Thứ Năm, 21 tháng 12, 2023
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: “6 HƠN" TRONG THÚC ĐẨY QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC "TRỤ CỘT HỢP TÁC QUỐC PHÒNG, AN NINH"!
Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt” trong đổi mới và chỉnh đốn Đảng hiện nay
Lý luận cách mạng là một trong những vấn đề rất quan trọng, có quan hệ trực tiếp đến sinh mệnh của Đảng cũng như sự thành bại của cách mạng. Việc nghiên cứu, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt” trong đổi mới, chỉnh đốn Đảng hiện nay là vấn đề có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.
“Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt”
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, lý luận cách mạng có vai trò hết sức quan trọng đối với Đảng Cộng sản và sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Trong tác phẩm Đường Kách mệnh, Người đã khẳng định: Cách mạng Việt Nam “Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy. Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam”(1). “Chủ nghĩa” mà Hồ Chí Minh đề cập ở đây chính là hệ thống lý luận để Đảng Cộng sản lấy đó làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đối với Đảng ta, đó chính là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhất quán quan điểm này.
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là tinh hoa trí tuệ của sự phát triển những tư tưởng tiên tiến của nhân loại. Đó là lý luận cách mạng và khoa học, là vũ khí tư tưởng sắc bén của giai cấp công nhân và Đảng Cộng sản. Được trang bị lý luận Mác - Lê-nin (lý luận cách mạng tiên phong), Đảng Cộng sản Việt Nam mới xứng đáng là đội tiên phong chính trị, bộ tham mưu chiến đấu của giai cấp công nhân và dân tộc, Đảng mới thực sự tiêu biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc và thời đại. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là linh hồn, là chất kết dính làm cho Đảng thống nhất ý chí và hành động lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi cuối cùng.
Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin “làm cốt” còn được quy định bởi quy luật ra đời của Đảng. Đảng ta ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Quy luật ra đời của Đảng tự nó đã nói lên tính tất yếu khách quan của việc Đảng phải lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin “làm cốt”. Thực tiễn cách mạng Việt Nam đã khẳng định chân lý đó. Chỉ sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào nước ta với tư tưởng chỉ đạo muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản, cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta mới thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng về tư tưởng và có được tôn chỉ hành động đúng đắn.
Tuy nhiên, theo quan điểm của Hồ Chí Minh, chủ nghĩa Mác - Lê-nin không phải là “chìa khóa vạn năng”, càng không phải là những tín điều trong kinh thánh. Với vai trò cải tạo thế giới, chủ nghĩa Mác - Lê-nin chỉ phát huy tác dụng và trở thành lực lượng vật chất to lớn khi nó được thâm nhập vào quần chúng, khi Đảng Cộng sản nắm được bản chất khoa học, cách mạng và vận dụng, phát triển nó một cách đúng đắn, sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “… chúng ta phải học chủ nghĩa Mác - Lê-nin để phân tích và giải quyết các vấn đề cụ thể của cách mạng nước ta, cho hợp với điều kiện đặc biệt của nước ta. Khi vận dụng thì bổ sung, làm phong phú thêm lý luận bằng những kết luận mới rút ra từ trong thực tiễn cách mạng của ta”(2). Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực tuyệt vời trong việc bảo vệ, vận dụng đúng đắn, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam.
Quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh, những người Cộng sản Việt Nam không bao giờ được kỳ vọng rằng, những nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã nêu ra những chân lý tuyệt đối cuối cùng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Điều quan trọng trong vận dụng và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin là chúng ta có thể biết được phương hướng, bước đi của con đường đó,… còn như về cụ thể và trên thực tế con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của mỗi quốc gia, dân tộc ra sao, thì kinh nghiệm của hàng triệu con người khi họ bắt tay vào hành động mới hiểu rõ. Quan điểm của V.I. Lê-nin không cho phép các đảng cộng sản máy móc, rập khuôn, giáo điều trong vận dụng, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin. “Linh hồn” của chủ nghĩa Mác - Lê-nin là phân tích cụ thể, tình hình cụ thể, sức sống của chủ nghĩa Mác - Lê-nin là sáng tạo. Không phân tích tình hình cụ thể để vận dụng, phát triển đúng đắn, sáng tạo nguyên lý Mác - Lê-nin mà chỉ áp dụng nó một cách giáo điều, bất chấp thực tiễn đã thay đổi là làm trái với bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, sẽ khiến cách mạng gặp khó khăn, thậm chí thất bại. Bài học về sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu là một minh chứng khi các đảng cộng sản mắc sai lầm nghiêm trọng về đường lối chính trị trong thực hiện cải cách, cải tổ; xa rời và phủ nhận những nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Như vậy, việc Hồ Chí Minh khẳng định, Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin “làm cốt” là luận điểm có giá trị to lớn cả lý luận, và đặc biệt là từ thực tiễn sống động hơn 80 năm qua của cách mạng Việt Nam. Chính đó là căn cứ tạo dựng niềm tin đối với cán bộ, đảng viên, đồng thời bác bỏ những luận điệu sai trái, phản động phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lê-nin.
Vấn đề đặt ra trong giai đoạn cách mạng hiện nay
Chủ nghĩa Mác - Lê-nin là vũ khí lý luận sắc bén trong cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trước đây và là vũ khí tư tưởng không gì có thể thay thế được trong cuộc đấu tranh tư tưởng, lý luận hiện nay để Đảng ta lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đúng như lời dạy của Người: “Chủ nghĩa Lênin đối với chúng ta, những người cách mạng và nhân dân Việt Nam, không những là cái "cẩm nang" thần kỳ, không những là cái kim chỉ nam, mà còn là mặt trời soi sáng con đường chúng ta đi tới thắng lợi cuối cùng, đi tới chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản”(3)..
Hiện nay, sự nghiệp đổi mới của Đảng ta ngày càng đi vào chiều sâu, không ít những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra chưa có lời giải đáp thỏa đáng; cuộc đấu tranh trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận đang diễn ra gay gắt và quyết liệt, các thế lực thù địch tăng cường hoạt động chống phá Đảng và chế độ ta với những thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt… Trước sự tác động từ nhiều phía của tình hình trên, đa số cán bộ, đảng viên vẫn vững vàng, kiên định với mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Song, vẫn còn một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh còn giản đơn, chưa thực sự dựa trên niềm tin có cơ sở khoa học, chưa trải qua cọ xát với những quan điểm chính trị lệch lạc, phản động. Vì vậy, khi tiếp nhận những thông tin ngược chiều, phản bác, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh thì tỏ ra lúng túng, chưa biết phân tích, bác bỏ ra sao, chưa đủ cơ sở lý luận và thực tiễn để tự thuyết phục mình và thuyết phục người khác.
Yêu cầu của công tác đổi mới, chỉnh đốn Đảng đã và đang đặt ra một cách cấp thiết phải nghiên cứu, quán triệt sâu sắc hơn nữa tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng muốn vững thì phải lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin “làm cốt”. Để thực hiện thành công nhiệm vụ này, theo chúng tôi, cần triển khai tốt những giải pháp sau:
Một là, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần tích cực học tập, nghiên cứu nắm vững bản chất cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, biết vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng cấp, từng ngành, từng địa phương và đơn vị. Bởi lẽ, nếu không nắm được bản chất cách mạng và khoa học, không nắm chắc nội dung cơ bản, cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng thì không những người cán bộ, đảng viên không làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng mà còn không lý giải được một cách thuyết phục những vấn đề do thực tiễn cuộc sống đặt ra. Do đó, không có cơ sở khoa học để đấu tranh có hiệu quả chống các quan điểm sai trái phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.
Hơn lúc nào hết, mỗi cán bộ, đảng viên cần nêu cao ý thức, trách nhiệm trong tự học tập, tự nghiên cứu nắm vững những vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nhận thức sâu sắc nội dung, giá trị và tầm vóc của tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời, biết vận dụng đúng đắn, sáng tạo vào giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra đối với từng cấp, từng ngành, đối với việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
Hai là, thường xuyên đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Cần căn cứ vào đường lối, quan điểm của Đảng, nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên và tình hình thực tiễn của địa phương, nhà trường và đơn vị để xác định rõ nội dung, hình thức và phương pháp tiến hành tổ chức nghiên cứu, học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cho phù hợp với từng đối tượng.
