Đảng, Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Họ cũng đang tiếp tục thực hiện những quan điểm định hướng cho việc giáo dục đào tạo thanh niên của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xứng đáng trở thành những chủ nhân tốt của đất nước trong giai đoạn cách mạng mới. Nhìn chung, thế hệ trẻ Việt Nam được chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục ngày một tốt hơn; phần lớn thanh niên tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường phát triển của đất nước, sống có trách nhiệm với Tổ quốc, gia đình và bản thân, có ước mơ, hoài bão, kiến thức, kỹ năng, sức khỏe tốt, tư duy năng động, sáng tạo, lạc quan, tự tin, dám nghĩ, dám làm; có nhiều đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần “Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên”, thanh niên ngày nay đã phát huy truyền thống, hăng hái, sôi nổi, đi đầu trong các phong trào thi đua sôi nổi, như các phong trào: “thanh niên lập nghiệp”, “tuổi trẻ giữ nước”, “thanh niên tình nguyện”..., góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Thế hệ thanh niên ngày nay đã kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng của Đảng. Trên các lĩnh vực của đời sống xã hội đã và đang xuất hiện những nhà quản lý, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học, nhà hoạt động nghệ thuật có đức, có tài trong độ tuổi thanh niên. Nét nổi bật của thanh niên nước ta là ý chí vươn lên, tinh thần cần cù, sáng tạo trong lao động sản xuất, ham mê nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ để thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, làm giàu cho bản thân, gia đình và xã hội.

Tuyệt đại bộ phận thanh niên vẫn là cánh tay đắc lực của Đoàn, cơ bản giữ vững đạo đức cách mạng, sống trong sạch, giản dị, lành mạnh, biết vươn lên. Thanh niên sống có hoài bão, có lý tưởng, có niềm tin ở tương lai tươi sáng của dân tộc. Họ dám đấu tranh để bảo vệ cái đúng, bảo vệ lẽ phải, bảo vệ sự công bằng, lên án cái xấu, cái ác như tham nhũng, lãng phí… Những tấm gương cao đẹp hy sinh thân mình vì hạnh phúc của nhân dân luôn được tuổi trẻ ngưỡng mộ, học tập và làm theo. Điều đó cho thấy, thanh niên nước ta ngày nay vẫn ý thức rõ trách nhiệm trước Tổ quốc và nhân dân, mong muốn được đóng góp vào công việc xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn như Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mong ước.

Tuy nhiên, mặt trái của kinh tế thị trường, những thách thức của hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt những âm mưu thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch đang tác động mạnh mẽ đến thanh niên, khiến cho không ít người chạy theo lối sống thực dụng, sa ngã, xa rời các giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc; có thái độ thờ ơ, bàng quan trước các sự kiện kinh tế, chính trị của đất nước, không muốn tham gia vào các hoạt động chính trị - xã hội, không muốn phấn đấu vào Đoàn, vào Đảng. Một số thanh niên phạm vào các tệ nạn xã hội, vi phạm pháp luật. Nhiều vụ án được khám phá trong thời gian gần đây cho thấy tỷ lệ phạm tội trong thanh niên có chiều hướng gia tăng. Điều nguy hiểm hiện nay là đã xuất hiện một bộ phận thanh niên tôn thờ chủ nghĩa cá nhân, sống ích kỷ, chạy theo lợi ích vật chất, coi trọng đồng tiền; tỏ ra lười học tập và rèn luyện, không có động cơ học tập đúng đắn, thiếu sự tự giác phấn đấu rèn luyện…

Một số giải pháp tăng cường rèn luyện đạo đức cách mạng cho thanh niên hiện nay

Để thực hiện lời dạy của Bác Hồ về rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng và đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc cho thanh niên trong giai đoạn hiện nay, tác giả xin đề xuất một số giải pháp cơ bản sau:

Một là, quán triệt sâu sắc hơn nữa chủ trương của Đảng, Nhà nước về vị trí, vai trò của thế hệ trẻ theo tinh thần Chỉ thị số 42-CT/TW, ngày 24-3-2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ, giai đoạn 2015-2030”. Tổ chức đoàn, hội chủ động phối hợp với nhà trường, gia đình và xã hội trong việc giáo dục đạo đức cách mạng, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ. Trước những diễn biến của thời đại ngày nay, cần chú trọng nội dung giáo dục thanh niên về bản lĩnh chính trị, đạo đức, lối sống; tăng cường giáo dục cho thanh niên nắm vững tính cách mạng, khoa học những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của dân tộc; về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; về truyền thống yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần quốc tế trong sáng của thanh niên; về thân thế, sự nghiệp, tư tưởng và tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; về truyền thống vẻ vang của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh.

