Thứ Tư, 20 tháng 12, 2023

Phấn khởi và tự hào kỷ niệm 79 năm ngày truyền thống Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng (22/12/1944-22/12/2023)

Danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ”- Danh hiệu cao quý được Nhân dân suy tôn và yêu mến trao tặng cho cán bộ, chiến sỹ Quân đội nhân dân Việt Nam, đội quân từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, gắn bó máu thịt với Nhân dân; là biểu tượng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, được hình thành, phát triển trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta, phản ánh bản chất quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân do Đảng lãnh đạo.
Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là hệ thống các chuẩn mực, giá trị đạo đức, văn hóa, trí tuệ, vật chất, tinh thần của lớp lớp thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân nhân cách mạng, được hun đúc, sáng tạo ra trong lịch sử và ngày càng được tô thắm thông qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, xây dựng, chiến đấu, phát triển và trưởng thành của Quân đội ta. Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành nhân vật trung tâm của văn hóa, văn nghệ cách mạng và là nguồn sức mạnh nội sinh to lớn, là niềm vinh dự, tự hào và là động lực mạnh mẽ, thôi thúc cán bộ, chiến sĩ không ngừng phấn đấu, rèn luyện, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, xứng đáng với lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”.
79 năm qua, dưới sự lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện của Đảng và Bác Hồ kính yêu, sự đùm bọc, yêu thương, che chở, nuôi dưỡng của Nhân dân, trong bất cứ giai đoạn cách mạng nào, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” vẫn luôn tỏa sáng, trở thành biểu tưởng sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, mà đỉnh cao là văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” với 3 giá trị cốt lõi: Văn hóa đạo đức, Văn hóa trí tuệ và Văn hóa vất chất.
Thứ nhất: Văn hóa đạo đức “Bộ đội Cụ Hồ” được khái quát bởi 5 giá trị, chuẩn mực đạo đức sáng ngời:
Một là, trung thành tuyệt đối, vô hạn với Đảng, với Tổ quốc, với Nhân dân; sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội, vì cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của Nhân dân trong bất luận điều kiện khó khăn, gian khổ, hy sinh ác liệt nhất. Điều này được minh chứng bằng những con số biết nói về sự hy sinh cao cả của Người lính Cụ Hồ trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc bảo vệ Tổ quốc!
Hai là, hội tụ đầy đủ nhất những phẩm chất đạo đức sáng ngời của người cán bộ cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, theo quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Đây thực sự là biểu tượng cao đẹp, một giá trị văn hóa, đạo đức của con người Việt Nam, là hình tượng tiêu biểu và rất đỗi tự hào của dân tộc Việt Nam anh hùng, được Nhân dân ca tụng là "con người đẹp nhất", được coi là khát vọng vươn tới của tuổi trẻ thời đại Hồ Chí Minh.
Ba là, có khát vọng cống hiến mãnh liệt, tinh thần xung kích, đi đầu, tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, trọng tâm là chiến lược “diễn biến hòa bình”, “phi chính trị hóa” Quân đội và những luận điệu xuyên tạc, chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” với tư tưởng kiên trì, kiên định, kiên quyết nhất.
Bốn là, có tình yêu thương đồng chí, đồng đội rất đỗi bình dị mà thiêng liêng cao quý nhất; tình quân dân “cá - nước”, “quân với dân một ý chí”, tạo nên sự gắn bó máu thịt với Nhân dân, luôn tận trung với nước, tận hiếu với dân, đúng như Tổng Bí thư Trường Chinh đã khẳng định: “Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” - phẩm chất của một quân đội vừa đánh giặc giỏi, vừa phải ra sức giúp đỡ Nhân dân và tuyên truyền vận động Nhân dân. Khi cần thiết phải tích cực tham gia xây dựng kinh tế và giúp dân sản xuất”.
Ngày nay, phẩm chất, nhân cách đó càng được khẳng định trong thực tiễn thông qua những việc làm cụ thể của cán bộ, chiến sĩ trong giúp dân xóa đói, giảm nghèo, phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa môi trường và dịch bệnh, với tinh thần “cứu dân là mệnh lệnh trái tim”, cán bộ, chiến sĩ Quân đội, không hề do dự, tính toán thiệt hơn, có lệnh là lên đường làm nhiệm vụ. Trong dịch bệnh hiểm nguy hay bão lũ thiên tai, bộ đội luôn sát cánh, có mặt kịp thời để bảo vệ tính mạng, tài sản của Nhân dân. Mưa lũ chia cắt bản làng nhưng càng làm bền chặt hơn tình quân dân máu thịt. Đó là những hình ảnh giản dị nhưng ngời sáng phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời bình.
Năm là, có tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, cao cả nhất trong cả thời chiến và thời bình. Trong cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Lào và Cam pu chia, hàng vạn cán bộ, chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam đã mãi mãi nằm xuống trên đất bạn, nhiều người phải chịu di chứng và thương tật suốt đời, để lại những tình cảm tốt đẹp trong lòng bạn bè quốc tế, gọi Bộ đội Việt Nam - “Bộ đội Cụ Hồ” là “Bộ đội nhà Phật”. Trong thời bình, Vượt lên những khó khăn, bất đồng ngôn ngữ, bất ổn về tình hình an ninh, điều kiện sinh hoạt hạn chế, khí hậu khắc nghiệt, những chiến sĩ “mũ nồi xanh” Việt Nam đã và đang tích cực tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, làm cho phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” vượt khỏi những giới hạn về thời gian và không gian, tiếp tục lan tỏa đến bạn bè quốc tế.
Thứ hai: Văn hóa trí tuệ “Bộ đội Cụ Hồ” được kết tinh thông qua kết quả của quá trình trao đổi, sáng tạo tri thức, sự hiểu biết, tư duy và kinh nghiệm của mỗi cán bộ, chiến sỹ trên nền tảng lí trí với 3 giá trị độc đáo:
Một là, có đường lối, nghệ thuật quân sự độc đáo với thế trận chiến tranh nhân dân, toàn dân, toàn diện, dựa vào sức mình là chính; "lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều", “lấy đoản binh chế trường trận”, “lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo”, nghệ thuật “thế, lực, thời, mưu”, “mưu phạt công tâm”.
Hai là, có khả năng tiếp cận và thích ứng nhanh với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, tiên phong, chủ lực trong chiến lược chuyển đổi số, luôn chủ động và khẳng định mình trong hoạt động khoa học, từng bước làm chủ công nghệ sản xuất, cải tiến, số hóa nhiều loại vũ khí, trang bị kỹ thuật thế hệ mới, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Ba là, Trên mặt trận kinh tế, Người lính Cụ Hồ tại các Doanh nghiệp Quốc phòng đã tham gia vào nhiều lĩnh vực, ngành và các vùng kinh tế quan trọng của đất nước, trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế quốc dân, góp phần củng cố và tăng cường tiềm lực Quốc phòng.
Thứ ba: Phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” còn được bộc lộ rõ nét từ cuộc sống giản dị, đơn sơ, không màng đến giá trị vật chất tầm thường, kết tinh thành văn hóa vật chất với tinh thần hưởng thụ sau nhất và thấp nhất
Hành trang của người lính Cụ Hồ thật giản đơn, chiếc ba lô con cóc, cây gậy trường sơn, đôi dép cao su, tấm áo trấn thủ… đã làm nên vẻ đẹp lý tưởng của người lính Cụ Hồ là cội nguồn sức mạnh hơn cả những khí tài sắt thép, góp phần làm nên một Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu và kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử giải phóng hoàn toàn miền nam thống nhất đất nước.
Giữ gìn, phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” là vấn đề có tính thường xuyên, liên tục gắn liền với quá trình thực hiện nhiệm vụ của từng cơ quan, đơn vị và mỗi quân nhân. Do đó, mỗi “Người lính Cụ Hồ”, bằng tình cảm, trách nhiệm và việc làm thiết thực của mình, luôn nỗ lực để tô thắm thêm bảng vàng truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng. Tích cực tham gia xây dựng môi trường văn hóa quân sự lành mạnh, văn minh. Thường xuyên tổ chức tốt hoạt động thực tiễn, các phong trào hành động cách mạng gắn với Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ Đội Cụ Hồ”, nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, mãi mãi xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” đúng như lời Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đã khẳng định: “Hình ảnh và tên gọi “Bộ đội Cụ Hồ” là nét đẹp độc đáo trong văn hóa Việt Nam và lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc ta”./. 
CĐ,VS (st)

ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG TRI ÂN, THĂM HỎI CÁC ĐỒNG CHÍ NGUYÊN LÃNH ĐẠO ĐẢNG, NHÀ NƯỚC, QUÂN ĐỘI

 