Nội dung tuyên truyền, giáo dục, học tập chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần bảo đảm tính toàn diện, tính hệ thống và chuyên sâu gắn với tình hình thực tiễn. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh việc đổi mới hình thức, phương pháp tiến hành công tác tư tưởng, lý luận của Đảng. Sử dụng có hiệu quả các phương tiện thông tin đại chúng, các lực lượng chuyên trách... để tuyên truyền giáo dục chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng, tạo nên một phong trào học tập sâu, rộng trong Đảng và toàn xã hội. Kiên quyết loại bỏ những biểu hiện tư tưởng, tâm lý “thờ ơ” trước những vấn đề chính trị, lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin và tri thức mới trong cán bộ, đảng viên.
Ba là, đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn, tiếp tục làm sáng tỏ hơn nữa những vấn đề bức xúc do thực tiễn đổi mới, chỉnh đốn Đảng đặt ra. Trước hết, cần nghiên cứu sâu thêm vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân; về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; về Đảng cầm quyền và công tác xây dựng Đảng; làm rõ hơn mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; nghiên cứu, vận dụng sáng tạo kinh nghiệm của các nước vào công cuộc đổi mới, chỉnh đốn Đảng, sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế.
Trong tình hình hiện nay, công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận cần chú trọng hơn nữa việc nâng cao tính khoa học, tính thực tiễn và sự mạnh dạn khám phá, sáng tạo. Sớm xây dựng và ban hành quy chế dân chủ trong công tác nghiên cứu lý luận nhằm phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân trong việc bổ sung, phát triển làm phong phú thêm kho tàng lý luận Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.
Bốn là, đẩy mạnh đấu tranh chống các quan điểm sai trái phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng. Để đấu tranh đạt hiệu quả, cần tích cực tuyên truyền, giáo dục những nội dung cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng, đưa những tư tưởng đó thành hiện thực trong cuộc sống nhằm nâng cao hơn nữa đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Đó là cách tốt nhất để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trước sự công kích của các thế lực thù địch và sự xuyên tạc của các phần tử phản động.
Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải tích cực tham gia đấu tranh vạch rõ bản chất cơ hội, phản động của những quan điểm sai trái, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, trong thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, lý luận, cán bộ, đảng viên phải thực sự phát huy vai trò tiên phong gương mẫu, kiên quyết khắc phục tình trạng nể nang “dĩ hòa vi quý”, loại bỏ tư tưởng “phê bình cấp trên thì sợ bị trù dập; phê bình đồng đội thì sợ bị mất lòng, phê bình cấp dưới thì sợ mất phiếu”, nhất là trước thời điểm tiến hành Đại hội. Đội ngũ cán bộ, đảng viên phải luôn nêu cao dũng khí trong đấu tranh tự phê bình và phê bình để góp phần bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng trong tình hình hiện nay./.
ST.
TÌM HIỂU GIÚP BẠN: TRUYỀN THỐNG 79 NĂM XÂY DỰNG, CHIẾN ĐẤU VÀ TRƯỞNG THÀNH CỦA QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 22/12/1944 -22/12/2023!
Một số vấn đề cấp bách trong đổi mới công tác cán bộ hiện nay
Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về xây dựng Đảng và Kết luận số 24-KL/TW của Bộ Chính trị, thời gian tới, các ban, ngành, địa phương, tổ chức đảng các cấp của hệ thống chính trị cần có sự thống nhất cao về nhận thức và triển khai thực hiện đầy đủ, đổi mới đồng bộ công tác cán bộ, quyết tâm phấn đấu và hoàn thành tốt các nhiệm vụ công tác cán bộ cũng như toàn bộ công tác tổ chức xây dựng Đảng mà Nghị quyết Đại hội XI của Đảng đã đề ra.
Hiện nay, cơ quan tổ chức của các cấp ủy, tổ chức đảng đang tích cực chuẩn bị, tham mưu, giúp tập thể lãnh đạo kiểm điểm tự phê bình, phê bình và khẩn trương nghiên cứu rà soát, bổ sung, sửa đổi các quy chế, quy định về công tác tổ chức xây dựng Đảng theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” và Kết luận số 24 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý. Đồng thời tích cực chuẩn bị các đề án về công tác tổ chức cán bộ, báo cáo Bộ Chính trị trình Hội nghị Trung ương lần thứ sáu.
Trong thời gian ngắn, với khối lượng công việc lớn được triển khai và với quyết tâm, tự giác đưa nhanh Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 vào cuộc sống, đã thể hiện sự nỗ lực, cố gắng và tinh thần trách nhiệm cao của lãnh đạo các cấp ủy, tổ chức đảng và ngành tổ chức xây dựng Đảng các cấp.
Để triển khai và thực hiện có hiệu quả về đổi mới công tác cán bộ trong thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ ở các cấp, các ngành, các địa phương cần quán triệt, làm rõ thêm một số chủ trương, định hướng về đổi mới công tác cán bộ theo tinh thần Kết luận số 24 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII về Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và các nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ đã xác định: “Quy hoạch chuẩn bị từ xa và tạo nguồn cán bộ dồi dào, làm căn cứ để đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp vững vàng về chính trị, trong sáng về đạo đức, thành thạo về chuyên môn, nghiệp vụ, có trình độ và năng lực, nhất là năng lực trí tuệ và thực tiễn tốt, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước... Luân chuyển cán bộ để rèn luyện, bồi dưỡng, thử thách, nhất là cán bộ trẻ, có triển vọng, giúp cán bộ trưởng thành nhanh hơn, toàn diện hơn... từng bước điều chỉnh, bố trí, tăng cường cán bộ cho những nơi có nhu cầu cấp bách... phá bỏ khuynh hướng cục bộ, khép kín trong từng đơn vị, nhất là trong từng địa phương; khắc phục tâm lý thỏa mãn, trì trệ của nhiều cán bộ chỉ muốn chọn nơi công tác dễ dàng, muốn ổn định chức vụ hoặc lên chức nhưng không chịu học tập, phấn đấu, nâng cao trình độ và hiệu quả công tác...”. Với những mục đích quan trọng đó, Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành 2 nghị quyết riêng về công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ. Sau gần 10 năm triển khai thực hiện, năm 2011, Ban Tổ chức Trung ương đã chủ trì, phối hợp với các cấp ủy, tổ chức đảng tổng kết việc thực hiện hai nghị quyết và ngày 5-6-2012, Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận về đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ đến năm 2020 và những năm tiếp theo.
Kết luận của Bộ Chính trị đã khẳng định: Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên đã nhận thức sâu sắc hơn về công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ. Trong một số năm gần đây, công tác quy hoạch cán bộ ở các ban, bộ, ngành, địa phương đã dần đi vào nền nếp, đạt được một số kết quả quan trọng: nguồn quy hoạch các chức danh lãnh đạo, quản lý ở cấp huyện, cấp tỉnh và cấp bộ tương đối dồi dào; trình độ đào tạo, cơ cấu ngành nghề, tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc thiểu số đã có bước tiến bộ. Công tác luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ về cơ bản đã được thực hiện theo quy hoạch. Theo kết quả bầu cử, bổ nhiệm cán bộ thời gian qua, có trên 95% số cấp ủy viên, gần 100% số ủy viên ban thường vụ cấp ủy nhiệm kỳ 2010 - 2015 và cán bộ lãnh đạo chủ chốt hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện nhiệm kỳ 2011 - 2016 và hầu hết cán bộ được bổ nhiệm các chức danh thuộc Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý đều ở trong quy hoạch. Quy hoạch cán bộ đã góp phần thúc đẩy việc thực hiện đồng bộ hơn, chất lượng hơn các khâu khác trong công tác cán bộ.