Hai là, đẩy mạnh xây dựng, củng cố tổ chức đoàn vững mạnh, làm cơ sở để thực hiện tốt chức năng giáo dục thanh niên. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh “phải là cánh tay đắc lực của Đảng trong việc tổ chức và giáo dục thế hệ thanh niên và nhi đồng thành những chiến sĩ tuyệt đối trung thành với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(7). Để tập hợp, thu hút được đông đảo thanh niên, trước hết, Đoàn phải chủ động xây dựng chương trình hành động, kế hoạch công tác ngay từ đầu năm, ký kết chương trình liên tịch phối hợp hoạt động với các tổ chức đoàn thể - hội nhằm cụ thể hóa nghị quyết của cấp ủy đảng, lãnh đạo của địa phương, đơn vị mình và của đoàn cấp trên, nghị quyết đại hội đoàn cấp mình. Chủ động tham mưu cho cấp ủy đảng về cơ chế, nội dung trong công tác đoàn và phong trào thanh niên, trong chỉ đạo các hoạt động phối hợp giữa các tổ chức đoàn thể, hội để thực hiện tốt công tác thanh niên; đặc biệt, phải chủ động nắm chắc tình hình, diễn biến tư tưởng, nhu cầu tâm tư, nguyện vọng, thắc mắc, đề xuất của từng đoàn viên thanh niên để khuyến khích thanh niên tự giác tham gia các hoạt động đoàn.

Ba là, tăng cường giáo dục cho thanh niên hiểu rõ âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với cách mạng Việt Nam và những ảnh hưởng tiêu cực của nền kinh tế thị trường; giáo dục, xây dựng tình bạn, tình yêu chân chính, trong sáng, lành mạnh; xây dựng ý thức công dân, chấp hành pháp luật, tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giá trị nhân văn cao đẹp của con người Việt Nam..., làm cho thanh niên có nhận thức đúng đắn, sâu sắc về những vấn đề lý luận, thực tiễn xã hội đặt ra, củng cố niềm tin vững chắc vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Bốn là, gắn bồi dưỡng đạo đức cách mạng cho thanh niên với các phong trào thực tiễn. Đặc biệt là triển khai hiệu quả ba phong trào hành động cách mạng: “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc” cho phù hợp với đặc thù của từng nhóm thanh niên ở từng cơ quan, đơn vị, địa phương. Cùng với đó, các cấp ủy, chính quyền và nhất là tổ chức đoàn các cấp cần tổ chức và có cơ chế khuyến khích thanh niên tích cực hơn nữa trong việc tham gia vào các hoạt động có ích cho xã hội như: giúp đỡ người neo đơn, hiến máu nhân đạo, thanh niên tình nguyện, các hoạt động uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa... Tham gia những hoạt động đó sẽ cho giúp thanh niên sống đẹp hơn, có ý nghĩa hơn cho bản thân và có ích cho cộng đồng. 

Năm là, các cấp ủy đảng, tổ chức đoàn cần phát huy vai trò của thanh niên trong tự học tập, tự tu dưỡng đạo đức, lối sống, hình thành cho thanh niên nhu cầu, động cơ phấn đấu, rèn luyện đúng đắn, làm cho mỗi người có ý thức làm chủ, ham học hỏi, cầu tiến bộ, vươn lên tự khẳng định mình. Cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để thanh niên phấn đấu, rèn luyện; đồng thời phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả, định hướng phấn đấu cho thanh niên. Bên cạnh đó, cần quan tâm đáp ứng những nhu cầu chính đáng của thanh niên về vật chất, tinh thần; giao nhiệm vụ phù hợp với sở trường, năng khiếu đặc điểm tâm, sinh lý của họ sẽ tạo điều kiện tốt để thanh niên rèn luyện đạo đức, lối sống.

Mỗi thanh niên cần xác định rõ trách nhiệm trước Tổ quốc và nhân dân, sống có lý tưởng, có hoài bão, khát khao vươn tới cái mới, cái tiến bộ. Bản thân mỗi người tự giác rèn luyện, biết tự kiềm chế, biết vượt qua những cám dỗ và tiêu cực xã hội, những biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, thực dụng. Thanh niên cần phải tự tin vào chính mình, giữ vững niềm tin trong cuộc sống, vào các giá trị chân, thiện, mỹ; vượt qua mọi khó khăn gian khổ như Bác Hồ đã dạy: “gian nan rèn luyện mới thành công”.

THƯỞNG TẾT CHO BỘ ĐỘI NÊN HAY KHÔNG NÊN?

     Cứ mỗi độ Xuân về, khắp nơi râm ran chuyện thưởng Tết. Có nơi ấn định thời gian trước cả vài tháng. Có anh thưởng cả tỷ đồng, nơi vài trăm triệu…  Người ta đua nhau rời bỏ chỗ này, tìm việc nơi khác (miễn sao lương, thưởng tốt). Nhưng với những người lính thì không có sự lựa chọn đó. Nhìn vào số tiền mà nhiều người được thưởng; nhiều người phải tích góp cả đời mới có. Đây là niềm mơ ước với những người lính.