Nhân kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 34 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân, sáng 20-12, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng tới dâng hương, tri ân các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội.
Tại gia đình các đồng chí: Thượng tướng Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng Bí thư, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Đại tướng Lê Đức Anh, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng; các đồng chí nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bộ trưởng Quốc phòng: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Đại tướng Đoàn Khuê, Đại tướng Phùng Quang Thanh; Đại tướng Chu Huy Mân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó chủ tịch Hội đồng Nhà nước, nguyên Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; Đại tướng Hoàng Văn Thái và Đại tướng Lê Trọng Tấn, nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, trong không khí trang nghiêm, thành kính trước anh linh của các bậc tiền bối, Đại tướng Phan Văn Giang cùng đoàn công tác đã kính cẩn dâng hoa, dâng hương tưởng niệm, tỏ lòng thành kính và biết ơn vô hạn, sự tri ân sâu sắc những cống hiến, đóng góp to lớn của các đồng chí đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng.
Những cống hiến, công lao to lớn của các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội đã góp phần làm nên những chiến công hào hùng, bất khuất tô thắm lá cờ đỏ sao vàng của Tổ Quốc, là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam, là những tấm gương sáng ngời vì lý tưởng cách mạng, vì hòa bình và hạnh phúc của nhân dân, để các thế hệ hôm nay và mai sau học tập, cống hiến sức mình xây dựng quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.
Đại tướng Phan Văn Giang ân cần thăm hỏi sức khỏe, đời sống của thân nhân gia đình các đồng chí và mong muốn thân nhân gia đình các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội luôn giữ gìn sức khỏe, tiếp tục phát huy truyền thống gia đình, chung tay đóng góp cho sự phát triển của đất nước, sự lớn mạnh của Quân đội.
Sáng cùng ngày, Đại tướng Phan Văn Giang đến thăm hỏi, chúc sức khoẻ Trung tướng Đặng Quân Thụy, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó chủ tịch Quốc hội. Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang thông tin đến Trung tướng Đặng Quân Thụy những kết quả nổi bật về thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng của toàn quân trong năm 2023; một số hoạt động đáng chú ý của các đơn vị Quân đội hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ.
Nhân dịp này, Đại tướng Phan Văn Giang chúc Trung tướng Đặng Quân Thụy và gia đình luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, tiếp tục quan tâm, theo dõi và đóng góp các ý kiến quý báu, tâm huyết để xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng vững mạnh, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó./.
ST

PHÁT HUY MẠNH MẼ "THẾ TRẬN LÒNG DÂN" TRONG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 Sáng 20-12, tại Hà Nội, Ban Chỉ đạo 35 Trung ương tổ chức Hội nghị toàn quốc sơ kết 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW, ngày 22-10-2018 của Bộ Chính trị khóa XII về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và tổng kết công tác năm 2023, triển khai nhiệm vụ năm 2024.

Đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Trưởng Ban Chỉ đạo 35 Trung ương dự chỉ đạo Hội nghị. Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Phó trưởng Ban Chỉ đạo 35 Trung ương và các đồng chí thành viên Ban Chỉ đạo 35 Trung ương: Đồng chí Lại Xuân Môn, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương; đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông; Thượng tướng Lương Tam Quang, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an; Thượng tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, dự và đồng chủ trì Hội nghị.
Tham dự Hội nghị có hơn 500 đại biểu là thành viên Ban Chỉ đạo, Tổ thư ký, Trưởng Nhóm Chuyên gia Trung ương, Văn phòng Ban Chỉ đạo; đại biểu của Ban Chỉ đạo 35 ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương; đại biểu Ban Chỉ đạo 35 các tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương...
Với tinh thần dân chủ, trách nhiệm, thẳng thắn, Hội nghị đã dành nhiều thời gian nghe các đại biểu thảo luận, phân tích về những nội dung được đề cập trong Báo cáo Sơ kết 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW; tập trung đánh giá sâu sắc và cụ thể những kết quả đạt được, những vấn đề còn hạn chế, khó khăn, vướng mắc, chỉ ra các nguyên nhân, từ đó, đề xuất, kiến nghị nhiều giải pháp cả về lý luận và thực tiễn để nâng cao chất lượng, thực hiện hiệu quả nhiệm vụ trong thời gian tới. Các đại biểu đồng thời chia sẻ nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo, bài học kinh nghiệm trong công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác, ngăn chặn, xử lý thông tin xấu độc, các quan điểm sai trái, thù địch...
Phát biểu chỉ đạo hội nghị, Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng đánh giá Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII là Nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng ta về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, bài bản, tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
Đồng chí Võ Văn Thưởng nhận định, Nghị quyết 35-NQ/TW đi vào cuộc sống rất nhanh, mang lại hiệu quả rõ rệt trên phạm vi rất toàn diện đồng thời cung cấp nhiều phương pháp, cách làm hay, nhiều mô hình hiệu quả. Nhận thức các cấp ủy đảng, cán bộ, đảng viên về vai trò vị trí, tầm vai trò quan trọng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái có nhiều chuyển biến rõ nét, tích cực. Đồng thời đã huy động được sức mạnh tổng hợp, mang tính thế trận lòng dân trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Công tác nghiên cứu lý luận, nghiên cứu, tổng kết thực tiễn đạt nhiều kết quả quan trọng; góp phần bổ sung, phát triển nền tảng tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới, giải quyết những vấn đề lý luận, thực tiễn đang đặt ra. Công tác thông tin tuyên truyền có nhiều đổi mới sáng tạo về nội dung, phương thức thể hiện; phát huy tốt vai trò định hướng thông tin của các cơ quan, đơn vị, mang tính giáo dục lớn, đẩy lùi các thông tin xấu độc, hướng tới thông tin tích cực…
Đồng chí Võ Văn Thưởng cũng đánh giá cao các cá nhân, tập thể đã có nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả, thực hiện hiệu quả Nghị quyết số 35-NQ/TW và được Ban Chỉ đạo khen thưởng trong kỳ tổng kết này. Đồng thời, Chủ tịch nước, Trưởng Ban Chỉ đạo 35 Trung ương cũng đề nghị các đại biểu tại hội nghị tập trung nghiên cứu, khắc phục những khó khăn, hạn chế đã nêu trong báo cáo tổng kết; báo cáo với Bộ Chính trị để ban hành kết luận về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết và xác định một số trọng tâm trong thời gian tới. Với kết quả đạt được, đồng chí Võ Văn Thưởng tin tưởng công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng sẽ đạt được kết quả cao hơn nữa, tạo ra môi trường lành mạnh, ổn định hướng đến tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tại Hội nghị, các đại biểu đã tham quan triển lãm trưng bày sản phẩm nghiên cứu khoa học, sách tham khảo, chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo khoa học, sản phẩm khoa học - công nghệ phục vụ công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; xem phim tư liệu về kết quả 5 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XII.
Tại Hội nghị, Ban Tuyên giáo Trung ương đã khen thưởng 22 tập thể, 28 cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong 5 năm triển khai thực hiện nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch./.
ST

VỊ TƯỚNG NẶNG LÒNG TRI ÂN ĐỒNG ĐỘI

 Ở tuổi 84 nhưng Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh, thương binh với tỷ lệ thương tật 78%, nguyên Phó tư lệnh về Chính trị Quân đoàn 4; ngụ tại phường 5, quận Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh vẫn miệt mài đi tìm hài cốt liệt sĩ, đưa đồng đội về với gia đình, người thân. Ông đã làm công việc này từ 30 năm qua bằng nghĩa tình tri ân đồng đội...