Việc luân chuyển cán bộ đã góp phần đào tạo, rèn luyện, thử thách cán bộ qua thực tiễn và tăng cường cán bộ cho những nơi có khó khăn, khắc phục một bước xu hướng cục bộ, khép kín, trì trệ của đội ngũ cán bộ. Kết quả luân chuyển cán bộ từ Trung ương về địa phương trong hai nhiệm kỳ Đại hội IX và X đã đào tạo được nhiều cán bộ; nhiều đồng chí đã được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương, được tín nhiệm bầu làm bí thư tỉnh ủy hoặc giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt ở các bộ, ngành Trung ương và cơ quan của Quốc hội. Trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo các tỉnh, thành phố hiện nay, trên 95% số cán bộ chủ chốt hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân và trên 98% số ủy viên ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy đã qua luân chuyển giữ chức vụ lãnh đạo chủ chốt ở cấp quận, huyện. Việc luân chuyển một số chức danh cán bộ không là người địa phương ở cấp tỉnh và cấp huyện nói chung đạt kết quả tốt. Hầu hết cán bộ qua luân chuyển đều có bước trưởng thành, tích lũy được nhiều kinh nghiệm thực tiễn, có quan điểm nhìn nhận và phương pháp lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, sát thực tế hơn.
Bộ Chính trị cũng đã chỉ ra những tồn tại, yếu kém trong công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ, đó là:
Việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ ở một số địa phương và bộ, ngành chưa căn cứ chủ yếu vào đánh giá cán bộ, chưa xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ và năng lực thực tiễn của cán bộ, chưa gắn quy hoạch với đào tạo, bố trí, sử dụng cán bộ, dẫn đến nhiều đề án quy hoạch còn hình thức, thiếu tính khả thi. Chất lượng quy hoạch cán bộ chưa cao, chưa đồng đều và hầu hết các đề án quy hoạch chưa có tầm nhìn xa, chưa bảo đảm cơ cấu 3 độ tuổi; ít cán bộ trẻ, cán bộ nữ; trình độ và ngành nghề đào tạo ở nhiều nơi chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ. Nhìn tổng thể, quy hoạch cán bộ những năm qua chưa có sự liên thông giữa cấp dưới với cấp trên, giữa địa phương với Trung ương, giữa các ngành, các lĩnh vực công tác,... Bên cạnh đó, chúng ta chưa quyết tâm xây dựng quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các chức danh lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước, dẫn đến có sự cắt khúc trong công tác quy hoạch.
Việc luân chuyển đào tạo cán bộ ở không ít nơi chưa dựa trên cơ sở đánh giá và quy hoạch cán bộ; việc luân chuyển cán bộ trong một ngành, giữa các ngành với nhau, giữa cán bộ làm công tác đảng, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể với quản lý nhà nước, nhìn chung còn ít, còn khép kín, còn tình trạng nơi thừa, nơi thiếu cán bộ. Chủ trương luân chuyển bố trí một số chức danh cán bộ lãnh đạo không là người địa phương nhằm khắc phục tình trạng cục bộ, trì trệ, khép kín ít được thực hiện. Việc lựa chọn địa bàn, chức danh luân chuyển trong một số trường hợp còn bất hợp lý, thậm chí còn trái ngành, trái nghề, vừa không đáp ứng được yêu cầu đào tạo, vừa hạn chế sự đóng góp của cán bộ. Sự quản lý, giám sát, quan tâm, tạo điều kiện đối với cán bộ luân chuyển từ phía các cơ quan, nhất là từ nơi đi, nơi đến chưa được quy định rõ, dẫn đến việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ sau luân chuyển còn bất cập, thiếu chính xác. Về phía cán bộ luân chuyển, một số ít còn chậm tiếp cận với công việc, hạn chế đóng góp đối với địa phương, cá biệt còn có biểu hiện chọn địa bàn, chọn vị trí sau luân chuyển,... Bên cạnh đó, chế độ nhà công vụ và một số chế độ, chính sách khác chưa được nghiên cứu quy định, làm hạn chế công tác luân chuyển cán bộ.
Chính vì những tồn tại, yếu kém nêu trên mà ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị vẫn xảy ra tình trạng hẫng hụt, bị động, lúng túng khi bầu cử hoặc thay thế cán bộ. Qua theo dõi cho thấy một thực tế đáng lo ngại, là đến nhiệm kỳ tới, cả thường trực của 16 tỉnh ủy, thành ủy dự kiến sẽ không đủ tuổi tái cử; ở 28 tỉnh, thành phố khác chỉ còn 01 đồng chí trong thường trực còn đủ tuổi; hơn một nửa số ủy viên thường vụ cấp ủy của trên 50 tỉnh, thành phố dự kiến sẽ không đủ tuổi tham gia cấp ủy khóa tới. Một số nơi, vừa đại hội xong đã đề nghị tăng số lượng cấp ủy để bổ sung cán bộ trẻ, cán bộ nữ; có nơi một năm sau đại hội vẫn chưa phân công xong cấp ủy, chưa kiện toàn xong cán bộ lãnh đạo sở, ngành, địa phương...
Thực tế đó cho thấy, công tác quy hoạch và luân chuyển đào tạo cán bộ còn nhiều tồn tại, yếu kém, chưa thực chất, chưa đạt được mục đích, yêu cầu mà hai nghị quyết đã đề ra.
Kết quả tổng kết hai nghị quyết chỉ ra nhiều nguyên nhân dẫn đến những tồn tại, yếu kém trong công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ, nhưng nguyên nhân căn bản nhất xuất phát từ yếu kém của công tác đánh giá cán bộ. Đây chính là vấn đề cốt lõi của công tác cán bộ mà Đảng ta đã chỉ ra trong nhiều nhiệm kỳ qua, nhưng đến nay vẫn là vấn đề khó, chậm được khắc phục. Như các đồng chí đã biết, để đánh giá đúng cán bộ, chúng ta đã đưa ra nhiều chủ trương, biện pháp, như thực hiện đánh giá cán bộ theo quy chế, quy trình, công khai, dân chủ, mở rộng diện lấy thông tin về cán bộ ở nơi công tác, nơi cư trú, lấy góp ý của các cơ quan ngang cấp, của cấp dưới đối với cấp trên, tiến hành gợi ý của cấp trên đối với cấp dưới...; đối với một số chức danh bầu cử cũng đã có cơ chế để nhân dân tham gia góp ý, đánh giá; trong Quy chế đánh giá cán bộ mới đây cũng đã có bước lượng hóa về mức độ hoàn thành nhiệm vụ đối với các chức danh cán bộ... Tuy vậy, kết quả đánh giá cán bộ cho đến nay vẫn chưa được như mong muốn, bởi vì đây vẫn là khâu khó, mà khó nhất là làm sao để đánh giá đúng cái “tâm”, cái “tầm”, bản lĩnh chính trị và các mối quan hệ gia đình, xã hội,... của người cán bộ; khó nữa là khi đánh giá lựa chọn, giới thiệu cán bộ vào quy hoạch, vì ở tại thời điểm đó, cán bộ chưa thể bộc lộ hết được những khả năng cần thiết cho chức vụ được dự kiến quy hoạch. Rồi làm sao để khắc phục được tâm lý nể nang, ngại va chạm, dẫn đến đánh giá cán bộ còn hình thức, xuê xoa, thiếu tính chiến đấu, thiếu tinh thần xây dựng,...
Kết luận số 24 của Bộ Chính trị đề ra 6 nhóm giải pháp quan trọng nhằm đẩy mạnh công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ song song với việc đổi mới đồng bộ các khâu khác trong công tác cán bộ, trong đó có nhiều giải pháp nhằm tập trung đổi mới và nâng cao chất lượng công tác đánh giá cán bộ. Sau đây, tôi xin lưu ý, nhấn mạnh
5 vấn đề về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nêu trong Kết luận của Bộ Chính trị và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, mà các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung lãnh đạo và tổ chức thực hiện:
Thứ nhất, về đổi mới công tác đánh giá cán bộ.
Kết luận của Bộ Chính trị yêu cầu:
Một là, phải xây dựng tiêu chuẩn các chức danh cán bộ và đồng thời phải xây dựng tiêu chí đánh giá cán bộ theo tiêu chuẩn chức danh, theo hiệu quả công việc và sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Có thể nói, tiêu chuẩn chức danh là bộ khuôn mẫu về tiêu chuẩn đức, tài và các điều kiện cần thiết khác của từng chức danh cán bộ. Khi đánh giá cán bộ hoặc khi đề bạt, bổ nhiệm cán bộ thì áp vào đó để xem xét; đồng thời theo đó mà có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ trong quy hoạch. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII đã ban hành tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn riêng đối với cán bộ thuộc 4 lĩnh vực công tác; nay cần cụ thể hóa thành tiêu chuẩn cụ thể cho từng chức danh cán bộ ở từng cấp, từng ngành.