Từ vùng núi xa xôi, từ cực Nam của Tổ quốc… Nếu làm một cuộc hành hương về thăm quê cha, đất tổ ở phía Bắc; gia đình người lính phải nhịn ăn, thắt chặt chi tiêu khoảng 2 năm. 

Nhiều người sẽ nói sao lại như vậy? Xin làm một phép tính như sau: Lương của một người có quân hàm Thiếu tá khoảng 10 triệu đồng (mức trung bình của SQ và QNCN). Thu nhập khác: Không có. Nuôi 1 đứa con học đại học hết 3 triệu, cháu thứ 2 học phổ thông 2 triệu/ tháng (mức chi tiêu tối giản). Tiền điện, nước, ga 1,5 triệu. Tiền ăn cho cả nhà 2 triệu. Chưa kể đình, đám, ốm đau đã hết tháng lương. Một chuyến về quê tính nhanh tiền vé tàu cho 4 người/lượt hết khoảng 8 triệu, quà bánh, mừng tuổi, tiền quay vào đơn vị ... dù "thắt lưng, buộc bụng" cũng không dưới 30 triệu một lần về quê. Đến đây chắc mọi người hiểu là tại sao phải tiết kiệm ít nhất 2 năm với về được quê.

Từ lâu nay (từ lời của những ông nghị) bộ đội là “nghề lương cao”. Lương có cao thật không? Xin thưa: Không. Thậm chí là rất rất thấp. Thời điểm hiện tại thì thấp hơn nhiều so với mức thu nhập bình quân của xã hội. Ở các đơn vị cơ sở thì cán bộ phải bám bộ đội 24/7 (thời gian dành cho gia đình thậm chí rất hạn hẹp). Nhiều đồng chí cấp trên thương anh em đã phải gay gắt: “Tuyệt đối không được để anh em phải trực tết 2 năm liền”… Mỗi độ Xuân về, cố gắng lắm cũng chỉ có thể dành cho cán bộ cấp dưới 400-500 tiền quà (gọi là sản phẩm tăng gia để động viên tinh thần). 

Bên ngoài họ thưởng Tết theo tiêu chí gì? Đương nhiên là giá trị chất xám và đóng góp của cá nhân đó với doanh nghiệp. Vậy người lính có đóng góp gì trong đó không? Tất nhiên là có. Đó là môi trường hoà bình, ổn định để GDP tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước. 

Nên chăng, Chính phủ và Bộ LĐTBXH nên có cái nhìn khách quan để động viên bộ đội (chí ít mỗi khi Tết đến, Xuân về nên cho mỗi người 1 tháng lương tối thiểu). Số tiền đó không nhiều nhưng sẽ giúp anh em có thêm một khoản chi tiêu cần thiết và là sự cổ vũ lớn lao nhất để họ sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn, gian khổ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÁC HỒ VỚI CỤ PHAN CHU TRINH!

     Ngày 5-6-1911, Nguyễn Tất Thành với cái tên là Ba rời Sài Gòn và ngày 15-7-1911 đến cảng Lơ Havơrơ (Le Havre) còn Phan Châu Trinh rời Sài Gòn ngày l-4-1911 và đến Pháp vào ngày 27-4 cùng năm, ngụ tại Pari. Khoảng cách giữa Lơ Havơrơ và Pari - nơi cụ Phan đang sống - chỉ có hơn 100 cây số, đi lại dễ dàng…Chắc chắn trong dịp này Người đã tranh thủ đến Pari gặp cụ Phan, làm quen với những người quanh Cụ, và đặc biệt để bàn bạc với Cụ về hướng sống và học tập. Và có thể không phải chỉ đến một lần...

Có ba bức thư với thủ bút của Tất Thành mà cụ Phan còn giữ được đem về nước năm 1925 và gia đình đã gửi ra Việt Bắc tặng Trung ương trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nay lưu tại Bảo tàng Hồ Chí Minh… Có lẽ do yêu cầu bảo mật các thư đều không được ghi ngày tháng nhưng có thể phán đoán bức thư sau đây đã được viết vào dịp trên. Nguyên văn như sau:
 
“Hy Mã nghi bá đại nhơn,
Cách đây không tiếp được tôn tín, không hay Bác hành chỉ thế nào và sự thể bên ta thế nào? Và cháu muốn biết như cháu có thể gặp Bác trước lúc Bác đi hay không, vì cháu rất cần một ít lời tôn hội, xin Bác trả lời liền cho cháu vì chừng trong tuần lễ cháu sẽ xuống tàu “đi chưa biết đâu”. Kính chúc Bác, M.Trường và em Dật và các đồng bào yên hảo”.
 