Còn khỏe còn kiếm tìm đồng đội
Một ngày trung tuần tháng 11-2023, chúng tôi gặp Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh khi ông được mời tham dự cuộc diễn tập có bắn đạn thật do Quân đoàn 4 tổ chức tại Trường bắn Quốc gia khu vực 3. Gặp các cán bộ trẻ của đơn vị cũ, ông không quên căn dặn: “Bắn giỏi, bắn trúng là tốt, nhưng phải bảo đảm tuyệt đối an toàn, biết hỗ trợ đồng chí, đồng đội hoàn thành nhiệm vụ thì cuộc diễn tập mới thực sự thành công”. Nghe vị tướng già dạn dày trận mạc căn dặn thế hệ hôm nay, chúng tôi hiểu tấm lòng và nỗi niềm của ông. Bao năm chiến đấu vào sinh ra tử, ông thấu hiểu những mất mát, hy sinh do bom đạn chiến tranh, bởi chính ông cũng nhiều lần bị thương và suýt nữa đã vĩnh viễn nằm lại chiến trường nếu không nhờ nghĩa tình đồng đội.
Chúng tôi còn nhớ mãi câu chuyện của ông: Đầu năm 1966, trong đội hình của trên, đơn vị ông được lệnh hành quân vào chiến trường miền Nam. Sau thời gian dài vượt Trường Sơn, cả đơn vị đã có mặt tại địa bàn Nam Bộ. Ngày 10-8-1966, trận đánh đầu tiên diễn ra tại Đường 10-Vĩnh Thiện (nay thuộc huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước). Trung đội 6, Đại đội 2, Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 141 (Sư đoàn 7) do Trung đội trưởng Nguyễn Ngọc Doanh chỉ huy chiến đấu ngoan cường với lính biệt kích ngụy, nhưng sau đó bị lọt vào ổ phục kích của chúng. Hai đồng chí đi bên cạnh ông bị trúng đạn hy sinh tại chỗ, còn ông bị thương vỡ quai hàm, đứt cơ đùi, máu chảy rất nhiều không cầm được. Đồng đội yểm trợ đưa ông về phía sau. Trên đường đi bị địch đánh chặn, đồng đội vừa chiến đấu vừa cõng ông rút vào rừng. Do mất máu nhiều nên ông kiệt sức, chết lâm sàng. Anh em tưởng ông đã hy sinh. Đến khu vực nghĩa trang dã chiến của đơn vị, do mệt mỏi, trời tối nên anh em đặt tạm ông xuống huyệt đào sẵn, lấy võng đắp lên, bẻ cành cây che lại, sáng sớm sẽ mai táng. Đơn vị phân công người gác không để thú rừng, kỳ đà moi ruột thi hài ông.
Sáng sớm hôm sau, Tiểu đội phó Bế Ích Quân (người dân tộc Tày, quê ở Cao Bằng) và hai chiến sĩ ra an táng ông. Đang xúc đất lấp mộ, chợt đồng chí Quân nhớ ra hình như chân anh Doanh không đi dép. Nghĩ vậy, đồng chí Quân nhảy xuống hố, sờ chân thủ trưởng xem có mang dép hay không để cởi dép của mình đeo vào chân ông. Bất giác, đồng chí Quân hét lên: “Dừng lại, chân anh Doanh còn ấm”. Thế là anh em vội bới đất đưa Trung đội trưởng Doanh lên và chuyển gấp tới cấp cứu tại đội phẫu của đơn vị, rồi chuyển đi bệnh viện tuyến trên.
Sau nhiều tháng điều trị, ông bình phục, trở lại đơn vị tiếp tục cùng đồng đội chiến đấu. “Mãi đến khi gặp lại Đại tá, cựu chiến binh Bế Ích Quân, chiến sĩ cũ của tôi, câu chuyện từ cõi chết trở về tôi mới được nghe Quân kể lại. Đúng là tình cảm đồng đội cao quý, thiêng liêng, chăm lo cho nhau bất kể sống-chết đã giúp tôi hồi sinh, thoát khỏi lưỡi hái tử thần. Đó là lý do tôi luôn đau đáu nỗi niềm tri ân đồng đội, dành hết cuộc đời đi tìm hài cốt các đồng chí đã hy sinh”-Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh chia sẻ.
Năm 1992, vì lý do sức khỏe, ông về quê trị bệnh. Nhưng rồi những kỷ niệm với đồng đội thời chiến tranh đã thôi thúc ông vượt qua bạo bệnh để bắt đầu hành trình kiếm tìm hài cốt liệt sĩ, tri ân đồng đội suốt từ năm 1993. Có dịp cùng ông đi tìm hài cốt liệt sĩ tại huyện Châu Đức (Bà Rịa-Vũng Tàu) năm 2014, chứng kiến ông nhễ nhại mồ hôi, bới từng nắm đất, cẩn thận tìm kiếm từng mẩu xương đồng đội, tôi càng cảm phục nghĩa cử cao đẹp của ông. Suốt hai ngày, đào mấy chục vị trí vẫn không tìm được hài cốt đồng đội, vị tướng già buồn bã. Tối đó ông bỏ cơm, cứ lật tìm từng mảnh sơ đồ cũ ghi chép địa danh, đối chiếu thông tin thu thập được với niềm hy vọng mong manh. Thế mới biết, mấy chục năm qua, ông đã hao tâm, tổn sức, vất vả đến mức nào với công việc lặng thầm trả ơn đồng đội. Mỗi chuyến đi của ông là một lần nỗ lực, tự bỏ tiền túi, tự thuê xe vượt hàng trăm cây số, đi đến tận những cánh rừng thăm thẳm, xa xôi, bởi ở đâu đó vẫn văng vẳng bên tai ông tiếng gọi của đồng đội mong sớm được “trở về”. Trong suốt 30 năm, ông và đồng đội đã tìm kiếm được hơn 250 hài cốt liệt sĩ, trong đó có hơn 50 hài cốt liệt sĩ xác định được danh tính và đưa về an nghỉ ở quê hương; phối hợp với các địa phương tìm kiếm hài cốt 150 đồng chí, đồng đội đưa về quê an táng...
Dù vậy, ông vẫn trăn trở, canh cánh trong lòng vì còn nhiều đồng đội hy sinh chưa tìm được hài cốt, trong khi thông tin ngày một ít dần. Địa hình chiến trường xưa thay đổi từng ngày, sức khỏe của ông cũng vơi đi theo năm tháng khiến công việc tìm kiếm càng thêm gian nan, vất vả. Trong túi tài liệu của ông luôn có hàng chục tấm sơ đồ ghi chép vị trí trận địa, cung chặng hành quân, vị trí căn cứ, địa điểm chôn cất... nhưng địa hình rừng núi năm xưa nay đã thành khu dân cư, cụm công nghiệp mọc lên san sát... “Cứ nghĩ đến anh em vẫn đang nằm trong lòng đất mà chưa ai biết tới, lòng tôi quặn lại, chính họ đã cho tôi mạng sống để có được ngày hôm nay. Bởi vậy, dẫu biết còn muôn vàn gian khó, thậm chí như mò kim đáy bể, nhưng hễ còn sức khỏe thì tôi vẫn còn đi để tìm bằng được hài cốt đồng đội, đưa về quê hương, về với gia đình, người thân”-vị tướng già quả quyết.
“Tiếp lửa” cho thế hệ trẻ
Nhiều năm nay, ngoài thời gian đi tìm kiếm hài cốt đồng đội, khi trở về nhà, Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh lại tích cực tham gia giao lưu, nói chuyện lịch sử truyền thống để bồi đắp lý tưởng cách mạng, lòng yêu nước cho học sinh, sinh viên trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận. Dù đã 84 tuổi, song ông vẫn minh mẫn, tinh tường và đầy nhiệt huyết. Còn nhớ, trong một chương trình giao lưu với học sinh trung học phổ thông ở quận Bình Thạnh, nơi ông sinh sống, vị tướng từng bao phen xông pha lửa đạn kể về quãng thời gian đơn vị ông làm nhiệm vụ quân quản, trực tiếp quản lý địa bàn quận 1, Bình Thạnh và Thủ Đức (nay là TP Thủ Đức). Hơn 4 tháng làm nhiệm vụ, dù đã kết thúc chiến tranh nhưng Sài Gòn còn bộn bề công việc phải giải quyết.
Chính ủy Trung đoàn 141 Nguyễn Ngọc Doanh và đồng đội đã vượt qua tất cả để hoàn thành nhiệm vụ, giữ ổn định địa bàn, bảo vệ nhân dân, tạo thuận lợi cho các hoạt động của địa phương từng bước trở lại bình thường. Nghe ông kể chuyện, một bạn trẻ hỏi: Điều gì đã thôi thúc ông lên đường nhập ngũ và tự nguyện cống hiến cho cách mạng dù biết đó là con đường vô cùng gian khổ, hiểm nguy, trong khi ông đang làm kế toán hợp tác xã? Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh trả lời mộc mạc: “Đó là lòng căm thù giặc và ý thức tự tôn dân tộc”. Ông lý giải, đất nước mình bị quân thù xâm chiếm; đồng bào mình bị áp bức, đọa đày; nhà của mình bị đập phá nát tan; mồ mả tổ tiên mình bị quân thù giẫm đạp, cày xới... Chứng kiến những điều phi lý, đau thương ấy, dòng máu Lạc Hồng nổi lên sẽ tạo ra những con người xả thân vì Tổ quốc, đồng bào. Chân lý ấy tồn tại hiển nhiên, ở thời kỳ lịch sử nào cũng vậy. Cho nên, dù có đang làm công việc gì cũng gác lại, đánh đuổi ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc là trên hết...”.
Chúng tôi nghĩ, câu chuyện của Thiếu tướng Nguyễn Ngọc Doanh đã góp phần khơi dậy lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm trong thế hệ trẻ Thành phố mang tên Bác, gieo vào lòng họ một niềm tin mãnh liệt về sức mạnh quật cường tiềm ẩn trong mỗi con dân đất Việt; đồng thời giúp họ có cái nhìn chân thực về những sự kiện lịch sử của dân tộc, từ đó thêm kính trọng, tự hào đối với sự xả thân, hy sinh của lớp lớp thế hệ cha anh, vì độc lập, tự do của Tổ quốc./.
ST

VẸN NGUYÊN NGƯỜI LÍNH CỤ HỒ

 

