Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2023

"BÂY GIỜ GIỮ NỀN ĐỘC LẬP CÀNG CẦN ĐOÀN KẾT HƠN"

 "BÂY GIỜ GIỮ NỀN ĐỘC LẬP CÀNG CẦN ĐOÀN KẾT HƠN"

Phát biểu tại Hội nghị đại biểu các dân tộc thiểu số Việt Nam, ngày 3-12-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Nhờ sức đoàn kết tranh đấu chung của tất cả các dân tộc, nước Việt Nam ngày nay được độc lập, các dân tộc thiểu số được bình đẳng cùng dân tộc Việt Nam, tất cả đều như anh chị em trong một nhà, không còn có sự phân chia nòi giống, tiếng nói gì nữa.
Trước kia các dân tộc để giành độc lập phải đoàn kết, bây giờ để giữ lấy nền độc lập càng cần đoàn kết hơn nữa”. Lời căn dặn của Người được đăng trên Báo Cứu quốc, số 108, ra ngày 4-12-1945.
Đây là thời điểm nước ta vừa mới giành được nền độc lập, phải thực hiện nhiều nhiệm vụ cấp bách, như: Diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm, mở rộng quan hệ với các nước tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam... Lời căn dặn của Bác có ý nghĩa sâu sắc, là sự nhắc nhở ân cần đối với đồng bào các các dân tộc hãy xóa bỏ mọi bất hòa, thành kiến, phải thương yêu giúp đỡ lẫn nhau, phải đoàn kết chặt chẽ như anh em một nhà để bảo vệ nền độc lập đã giành được.
Hiện nay, các thế lực thù địch đang quyết liệt thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình”, kích động ý thức về tộc người và lợi dụng sự chênh lệnh về trình độ phát triển giữa các dân tộc để tạo mâu thuẫn, gây chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn giữ nguyên giá trị, là nền tảng lý luận cho chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước ta; định hướng, dẫn dắt cho hoạt động thực tiễn nhằm giải quyết tốt vấn đề dân tộc trong tình hình mới. Thực hiện lời dạy của Người, Đảng và Nhà nước ta chủ trương tiếp tục hoàn thiện các cơ chế, chính sách, bảo đảm các dân tộc bình đẳng, tôn trọng, đoàn kết, giải quyết hài hòa quan hệ giữa các dân tộc, giúp nhau cùng phát triển, tạo chuyển biến rõ rệt trong phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số; nâng cao chất lượng giáo dục-đào tạo, chất lượng nguồn nhân lực và chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số.
Gần 80 năm qua, bằng những việc làm thiết thực như tham gia phát triển kinh tế-xã hội, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xóa mù chữ, phòng, chống thiên tai, bão lũ, hỏa hoạn, chăm sóc sức khỏe nhân dân, bài trừ hủ tục mê tín, dị đoan, tệ nạn xã hội… cán bộ, chiến sĩ quân đội đã góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi chính sách dân tộc của Đảng, Nhà nước. Trong giai đoạn mới, phát huy bản chất và truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội nguyện kề vai sát cánh với đồng bào các dân tộc vượt qua mọi khó khăn, thử thách, xây dựng miền núi, vùng các dân tộc ngày càng vững mạnh, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch./.
Báo: QĐND
Có thể là hình ảnh về 1 người và văn bản cho biết 'HỒ CHÍ MINH SÁNG MÃI TÊN NGƯỜI'
Tất cả cảm xúc:
2

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và yêu cầu củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân trong giai đoạn hiện nay

 Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và xây dựng Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân là một trong những di sản tư tưởng bao trùm và xuyên suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người. Đồng thời, đây cũng là tư tưởng có ý nghĩa chỉ đạo đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước hiện nay.

Nông dân xã Ái Quốc, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương báo cáo kết quả sản xuất với Chủ tịch Hồ Chí Minh (ngày 31-5-1957)_Nguồn: hochiminh.vn

. ĐỔI MỚI TƯ DUY NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG NGHIÊN CỨU LÝ LUẬN, TỔNG KẾT THỰC TẾ, GÓP PHẦN TÍCH CỰC VÀO VIỆC HOẠCH ĐỊNH ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐẢNG, CHÍNH SÁCH CỦA NHÀ NƯỚC

 

“Không có lý luận cách mệnh thì không có cách mạng vận động”, luận điểm quan trọng của V.I. Lênin về vai trò và tầm quan trọng của công tác lý luận được Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn trang trọng ngay trên trang đầu của tác phẩm Đường cách mệnh - cuốn giáo trình cho các lớp đào tạo cán bộ đầu tiên cho tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam từ những năm 1926-1927. Vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của công tác lý luận được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt sâu sắc trong suốt tiến trình cách mạng, là cơ sở giúp Đảng chủ động và không ngừng phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đổi mới nhận thức lý luận chính trị.