Trên cơ sở đề xuất của các cấp ủy, tổ chức đảng và Ban Tổ chức Trung ương, Bộ Chính trị sẽ ban hành bộ khung tiêu chuẩn và khung tiêu chí đánh giá đối với các chức danh cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, trên cơ sở đó, các cấp ủy, tổ chức đảng sẽ chỉ đạo xây dựng tiêu chuẩn cụ thể các chức danh cán bộ thuộc cấp mình và cấp dưới quản lý làm cơ sở để đánh giá đúng cán bộ.
Hai là, phải xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu trong đánh giá cán bộ, coi trọng đánh giá của cấp trưởng đối với cấp phó; coi trọng đánh giá của người đứng đầu đối với thủ trưởng các đơn vị trực thuộc. Đây chính là một trong những giải pháp hết sức quan trọng vì, người đứng đầu là người giao việc và cũng là người nghiệm thu kết quả công việc, do vậy hơn ai hết, là người hiểu rõ về năng lực công tác của cấp phó và cấp dưới quyền trực tiếp. Đồng thời với việc xác định thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu trong đánh giá cán bộ cũng cần nghiên cứu, quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu trong tất cả các khâu khác của công tác cán bộ, trong quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ,...
Ba là, mở rộng nguồn cung cấp thông tin và mở rộng diện lấy thông tin về cán bộ, thông qua góp ý và lấy phiếu tín nhiệm hằng năm của ban chấp hành đối với ban thường vụ cấp ủy cùng cấp; của cán bộ chủ chốt đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; có cơ chế để cán bộ dự kiến đề bạt, bổ nhiệm trình bày đề án, chương trình công tác, thể hiện năng lực, trình độ của mình... Đây chính là cơ chế mở rộng dân chủ, để cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia theo dõi, giám sát, góp ý kiến và thể hiện tín nhiệm đối với các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp. Thông qua đó, cấp có thẩm quyền có thêm nhiều thông tin để đánh giá cán bộ được khách quan hơn, chính xác hơn.
Bốn là, để đánh giá đúng trình độ, năng lực của cán bộ, nhất là đối với cán bộ trẻ, cán bộ dự nguồn quy hoạch các chức danh, cũng cần thiết phải nghiên cứu, ban hành cơ chế thi, sát hạch hằng năm và xây dựng phương thức đánh giá cán bộ trong mối quan hệ biện chứng giữa kết quả thi, sát hạch với thành tích công tác và sự tín nhiệm của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Trước mắt, có thể nghiên cứu thực hiện đối với cán bộ cấp cục, vụ và tương đương trở xuống, theo phương châm làm cái gì, thi cái đó. Thực hiện cơ chế thi sát hạch định kỳ cũng sẽ thúc đẩy việc tự học tập, tự nâng cao trình độ của cán bộ, đồng thời cũng góp phần đổi mới nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ, đưa việc tự học tập, tự nâng cao trình độ trở thành nhu cầu thiết thân của mỗi cán bộ, công chức; góp phần khắc phục tình trạng chạy theo bằng cấp, tuyệt đối hóa bằng cấp của cả người dạy, người học và của cơ quan làm công tác cán bộ, cơ quan sử dụng cán bộ,... Qua nghiên cứu kinh nghiệm của Trung Quốc, từ tháng 3-2000, Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ban hành quy chế về việc thi, sát hạch cán bộ lãnh đạo, quản lý với kho đề thi thống nhất trên 80.000 đề thi. Tại Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập Cục thi, sát hạch cán bộ và hình thành quy trình thi, sát hạch cán bộ theo hệ thống tiêu chuẩn chức danh cán bộ. Về vấn đề này, chúng ta cần sớm nghiên cứu, học tập.
Năm là, việc nghiên cứu xây dựng và thực hiện các giải pháp đánh giá cán bộ nêu trên phải được tiến hành đồng thời với việc thường xuyên nâng cao tính chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên trong kiểm điểm, tự phê bình và phê bình. Đồng thời, phải bảo đảm sự lãnh đạo và những nguyên tắc cơ bản của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ, nhất là trong nghiên cứu quy định thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu; quy định việc lấy phiếu tín nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể,...
Thứ hai, đổi mới và khắc phục những tồn tại, yếu kém trong công tác quy hoạch cán bộ, nhất là yếu kém trong việc tạo nguồn cán bộ từ xa.
Kết luận của Bộ Chính trị yêu cầu phải thực hiện nghiêm cơ cấu 3 độ tuổi trong quy hoạch cấp ủy và ban lãnh đạo, quản lý các cấp, bởi vì, chính 3 độ tuổi là yếu tố căn bản, bảo đảm việc chuẩn bị cán bộ từ xa, có như vậy công tác quy hoạch cán bộ mới đi đúng hướng, đúng mục đích, yêu cầu của Nghị quyết đề ra. Tuy nhiên, đây là công việc khó, đòi hỏi chúng ta phải kiên trì và quyết tâm, phải tiến hành đồng bộ các giải pháp trước khi phát hiện, giới thiệu nhân sự đưa vào quy hoạch. Vấn đề quan trọng nhất trong công tác quy hoạch chính là việc tạo nguồn cán bộ, phát hiện những nhân tố trẻ, điển hình từ phong trào thi đua của các ngành, các cấp, các lĩnh vực công tác, đồng thời với việc lựa chọn sinh viên tốt nghiệp loại giỏi ở các trường đại học có chất lượng cử về cơ sở (những nơi khó khăn, có nhu cầu) để đào tạo, rèn luyện trong phong trào lao động, sản xuất và công tác, từ đó chọn lọc ra những nhân tố có triển vọng, đưa đi đào tạo, bồi dưỡng rồi lại đưa trở về cơ sở đảm nhiệm các chức vụ cao hơn và cứ từng bước như vậy sẽ dần hình thành các lớp cán bộ trẻ tuổi, dự nguồn cho các cấp lãnh đạo tương lai... Việc tạo ra các lớp cán bộ trẻ tuổi kế tiếp nhau, có phẩm chất, có trình độ và năng lực lãnh đạo, quản lý, chính là công việc cốt lõi của công tác quy hoạch cán bộ và cũng là đặc điểm căn bản, khác với công tác nhân sự cụ thể, mà trước đây chúng ta vẫn thường có sự nhầm lẫn trong xây dựng quy hoạch.
Bên cạnh đó, để bảo đảm tính khả thi, tính liên thông của các đề án quy hoạch, cấp có thẩm quyền khi phê duyệt quy hoạch phải xem xét, bổ sung nhân sự từ nơi khác vào quy hoạch của cấp dưới, đồng thời phải phê duyệt kế hoạch luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo quy hoạch. Cấp có thẩm quyền chỉ phê duyệt hoặc thông qua phương án nhân sự cấp ủy khi quy hoạch hoặc phương án nhân sự đáp ứng được yêu cầu về 3 độ tuổi; đồng thời, tới đây khi bổ sung cán bộ tham gia ban chấp hành, ban thường vụ các tỉnh ủy, thành ủy, chúng ta phải nghiêm túc thực hiện chủ trương bổ sung cán bộ trẻ, cán bộ nữ, đủ tuổi tham gia cấp ủy từ 2 nhiệm kỳ trở lên.
Cùng với thực hiện tốt các yêu cầu nêu trên, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, đổi mới về phương pháp, cách thức xây dựng quy hoạch, khắc phục những vướng mắc mà thực tế công tác quy hoạch đặt ra, nhất là những vấn đề còn ý kiến khác nhau về 3 độ tuổi trong quy hoạch, về quy hoạch đối với cán bộ đương chức; về số lượng nguồn quy hoạch trong từng chức danh...