Hết chiến tranh rồi đến hòa bình, hết thiên tai rồi qua dịch giã… “mặt trận” nào cũng ghi đậm dấu chân vững chắc, lòng quả cảm, tâm thế xả thân anh dũng của người lính Cụ Hồ. Dường như trong những thời khắc càng khó khăn, càng vất vả và nguy hiểm… hình ảnh người lính lại càng tỏa sáng hơn bao giờ hết.
Khi đặt bút cho những dòng đầu tiên của bài viết này, trong tôi đã liên tưởng đến bao điều tốt đẹp về những người lính quả cảm, kiên trung. Thực ra, không phải người viết phóng đại hay quá lời, mà vốn dĩ, hình ảnh người lính Cụ Hồ trong bao hoàn cảnh thì đã là như vậy.
Người lính Cụ Hồ là ai, đội quân ấy đến từ đâu? Chẳng đâu khác, mà chính là từ Nhân dân. Chính xuất phát điểm từ Nhân dân đã khiến cho những người lính trở nên gần gũi, thân quen; “quân với dân như cá với nước” là vì thế. Người lính “từ nhân dân mà ra” thì “vì nhân dân mà chiến đấu, vì nhân dân mà hy sinh” cũng chẳng có gì lạ. Có lẽ, khẩu hiệu “quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” đã là chân lý vững bền nhất suốt bao năm qua. Hơn hết, còn được minh chứng rõ ràng, chắc chắn bằng những năm tháng khói lửa binh đao, trong thời bình dựng xây và bảo vệ đất nước, trong những lúc thiên tai, dịch giã hoành hành…
Lịch sử 79 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam là chừng ấy năm tháng kiêu hãnh, tự hào của những người lính. Dù ở vị trí nào, trong hoàn cảnh nào… các anh cũng đều quên mình chiến đấu, lặng thầm hy sinh, dâng hiến tuổi xuân xanh vì sự bình yên của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Dẫu sự dâng hiến tuổi xanh có biết bao nhọc nhằn gian khổ; dẫu sự thầm lặng hy sinh là những mất mát lớn lao không gì kể xiết…
Bao cuộc chiến vệ quốc đã đi qua trên dải đất Việt Nam, nhưng thử hỏi, đã có người lính nào lùi bước trước quân thù. Những năm tháng hòa bình dựng xây đất nước đầy gian khổ, nhưng thử hỏi, đã có người lính nào không nhận về mình phần gian khổ nơi hải đảo xa xôi, hay biên cương mịt mờ sương lạnh. Rồi trong những thời khắc dịch giã hoành hành, hiểm nguy rình rập tứ bề, thử hỏi, đã có người lính nào chùn lòng trước "kẻ thù vô hình” SARS-Cov-2…
Sự hy sinh quên mình của người lính trong chiến trận, những lặng thầm cống hiến tuổi thanh xuân của người lính trong thời bình lặng im tiếng súng, chính là niềm kiêu hãnh, là quá đỗi tự hào, là sứ mệnh thiêng liêng đối với Tổ quốc, dân tộc và Nhân dân. Dù người lính thời chiến hay trong hòa bình… thì khi đã khoác lên mình màu áo quân nhân, họ đều mang trái tim “Bộ đội Cụ Hồ”. Dù phải hy sinh đến tính mạng, dù gian lao nhọc nhằn, vất vả; trong bất kỳ điều kiện hoàn cảnh nào thì cũng đều hoàn thành tốt nhiệm vụ. Đó là nghĩa lớn và cũng chính là sự khác biệt của giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với bất kỳ đội quân đội nào khác.
Trong suốt bề dày 79 năm qua, đã có biết bao tấm gương quả cảm, kiên trung, quên mình hy sinh vì nhiệm vụ của người lính. Nếu như thời chiến, những mất mát, hy sinh đã tô thắm thêm cờ đào để mỗi sáng thức dậy, lá quốc kỳ phần phật tung bay trong nắng gió đầy tự tôn, tự hào. Thì giữa thời bình, máu đào các anh vẫn đổ vì thiên tai, dịch giã, chính là vì công cuộc dựng xây nước Việt hùng cường. Những hy sinh cao cả ấy của người lính chính là cội nguồn sức mạnh, là dòng chảy bất tử của lịch sử linh thiêng, là bài ca giữ nước mãi vang vọng đồng hành cùng sự phát triển của dân tộc Việt Nam qua bao năm tháng.
Người lính, từ bao đời nay, hành trang vẫn chỉ giản đơn là “một ba lô, cây súng trên vai”… nhưng người chiến sĩ ấy đã tự nhận về mình “quen với gian lao” để canh giữ tuyến đầu, bảo vệ biên cương, xông pha nơi gian khó… Cứ thế, lớp cha trước, lớp con sau… để rồi, không khó để tìm và bắt gặp một hình ảnh người lính quên mình vì nghĩa lớn; sáng ngời tấm gương hy sinh, xả thân vì đất nước, nhân dân.
Chưa nói đến quá khứ xa xôi khi cả dân tộc rền vang tiếng súng chống ngoại bang, mà chỉ nhìn trong mấy năm trở lại đây, khi đất nước trải qua bao đợt thiên tai, dịch giã. Trong hoàn cảnh khó khăn, ngặt nghèo của dịch bệnh, của thiên tai đã ngời sáng lên hình ảnh người lính Cụ Hồ. Họ luôn là lực lượng tiên phong đi đầu, biến mình thành “lá chắn thép” trực tiếp tham gia phòng, chống thiên tai, dịch bệnh.
Từ trong chiến tranh, từ trong thiên tai, dịch giã… ở “mặt trận” nào cũng ghi đậm dấu chân vững chắc, lòng quả cảm, tâm thế xả thân anh dũng của người lính Cụ Hồ. Cũng bởi “sáng chắn bão giông, chiều ngăn nắng lửa” đã trui rèn bản lĩnh, trung dũng, hiên ngang; để mỗi công dân khi khoác lên mình màu xanh áo lính đã không sá gì gian khổ, hiểm nguy để cho đất nước được trường tồn./.
St

Quan điểm nhất quán về tăng cường bản chất cách mạng cho Quân đội

 Đại tướng Nguyễn Chí Thanh là cán bộ ưu tú, nhà chính trị, quân sự lỗi lạc của cách mạng Việt Nam. Với quan điểm nhất quán về tăng cường bản chất cách mạng cho Quân đội, Đại tướng đã dành hết tâm huyết, trí tuệ chăm lo xây dựng Quân đội có đủ sức mạnh chiến đấu và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Với bản lĩnh kiên cường, trí tuệ mẫn tiệp và nhãn quan chính trị sắc sảo, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã dành hết tâm huyết cho sự nghiệp xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Cùng với Tổng Quân ủy, Đại tướng đã lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức xây dựng Quân đội vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức; hoạt động nền nếp, chất lượng với hiệu suất công tác, chiến đấu cao.
Trong đó, tăng cường bản chất cách mạng cho Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam là quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh và được minh chứng thuyết phục trên những phương diện cơ bản sau:
Thứ nhất, không ngừng củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội. Với trọng trách được giao, trên cương vị là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, đồng chí Nguyễn Chí Thanh luôn thấm nhuần sâu sắc nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội và thường xuyên dành sự quan tâm đặc biệt tới vấn đề củng cố, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, bởi “Sự lãnh đạo của Đảng là sinh mệnh của QĐND”. Đồng chí đã khẳng định: “Đảng là linh hồn, là đội tiên phong của Quân đội, Đảng mạnh thì mọi việc đều thành, Đảng yếu thì mọi việc đều không bảo đảm”, “Sự lãnh đạo của Đảng là sinh mệnh của QĐND”.
Nhằm tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với Quân đội, cùng với Tổng Quân ủy, Đại tướng đã chú trọng nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế lãnh đạo của Ðảng đối với Quân đội; nổi bật là đề xuất thay thế chế độ chính ủy tối hậu quyết định (áp dụng từ tháng 8-1949) bằng chế độ đảng ủy (thực hiện từ tháng 2-1951).
Thực thi chế độ đảng ủy là một thành công lớn, ghi dấu ấn đóng góp quan trọng của Ðại tướng Nguyễn Chí Thanh, góp phần hình thành cơ chế lấy đảng ủy làm hạt nhân lãnh đạo, xác lập chế độ thủ trưởng chính trị và thủ trưởng quân sự phân công phụ trách dưới sự lãnh đạo tập thể của đảng ủy; đồng thời khắc phục những hạn chế căn bản của cơ chế cũ. Nhờ đó, Quân đội luôn giữ vững bản chất cách mạng, tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, đề cao vai trò và phát huy hiệu quả tác dụng lãnh đạo của hệ thống tổ chức đảng trong Quân đội.
Thứ hai, chỉ đạo tiến hành nền nếp công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội. Đại tướng đã dày công chỉ đạo, xây dựng, thực thi, củng cố, kiện toàn chế độ và công tác đảng ủy trong Quân đội; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị... Nhờ đó, công tác Đảng, công tác chính trị trong Quân đội đã phát triển mạnh mẽ cả về nội dung, hình thức, biện pháp và hiệu quả thực hiện. Hệ quả tất yếu là Quân đội không chỉ giữ vững mà còn tăng cường và phát huy hiệu quả bản chất cách mạng của Quân đội anh hùng “bách chiến, bách thắng”.
Ðại tướng đã chỉ đạo, triển khai thành lập hệ thống cơ quan chính trị và thực hiện chế độ chính ủy, chính trị viên từ Tổng cục Chính trị xuống đến các quân khu, đại đoàn, trung đoàn, tiểu đoàn và đại đội. Các mặt hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị ngày càng gắn kết chặt chẽ giữa công tác tư tưởng, công tác tổ chức với công tác chính sách. Theo Đại tướng, lãnh đạo của Ðảng đối với Quân đội về thực chất là công tác vận động cách mạng của Ðảng và do đó, luôn coi trọng lãnh đạo làm tốt công tác tư tưởng, trọng tâm là xây dựng bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc cho Quân đội cách mạng.
Trong đó, Đại tướng đặc biệt quan tâm công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng thế giới quan, nhân sinh quan, phương pháp luận khoa học, nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần sâu sắc Chủ nghĩa Mác-Lênin, nắm vững quan điểm, đường lối của Ðảng, tình hình, nhiệm vụ của cách mạng, âm mưu, thủ đoạn của kẻ thù; có trình độ giác ngộ chính trị vững chắc, yêu nước, yêu chế độ; có tinh thần đoàn kết nội bộ, đoàn kết bền chặt với nhân dân; có ý chí “tự lực cánh sinh” và bản lĩnh dám đánh, trí tuệ biết thắng...
Nhờ đó, hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị đã trở thành “linh hồn, mạch sống” của mọi tổ chức, đơn vị Quân đội và trong mỗi quân nhân. Hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị ngày càng nền nếp, hiệu quả hơn; tạo sự thống nhất về nhận thức, ý chí, hành động trong toàn quân thành sức mạnh tổng hợp để phục vụ chiến đấu và chiến đấu giành thắng lợi.
Chủ trương xác lập chế độ đảng ủy đi đôi với phân công cá nhân phụ trách của Đại tướng đã tạo dựng được hạt nhân lãnh đạo thống nhất trong tập thể, tạo lực hướng tâm và dẫn dắt hành động hướng đích cho bộ đội. Không chỉ nắm vững nguyên tắc lãnh đạo tập thể, Đại tướng còn luôn gắn bó mật thiết và lắng nghe ý kiến của quần chúng, mạnh dạn phát huy dân chủ nội bộ để nâng cao sức mạnh, hiệu quả lãnh đạo tập thể trên tinh thần chủ động, tích cực của đông đảo đảng viên, quần chúng.
Vì thế, nghị quyết và những quyết định của Đảng là hội tụ trí tuệ tập thể, tạo sự thống nhất cao độ về ý chí và hành động của toàn quân. Đại tướng đã góp phần quyết định vào quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội theo đúng đường lối giai cấp mà Đảng đã xác lập.
Thứ ba, ra sức bồi dưỡng, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Quá trình lãnh đạo của tập thể và trên cương vị cá nhân phụ trách, Đại tướng đã luôn chú trọng mặt quan trọng, quyết định nhất đến sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Quân đội là xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị. Tăng cường bản chất cách mạng cho Quân đội được khởi nguồn từ lãnh đạo chính trị với vai trò “làm gốc” cho hiệu quả các mặt hoạt động của Quân đội theo đúng đường lối chính trị của Đảng; xây dựng vững mạnh về chính trị là sự biểu hiện cô đọng bản chất cách mạng của QĐND. Đồng chí Nguyễn Chí Thanh đã có công lớn trong xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, bồi dưỡng và phát huy bản chất cách mạng của Quân đội ta.
Đại tướng từng khẳng định: “Tinh thần chiến đấu của bất cứ một đội quân cách mạng nào cũng bắt nguồn từ sự giác ngộ giai cấp, giác ngộ chính trị của mỗi cán bộ và chiến sĩ quân đội đó”. Giác ngộ giai cấp, giác ngộ chính trị là sự phản ánh bản chất cách mạng, mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của quân đội. Với cán bộ, chiến sĩ QĐND Việt Nam, đó là sự thống nhất biện chứng giữa độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, gắn liền yêu nước với yêu chủ nghĩa xã hội.
Đại tướng yêu cầu: “Cần giáo dục cho cán bộ, chiến sĩ có trình độ giác ngộ giai cấp, giác ngộ dân tộc thật sâu sắc để phát huy lòng yêu nước nồng nàn, căm thù giặc sâu sắc, kiên quyết kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn”. Quân đội do Đảng ta lãnh đạo, giáo dục, rèn luyện và do đó, nội dung cốt lõi xây dựng Quân đội cách mạng là tăng cường bản chất giai cấp công nhân. Chính vì thế, trong bất kỳ tình huống nào, Quân đội vẫn phát huy mạnh mẽ bản chất, truyền thống cách mạng, nâng cao sức chiến đấu và đánh thắng mọi kẻ thù.
Thứ tư, thường xuyên chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Quân đội vững mạnh về mọi mặt. Đại tướng luôn hết lòng lãnh đạo, chỉ đạo chăm lo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Quân đội có đủ phẩm chất, năng lực, ngang tầm nhiệm vụ. Công lao đó đã được ghi nhận: “Đồng chí đã thường xuyên chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục, rèn luyện một đội ngũ cán bộ Quân đội vững mạnh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ cách mạng ngày càng cao”. Xây dựng đội ngũ cán bộ tài, trí vẹn toàn cũng chính là tạo dựng lực lượng nòng cốt giữ vững và lan tỏa giá trị bản chất cách mạng cho toàn quân.
Giáo dục, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Quân đội có đủ đạo đức, tài năng, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong mọi tình huống được Đại tướng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện chặt chẽ, nghiêm túc, hiệu quả. Ðồng thời, luôn yêu cầu các cấp phải làm tốt công tác giáo dục, rèn luyện toàn diện đội ngũ cán bộ cả về giác ngộ chính trị tư tưởng, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức cách mạng và năng lực, phương pháp, tác phong công tác; kết hợp “xây” kiên trì, bền bỉ với kiên quyết “chống”, lấy thuyết phục là chính trên cơ sở giữ vững nguyên tắc, tôn trọng pháp luật, kỷ cương, kỷ luật.
Đại tướng đặc biệt chú trọng giáo dục truyền thống yêu nước nồng nàn, chí căm thù giặc sâu sắc và quyết tâm chiến đấu, chiến thắng quân xâm lược để bảo vệ Tổ quốc; quán triệt cho bộ đội thấm nhuần lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh về bản chất Quân đội cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu trong mối quan hệ quân dân “cá nước”.
Đề cao yêu cầu bồi dưỡng toàn diện đội ngũ cán bộ Quân đội, Đại tướng đặc biệt quan tâm giác ngộ bộ đội tư tưởng “người trước, súng sau”, làm cơ sở nền tảng nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng và sức mạnh chiến đấu, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược. Đồng thời, bồi dưỡng cán bộ về quan điểm quần chúng, phát huy dân chủ, chấp hành kỷ luật và đề cao tinh thần đoàn kết trong tập thể.
Như vậy, bồi dưỡng bản chất cách mạng là quan điểm nhất quán, xuyên suốt sự nghiệp cách mạng của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Đại tướng đã góp phần to lớn đặt nền móng cho việc tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội và nền nếp hoạt động công tác Đảng, công tác chính trị, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, cũng như bồi dưỡng đội ngũ cán bộ Quân đội thực sự vững mạnh toàn diện.
St