1. Đổi mới nhận thức lý luận của cán bộ đảng, nhất là đội ngũ cán bộ chiến lược

Việc đổi mới nhận thức về công tác lý luận đặt ra trước hết đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là đội ngũ cán bộ chiến lược, những người đứng đầu các cơ quan đảng, nhà nước. Nhận thức lý luận của cán bộ đảng trước hết thể hiện trong việc hiểu đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng và tính chất của công tác lý luận trong xây dựng, phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”[4]. Đây là điều kiện quyết định không chỉ để có một môi trường tích cực cho việc phát triển lý luận, mà quan trọng hơn là nhằm hai mục đích lớn. Mục đích thứ nhất, từ nhận thức đúng đắn về lý luận, đội ngũ cán bộ chiến lược của Đảng sẽ ý thức đầy đủ hơn trong việc học tập, nghiên cứu, nâng cao sự hiểu biết có hệ thống về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng những thành tựu lý luận Mác-xít hiện đại. Đến lượt nó, đó chính là cơ sở để củng cố niềm tin, lý tưởng và ý thức chính trị cho cán bộ. Mục đích thứ hai, giúp đội ngũ cán bộ chiến lược quan tâm đúng mức đến công tác tổ chức nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tế, tiếp nhận và vận dụng những thành tựu lý luận mới vào thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.

2. Đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn.

Về nội dung, kết hợp tốt 5 phương hướng nghiên cứu. Phương hướng thứ nhất, tiếp tục đào sâu nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, khẳng định được những giá trị đúng đắn, những vấn đề phương pháp luận cốt lõi, những vấn đề lịch sử đã vượt qua. Phương hướng thứ hai, mở rộng việc nghiên cứu, tiếp thu có chọn lọc những thành tựu lý luận của nhân loại, những bài học thành công, thất bại của phong trào công nhân, cộng sản, của chủ nghĩa xã hội hiện thực và những thành tựu lý luận khác của nhân loại, theo phương châm tận dụng tốt nhất những giá trị tích cực của nhân loại phục vụ cho lợi ích dân tộc, cho mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Phương hướng thứ ba, tiếp tục nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ hơn và truyền bá sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân những giá trị sáng tạo to lớn của Người về vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Phương hướng thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu gắn với tổng kết thực tế, đặc biệt là các mô hình hay, những kinh nghiệm tốt trong việc giải quyết các mối quan hệ lớn, cập nhật và làm rõ những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn, phát hiện và phản biện kịp thời những chính sách không còn phù hợp. Thứ năm, nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tế, tiếp tục làm sáng tỏ hơn mô hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, luận giải và làm rõ những vấn đề thực tiễn xây dựng, phát triển đất nước đang đặt ra, xây dựng cơ sở khoa học và thực tế phục vụ tốt cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Để thực hiện tốt 5 phương hướng trên, cần thực sự đổi mới tư duy lý luận, đổi mới phương pháp nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, vận dụng những phương pháp, cách tiếp cận hiện đại. Đặc biệt, “các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới cơ sở” phải “đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc” theo yêu cầu mà Đại hội XII của Đảng đề ra là “khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân, vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm”[5]. Những phương pháp, phong cách đó là cần thiết đối với hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng nói chung, đồng thời cũng là điều kiện cần thiết cho việc đổi mới nội dung, phương pháp nghiên cứu, phát triển lý luận nói riêng.

3. Đổi mới tổ chức hệ thống các cơ quan nghiên cứu và xây dựng, sử dụng đội ngũ cán bộ, chuyên gia lý luận.

Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ yêu cầu: “Đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng; đầu tư thích đáng cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lý luận, nhất là những chuyên gia đầu ngành”[6]. Trên thực tế, mô hình tổ chức các cơ quan nghiên cứu lý luận của Đảng đã được hình thành trong quá trình Đổi mới, đến nay chưa có thay đổi, cơ chế vận hành của hệ thống có nhưng chuyển biến nhất định nhưng nhiều vấn đề chưa rõ ràng, nhất là cơ chế vận hành, sự phân định trách nhiệm, các điều kiện cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, quan hệ giữa các cơ quan nghiên cứu trong cả nước. Hoạt động nghiên cứu, phát triển lý luận còn tách rời với hoạt động tham mưu về chính sách. Vì thế, việc đổi mới mô hình tổ chức, cơ chế vận hành của các cơ quan nghiên cứu, phát triển lý luận theo tinh thần Đại hội XII của Đảng là cấp bách.

Việc xây dựng, sử dụng đội ngũ cán bộ, chuyên gia lý luận, từ công tác đào tạo ban đầu, đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, đến chế độ sử dụng, đãi ngộ với cán bộ nghiên cứu lý luận nhất là cán bộ khoa học đầu ngành cần được đổi mới đồng bộ. Cần có chính sách thu hút nhân tài vào các ngành đào tạo, nghiên cứu lý luận chính trị thông qua chính sách đãi ngộ thích đáng và nhiều biện pháp ưu đãi khác. Đối với các chuyên gia đầu ngành, cần có chính sách sử dụng thống nhất, chế độ đãi ngộ thích hợp, khuyến khích đối với các thành tựu nghiên cứu. Cần có chính sách sử dụng, khai thác hợp lý với những cán bộ, chuyên gia lý luận đã quá tuổi lao động nhưng còn có sức khỏe và năng lực làm việc tốt.

4. Đổi mới về cơ chế, chính sách, chế độ trong công tác lý luận

Cần thiết phải đổi mới chính sách đầu tư tài chính, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và điều kiện làm việc cho công tác nghiên cứu lý luận. Về quản lý tài chính đối với hoạt động nghiên cứu lý luận cần chuyển sang chế độ đặt hàng, quyết toán đầu tư theo kết quả nghiên cứu, kiên quyết cắt bỏ những khâu thủ tục hành chính, giấy tờ phức tạp và không có ý nghĩa thực tế. Các kết quả nghiên cứu phải có địa chỉ sử dụng. Cần có sự chỉ đạo, đánh giá chung, thống nhất trong cả hệ thống để tránh sự chồng chéo, trùng lặp đề tài, gây lãng phí nguồn lực đầu tư.

Để thúc đẩy hoạt động nghiên cứu lý luận cần có chính sách, chế độ đầu tư, đảm bảo các điều kiện hạ tầng kỹ thuật như thông tin, tư liệu, thư viện, không gian làm việc cho các cơ quan lý luận, các nhà khoa học, nhất là các chuyên gia đầu ngành. 


Tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta hiện nay

 Nhờ thành quả sau gần 35 năm đổi mới, diện mạo đất nước ta đã hoàn toàn thay đổi. Việt Nam đạt được những thành tựu mang tính lịch sử trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. Trong thành tích chung đó có đóng góp rất quan trọng của hệ thống pháp luật được xây dựng dựa trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh. Bước vào giai đoạn phát triển mới, công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, tổ chức thi hành pháp luật đang đứng trước cả thời cơ và những thách thức mới, đòi hỏi các cán bộ tham gia công tác tư pháp, pháp luật cần tiếp tục quán triệt sâu sắc, vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh để giải quyết các vấn đề thực tiễn đặt ra, tập trung thực hiện các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật, với tinh thần “việc gì có lợi cho dân… phải hết sức làm. Việc gì có hại đến dân… phải hết sức tránh”, sớm xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, dễ tiếp cận với chi phí tuân thủ thấp, có hiệu lực, hiệu quả cao, có sức cạnh tranh quốc tế, lấy quyền và lợi ích hợp pháp của người dân là trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội và quốc phòng, an ninh trong điều kiện mới.

Thứ hai, tiếp tục quan tâm hoàn thiện thể chế về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chú trọng bảo đảm quyền con người, phát huy quyền tự do dân chủ của nhân dân đã được đề ra trong các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Hiến pháp 2013, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính và cải cách tư pháp, kiên quyết, kiên trì thực hiện các giải pháp phòng, chống tham nhũng, bảo đảm xây dựng bộ máy nhà nước thực sự trong sạch, vận hành thông suốt, hiệu lực, hiệu quả, vì nhân dân. Tạo điều kiện để người dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp và các quyền tự do, dân chủ khác, tạo thêm động lực cho cải cách, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, các thiết chế trong hệ thống chính trị; đồng thời cụ thể hóa Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.