C.Đ: Tất Thành
10. Orchard Place
Southampton England
Theo lời thư trên đây thì: Tất Thành biết rõ tình hình cụ Phan đang bị Bộ Thuộc địa ép phải đi khỏi Pari nên yêu cầu Cụ trả lời ngay để đến gặp chỉ trong vòng một tuần lễ... Do đó có thể đoán là mặc dù ghi địa chỉ ở Anh nhưng lúc đó Tất Thành không phải ở Anh mà thực ra đang ở không xa Pari, có thể ở nhà chủ tàu tại Anh Ađơretxơ (Saint - Adresse), ngoại ô Lơ Havơrơ chỉ cách Pari hơn một trăm cây số. Lời thăm hỏi rất thân tình về mọi người ở quanh Phan Châu Trinh lúc đó, kể cả luật sư Phan Văn Trường nói lên họ đã gặp gỡ nhau rồi.
 
Sau thư trên có thể đã có cuộc gặp gỡ giữa cụ Phan và Tất Thành tại Pari trước chuyến đi xa bằng tàu biển.
 
Theo phán đoán của chúng tôi thì thời đó nơi dừng chân của Bác Hồ sau các chuyến đi là cảng Lơ Havơrơ. Vì mấy nguyên nhân: đó là nơi dừng lâu nhất của tàu Latútsơ Tơrêvin có nhẽ của chủ tàu và nhiều bạn bè quen biết trên tàu có thể làm nơi tá túc, nơi đó rất gần Pari, chỗ ở của cụ Phan và những người bạn khác, chỉ 1- 2 giờ là đến gặp được; nơi đó chỉ cách nước Anh một eo biển Manche, rất dễ lánh sang đất Anh thuộc chính quyền Hoàng gia vốn lúc này không mấy thân thiện với Pháp (Như thể hiện trong năm 1915, Chính phủ Anh không đáp ứng yêu cầu của Pháp soát xét nơi ở của Tất Thành để tìm các thư phúc đáp của Phan Châu Trinh hoặc cả sau này khi Chính phủ Hoàng gia ký lệnh thả Nguyễn Ái Quốc tại Hồng Kông năm 1931...)
 
Cần khám phá châu Mỹ và nước Mỹ đang thời kỳ phát triển mạnh mẽ, Tất Thành đã lên làm việc ở một chiếc tàu đi Nam Mỹ và Bắc Mỹ. Anh đã dừng lại Niu Yoóc, lên bờ để làm thêm kiếm sống, viết thư về nước nhờ tìm tin, địa chỉ của cha và đã gặp đại diện phong trào yêu nước Triều Tiên tại Mỹ và học tập kinh nghiệm đấu tranh của họ…
 
Nhưng Tất Thành không ở Mỹ lâu, trong quý I năm 1913 Người đã trở về Lơ Havơrơ, cùng bàn bạc với cụ Phan và chuyển sang ở Anh, Tất Thành đã gửi bức thư sau cho cụ Phan:
 
“Hy Mã nghi bá đại nhơn,
Cháu kính chúc Bác, em Dật và ông Trạng, mấy anh em ta ở Pari đều mạnh giỏi. Nay cháu đã tìm nơi để học tiếng. Mấy bốn tháng rưỡi nay thì chỉ làm với Tây, nói tiếng Tây luôn luôn. Tuy ở Anh nhưng chẳng khác gì ở Pháp và ngày tháng chỉ lo làm cho khỏi đói chứ chẳng học được bao nhiêu. Cháu ao ước rằng 4, 5 tháng nữa khi gặp Bác thì cháu sẽ nói và hiểu được tiếng Anh nhiều nhiều.
 
Bên ta có gì mới không? Và nếu Bác dịch xong mấy hồi rồi xin Bác gởi cho cháu. Chuyến này Bác sẽ đi nghỉ hè ở đâu?
 
Nay kính
Cuồng Điệt Tất Thành.
Crayton Court Hotel
West Ealingw London
Câu cuối thư hỏi về vấn đề đi nghỉ hè theo tập quán ở phương Tây và không nói gì đến không khí chiến tranh, cho phép ta đoán thời gian viết thư khoảng giữa năm 1913.
 
Câu “Xin gởi mấy hồi sau” của một bản dịch chắc là của tập Giai nhơn kỳ ngộ mà Tất Thành đã đọc “mấy hồi trước” trong một chuyến đến thăm cụ Phan trước đó.
 