CÁN BỘ, CHIẾN SỸ LÀ ANH EM

 Ngày tiễn con lên đường nhập ngũ, chị tôi dặn dò đủ điều và liên tục động viên: Con phải xác định tốt tư tưởng, yên tâm học tập, rèn luyện. Xem anh em, đồng đội với nhau như ruột thịt trong gia đình; đoàn kết, yêu thương, đùm bọc, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ con nhé!

Sự lo lắng, dặn dò của người thân các chiến sĩ mới là điều dễ hiểu. Bởi phần lớn các chiến sĩ mới lần đầu tiên xa gia đình, xa quê hương; bước chân từ ghế nhà trường phổ thông vào môi trường quân đội, còn ít những va vấp trong cuộc sống.
Nay vào quân đội, các chiến sĩ tụ hội về một mái nhà chung với những đồng đội không cùng quê quán, khác nhau về tập quán, vùng, miền... nhưng cùng chung một lý tưởng, mục tiêu vì sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, từ đó mà vun đắp nên tình đoàn kết, yêu thương đồng chí, đồng đội.
Cần khẳng định, lịch sử gần 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã minh chứng, chính tình đoàn kết, cán-binh một lòng, yêu thương, giúp đỡ nhau như anh em ruột thịt đã tạo nên cội nguồn sức mạnh để Quân đội ta nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.
Những người lính Bộ đội Cụ Hồ từ thuở 34 chiến sĩ đến nay luôn yêu thương, giúp đỡ nhau để "Lớp cha trước, lớp con sau/ Đã thành đồng chí chung câu quân hành". Tuy vậy, chúng ta cũng thừa nhận rằng: Thời gian qua, vẫn còn những cán bộ, chiến sĩ vì một lý do nào đó đã xem nhẹ tình đồng chí, đồng đội, dẫn đến những lời nói, việc làm thiếu chuẩn mực, làm “sứt mẻ” mối đoàn kết gắn bó keo sơn, ảnh hưởng đến hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn cán bộ các cấp trong quân đội: “Đối với binh sĩ, thì lời ăn tiếng nói, niềm vui, nỗi buồn, quần áo, nhất nhất phải biết rõ và hết sức chăm nom. Có đồng cam cộng khổ với binh sĩ thì khi dẫn họ đi đâu, dù nguy hiểm mấy họ cũng vui lòng đi, khi bảo họ đánh, họ sẽ hăng hái đánh”.
Và Người khẳng định: “Cán bộ có coi đội viên như chân tay, đội viên mới coi cán bộ như đầu như óc”. Lời căn dặn của Người nhắc nhở chúng ta rằng: Mối đoàn kết cán-binh, tình yêu thương đồng chí, đồng đội như anh em ruột thịt cần được nuôi dưỡng, vun đắp hằng ngày thông qua những việc làm cụ thể. Bởi nguy cơ về lối sống ích kỷ, biểu hiện “Độc đoán, gia trưởng, quân phiệt, coi thường tập thể; buông lỏng lãnh đạo, quản lý, chỉ huy, quan liêu, thiếu sâu sát” như Nghị quyết số 847-NQ/QUTW ngày 28-12-2021 của Quân ủy Trung ương về phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới đã cảnh báo sẽ hiện hữu nếu trong mỗi con người không được bồi đắp tình yêu thương mỗi ngày.
Để góp phần vun đắp tình cảm gắn bó keo sơn giữa cán bộ, chiến sĩ, trước hết, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần chú trọng đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa trong các đơn vị quân đội. Tùy vào điều kiện thực tế mỗi đơn vị mà tạo các diễn đàn, sân chơi bổ ích để cán-binh có dịp giao lưu, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, qua đó giúp chiến sĩ mới cảm nhận rõ ràng “đơn vị là nhà, cán bộ, chiến sĩ đều là anh em”, từ đó yên tâm học tập, công tác, huấn luyện.
Đối với cán bộ các cấp, đặc biệt là đội ngũ cán bộ trực tiếp quản lý chiến sĩ mới từ cấp tiểu đội trở lên, trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng phải thực sự là hạt nhân đoàn kết; gương mẫu trong lời nói, việc làm, sống có tình thương, trách nhiệm; chăm sóc, chỉ dạy, gần gũi, yêu thương chiến sĩ như chính những người em ruột thịt của mình. Mỗi chiến sĩ cần xác định rõ nghĩa vụ và trách nhiệm để cố gắng trong rèn luyện và học tập; cùng nhau xây dựng môi trường văn hóa trong đơn vị, cùng nhau vượt qua khó khăn, gian khổ, thách thức, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao./.
ST

79 MÙA XUÂN VỚI SỰ RA ĐỜI, XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM ANH HÙNG

 Thời gian 79 năm để trưởng thành đối với một con người thật không đơn giản, phải vượt qua biết bao thăng trầm, bao giông tố cuộc đời, để mỗi chúng ta trở thành người có ích cho Tổ quốc, Nhân dân và cho chính bản thân mình. Nhưng đối với một đội quân cách mạng thì phải hy sinh sương m.áu của bao thế hệ mới chiến thắng kẻ thù, giành độc lập cho dan tộc.