Thứ ba, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo tiêu chuẩn hiện đại, có sự cạnh tranh và phù hợp với các thông lệ quốc tế, bảo đảm tối đa quyền sở hữu tài sản, quyền sở hữu trí tuệ, quyền tự do hợp đồng và tự do kinh doanh, tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, tận dụng hiệu quả các cơ hội và ứng phó kịp thời với những thách thức từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Quan tâm xây dựng khung chính sách, pháp luật đối với hệ thống chính quyền điện tử hướng tới nền kinh tế số. Xây dựng, thử nghiệm, hoàn thiện khung khổ pháp lý cho các mô hình kinh doanh mới ứng dụng công nghệ cao, mô hình kinh tế chia sẻ, giao dịch, quản lý các tài sản kỹ thuật số, đầu tư mạo hiểm, các phương thức thanh toán mới, hệ thống xác thực và định danh điện tử.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế để chủ động hội nhập quốc tế, trong đó trọng tâm là hội nhập kinh tế quốc tế, bảo đảm phát triển kinh tế bền vững, tự chủ, gắn với yêu cầu củng cố quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Thứ năm, tổ chức tốt việc thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm sự tham gia thực chất của người dân vào hoạt động xây dựng, pháp luật, coi trọng và đầu tư thỏa đáng cho công tác điều tra, khảo sát thực tiễn, phân tích chính sách trong hoạt động xây dựng pháp luật, sớm chuyên nghiệp hóa các hoạt động phân tích chính sách và soạn thảo pháp luật.

Thứ sáu, đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả việc tổ chức thi hành pháp luật nhằm đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, bảo đảm thượng tôn pháp luật trở thành chuẩn mực ứng xử phổ biến trong các cơ quan nhà nước, tổ chức đoàn thể, các thiết chế khác trong hệ thống chính trị và trong đời sống thường nhật của cá nhân, doanh nghiệp. Khẩn trương đẩy mạnh nghiên cứu, hoàn thiện pháp luật về tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật, quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và mọi công dân trong việc thi hành pháp luật và theo dõi tình hình thi hành pháp luật.

Kiện toàn và đổi mới về tổ chức, bộ máy, biên chế làm công tác tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại, đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế. Nghiên cứu thành lập cơ quan chuyên trách theo dõi thi hành pháp luật theo hướng tinh gọn, hiệu quả từ Trung ương xuống địa phương. Các bộ, ngành Trung ương cần bố trí sắp xếp bảo đảm có cán bộ chuyên trách về tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật; các địa phương cần bố trí biên chế pháp chế chuyên trách tại các sở, ngành chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh để thực hiện nhiệm vụ công tác pháp chế nói chung và làm đầu mối công tác tổ chức thi hành và theo dõi thi hành pháp luật nói riêng. Xây dựng được đội ngũ cán bộ làm công tác thi hành pháp luật có năng lực chuyên môn và bản lĩnh, phẩm chất chính trị, nghề nghiệp vững vàng, thông qua việc lập quy hoạch, kế hoạch đào tạo, xây dựng chương trình khung đào tạo, bồi dưỡng ngắn hạn và dài hạn, nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng cán bộ  công chức làm công tác thi hành pháp luật tại các bộ, ngành, địa phương. Tăng cường năng lực phản ứng chính sách trong quá trình tổ chức thi hành pháp luật, đặc biệt là việc tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị của người dân và doanh nghiệp về tình hình thi hành pháp luật(30). Thiết lập kênh thông tin đa dạng, thuận lợi, bảo mật để người dân, doanh nghiệp phát huy tính tự giác, kịp thời khiếu nại, tố cáo về những hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực của cán bộ, công chức, viên chức trong thực thi pháp luật./.

Thực tiễn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa những thành tựu lập pháp của đất nước, kể từ khi thống nhất đất nước đến nay, Nhà nước ta đã ban hành 3 bản Hiến pháp mới bao gồm: Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp năm 2013. Mỗi bản Hiến pháp ra đời đã đánh dấu một bước phát triển mới của đất nước, là cơ sở cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

Tính đến nay, Quốc hội đã ban hành 17 bộ luật và 430 luật trên tất cả các lĩnh vực(18), 7.004 nghị định của Chính phủ(19), chưa kể rất nhiều văn bản khác của các bộ, ngành, chính quyền địa phương. Đặc biệt, trong gần 35 năm đổi mới, đất nước ta đã có một sự thay đổi mạnh mẽ trong phát triển kinh tế. Để làm được điều này, bên cạnh quyết tâm chính trị, hệ thống pháp luật liên tục được quan tâm xây dựng, hoàn thiện dựa trên nền tảng tư tưởng, giá trị tốt đẹp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho tiến trình chuyển đổi kinh tế và quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam thành công.