Ở Anh mà làm việc với người Pháp và nói tiếng Pháp, có thể là với sự gởi gắm của bạn bè Pháp, Tất Thành đã vào làm việc trong êkíp hầu hết là người Pháp của vua bếp Excốpphie.
Với lời ước hẹn “4,5 tháng nữa khi gặp Bác cháu sẽ…” có thể thấy rõ hơn trong tình hình bác Phan khó di chuyển vì bị kiểm soát, từ Anh, Tất Thành đã có nhiều cuộc đến gặp Bác Phan tại Pari…
 
Ngoài hai bức thư trên, cụ Phan còn giữ được một cái “các” của Cuồng Điệt Tất Thành gửi từ một địa phương tên 1à “Xuphơrarát'' mà tập sách Hồ Chí Minh, biên niên tiểu sử xác định là ở Anh. Nội dung là một bài thơ tám câu bảy chữ nói lên cảm xúc của bản thân với tác phẩm: “Giai nhân kỳ ngộ”, cụ Phan đã phóng tác…
 
Lời cuối thật thắm thiết ''Hy Mã nghi bá đại nhơn thấu Cuồng Điệt”.
 
Có một bức thư thứ tư của Tất Thành do bà Thu Trang tìm được bản dịch tiếng Pháp ở thư khố Ôđinô của Bộ Ngoại giao Pháp đã dịch lại như sau:
 
“Kính gởi Nghi bá đại nhơn
Tiếng súng đã rền vang và thây người đã phủ trên đất. Năm cường quốc đã vào vòng chiến và chín nước đang đánh nhau. Cháu chợt nhớ đến thư cách đây mấy tháng đã viết về cơn dông bão này. Định mệnh sẽ dành cho chúng ta nhiều bất ngờ và không thể nói trước ai sẽ thắng…
 
Các nước trung lập đang còn lưỡng lự và các nước tham chiến chưa rõ được ý họ. Tình hình như vậy ai nhúng mũi vào thì chỉ có thể đứng về phía này hoặc phía kia. Hình như người Nhật có ý nhúng tay vào. Cháu nghĩ trong vòng 3, 4 tháng nữa số phận châu Á sẽ thay đổi và thay đổi nhiều. Mặc kệ những kẻ đang đánh nhau và bạo động, phần chúng ta hãy cứ bình tâm.
 
Xin gửi lời thăm Nghi bá và em Dật. Xin trả lời cháu về địa chỉ sau đây:
Nguyễn Tất Thành
Số nhà 8
Stenphen Totterham Rd.
London
Thư trên được viết khi cuộc chiến đã diễn ra ác liệt. Nhưng theo tài liệu sưu tầm được thì Phan Châu Trinh cùng với Phan Văn Trường đã bị bắt ngày 14-9-1914, chỉ hơn một tháng sau khi chiến tranh bắt đầu. Như vậy có thể là Tất Thành đã viết thư khi chưa biết cụ Phan bị bắt và thư này đã bị cơ quan điều tra lấy được, cho dịch và sao gửi cho Bộ Ngoại giao.
 
Ngoài ra, Báo cáo kết thúc vụ án của Dự thẩm toà án binh Caron viết rõ là “Soát nhà Phan Châu Trinh đã lấy được rất nhiều thứ rất khả nghi trong đó có các thư của Tất Thành ở số 8 đường Stenphen Road -Totterham ở London đã gửi công hàm cho Chính phủ Anh nhờ soát nhà Tất Thành nhưng không được phía Anh đáp ứng”.
 
Trong biên bản thẩm vấn Cao Đắc Minh với tư cách nhân chứng, Caron có đưa ra một thư và Đắc Minh đã khẳng định đó là thư Tất Thành trả lời cho cụ Phan.
 
Trong bức thư bà Thu Trang tìm được ở thư khố Ôđinô, Tất Thành cũng nhắc đến thư viết về “cơn dông bão” chắc cũng ở trong số thư đã bị lấy khi soát nhà cụ Phan.
 
Các tài liệu trên cho thấy mối quan hệ thân tình giữa Bác Hồ và cụ Phan ngay từ trong nước và sự gắn bó giữa hai vị trong những năm đầu Người tham gia hoạt động cách mạng./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NHÀ LÃNH ĐẠO THỰC TIỄN XUẤT SẮC CỦA ĐẢNG VÀ CÁCH MẠNG VIỆT NAM!

     Đại tướng Nguyễn Chí Thanh - người cộng sản kiên cường, bất khuất, trung thành vô hạn với lý tưởng cách mạng, một nhà lãnh đạo tài năng của Đảng ta, một người chỉ huy mưu lược, tài trí, dũng cảm của lực lượng vũ trang, một danh tướng thời đại Hồ Chí Minh!
Từ số báo hôm nay, Báo Quân đội nhân dân đăng tải các bài viết khẳng định công lao đóng góp, những cống hiến to lớn của đồng chí đối với Đảng và cách mạng Việt Nam, kỷ niệm sâu sắc với Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Thông qua đó tuyên truyền, giáo dục lòng yêu nước, truyền thống cách mạng, rút ra những bài học kinh nghiệm từ cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh, vận dụng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà chính trị-quân sự tài năng, “văn võ song toàn”, giữ nhiều cương vị lãnh đạo cấp cao của Đảng và Quân đội. Cuộc đời hoạt động phong phú và sinh động của Đại tướng đã có nhiều cống hiến to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Điểm nổi bật ở Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là ông luôn sát sao với thực tiễn, xuất phát từ thực tiễn để đánh giá “đúng” và “trúng” tình hình; trên cơ sở đó đưa ra những quyết định đúng đắn, sáng tạo để thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ cách mạng.