Quân đội ta từ lúc sơ khai chỉ vẻn vẹn 34 con người, quân số bằng một trung đội với trang bị bên ngoài thô sơ, nhưng bên trong lồng ngực mỗi người là những trái tim nồng nàn yêu nước, các đồng chí là những ngọn cờ tiên phong, dẫn dắt lớp lớp thế hệ chiến sĩ trải qua các cuộc kháng chiến trường kỳ, giành độc lập tự do cho dân tộc.
Trải qua 79 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành; QĐNDVN là quân đội của dân do dân và vì dân; là lực lượng nòng cốt trong lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, được Đảng cộng sản Việt Nam và chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng tổ chức, giáo dục và rèn luyện. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, sự chở che, đùm bọc, nuôi dưỡng của nhân dân, sự đoàn kết chia sẻ của bạn bè quốc tế… Quân đội, Nhân dân ta đã anh dũng đánh đuổi chế độ thực dân, đế quốc, giành độc lập, thống nhất Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả của mình khi cứu giúp dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.
Trên mỗi một chặng đường đều ghi dấu những chiến công hiển hách cùng sự tin tưởng thương yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân dành cho những người lính “Bộ đội Cụ Hồ”.
Ngày 22/12/1944 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Chỉ thị thành lập "Đội Việt Nam tuyên truyền Giải Phóng Quân” và giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách gồm 34 chiến sĩ, biên chế thành 3 tiểu đội, đồng chí Hoàng Sâm được cử làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm chính trị viên, có chi bộ Đảng để lãnh đạo.
Vượt qua chặng đường 79 năm xây dựng chiến đấu và trưởng thành, cùng với những chiến công mãi mãi ghi vào trang sử hào hùng của dân tộc, đã xây dựng lên biểu tượng sáng ngời về một quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu… quân đội ta đã xây đắp lên những truyền thống cao đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ” đó là: Tuyệt đối trung thành với tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; một quân đội quyết chiến quyết thắng, biết đánh và biết thắng, gắn bó m.áu thịt với nhân dân, quân với dân một ý chí, cán bộ chiến sĩ đồng lòng thống nhất về ý chí và hành động, thực hiện kỷ luật sắt, tự giác và nghiêm minh, có tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, chí nghĩa, chí tình.
Đến ngày nay dù đất nước đã hoà bình, Đảng, Chính phủ đang tập trung mọi nỗ lực, khai thác mọi tiềm năng lợi thế quốc gia để giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội… nhằm góp phần nâng cao đời sống nhân dân. Tuy nhiên quân đội vẫn luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi trước mọi kẻ thù để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Trên mặt trận không tiếng súng "phòng chống thiên tai bão lũ, phòng chống đại dịch Covid 19...." QĐNDVN luôn là lực lượng tiên phong đi đầu, bất chấp khó khăn nguy hiểm, dù phải hy sinh bản thân để giành lại sự sống cho nhân dân, trong mỗi trái tim người chiến sĩ là mệnh lệnh không thể không thực hiện “Mệnh lệnh từ trái tim người lính”.
Với tình cảm mộc mạc chân thành, sự hy sinh cao cả cùng những chiến công chói lọi của QĐNDVN, sẽ mãi in đậm trong lòng nhân dân Việt Nam và bè bạn tiến bộ trên thế giới. Không có bất cứ thế lực nào, kẻ thù nào có thể khuất phục được ý chí, lòng dũng cảm kiên cường của những người chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng./.
ST

VÙNG 3 HẢI QUÂN KỊP THỜI HỖ TRỢ TÀU CÁ BỊ NẠN

 Theo thông tin từ Bộ Tư lệnh Vùng 3 Hải quân, sau nhiều giờ nỗ lực vượt qua điều kiện sóng to, gió lớn, thời tiết phức tạp, đến khoảng 12.00 ngày 20/12, Tàu 375 (Vùng 3 Hải quân) đã tiếp cận được với tàu cá số hiệu QNg 94373 bị nạn trên biển. Các lực lượng trên Tàu 375 đã khẩn trương thực hiện các biện pháp hỗ trợ, triển khai cứu nạn, động viên tinh thần, thăm khám sức khỏe các ngư dân và chuẩn bị lai dắt tàu bị nạn vào bờ.

Vào lúc 07.00, ngày 20/12, Bộ Tư lệnh Vùng 3 Hải quân nhận lệnh từ Quân chủng Hải quân về việc hỗ trợ tàu cá tỉnh Quảng Ngãi số hiệu QNg 94373, trên tàu có 05 lao động, do ông Đặng Nguyên Sang, thường trú tại huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi làm chủ. Tàu cá QNg 94373 bị hỏng máy (ở 16010’-110020’, cách Đông Bắc đảo Lý Sơn khoảng 80 Hải lý). Trước đó, tàu bị nạn được tàu cá QNg94752 lai kéo 02 ngày. Tuy nhiên, do khu vực biển nói trên có gió Đông Bắc mạnh cấp 7, giật cấp 8, độ cao sóng cao từ 3 - 5m; biển động mạnh, khả năng lai kéo của tàu cá QNg94752 hạn chế, không đủ nhiên liệu để lai kéo tàu QNg94373 về bờ. Thuyền trưởng tàu cá bị nạn đã phát tín hiệu đề nghị được lực lượng chức năng hỗ trợ.
Ngay khi nhận được thông tin, thực hiện lệnh từ Sở Chỉ huy Quân chủng Hải quân, Vùng 3 Hải quân đã điều động Tàu 375 đang thực hiện nhiệm vụ trên biển làm công tác chuẩn bị, nhanh chóng cơ động đến vị trí tàu bị nạn. Sau nhiều giờ vượt qua điều kiện sóng to, gió lớn, thời tiết phức tạp, lúc 12.00 ngày 20/12, Tàu 375 đã tiếp cận tàu cá bị nạn. Các lực lượng trên Tàu 375 đã khẩn trương thực hiện các biện pháp hỗ trợ, triển khai cứu nạn; động viên tinh thần, thăm khám sức khỏe các ngư dân và làm mọi công tác chuẩn bị để tiến hành lai dắt tàu cá QNg 94373 vào bờ.
Dự kiến, đến sáng ngày 21/12, Tàu 375 của Vùng 3 Hải quân sẽ lai kéo tàu bị nạn về bờ và tổ chức bàn giao cho cơ quan chức năng theo quy định./.
ST

LỢI DỤNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC ĐỂ CHỐNG PHÁ ĐẤT NƯỚC