Riêng đối với đề án quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, trong quá trình nghiên cứu, xây dựng đề án, Ban Chỉ đạo đã có bước nghiên cứu ở nước ngoài; tổ chức nghe ý kiến các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các đồng chí có nhiều kinh nghiệm về công tác tổ chức xây dựng Đảng của các thời kỳ; xin ý kiến Ban Cán sự đảng Chính phủ, Đảng đoàn Quốc hội và các tỉnh ủy, thành ủy, ban, bộ, ngành ở Trung ương, báo cáo Bộ Chính trị để trình Hội nghị Trung ương 6 vào tháng 10-2012. Đây là đề án khó, vì chúng ta chưa từng làm, nhưng tôi tin rằng, với kinh nghiệm xây dựng quy hoạch ở các địa phương, bộ, ngành trong hai nhiệm kỳ qua và với trí tuệ của tập thể, chúng ta sẽ đề xuất được phương án tối ưu về xây dựng quy hoạch cán bộ cấp chiến lược, bảo đảm sự liên thông, gắn kết với quy hoạch của các bộ, ngành và địa phương.
Thứ ba, đẩy mạnh công tác luân chuyển cán bộ, kết hợp luân chuyển đào tạo cán bộ với việc bố trí một số chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý không là người địa phương ở cấp tỉnh, cấp huyện.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 và Bộ Chính trị yêu cầu phải xây dựng và thực hiện quy định về luân chuyển cán bộ, trong đó xác định cụ thể về điều kiện, tiêu chuẩn, đối tượng luân chuyển đào tạo, bồi dưỡng theo quy hoạch và đối tượng, quy trình luân chuyển bố trí một số chức danh lãnh đạo, quản lý ở cấp tỉnh, cấp huyện không là người địa phương. Luân chuyển cán bộ quy hoạch các chức danh lãnh đạo chủ chốt ở bộ, ngành Trung ương, giữ chức vụ bí thư, phó bí thư, chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố; cán bộ cấp cục, vụ và tương đương giữ chức vụ chủ tịch, phó chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện, trưởng ban, phó trưởng ban, giám đốc, phó giám đốc sở, ngành tỉnh, thành phố. Thực hiện phân công cán bộ trong quy hoạch các chức danh cấp chiến lược đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo chủ chốt ở các địa bàn, lĩnh vực quan trọng, vùng có nhiều khó khăn để đào tạo, thử thách, tích lũy kinh nghiệm. Đồng thời tiếp tục thực hiện chủ trương tăng thêm một số chức danh lãnh đạo cấp ủy, chính quyền ở những địa phương có nhiều khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo hoặc ở những nơi thiếu cán bộ... Thông qua việc luân chuyển, bố trí cán bộ ở những địa bàn, lĩnh vực khó khăn để phát hiện người tài, nhằm đào tạo, thử thách, chuẩn bị đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý lâu dài cho đất nước. Xây dựng và thực hiện quy định về việc quản lý, giám sát đối với cán bộ luân chuyển; thực hiện chế độ nhà công vụ và chế độ, chính sách đối với cán bộ luân chuyển, tạo điều kiện để cán bộ yên tâm, phấn đấu công tác. Phấn đấu thực hiện việc bố trí các chức danh lãnh đạo chủ chốt không là người địa phương (bí thư, chủ tịch ủy ban nhân dân, trưởng các ngành công an, tòa án, viện kiểm sát,...) trên 25% tỉnh, thành phố và trên 50% quận, huyện từ nay đến năm 2015.
Việc bố trí một số chức danh cán bộ lãnh đạo không là người địa phương là việc không mới, chúng ta đã thực hiện thí điểm ở tỉnh Hà Tây (6 chức danh) và bố trí một chức danh (bí thư hoặc chủ tịch ủy ban nhân dân) ở nhiều tỉnh, thành phố trong nhiều nhiệm kỳ gần đây. Tuy nhiên, lần này chúng ta tiến hành trên diện rộng, với nhiều chức danh ở cả cấp tỉnh và cấp huyện, do vậy phải lãnh đạo, quán triệt kỹ chủ trương này, đồng thời nghiên cứu, quy định chặt chẽ cách thức tiến hành. Khi xây dựng đề án luân chuyển, bố trí cán bộ lãnh đạo không là người địa phương, không đơn thuần chỉ là việc luân chuyển bí thư và chủ tịch ủy ban nhân dân của tỉnh này sang tỉnh khác, mà phải kết hợp với việc luân chuyển đào tạo cán bộ từ các ban, bộ, ngành Trung ương và kết hợp với việc bố trí, sắp xếp hợp lý đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành, khắc phục tình trạng nơi thừa, nơi thiếu cán bộ và tình trạng cục bộ, trì trệ, quan liêu, tham nhũng, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI.
Thứ tư, đổi mới công tác quy hoạch, luân chuyển cán bộ đồng bộ với các khâu khác trong công tác cán bộ; bổ sung, sửa đổi và ban hành hệ thống các cơ chế, chính sách mới nhằm khuyến khích, bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, thu hút người có phẩm chất, năng lực vào các cơ quan trong hệ thống chính trị.
Như chúng ta đã biết, công tác cán bộ bao gồm nhiều khâu, giữa các khâu có sự gắn kết, tác động lẫn nhau. Do vậy, muốn thực hiện tốt công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ, trước hết phải đánh giá đúng cán bộ, đồng thời phải thực hiện đồng bộ các khâu đào tạo, bồi dưỡng, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, khen thưởng, kỷ luật, miễn nhiệm, thực hiện chế độ, chính sách cán bộ,... Để thực hiện Kết luận của Bộ Chính trị, các cơ quan chức năng ở Trung ương cần chủ trì, phối hợp chặt chẽ với các cấp ủy, tổ chức đảng trong việc rà soát, nghiên cứu bổ sung, sửa đổi các quy chế, quy định và hướng dẫn đối với tất cả các khâu trong công tác cán bộ. Về phần mình, từ thực tiễn phong phú của công tác xây dựng Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng cần lãnh đạo chặt chẽ việc tham gia góp ý kiến vào các đề xuất bổ sung, sửa đổi quy chế, quy định của Trung ương, đồng thời chỉ đạo việc rà soát, bổ sung, sửa đổi các quy định, hướng dẫn ở cấp mình, phù hợp với quy chế, quy định chung; đồng thời căn cứ vào đặc điểm cụ thể của địa bàn, lĩnh vực công tác để có quy định, hướng dẫn cụ thể việc thực hiện.
Thứ năm, Bộ Chính trị yêu cầu, trong quá trình nghiên cứu, đổi mới công tác cán bộ, cần thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, đi đôi với đề cao thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu các cấp; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp trên đối với cấp dưới; đổi mới tư duy, cách làm, khắc phục cho được những hạn chế, yếu kém trong từng khâu công tác cán bộ.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI xác định ba vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay. Trọng tâm, xuyên suốt cả ba vấn đề cấp bách và cũng là đối tượng tác động của Nghị quyết, chính là cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong hệ thống chính trị. Chính vì vậy, bên cạnh các nhóm giải pháp thực hiện Nghị quyết về giáo dục chính trị, tư tưởng, về tự phê bình và phê bình,... là một khối lượng lớn nhiệm vụ thuộc về công tác tổ chức và cán bộ. Cùng với nhiệm vụ lãnh đạo, tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội XI của Đảng về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại và các nhiệm vụ thường xuyên, đột xuất khác, những vấn đề cấp bách đặt ra trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 và Kết luận số 24 của Bộ Chính trị đã bổ sung thêm nhiều nhiệm vụ quan trọng, tạo ra sự thách thức lớn đối với ý chí và sự quyết tâm của các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ làm công tác tổ chức xây dựng Đảng các cấp.
Ngay sau khi có Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 và Kết luận của Bộ Chính trị, với tinh thần quyết tâm, tự giác và khẩn trương, các cơ quan chức năng ở Trung ương đã phối hợp với các cấp ủy, tổ chức đảng và các cơ quan liên quan, nghiên cứu, đề xuất việc triển khai thực hiện các chủ trương, định hướng về công tác cán bộ, nêu trong Nghị quyết của Trung ương và Kết luận của Bộ Chính trị. Bên cạnh các dự thảo bổ sung, sửa đổi quy định, hướng dẫn về công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ, đã nghiên cứu đề xuất bổ sung, sửa đổi nhiều quy chế, quy định, hướng dẫn; những vấn đề vướng mắc, tồn đọng khác đang cần được nghiên cứu làm sáng rõ, như về giải pháp thực hiện các chủ trương, định hướng về công tác cán bộ nêu trong Nghị quyết của Trung ương và Kết luận của Bộ Chính trị; về các dự thảo bổ sung, sửa đổi quy định, hướng dẫn, nhất là những vấn đề liên quan đến thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ; về phân cấp quản lý cán bộ; về tiêu chuẩn, tiêu chí, cách thức đánh giá cán bộ; về bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; về bổ sung, sửa đổi hướng dẫn về quy hoạch, luân chuyển cán bộ và các đề xuất quan trọng khác.