Nhà lãnh đạo tài năng, tổ chức thực tiễn xuất sắc trên chiến trường
Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào giai đoạn quyết liệt, năm 1950, đồng chí Nguyễn Chí Thanh được giao làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Phó bí thư Tổng Quân ủy. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II năm 1951, đồng chí Nguyễn Chí Thanh được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng và được cử vào Bộ Chính trị. Năm 1959, ông được phong quân hàm Đại tướng.

Cuối năm 1964, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được điều vào miền Nam, giữ chức Bí thư Trung ương Cục miền Nam, Chính ủy Quân giải phóng miền Nam. Đây là một trong những thời điểm then chốt của cách mạng miền Nam. Trong những năm 1964-1965, việc hạ quyết tâm đánh Mỹ là ý chí sắt đá và nhạy bén của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Duẩn và của các tướng lĩnh Quân đội, trong đó có đóng góp không nhỏ của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh khi ông được phân công trực tiếp vào miền Nam lãnh đạo, chỉ đạo chiến trường.

Trên cương vị người lãnh đạo, chỉ đạo cao nhất tại chiến trường, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã từng bước tìm ra những giải pháp để quân dân miền Nam tin tưởng, quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. Từ thực tiễn chiến trường và qua báo cáo của cán bộ, chiến sĩ trực tiếp chiến đấu, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đề ra khẩu hiệu: “Nắm thắt lưng Mỹ mà đánh”. Từ đây, khẩu hiệu này trở thành phương châm chủ đạo trong cách đánh, tổ chức chiến dịch và thực hành chiến thuật để đánh thắng Mỹ.

Có thể nói, đây là cách đánh đặc thù của Việt Nam, đó là cách đánh gần, đánh thẳng vào quân Mỹ ở ngay căn cứ xuất phát hành quân của chúng, đánh bằng trang bị vũ khí, điều kiện của dân tộc Việt Nam, buộc kẻ địch mạnh phải đánh theo cách đánh của ta. Từ những trận thắng Mỹ đầu tiên ở Núi Thành - Quảng Nam (tháng 5-1965), Vạn Tường - Quảng Nam (tháng 8-1965), Đất Cuốc - thị xã Biên Hòa (tháng 11-1965), cùng những trận đánh Bầu Bàng, Ia Drăng... đã động viên, khích lệ tinh thần đánh Mỹ của quân dân cả nước. Cũng từ thực tiễn chiến đấu mà quân và dân miền Nam đã hình thành nên những “vành đai diệt Mỹ" ở ngay cửa ngõ Sài Gòn và các trung tâm lớn như Đà Nẵng...

Trong thực tiễn chỉ đạo chiến trường, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh luôn đặt câu hỏi cho bản thân và cán bộ, chiến sĩ về cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam: “Đối với Mỹ ngoài việc đánh chắc, làm thế nào để giành một cái bất ngờ mà Mỹ không thể biết được. Làm thế nào trong một hoàn cảnh về vật chất, về phương tiện còn khó khăn để đối phó với âm mưu chiến lược của chúng lại tạo một bước tiến nhảy vọt về xây dựng lực lượng mà địch không ngờ tới”.

Nhờ tư tưởng, phương châm chỉ đạo sáng tạo và rất thực tế này mà Quân đội nhân dân Việt Nam, với vũ khí thô sơ, lạc hậu, quân số ít hơn đã giành thắng lợi trước quân đội Mỹ - một quân đội khổng lồ, giàu có và mạnh nhất thế giới vào lúc đó. Tư tưởng này trở thành phương châm chỉ đạo tác chiến được Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đúc kết từ truyền thống chống xâm lược của cha ông trong lịch sử, cũng như từ thực tiễn chiến trường.

Đầu năm 1965, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh căn dặn quân và dân miền Nam cần nhớ kỹ và làm đúng 10 điểm cốt lõi, trong đó, điểm đầu tiên là “Biết người biết mình, trăm trận trăm thắng. Ý chính của bài học này là: Không đánh giá địch cao; không chủ quan khinh địch; điều tra, trinh sát địch cụ thể, chính xác; kiểm tra toàn bộ lực lượng mình về các mặt từng lúc một chu đáo".

Mặc dù thời gian trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cuộc chiến đấu của quân và dân trên chiến trường miền Nam không dài, nhưng vốn là con người của thực tiễn nên Đại tướng Nguyễn Chí Thanh nắm vững tư duy biện chứng và khoa học, kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận với thực tiễn. Ông không chỉ là người chỉ đạo vững vàng, mưu lược, tài trí mà còn góp phần quan trọng vào việc phát triển lý luận nghệ thuật quân sự của chiến tranh nhân dân Việt Nam.