 Thời gian qua, các thế lực thù địch không ngừng xuyên tạc chính sách tôn giáo, dân tộc của Việt Nam, cố tình đánh tráo khái niệm nhằm đồng nhất “quyền dân tộc tự quyết” với “quyền dân tộc thiểu số” để chống phá Đảng, Nhà nước cũng như khối đại đoàn kết dân tộc. Thực tế này đòi hỏi mỗi người dân cần nhận thức và thực hành đúng đắn quyền dân tộc tự quyết nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, góp phần giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Mặc dù có liên hệ mật thiết với nhau song “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền dân tộc thiểu số” là hai quyền khác nhau. Theo Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế “quyền dân tộc tự quyết” là quyền của các quốc gia - dân tộc trong việc thiết lập chế độ chính trị, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội theo con đường mình lựa chọn trên cơ sở thiết lập chủ quyền quốc gia. Một trong những mục đích, tôn chỉ hoạt động được Liên hợp quốc khẳng định tại Điều 1, Hiến chương Liên hợp quốc đó là: “Phát triển mối quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc trên cơ sở tôn trọng nguyên tắc bình đẳng và tự quyết của các dân tộc và áp dụng những biện pháp phù hợp khác để củng cố hòa bình thế giới”.
Năm 1966, lần đầu tiên “quyền dân tộc tự quyết” được ghi nhận trong các công ước quốc tế, đó là Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị, Công ước về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa. Đặc biệt tại Tuyên bố về những nguyên tắc của Luật quốc tế điều chỉnh quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua tại Nghị quyết 2625 (XXV) năm 1970 đã chỉ rõ nội hàm của “quyền dân tộc tự quyết” (hay còn gọi là nguyên tắc tự quyết của các dân tộc) với các điểm mấu chốt như sau:
🔸️
Một là “tất cả các dân tộc có quyền tự do quyết định chế độ chính trị và theo đuổi sự phát triển về kinh tế, xã hội và văn hóa của mình mà không có bất kỳ sự can thiệp nào từ bên ngoài”.
🔸️
Hai là “việc thành lập một quốc gia độc lập có chủ quyền, sự tự do liên kết hoặc hợp nhất với một quốc gia độc lập hoặc dưới bất kỳ quy chế chính trị nào do một dân tộc tự do quyết định sẽ chính là các cách thức thực hiện quyền tự quyết của dân tộc ấy”.
🔸️
Ba là “không một điều nào được nói đến ở trên sẽ được hiểu là trao quyền hoặc khuyến khích bất kỳ hành động nào dẫn đến việc chia cắt, làm suy yếu toàn bộ hoặc một phần sự toàn vẹn lãnh thổ hoặc sự thống nhất về chính trị của một quốc gia độc lập có chủ quyền thực hiện phù hợp với nguyên tắc về quyền bình đẳng và quyền tự quyết của các dân tộc được đề cập đến ở trên, và do đó có một chính quyền đại diện cho toàn thể nhân dân sống trên lãnh thổ đó mà không có sự phân biệt về màu da, tín ngưỡng hoặc chủng tộc”…
Liên quan “quyền dân tộc thiểu số”, tại Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền của Đại hội đồng bảo an Liên hợp quốc năm 1948 khẳng định rõ: “Mọi người sinh ra tự do và bình đẳng về phẩm cách và quyền lợi, có lý trí và lương tri, và phải đối xử với nhau trong tình bác ái” (Điều 1) và “Ai cũng được hưởng những quyền tự do ghi trong bản Tuyên ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào, như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ thân trạng nào khác” (Điều 2).
Đồng thời tại Công ước về các Quyền Dân sự và Chính trị năm 1966 quy định những người thuộc dân tộc thiểu số ở bất kỳ quốc gia - dân tộc nào cũng có đầy đủ các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội như những người thuộc dân tộc đa số ở chính các quốc gia-dân tộc đó, không được có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào.
Như vậy, có thể khẳng định “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền dân tộc thiểu số” là hai quyền khác nhau, liên quan các đối tượng khác nhau. Khi đề cập về “quyền dân tộc tự quyết” là muốn nói đến quyền lợi của một quốc gia - dân tộc so với các quốc gia - dân tộc khác trên thế giới.
Cụ thể, khi một quốc gia có nguy cơ bị các quốc gia khác xâm hại hoặc cản trở việc thực hiện quyền này thì toàn thể các dân tộc tại quốc gia đó phải đoàn kết, kiên quyết, kiên trì đấu tranh không khoan nhượng để bảo vệ “quyền dân tộc tự quyết” của mình. Còn khi đề cập “quyền dân tộc thiểu số” là nói đến quyền lợi của các dân tộc thiểu số trong nội bộ của một quốc gia độc lập, thống nhất. Theo đó, các quốc gia phải có trách nhiệm bảo đảm cho các dân tộc thiểu số sinh sống tại quốc gia mình được hưởng đầy đủ các quyền “dân tộc thiểu số” phù hợp điều kiện, hoàn cảnh, luật pháp của quốc gia.
Tuy nhiên, lợi dụng thực tế Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc (trong đó dân tộc Kinh chiếm khoảng 87% dân số, còn lại là dân tộc thiểu số gồm 53 dân tộc chiếm 13% dân số), cùng với đó là sự nhận thức chưa đầy đủ về “quyền dân tộc tự quyết” của nhiều người dân, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa, kinh tế-xã hội còn kém phát triển và trình độ dân trí chưa cao, các thế lực thù địch, phản động đã tìm cách đánh tráo nhằm đồng nhất hai khái niệm “quyền dân tộc tự quyết” và “quyền dân tộc thiểu số”. Mục đích mà chúng muốn hướng đến là chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, kích động đồng bào dân tộc thiểu số thực hiện “quyền dân tộc tự quyết” bằng cách ly khai, bạo loạn, đòi quyền tự trị, tự quản với nhiều thủ đoạn tinh vi, thâm độc.
Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước cùng những chủ trương, chính sách đúng đắn, đời sống của người dân, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được cải thiện về mọi mặt, theo đúng phương châm mà Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chỉ rõ: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Huy động, phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số… Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều, bền vững”.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, trên thực tế tại một số địa phương việc giải quyết vấn đề dân tộc vẫn còn những hạn chế, thiếu sót nhất định với các biểu hiện: Việc tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước ở một số địa phương còn yếu kém; công tác quản lý xã hội còn nhiều sơ hở, chưa gần dân, sát dân, chưa kịp thời nắm bắt và giải quyết tâm tư nguyện vọng của đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo; chậm phát hiện và xử lý các vụ việc phức tạp trên địa bàn…
Lợi dụng những hạn chế này, các thế lực thù địch, phản động đã phủ nhận toàn bộ những thành tựu to lớn của Việt Nam trong thực hiện chính sách dân tộc, vu cáo Đảng và Nhà nước Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, phân biệt đối xử, đàn áp đồng bào dân tộc thiểu số, ép người đồng bào dân tộc thiểu số phải “bỏ đạo, bỏ văn hóa truyền thống” để hòa nhập với “cuộc sống văn minh, tiến bộ” của người Kinh; tuyên truyền sai lệch về quyền dân tộc tự quyết để chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá chế độ, từ đó từng bước làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Để phát hiện và ngăn chặn có hiệu quả những thủ đoạn lợi dụng quyền dân tộc tự quyết để chống phá đất nước, các cấp chính quyền, cơ quan chức năng và các tổ chức đoàn thể cần triển khai thực hiện đồng bộ một số giải pháp sau: Trước hết phải tăng cường giáo dục, tuyên truyền để cho các tầng lớp nhân dân, nhất là những người đồng bào dân tộc thiểu số nâng cao cảnh giác, hiểu đúng, hiểu rõ và thực hành đúng “quyền dân tộc tự quyết” theo tinh thần của Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế cũng như luật pháp Việt Nam. Khi người dân đã hiểu đúng về “quyền dân tộc tự quyết” thì sẽ không còn cơ hội cho các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá.
Các cơ quan chức năng cần tăng cường kiểm tra, giám sát để kịp thời phát hiện và xử lý có hiệu quả các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước lợi dụng thực hành tín ngưỡng, tôn giáo, cũng như các hoạt động “từ thiện”, “nhân đạo” trá hình để tuyên truyền sai lệch về vấn đề thực hiện “quyền dân tộc tự quyết” từ đó mua chuộc, vận động, thậm chí ép buộc người đồng bào dân tộc thiểu số có những hành vi gây rối, bạo loạn, đòi ly khai, tự trị. Tiếp tục làm tốt hơn nữa công tác nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, đòi hòi chính đáng và giải quyết kịp thời những mâu thuẫn, bức xúc của đồng bào dân tộc thiểu số, góp phần củng cố niềm tin của họ với Đảng, Nhà nước.
Song song đó, phải tiếp tục hoàn thiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách này góp phần bảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng của đồng bào dân tộc thiểu số được thực hiện một cách đầy đủ, trên nguyên tắc các dân tộc thật sự bình đẳng, đề cao tinh thần thống nhất và khối đại đoàn kết dân tộc, tôn trọng những điểm khác biệt của các dân tộc về văn hóa, phong tục, tập quán, tôn giáo, tín ngưỡng…
Đồng thời, cần tăng cường thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói, giảm nghèo đa chiều bền vững ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo còn đặc biệt khó khăn. Chỉ khi đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số không ngừng được cải thiện và nâng cao về mọi mặt, thu hẹp và tiến tới xóa bỏ khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa người miền xuôi và người miền núi, giữa đồng bào dân tộc thiểu số với đồng bào Kinh thì mới thúc đẩy sự phát triển bền vững, tiến bộ của xã hội, giải quyết triệt để, hiệu quả nhiệm vụ đấu tranh, ngăn chặn âm mưu chống phá của các thế lực phản động, thù địch./.
ST

BÁC HỒ DẶN CÁN BỘ, CHIẾN SĨ QUÂN ĐỘI PHẢI TIẾN TỚI

 Là người cha thân yêu của lực lượng vũ trang, Bác Hồ dành tình cảm đặc biệt và sự chăm sóc ân cần, chu đáo cho bộ đội; từ tướng lĩnh chỉ huy đến các chiến sĩ ngoài mặt trận.

Hơn ai hết, Người thấu hiểu những gian nan, vất vả, hy sinh của Quân đội ta trong cuộc chiến giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Từ Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân-tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam, cho đến khi Người viết Di chúc để lại trước lúc đi xa, tình cảm và niềm tin yêu hy vọng của Người dành cho Bộ đội Cụ Hồ với truyền thống bách chiến bách thắng vẫn luôn đằm thắm, ân tình sâu nặng.
Với Quân đội ta, đó thực sự là nguồn động viên, cổ vũ to lớn, là tài sản tinh thần vô giá mà Bác trao gửi. Tình cảm của Bác với quân đội và tình cảm của quân đội với Bác là một mẫu mực hiếm thấy về mối quan hệ giữa lãnh tụ với cán bộ, chiến sĩ quân đội cách mạng, chỉ thấy ở Bác Hồ, ở danh xưng cao quý mà nhân dân trao tặng Bộ đội Cụ Hồ. Mẫu mực ấy còn thể hiện ở hành động dũng cảm của lớp lớp chiến sĩ các thế hệ tiếp nối nhau “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” để tô thắm phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ.
“Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”- lời khen ngợi của Bác nhân dịp kỷ niệm 20 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1964) đồng thời cũng là một thông điệp lịch sử, mệnh lệnh của Người đối với toàn quân-thiêng liêng mà chan chứa tình thương yêu và niềm tin mãnh liệt. Thời gian càng lùi xa, những lời khen ngợi, căn dặn của Bác đối với cán bộ, chiến sĩ toàn quân càng trở nên thấm thía, có sức lay động, thúc đẩy Quân đội ta tiến tới như Bác hằng mong, Đảng và nhân dân ta tin tưởng.
Vậy Bác đã căn dặn cán bộ, chiến sĩ quân đội phải tiến tới như thế nào? Những căn dặn của Bác vào lúc này, chúng ta cần thấm nhuần và thực hiện ra sao để giữ vững và phát huy phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ trong điều kiện và hoàn cảnh mới? Trước hết, phải tiến tới bằng quyết tâm rèn luyện, phấn đấu, tu dưỡng không ngừng tiến bộ và phát triển; còn đối với tất cả mọi người, nhất là cán bộ, đảng viên, phải tiên phong gương mẫu cho quần chúng noi theo.
Phải tiến tới còn với nghĩa là phải hành động, lời nói phải đi đôi với việc làm, đã nói thì phải làm; “không ngại khó, ngại khổ”, “thắng không kiêu, bại không nản”, giữ vững ý chí chiến đấu, ra sức phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm để mỗi người trở nên tốt hơn, mỗi tổ chức, đơn vị trở nên mạnh hơn.
Phải tiến tới là tự vượt lên chính bản thân mình, có dũng khí và bản lĩnh chiến thắng chủ nghĩa cá nhân-thứ “giặc nội xâm” nguy hiểm nhất. Để tiến tới là cần phải tích cực học tập và rèn luyện suốt đời; học văn hóa và kỹ thuật quân sự, học chính trị để trau dồi lập trường tư tưởng vững vàng, học trong thực tiễn cuộc sống. Những việc này không chỉ đòi hỏi sự tự nguyện, tự giác của bản thân mà đòi hỏi còn phải có nghị lực, bản lĩnh, tinh thần nêu cao trách nhiệm, nhất là ở người đứng đầu.
Một vấn đề rất hệ trọng để thực hiện tốt việc tiến tới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân phải gắn bó mật thiết, máu thịt với nhân dân, nghĩa là ai ai cũng phải làm tốt công tác dân vận, chú trọng binh vận, địch vận. Bác Hồ chính là tấm gương thực hành mẫu mực, sáng tạo, có tác dụng giáo dục rất lớn đối với cả quân và dân. Người khẳng định và chỉ rõ: “Không có dân thì không có bộ đội”, “Quân với dân phải như cá với nước”, “Nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội”, “Quân đội ta là quân đội nhân dân, do dân đẻ ra, vì dân mà chiến đấu, yêu nước, yêu dân, cho nên hy sinh kham khổ”.
Do đó, bộ đội trong toàn quân, từ tướng lĩnh đến các binh sĩ phải luôn gần dân, sát dân, bám dân, giúp đỡ dân và hy sinh để bảo vệ dân. Phải gương mẫu về dân vận, sao cho ''đi dân nhớ, ở dân thương", "dân tin, dân phục, dân yêu...".
Cán bộ, chiến sĩ phải tiến tới theo chỉ dẫn của Bác Hồ đòi hỏi sự nỗ lực, phấn đấu toàn diện về mọi mặt, từ thể lực, trí lực, tâm lực, tức là sức khỏe, trí tuệ sáng suốt, mưu trí, dũng cảm, đoàn kết, nhất trí, thương yêu nhân dân, đó là đạo đức, nói rộng ra là nhân cách, phẩm giá Bộ đội Cụ Hồ, là văn hóa của quân đội, của nền khoa học và nghệ thuật quân sự hiện đại, là bản lĩnh chính trị của quân đội cách mạng.
Những chỉ dẫn của Người giản dị, thiết thực mà vô cùng sâu sắc, có ý nghĩa không chỉ trong thời chiến mà cả trong thời bình. Người nhấn mạnh vào mấy điểm cốt yếu: “Toàn dân đoàn kết. Tướng sĩ dũng cảm. Chính trị vững chắc. Chỉ huy khôn khéo. Bốn điều ấy hợp lại, làm cho kháng chiến nhất định thắng lợi”.
Những điều ấy vừa là chuẩn mực, phẩm chất và điều kiện để quân nhân tiến tới, để quân đội tiến tới chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, bảo vệ vững chắc thành quả của cách mạng, của công cuộc đổi mới, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay, để tiến tới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân vừa có nhiều thời cơ thuận lợi, cũng vừa phải đối mặt với những khó khăn, thách thức và cả những nguy cơ hơn bao giờ hết. Đảng, Nhà nước, quân đội đang nêu cao quyết tâm, tín tâm, đồng tâm như chỉ dẫn của Người, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, chống được mọi biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, chống chủ nghĩa cá nhân.
Sâu xa là ra sức nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, đủ sáng suốt, tỉnh táo và bản lĩnh để vượt qua những cám dỗ của vật chất, danh lợi để giữ trọn lòng trung thành với Đảng, với nhân dân “tận trung với Đảng”, “tận hiếu với dân”, xứng đáng là Bộ đội Cụ Hồ./.
ST