Một là, thể chế về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được bổ sung, hoàn thiện một bước quan trọng. Kế tục các tư tưởng tiến bộ của các bản Hiến pháp trước đó (trong đó có Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959), Hiến pháp năm 2013 (Điều 2) trang trọng quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” và “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Hiến pháp cũng quy định rõ: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền” (Điều 8). Hiến pháp năm 2013 quy định nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước làm cơ sở cho việc xây dựng các đạo luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế cơ bản trong bộ máy nhà nước(20) và hệ thống chính trị, hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp(21), hành pháp, tư pháp.

Hai là, thể chế về bảo vệ, bảo đảm quyền con người được quan tâm hoàn thiện. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc về những lẽ phải “không ai chối cãi được” thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập, bằng tư duy lập hiến mới của Hiến pháp năm 2013 coi công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân là trách nhiệm của Nhà nước, các đạo luật về quyền dân sự, chính trị, quyền tự do, dân chủ của công dân đã được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân(22). Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung, ghi nhận nhiều quyền mới(23) và quy định rõ ràng, đầy đủ hơn nội hàm của các quyền mà Hiến pháp năm 1992 đã quy định, đồng thời bổ sung nguyên tắc quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (khoản 2 Điều 14). Có thể nói, thể chế bảo đảm cho nhân dân thực hiện các quyền tự do, dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay đã hoàn thiện một cách khá căn bản.

Ba là, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện với nhiều đặc điểm của thể chế kinh tế thị trường hiện đại, phù hợp hơn với thông lệ quốc tế. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay chính là tiền đề giải phóng sức dân, tiền đề pháp lý bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế, phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Chế độ sở hữu(24), pháp luật về các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế(25) và thể chế cho việc đổi mới, sắp xếp, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước(26) đều có bước phát triển mới. Các quyền và nghĩa vụ về tài sản được thể chế hóa tương đối đầy đủ. Vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân ngày càng được coi trọng, thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt kết quả tích cực, đội ngũ doanh nhân không ngừng lớn mạnh. Thể chế về các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành đồng bộ hơn, tạo điều kiện cho việc gắn kết với thị trường khu vực và thế giới. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện và thông thoáng hơn; quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được bảo đảm hơn(27). Cải cách thủ tục hành chính trong công tác quy hoạch, quản lý sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, đấu giá quyền sử dụng đất đã được đẩy mạnh, đưa quản lý, sử dụng đất đai vào nền nếp(28). Pháp luật về giá quy định rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giá và hoạt động quản lý giá, qua đó bảo đảm sự điều tiết của Nhà nước về giá thông qua các biện pháp kinh tế nhằm ổn định thị trường; tôn trọng quyền tự định giá của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh; khuyến khích, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng; ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và bình ổn thị trường(29).

Bốn là, cùng với việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế, trong những năm qua, Việt Nam đã đẩy mạnh thực hiện việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cơ bản đã theo kịp và tương thích với hầu hết các nguyên tắc, tập quán quốc tế, góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, tài chính, ngân hàng, tương trợ tư pháp, chống khủng bố, chống tội phạm, chống rửa tiền, chống tham nhũng…

Năm là, Hiến pháp và các đạo luật đã trở thành nguồn quy phạm quan trọng nhất về giá trị pháp lý trong việc giải quyết công việc cho nhân dân và trong điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Thêm vào đó, đến nay, tuyệt đại đa số các lĩnh vực kinh tế - xã hội đều đã được điều chỉnh bởi các đạo luật. Các đạo luật mang tính rường cột của quốc gia, như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Bộ luật Lao động, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Tố tụng hành chính và các đạo luật về tổ chức Quốc hội, Chính phủ, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, chính quyền địa phương đã được ban hành đầy đủ. Số lượng đạo luật điều chỉnh lĩnh vực quyền con người, quyền công dân đã cân xứng hơn so với các đạo luật về tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cũng như các đạo luật điều chỉnh các quan hệ dân sự, kinh tế. Trên cơ sở đó, Chính phủ và các bộ, ngành, chính quyền địa phương đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành, góp phần sớm đưa các quy định trong các đạo luật vào thực tiễn đời sống.