Từ thực tiễn chiến đấu và trải nghiệm của bản thân, ông đi sâu nghiên cứu, phát hiện sớm việc chuyển hướng chiến lược của Mỹ để Đảng điều chỉnh chiến lược phù hợp; đồng thời, trên cơ sở nắm bắt chuyển biến mới của chiến trường, đề xuất nhiều chủ trương chiến lược, sách lược đúng đắn, nhất là việc tổ chức các đơn vị chủ lực cơ động cấp trung, sư đoàn đứng chân trên các chiến trường miền Nam nhằm hình thành nên những cách đánh thích hợp, độc đáo của quân và dân Việt Nam.

Nhà lãnh đạo thực tiễn trong chỉ đạo phát triển nông nghiệp
Sau khi hoàn thành kế hoạch 3 năm phát triển và cải tạo kinh tế, phát triển văn hóa (1958-1960), Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (tháng 9-1960) quyết định đưa miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng và Chính phủ thực hiện chủ trương đưa nông dân vào con đường làm ăn tập thể theo hình thức tổ đổi công và hợp tác xã. Theo nhận định của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Tiến lên hợp tác xã làm ăn tập thể, đó là một sự biến đổi cực kỳ to, cực kỳ mới, cực kỳ tốt. Cho nên lúc đầu không tránh khỏi bỡ ngỡ và khó khăn.

Trong khoảng thời gian 4 năm được Đảng, Nhà nước giao trực tiếp phụ trách phát triển nông nghiệp và nông thôn, đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có những cống hiến quan trọng, góp phần tạo nên luồng gió mới trong sản xuất nông nghiệp miền Bắc. Tại thời điểm nhận nhiệm vụ mới, đồng chí Nguyễn Chí Thanh xác định rõ, phải luôn lấy kiến thức từ thực tế để hiểu thật sâu về lĩnh vực mà mình phụ trách.

Nói chuyện với lớp cán bộ Quân đội được chuyển sang làm công tác nông nghiệp, đồng chí căn dặn: “...Xuống cơ sở, phải thực tế chứ không thể sách vở, tổ chức lao động thế nào, phân tro giống má ra sao, giống thế nào là tốt, là xấu, chọn giống, giữ giống thế nào... Ý kiến phải cho cụ thể và cho tốt, chứ không thể chung chung, vì như thế sẽ không giúp được gì cả, mà nghe báo cáo không biết đúng sai, hay dở nữa... Có lý luận thôi chưa đủ, phải có thực tiễn, có thể mới giải quyết tốt được”.

Hình ảnh vị tướng xắn quần lội ruộng xem xét việc canh tác, khảo sát những khó khăn, tìm hiểu những nơi sản xuất khá đã không còn xa lạ với những người nông dân chân lấm tay bùn. Ông đã từng bước gây dựng được niềm tin và sự quý mến của nông dân miền Bắc, với biệt danh: “Đại tướng nông dân”.

Từ thực tiễn nông nghiệp của các địa phương, đồng chí Nguyễn Chí Thanh cho rằng: “Mở rộng thêm diện tích bằng khai hoang và tăng vụ đối với miền Bắc nước ta là một phương hướng quan trọng và bức thiết trước mắt. Nhưng cũng chỉ có thể khai hoang thêm độ 1 triệu héc-ta và việc khai hoang phải đi đôi với bảo vệ rừng và cải tạo đất, chống xói mòn. Diện tích cấy lúa căn bản đã hết, không thể mở rộng thêm nhiều được nữa... Vì vậy, vấn đề thâm canh tăng năng suất là rất quan trọng”.

Khi được Đảng phân công chỉ đạo sản xuất nông nghiệp với yêu cầu củng cố và phát triển phong trào hợp tác hóa nông nghiệp, đồng chí Nguyễn Chí Thanh tích cực đi nghiên cứu thực tế về phong trào hợp tác hóa và sản xuất nông nghiệp. Ông đã đến nhiều nơi, điều tra thực tế, nghiên cứu nhiều mô hình hoạt động ở các địa phương, đặc biệt là tìm hiểu thực tế nông thôn Đại Phong và hoạt động của Hợp tác xã Đại Phong, thuộc xã Phong Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

Qua tìm hiểu thực tế, đồng chí rút ra những bài học của Hợp tác xã nông nghiệp Đại Phong. Theo đề nghị của đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Trung ương Đảng đã phát động phong trào thi đua với Hợp tác xã Đại Phong. Trong tâm trí của hàng triệu người dân miền Bắc còn in đậm Phong trào “Gió Đại Phong”, một mô hình nông nghiệp mà đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã dày công tổng kết và chỉ đạo trong thực tiễn. Những đóng góp của đồng chí trong lĩnh vực nông nghiệp đã góp phần xây dựng miền Bắc trở thành hậu phương vững chắc cho tiền tuyến miền Nam.