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ PHẠM MINH CHÍNH THĂM VÀ LÀM VIỆC TẠI HỌC VIỆN QUỐC PHÒNG

 Chiều 20-12, tại Hà Nội, đồng chí Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đến thăm, làm việc với Học viện Quốc phòng.

Tham dự buổi làm việc có các đồng chí: Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; Trung tướng Nguyễn Doãn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Trung tướng Nguyễn Văn Gấu, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; lãnh đạo Văn phòng Chính phủ; lãnh đạo, chỉ huy một số cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng.
Dự đón, làm việc với Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và đoàn công tác, về phía Học viện Quốc phòng có các đồng chí: Thượng tướng Trần Việt Khoa, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Quốc phòng; Trung tướng Đỗ Văn Bảnh, Chính ủy Học viện Quốc phòng; các đồng chí trong Đảng ủy, Ban giám đốc Học viện Quốc phòng; chỉ huy các cơ quan, đơn vị thuộc Học viện Quốc phòng.
Tại Học viện Quốc phòng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và đoàn công tác đã đi thăm Phòng truyền thống cùng hệ thống cơ sở vật chất; nghe báo cáo khái quát lịch sử hình thành, phát triển, kết quả thực hiện nhiệm vụ của Học viện thời gian qua, trọng tâm là năm 2023. Phát biểu, trao đổi, trò chuyện thân mật với lãnh đạo và cán bộ, học viên Học viện Quốc phòng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh giá trị to lớn của hòa bình; tranh thủ thông báo khái quát tình hình quốc tế, khu vực, từ đó khẳng định vai trò quan trọng của Học viện Quốc phòng trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc giai đoạn hiện nay.
Đồng chí Phạm Minh Chính đánh giá, Học viện Quốc phòng là trung tâm giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế hàng đầu của quân đội và quốc gia, có vai trò quan trọng trong triển khai thực hiện chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, sự chỉ đạo, điều hành của Chính phủ...
Sau khi chúc mừng, biểu dương sự nỗ lực phấn đấu và thành tích của cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện Quốc phòng những năm qua, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính gợi mở một số vấn đề trọng tâm yêu cầu Học viện Quốc phòng cần đặc biệt quan tâm, nắm bắt, nghiên cứu, đưa vào chương trình giảng dạy. Trong đó, chú ý đến vấn đề nhận thức đúng về đối tượng, đối tác, giải quyết tốt mối quan hệ với đối tác, đối tượng; nhận thức đúng về chủ trương, giải pháp chiến lược, nắm bắt thời cơ để phát triển đất nước, song phải giữ vững độc lập, tự chủ; các vấn đề cần nghiên cứu trong tổ chức xây dựng quân đội; phát triển lý luận về quốc phòng, nghệ thuật quân sự; diễn biến phức tạp của thách thức an ninh phi truyền thống cùng những vấn đề phức tạp mới, thách thức mới trong nước…
Trước bối cảnh tình hình mới cùng những yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra hết sức nặng nề, trên cơ sở vị trí, vai trò của Học viện Quốc phòng, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính yêu cầu Đảng ủy, Ban giám đốc Học viện tiếp tục triển khai thực hiện nghiêm túc, hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quân sự, quốc phòng, an ninh, nhất là việc quán triệt, triển khai, tổ chức thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Học viện cần xây dựng đề án, tập trung đồng bộ các biện pháp, tạo bước đột phá nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện, đào tạo, góp phần tích cực vào xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang cả trước mắt lẫn lâu dài.
Trong đó, cần tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; tiếp tục đổi mới chương trình đào tạo, nâng cao chất lượng bồi dưỡng kiến thức quốc phòng, an ninh cho cán bộ của Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang. Nội dung đào tạo phải sát với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của đất nước, sự phát triển của Quân đội, phù hợp với đối tượng tác chiến và thực tiễn các phương thức chiến tranh hiện nay, bảo đảm sâu sắc về lý luận, phong phú về thực tiễn, cập nhật, bổ sung kiến thức lý luận, thông tin mới về khoa học quân sự hiện đại.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính lưu ý, quá trình thực hiện nhiệm vụ, Đảng ủy, Ban giám đốc Học viện Quốc phòng cần bảo đảm dạy - học thực chất, hiệu quả, thực hiện tốt chủ trương của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về giáo dục-đào tạo. Cùng với đó, đẩy mạnh việc tổng kết thực tiễn, nghiên cứu, phát triển khoa học quốc phòng, an ninh trong tình hình mới. Tiếp tục tham mưu với Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng các vấn đề chiến lược về quốc phòng, an ninh, nhất là những nhận thức, tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc; phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu dự báo, nắm chắc tình hình; chú trọng nghiên cứu chiến lược; đẩy mạnh nghiên cứu các giải pháp phát triển kinh tế-xã hội với tăng cường, củng cố quốc phòng, an ninh và đối ngoại, làm cơ sở cho việc tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh ở các ban, bộ, ngành và địa phương.
Nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng đặc biệt của công tác đối ngoại quân sự, hợp tác quốc tế, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Học viện Quốc phòng tiếp tục mở rộng và nâng cao hiệu quả nhiệm vụ này, nhất là trong huấn luyện - đào tạo, trao đổi, tổ chức tọa đàm, nghiên cứu học thuật; thực hiện tốt nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quân sự cao cấp cho các nước bạn. Học viện cần quan tâm đầu tư thỏa đáng, hiệu quả để xứng tầm là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cao cấp, nghiên cứu, phát triển khoa học và hợp tác quốc tế hàng đầu của quân đội và quốc gia.
Song song với công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, giảng viên vững vàng về chính trị, tư tưởng, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, có tư duy chiến lược, trí tuệ và năng lực thực tiễn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu Học viện Quốc phòng cần chú trọng đẩy mạnh chuyển đổi số, tăng cường ứng dụng khoa học công nghệ trong đào tạo, huấn luyện; không ngừng đầu tư nâng cao chất lượng cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ huấn luyện-đào tạo; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính lưu ý, cùng với thực hiện tốt các nhiệm vụ trên, Đảng ủy, Ban giám đốc Học viện Quốc phòng cần chú trọng xây dựng các cấp ủy, tổ chức Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên vững mạnh tiêu biểu; xây dựng Đảng bộ vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ gắn với xây dựng Học viện vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”.
Với truyền thống vẻ vang, cùng với đội ngũ cán bộ, giảng viên có trình độ chuyên môn giỏi, bản lĩnh chính trị vững vàng, tâm huyết, trách nhiệm, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính tin tưởng, Học viện Quốc phòng sẽ tiếp tục đổi mới, phát triển mạnh mẽ, hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội tin cậy, giao phó, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
Nhân dịp kỷ niệm 79 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2023) và 34 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân (22-12-1989 / 22-12-2023); chuẩn bị đón năm mới 2024, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính gửi tới toàn thể cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ Học viện Quốc phòng nói riêng, cán bộ, nhân viên, chiến sĩ toàn quân nói chung lời chúc sức khỏe, hạnh phúc, thành công, đạt được nhiều thành tích, thắng lợi mới./.
ST