Sáu là, quy trình xây dựng luật, pháp lệnh đã được đổi mới một bước khá cơ bản theo hướng tách bạch quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo bảo đảm sự phù hợp của luật, pháp lệnh với đường lối, chủ trương của Đảng, nâng cao tính công khai, minh bạch trong xây dựng chính sách, tăng cường, phát huy sự tham gia của nhân dân vào quy trình xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đây thực chất là sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy dân chủ và bảo đảm tính khách quan trong công tác xây dựng pháp luật trong thực tiễn cải cách, đổi mới ở nước ta. Trong thực tế, trong những năm gần đây, quy trình xây dựng pháp luật đã được đổi mới, hoàn thiện theo hướng ngày càng chú trọng đến công tác xây dựng chính sách, tách bạch giữa xây dựng chính sách và soạn thảo văn bản, tránh tình trạng “vừa thiết kế vừa thi công”.

Đối với quy trình xây dựng chính sách, cơ quan đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phải có trách nhiệm tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan; tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có liên quan đến đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng nội dung chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đánh giá tác động của chính sách, dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành văn bản sau khi được cơ quan có thẩm quyền thông qua; tổ chức lấy ý kiến đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật… Tất cả những công đoạn này đều nhằm mục đích thu thập đầy đủ nhất nguồn thông tin để từ đó đưa ra những chính sách phù hợp nhất với yêu cầu thực tiễn. Thêm vào đó, chất lượng công tác thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đã được nâng lên rõ rệt; công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm. Tiến độ xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết đã được cải thiện, từng bước đáp ứng yêu cầu công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh, tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết đã giảm so với các năm trước đây.

ĐÓ LÀ T.Ộ.I Á.C!

 ĐÓ LÀ T.Ộ.I Á.C!

Người phụ nữ bé nhỏ trong hình là To Thi Nau (có thể là Tô Thị Nâu), một liên lạc viên quân Giải phóng, đã hỗ trợ đưa một tiểu đội quân Giải phóng thoát đi an toàn nhưng cô ấy không di tản thành công và bị bắt lại. Còn những người đi bên cạnh là các binh l.ính thuộc lực lượng SAS - lực lượng đặc nhiệm khét tiếng thế giới, thuộc quân đội Úc. Nếu ai từng chơi các các game b.ắn s.ú...g, chắc là biết đến SAS rồi.
Hai người lính đặc nhiệm SAS bắt cô ấy, trói cô ấy ra giật cánh khuỷu, ép cô ấy ngửa mặt lên trời và phủ một chiếc khăn ướt lên mặt cô ấy. Và khi cô ấy hít vào, chiếc khăn ướt đó b.ịt đ.ường t.hở của cô ấy, khi thở ra, chiếc khăn mắc nghẹn khiến cô ấy thở rất khó nhọc. Đ.au đ.ớn hơn, mỗi khi cô ấy tìm cách thở ra, họ lại xối nước cô ấy từ trên cao, khiến cô ấy mắc n.ghẹn và h.o sằng sặc.
Đám lính ấy cứ làm như vậy trong nửa giờ đồng hồ. Một tiểu đội lính Úc thay phiên nhau làm như vậy và chúng cười phá lên giữa rừng núi. Cô ấy im lặng và chỉ cố tìm cách để thở.
Rồi, đám lính này nói với thông dịch viên rằng: “Hãy khai ra nếu móng tay của mày sẽ bị rút hết, tụi tao sẽ bịt lại các lỗ trên người mày - bao gồm mũi, tai và vk. Và tụi tao sẵn sàng làm những thứ hơn cả những gì mày có tưởng tượng ra”.
Và những chi tiết trên bị Chính phủ Úc và quân đội Úc che giấu suốt bao nhiêu năm. Bao nhiêu cuộc điều tra, bao nhiêu phiên điều trần đều phủ nhận tội ác với cô gái To Thi Nau ấy. Thủ tướng Úc John Gorton cho rằng cô gái To Thi Nau đã diễn cảnh “t.r.a t.ấn”, quần áo ướt cũng là diễn (?), nghị trường nước cười nhạo cô gái này và phủ nhận mọi cáo buộc.
Cho đến một ngày ở tháng 4/2010, Peter Barham - cựu lính SAS, thông dịch viên và người có mặt trực tiếp vào hôm cô gái To Thi Nau bị t.r.a t.ấn ấy, quyết định đưa toàn bộ diễn biến buổi t.r.a t.ấn hôm đó ra với truyền thông.
Peter Barham: “Tôi đã bị gương mặt cô ấy á.m ả.nh trong 44 năm. Đã đến lúc sự thực trở về với sự thực”. Trước đó, Chính phủ Úc, Bộ Quốc phòng Úc đã gây sức ép bắt buộc Peter Barham phải im lặng, đổi lại Peter Barham được trở về Úc, phục vụ trong quân đội, có một vị trí tốt. Nhưng sau đó, do quá á.m ả.nh, ông đã từ chức và trở thành một người nghiện r.ượu trong những thập kỷ tiếp theo…
Chuẩn tướng Oliver Jackson, người chịu trách nhiệm tại Núi Đất (Bà Rịa - Vũng Tàu) của quân đội Úc đã ra lệnh điều tra vụ t.r.a t.ấn này xem có thực hay không. Nhưng quyết định nhanh chóng bị lãng quên vì VNCH khi ấy không phê duyệt Công ước Genève về đối xử nhân đạo với tù binh nên VNCH có quyền “h.ạ s.át bất cứ ai nếu thấy cần thiết”... Điều tra cũng không giải quyết được gì cả và cũng không cần thiết. Vì mọi t.ội á.c đều sẽ được coi như chưa từng tồn tại…
“Chiến tranh bóp c.h.ế.t những người đàn ông trẻ tuổi. Và ăn mòn linh hồn của những người còn sống như tôi" - Peter…
Có thể là hình ảnh về 5 người và văn bản cho biết 'Có những sự thật đã chìm vào quên lãng! VNTQTY'
Tất cả cảm xúc:
8