Những vấn đề cần phải sửa và sửa được, vấn đề nào đã rõ, đã chín muồi, được thống nhất cao thì chuyển thành quy chế, quy định để thực hiện ngay; những vấn đề còn chưa chín muồi, chưa rõ hoặc ý kiến khác nhau cần được khẩn trương nghiên cứu hoặc có thể từng bước thí điểm và thực hiện; những vấn đề xét thấy cần thiết phải xin ý kiến của Bộ Chính trị, Ban Bí thư hoặc Ban Chấp hành Trung ương thì tổng hợp, báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư hoặc báo cáo Bộ Chính trị trình Ban Chấp hành Trung ương xem xét, quyết định.
Chúng ta đang tiến hành đợt sinh hoạt chính trị, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự nghiệp của Đảng, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng; đồng thời quyết tâm, tự giác đổi mới công tác cán bộ, đưa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 vào cuộc sống, nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là những vấn đề vừa có tính cấp bách, vừa lâu dài, liên quan đến vận mệnh của Đảng, của chế độ và sự phát triển của đất nước; vừa là thử thách lớn nhưng cũng là cơ hội lớn để Đảng ta trong sạch, vững mạnh hơn, xứng đáng với niềm tin và sự trông đợi của cán bộ, đảng viên và nhân dân./.
ST.
Xây dựng và thực hành văn hóa đảng trong điều kiện đảng cầm quyền.
TCCS - Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu và bản lĩnh cầm quyền của Đảng vừa là kết quả được tạo ra từ xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, lối sống, tức là xây dựng Đảng về văn hóa, làm hình thành và phát triển văn hóa đảng, vừa là thước đo trình độ trưởng thành của đảng cầm quyền. Xây dựng và thực hành văn hóa đảng vào lúc này là hết sức cần thiết, là vô cùng cấp bách làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng.
Sự cần thiết, cấp bách về xây dựng và thực hành văn hóa Đảng
Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã ra Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Nghị quyết đã chỉ ra ba vấn đề cấp bách, xác định mục tiêu và phương châm xây dựng Đảng, đồng thời cũng đề ra bốn nhóm giải pháp lớn để giải quyết những vấn đề cấp bách trong Đảng; để toàn Đảng, toàn dân đồng tâm hiệp lực, nỗ lực cộng đồng trách nhiệm cùng giải quyết, quyết tâm làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, thực sự là một Đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh như Bác Hồ hằng mong đợi và căn dặn chúng ta.
Ba vấn đề cấp bách nêu trong Nghị quyết Trung ương lần này là: Thứ nhất, kiên quyết đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của đảng viên và của nhân dân đối với Đảng. Thứ hai, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, nhất là cấp Trung ương, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Thứ ba, xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền trong mối quan hệ với tập thể cấp ủy, cơ quan, đơn vị, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng.
Trong ba vấn đề nêu trên, vấn đề thứ nhất là trọng tâm, xuyên suốt - là vấn đề cấp bách của mọi cấp bách. Tình trạng suy thoái nêu trên là nghiêm trọng về tính chất và mức độ. Sự suy thoái diễn ra không còn là cá biệt, số ít, làm tổn hại tới uy tín, thanh danh của Đảng, làm suy giảm niềm tin của cả đảng viên và nhân dân đối với Đảng; làm phương hại tới năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đây là những vấn đề cốt yếu về văn hóa, cả văn hóa chính trị và văn hóa đạo đức; là vấn đề hết sức hệ trọng, không thể xem thường, càng không thể giải quyết chậm trễ, nếu không, sinh mệnh của Đảng và sự tồn vong của chế độ sẽ bị thách thức.
Từ đây nhìn nhận vấn đề theo quan điểm văn hóa và phát triển, có thể thấy, tình trạng suy thoái đã và đang diễn ra là sự suy thoái về văn hóa. Những suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là những suy thoái về văn hóa. Nó bộc lộ sự yếu kém và thiếu hụt năng lực văn hóa của không ít cán bộ đảng viên, sự lệch lạc chuẩn mực, giá trị văn hóa ở những đảng viên suy thoái, từ đảng viên thường đến đảng viên giữ chức vụ, được giao trọng trách là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp. Những biểu hiện này nếu không được khắc phục thì không thể có được nền tảng tinh thần (tức là văn hóa) để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Sâu xa mà nói, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng chính là năng lực văn hóa, là sức mạnh và bản lĩnh văn hóa của Đảng - chủ thể lãnh đạo và cầm quyền.
Đảng là một tổ chức cách mạng tiên phong, do đó Đảng phải tiêu biểu cho văn hóa chính trị, trước hết Đảng phải không ngừng nâng cao tiềm lực trí tuệ, tiềm lực tư tưởng. V.I. Lê-nin đòi hỏi Đảng phải tiêu biểu cho trí tuệ, lương tâm, danh dự của thời đại. Người cũng chủ trương “thà ít mà tốt”. Hồ Chí Minh nhấn mạnh, Đảng phải là đảng cách mạng chân chính, Đảng là một cơ thể sống. Trung ương là bộ não của Đảng. Cấp ủy là lực phát động. Chi bộ, đảng viên là cầu nối giữa Đảng với quần chúng. Người chỉ rõ phải tẩy bỏ chủ nghĩa cá nhân, đánh bại giặc nội xâm, nó thường ẩn nấp tinh vi trong mỗi người, mỗi tổ chức, chỉ chờ dịp là trỗi dậy. Để Đảng thực sự tiêu biểu là đạo đức, là văn minh, xứng đáng với niềm tin của nhân dân, phải thường xuyên chỉnh đốn Đảng. Người trù tính điều hệ trọng: phải dựa vào dân mà xây dựng Đảng, phải thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, phải nêu cao tính tiền phong gương mẫu của Đảng và đảng viên nhất là đảng viên lãnh đạo.
Mấu chốt của thực hành dân chủ là tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân, sống vì nhân dân, tranh đấu để bảo vệ nhân dân, lãnh đạo để phục vụ nhân dân. Vì dân nên phải trọng dân và tin dân. Đảng và mọi đảng viên chỉ vì nhân dân nên phải tự mình tẩy bỏ chủ nghĩa cá nhân hết sức tinh vi và hiểm độc, nó là chủ nghĩa vị kỷ, vụ lợi, chỉ vì mình mà làm hại đến nhân dân, nói vì nhân dân mà lại làm vì mình. Uy tín thật, giá trị thật của người cách mạng là ở việc làm, ở hành động chứ không dừng lại ở lời nói. Người còn sâu sắc, mẫn cảm và mẫn tiệp khi nhận rõ, phải dùng văn hóa để chữa thói phù hoa xa xỉ, phải văn hóa cả ở trong kinh tế và chính trị.
Thực hành đạo đức cách mạng là thực hành văn hóa. Đạo đức là cốt lõi của văn hóa, bởi đức là gốc. Đạo đức bảo đảm cho tài năng được phát huy, được sử dụng vào mục đích cao quý nhất, với động cơ trong sáng nhất là phục vụ nhân dân. Từ thực trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ đảng viên mà Đảng đã nghiêm khắc chỉ ra, chúng ta càng thấy phải xây dựng và thực hành văn hóa Đảng, làm cho các giá trị, chuẩn mực văn hóa thấm sâu vào đời sống của Đảng, trong sinh hoạt đảng, trong mối quan hệ giữa đảng viên với tổ chức đảng, giữa Đảng với nhân dân. Cấp ủy và các đảng viên giữ trọng trách phải gương mẫu trước tiên, phải làm gương cho mọi đảng viên và quần chúng noi theo. Toàn bộ Nghị quyết, nhất là dũng khí tự phê phán, nhìn thẳng vào thực trạng suy thoái, vạch rõ nguyên nhân mà nguyên nhân chủ quan là chính; việc xác định rõ các nhóm giải pháp, đặt lên hàng đầu việc tự phê bình và phê bình trong toàn Đảng, từ trên xuống dưới,... đã thể hiện rất rõ quyết tâm chính trị, thái độ trách nhiệm của Đảng, trước hết là các cơ quan lãnh đạo. Đó là biểu hiện trực tiếp của văn hóa Đảng, là ý thức về văn hóa, là quyết tâm hành động một cách văn hóa, đem sức mạnh văn hóa vào xây dựng và chỉnh đốn Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh.