Với 30 năm hoạt động cách mạng, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã tỏ rõ là nhà lãnh đạo thực tiễn xuất sắc của Đảng và cách mạng Việt Nam. Trong công tác chính trị, quân sự hay lĩnh vực chỉ đạo phát triển nông nghiệp, dù ở đâu và vào lúc nào, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh cũng cho thấy một tấm gương mẫu mực về tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Phẩm chất cao quý đó có ý nghĩa to lớn đối với đội ngũ cán bộ trong bối cảnh hiện nay nhằm xây dựng đất nước phát triển nhanh, bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.
Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRUNG TƯỚNG PHẠM TRƯỜNG SƠN DỰ LỄ CÔNG BỐ QUYẾT ĐỊNH THÀNH LẬP LỮ ĐOÀN PHÒNG HÓA 88!

     Ngày 20-12, Lữ đoàn Phòng hóa 88 (Binh chủng Hóa học) tổ chức Lễ công bố Quyết định thành lập và đón nhận Quân kỳ Quyết thắng. Trung tướng Phạm Trường Sơn, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam dự và trao Quân kỳ Quyết thắng cho Lữ đoàn Phòng hóa 88!
Tham dự buổi lễ có các đồng chí: Thiếu tướng Hà Văn Cử, Tư lệnh Binh chủng Hóa Học; Thiếu tướng Trịnh Thành Đồng, Chính ủy Binh chủng Hóa học; Thiếu tướng Hứa Văn Tưởng, Phó tư lệnh Quân khu 5; lãnh đạo, chỉ huy các đơn vị đóng quân trên địa bàn.
Tại buổi lễ, Ban tổ chức đã công bố Quyết định của Thủ trưởng Bộ Quốc phòng về việc thành lập Lữ đoàn Phòng hóa 88 (Binh chủng Hóa học ) và Quyết định trao Quân kỳ Quyết thắng cho lữ đoàn.
Phát biểu tại buổi lễ, Trung tướng Phạm Trường Sơn nhấn mạnh: Trong những năm qua, Binh chủng Hóa học đã tham mưu cho Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam nhiều chủ trương, giải pháp trong ứng phó sự cố hóa chất độc, sinh học, hạt nhân, xử lý chất độc hóa học tồn lưu sau chiến tranh, phòng, chống dịch bệnh, xử lý các sự cố về ô nhiễm môi trường và công tác bảo đảm phòng hóa trong tác chiến, đặc biệt là xây dựng phát triển lực lượng Hóa học toàn quân đúng hướng, toàn diện, hiệu quả, vững chắc. Tập trung xây dựng phát triển lực lượng Hóa học chuyên trách, đào tạo nguồn nhân lực; huấn luyện và đầu tư mua sắm nhiều trang bị khí tài Phòng hóa hiện đại có chất lượng, để từng bước đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ Tổ quốc.
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ trong thời gian tới, đồng chí Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam yêu cầu lãnh đạo, chỉ huy Lữ đoàn Phòng hóa 88 nhanh chóng ổn định mọi mặt; xây dựng tốt tinh thần đoàn kết nội bộ, ổn định tổ chức biên chế, nơi ăn, ở, làm việc, bắt tay ngay vào thực hiện nhiệm vụ.
Lữ đoàn Phòng hóa 88 tập trung quán triệt sâu sắc và triển khai thực hiện tốt các nghị quyết, kết luận chỉ thị, chỉ lệnh, quy định, hướng dẫn của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam, Binh chủng Hóa học về thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng; lãnh đạo, chỉ đạo, giáo dục, xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, trang bị cho bộ đội có tâm thế, quyết tâm vượt mọi khó khăn, gian khổ, phát huy tinh thần sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới, sẵn sàng thực hiện tốt các nhiệm vụ được giao; xây dựng lữ đoàn vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ đảng viên của Đảng bộ, xây dựng Đảng bộ lữ đoàn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ trong mọi tình huống.
Đơn vị chấp hành nghiêm mệnh lệnh của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu Quân đội nhân dân Việt Nam và chỉ thị, hướng dẫn của các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng, Binh chủng Hóa học về nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu; kịp thời báo cáo điều chỉnh, bổ sung, kiện toàn đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chỉ huy, tham mưu và cán bộ hậu cần, kỹ thuật; duy trì thực hiện nghiêm nền nếp, chế độ sẵn sàng chiến đấu, nắm chắc nhiệm vụ, tình hình địa bàn, tình hình hóa học khu vực và phương án tác chiến; phối hợp chặt chẽ với các lực lượng trên địa bàn, sẵn sàng cơ động lực lượng, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ khi có lệnh…






Yêu nước ST.