Nếu xác định rằng, thực hiện Nghị quyết về xây dựng Đảng là một việc làm thường xuyên, lâu dài, không chỉ là quyết tâm và trách nhiệm của toàn Đảng mà còn phải thu hút sự tham gia của toàn dân, phải hết sức bền bỉ, công phu, thì phải thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp ở tầm xây dựng và thực hành văn hóa đảng. Phải làm cho toàn Đảng, từng tổ chức đảng, từng cán bộ đảng viên có nhận thức đúng về văn hóa đảng, làm cho văn hóa đảng trở thành những giá trị đặc trưng cho một đảng cách mạng chân chính và hiện đại, thành nhu cầu trong Đảng và của đảng viên. Sức mạnh tự bảo vệ của Đảng, của cách mạng suy đến cùng là sức mạnh văn hóa. Ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái chính là ngăn chặn, đẩy lùi những phản văn hóa. Xây dựng và thực hành văn hóa đảng là dùng sức mạnh văn hóa chống lại những phản văn hóa một cách chủ động, tích cực. Với ý nghĩa đó, văn hóa Đảng là một giải pháp chiến lược, là tổng hợp và kết tinh mọi giải pháp xây dựng đảng.
Những quan niệm về văn hóa đảng
Văn hóa đảng ở đây là văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam với tư cách một đảng cầm quyền đang đảm nhận trọng trách lịch sử lãnh đạo giai cấp công nhân và toàn thể dân tộc Việt Nam thực hiện lý tưởng, mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Ba phương diện hay ba chiều cạnh khác nhau của tiếp cận văn hóa được vận dụng vào nhận thức văn hóa đảng là: Hoạt động, giá trị và tính sáng tạo.
Hoạt động là con đường, phương thức và điều kiện (cũng có thể gọi là môi trường) hình thành văn hóa, “sản xuất” ra văn hóa. Vận dụng vào văn hóa đảng là hoạt động chính trị, là sinh hoạt đảng, là đời sống chính trị của Đảng, tạo ra những tác động, ảnh hưởng, hiệu ứng xã hội, trong đó có sự tham chính của người dân, sự tham gia rộng rãi của nhân dân vào xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng các đoàn thể, xây dựng và bảo vệ chế độ nói chung trên tư cách người chủ và làm chủ. Hoạt động đó đương nhiên là hoạt động tự giác, chủ động, có tổ chức, có định hướng mục tiêu, được lãnh đạo và quản lý. Để hình thành một hoạt động như vậy, cần đến sự tham gia của số đông, tức là của đội ngũ đảng viên và của đông đảo quần chúng. Theo V.I. Lê-nin, ở đâu có hoạt động của số đông, của hàng triệu người, ở đó chắc chắn diễn ra một hoạt động chính trị nghiêm túc. Hoạt động sinh ra các mối quan hệ và liên hệ, thông qua các mối quan hệ mà hình thành hoạt động. Hoạt động đòi hỏi phải xác lập thể chế và các thiết chế tổ chức, bộ máy, các quy tắc và chuẩn mực ứng xử.
Hoạt động chính trị và sức mạnh của tổ chức chính trị, mà Đảng là tổ chức tiêu biểu nhất, đòi hỏi phải có nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương. Do đó, tập trung dân chủ (hay dân chủ tập trung như Hồ Chí Minh thường nói) là tất yếu, trên nền tảng dân chủ mà thực hiện tập trung. Đó là văn hóa tổ chức cùng với văn hóa nhân cách của mỗi thành viên ở trong tổ chức của mình. Lãnh đạo, quản lý là hoạt động ở trong tổ chức, có quan hệ mật thiết với đảng viên và nhân dân, của những chủ thể được ủy quyền, có vai trò định hướng và thúc đẩy hoạt động. Một cách rất tự nhiên, văn hóa tổ chức gắn liền với văn hóa lãnh đạo, quản lý, được bảo đảm bởi văn hóa nhân cách, trực tiếp hơn là văn hóa đạo đức của từng nhóm người, từng cá nhân.
Giá trị là những thuộc tính nổi bật, thể hiện đặc trưng, bản chất của văn hóa, biểu hiện ở chủ thể hoạt động sáng tạo văn hóa và kết tinh trong các sản phẩm, thành tựu văn hóa.
Những giá trị phổ biến và phổ quát của văn hóa hợp thành từ ba giá trị tiêu biểu là chân - thiện - mỹ, định hình bền vững trong lịch sử văn hóa ở mọi thời đại, mọi dân tộc và có tính nhân loại. Trong sự phát triển của lịch sử, mỗi giai cấp có những quan điểm, lập trường riêng của mình đối với văn hóa và sử dụng văn hóa, đánh giá văn hóa theo lăng kính giai cấp của mình. Trong xã hội tồn tại các giai cấp thì lẽ đương nhiên, văn hóa có tính giai cấp. Đảng chính trị cầm quyền và văn hóa của đảng cầm quyền cũng tất yếu mang tính giai cấp, biểu hiện trực tiếp ở ý thức hệ, ở tư tưởng chính trị. Theo đó, văn hóa đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam mang bản chất giai cấp công nhân, lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây cũng là nội dung cốt lõi của văn hóa đảng, là tư tưởng lý luận, là quan điểm chính trị của văn hóa đảng. Song, bên cạnh bản chất giai cấp, văn hóa bao giờ cũng thể hiện tính dân tộc, truyền thống bản sắc dân tộc. Càng thể hiện bản chất giai cấp công nhân thì càng thể hiện sâu sắc bản sắc, tinh hoa dân tộc, gắn liền dân tộc với thời đại. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là điểm cốt lõi, là đường nét chủ đạo của tư tưởng Hồ Chí Minh, nó kết hợp nhuần nhuyễn và thống nhất hữu cơ giữa giai cấp (giai cấp công nhân) với dân tộc, giữa dân tộc với thời đại và tinh hoa văn hóa nhân loại, giữa dân tộc với quốc tế, giữa truyền thống với hiện đại.
Hệ giá trị chân - thiện - mỹ của văn hóa nổi bật ở giá trị tinh thần và văn hóa tinh thần. Bên cạnh những giá trị chung, phổ biến, văn hóa bao giờ cũng thể hiện tính đặc thù lịch sử gắn với hoàn cảnh và truyền thống, tính riêng độc đáo thuộc về bản sắc tinh hoa, cốt cách của một dân tộc. Người ta gọi văn hóa như diện mạo tinh thần, tâm hồn, tư tưởng, sức sống của một dân tộc. Văn hóa như “tấm căn cước” của một dân tộc để dân tộc đến với nhân loại và những tinh hoa của nhân loại thấm nhuần vào văn hóa dân tộc.
Hệ giá trị chân - thiện - mỹ đòi hỏi phải có sự thống nhất nhận thức rằng, văn hóa, trong bản chất của nó, chỉ dùng để nói tới cái tốt đẹp, biểu đạt và bảo vệ những giá trị tốt đẹp. Cái sai, cái xấu, cái ác - những phản văn hóa - không được lẫn vào văn hóa, phải đấu tranh chống lại, loại bỏ nó. Đây là nội dung thực tiễn trong xây dựng và thực hành văn hóa, nhất là văn hóa đảng. Với hệ giá trị chân - thiện - mỹ, có thể hình dung các bộ phận nòng cốt của văn hóa sẽ là khoa học (chân - chân lý, bao hàm cả tư tưởng lý luận), đạo đức (luân lý, hạnh kiểm, phẩm chất, phẩm giá - cái gốc của nhân cách, là thiện - điều thiện, tính thiện) và nghệ thuật (là mỹ và thẩm mỹ, là cái đẹp, từ con người đến tự nhiên và xã hội, từ cá thể đến cộng đồng, từ dân tộc đến nhân loại).
Ứng dụng quan niệm này vào xây dựng, thực hành văn hóa đảng hiện nay, cần đặc biệt chú trọng giáo dục trong Đảng và trong xã hội về lý tưởng và mục tiêu mà Đảng và sự nghiệp cách mạng theo đuổi đến cùng, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế trong sáng, niềm tự hào về dân tộc và truyền thống dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc, tâm hồn dân tộc Việt Nam.
Thực hành văn hóa đảng còn là thực hành đạo đức cách mạng, lời nói đi đôi với việc làm, rèn luyện đạo đức, nhân cách, lối sống, đức khiêm tốn, trung thực, dũng khí tự phê bình và phê bình với động cơ trong sáng, vì nhân dân, vì Đảng chứ không vì mình. Đó là chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi, vị kỷ. Biết hy sinh, đặt lợi ích của nhân dân lên trên hết, trước hết. Cái gì có lợi cho nhân dân thì phải kiên quyết làm cho bằng được. Cái gì có hại đến nhân dân phải kiên quyết tránh cho bằng được. Thực hành một lối sống như vậy là thực hành văn hóa. Đảng phải tiêu biểu cho văn hóa và thực hành văn hóa đó. Đó còn là thực hành đoàn kết, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng như “giữ gìn con ngươi của mắt mình”, theo lời Bác dặn trong Di chúc.
Văn hóa đảng còn phải thấm nhuần năng lực sáng tạo. Muốn sáng tạo để vươn lên ngang tầm thời đại, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, xứng đáng với niềm tin và niềm tự hào của nhân dân về Đảng của mình, Đảng và mỗi tổ chức đảng, mỗi đảng viên phải ra sức thực hành văn hóa đảng, từ đổi mới tư duy, năng động sáng tạo, chống trì trệ, bảo thủ, bệnh giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm để trau dồi năng lực tư duy lý luận, thực hành lý luận trong thực tiễn, đồng thời chống khuynh hướng cực đoan, chủ quan, duy ý chí, từ giáo điều cũ lại mắc vào giáo điều mới. Muốn vậy, phải nỗ lực học tập, nâng cao học vấn, bởi học vấn là cơ sở của văn hóa. Thực hành văn hóa đảng còn đòi hỏi rèn luyện lập trường, quan điểm chính trị, có bản lĩnh chính trị vững vàng, thực hiện đường lối, nghị quyết của Đảng, giữ vững nguyên tắc và kỷ luật, chấp hành nghiêm chỉnh chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Thực hành văn hóa đảng còn là củng cố bền chặt mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, tôn trọng và tin cậy nhân dân, học nhân dân, hỏi nhân dân để hiểu nhân dân, nhờ đó làm tốt mọi công việc được giao theo chức trách, thẩm quyền, đề cao trách nhiệm, phục vụ nhân dân một cách tận tụy, liêm khiết và trung thành. Đó là thực hành dân chủ và công tác dân vận, làm gương và nêu gương cho quần chúng. Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh là một cuộc vận động văn hóa, giáo dục văn hóa, bền bỉ, lâu dài, tạo thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần, trong lối sống có văn hóa của mỗi người, trước hết là của đảng viên và cán bộ, trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý phải đi tiên phong về trách nhiệm và sự gương mẫu, nhất là trong tự phê bình và phê bình - một giải pháp thấm đẫm văn hóa đảng trong xây dựng Đảng.
Xây dựng và thực hành văn hóa đảng
Từ những điều trình bày ở trên, cần khái quát lại và nhấn mạnh mấy điểm cốt yếu sau đây:
- Văn hóa đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam nổi bật ở văn hóa đạo đức, văn hóa chính trị, văn hóa dân chủ của cán bộ đảng viên, của các tổ chức đảng đến toàn Đảng, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức, lối sống, làm cho Đảng là một đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh.
- Văn hóa đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ kế thừa mà còn phát huy những giá trị đặc sắc, những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, thể hiện và kết tinh những tinh hoa, bản sắc của văn hóa dân tộc, phản ánh tinh thần thời đại. Văn hóa đảng là một bộ phận, một loại hình của nền văn hóa dân tộc tiên tiến và đậm đà bản sắc dân tộc do Đảng lãnh đạo xây dựng và phát triển. Nó phản ánh trình độ, giá trị, ý nghĩa của văn hóa dân tộc ở thời kỳ hiện đại, của lịch sử văn hóa và lịch sử dân tộc Việt Nam.
- Văn hóa đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam được hiểu là văn hóa ở trong Đảng, trong đời sống chính trị của Đảng, là những giá trị, chuẩn mực, nguyên tắc, phép ứng xử văn hóa được thể hiện trong các tổ chức đảng, trong quan hệ con người (cán bộ, đảng viên), quan hệ tổ chức. Đó là khoa học - cách mạng - dân chủ và nhân văn ở trong Đảng. Đó còn là quan hệ giữa Đảng với nhân dân, Đảng với Nhà nước, Đảng với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể, ở quan hệ quốc tế của Đảng ta với các đảng, các tổ chức, các phong trào chính trị - xã hội trên thế giới.
- Sự định hình văn hóa đảng thể hiện mối quan hệ giữa giá trị văn hóa với chủ thể, giữa nhân cách đảng viên với tổ chức đảng, giữa Đảng với nhân dân và toàn thể dân tộc. Đó là giá trị thâm nhập vào chủ thể (cá nhân, tập thể, tổ chức), làm hình thành nhu cầu, năng lực, bản lĩnh văn hóa ở chủ thể, tạo ra môi trường văn hóa để rèn luyện và nêu gương, làm cho Đảng tiêu biểu về văn hóa, ứng xử văn hóa, phát huy được vai trò động lực của văn hóa đối với phát triển, tiến bộ xã hội.
- Văn hóa đảng là sức mạnh nội lực của Đảng, cũng đồng thời tạo ra hiệu ứng xã hội rộng lớn đối với nhân dân và dân tộc. Văn hóa đảng làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, làm cho nhân dân tin tưởng, ủng hộ, giúp đỡ, bảo vệ Đảng từ thực tế tấm gương của Đảng, của từng tổ chức đảng, của đảng viên và cán bộ, nhất là tập thể cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy các cấp. Như thế, Đảng có sức mạnh tự bảo vệ, cách mạng có sức mạnh tự bảo vệ mà nguồn gốc sâu xa tạo nên sức mạnh đó là lòng dân. Sức mạnh của Đảng là sức mạnh văn hóa.
- Xây dựng và thực hành văn hóa đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền là xây dựng Đảng về mọi mặt theo những yêu cầu đặt ra của văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức, văn hóa dân chủ. Nó biểu hiện tập trung trong công tác giáo dục, công tác cán bộ, trong thực hành văn hóa ở từng đảng viên, cán bộ, từng tổ chức đảng. Hướng đích của thực hành văn hóa đảng được đánh giá ở năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, ở bản lĩnh cầm quyền của Đảng, ở phương pháp và phong cách khoa học, ở sự trong sáng của đạo đức cách mạng, ở tinh thần dân chủ trong Đảng với tự phê bình và phê bình, thái độ trọng dân, trọng pháp của cán bộ, đảng viên trong quan hệ hằng ngày với nhân dân.
- Để xây dựng và thực hành văn hóa đảng theo tư tưởng, đạo đức, phương pháp và phong cách Hồ Chí Minh, góp phần trực tiếp vào việc thực hiện thành công Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI của Đảng, cần chú trọng thực hành theo gương Hồ Chí Minh với năm thực hành lớn: thực hành lý luận gắn liền với thực tiễn, thực hành dân chủ, thực hành dân vận, thực hành đoàn kết và thực hành đạo đức cách mạng; đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng theo các nguyên tắc chuẩn mực: lãnh đạo một cách khoa học, lãnh đạo một cách dân chủ và lãnh đạo bằng sự gương mẫu, tiên phong; ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng và mọi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên; luôn hướng tới và nỗ lực thực hiện những giá trị cốt lõi của phát triển và phát triển bền vững đối với Đảng, đó là hệ tiêu chí: đổi mới - trí tuệ - dân chủ - đoàn kết và phát triển.
Đối với từng cán bộ, đảng viên, đó là thực hành các đức tính và chuẩn mực: trung thực, khiêm tốn, tận tụy, trách nhiệm và kỷ cương./
ST.