Tư tưởng Hồ Chí Minh về hệ thống pháp luật Việt Nam

 Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh không để lại những trước tác lý luận bàn riêng chủ đề về hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, Người để lại di sản tư tưởng rất sâu sắc và đặc biệt có giá trị đối với những người làm công tác xây dựng, thực thi pháp luật, thể hiện trong nhiều bài nói, bài viết và trong hành động thực tiễn cách mạng trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng hệ thống pháp luật Việt Nam, đặc biệt là Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959, trong 24 năm chỉ đạo xây dựng nhà nước kiểu mới - Nhà nước của nhân dân lao động, Nhà nước của giai cấp cần lao chính thức được thiết lập ở nước ta kể từ ngày Quốc khánh 2-9-1945.

Nghiên cứu những tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng quá trình chỉ đạo cách mạng, xây dựng bộ máy nhà nước, xây dựng hệ thống pháp luật, có thể thấy rõ những tư tưởng lớn của Người về tầm nhìn, nội dung, yêu cầu và cả cách tư duy trong thiết kế và thực thi pháp luật:

Thứ nhất, hệ thống pháp luật Việt Nam cần xây dựng là hệ thống pháp luật chứa đựng những giá trị công bằng, nhân văn, chính nghĩa, vì nhân dân lao động và vì con người.

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng cứu nước, cứu dân của mình, sống, nghiên cứu và trải nghiệm ở hơn 30 quốc gia, khắp năm châu, với bao khó khăn, gian khổ, bằng nhãn quan chính trị và trí tuệ thiên tài, hiểu sâu sắc bản chất vô nhân đạo và phi nghĩa của chế độ thực dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh, với lòng yêu nước thương dân vô hạn, mong muốn xây dựng hệ thống pháp luật vì nhân dân lao động, vì con người sau khi đã giành được chính quyền.

Trong Tuyên ngôn Độc lập ngày 2-9-1945 chính thức khai sinh chế độ mới, khai sinh nhà nước kiểu mới ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn những bản tuyên ngôn bất hủ trên thế giới để khẳng định “những lẽ phải không ai chối cãi được”, mang giá trị “nhân đạo và chính nghĩa”; phê phán chế độ thực dân, phong kiến có thứ “luật pháp dã man”. Ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời ngày 3-9-1945, Người chỉ rõ: “Chúng ta phải có một Hiến pháp dân chủ”(2). Trong thực tế, chính Người đã chỉ đạo soạn thảo Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 với những nội dung thể hiện đậm nét tính dân chủ, vì con người.

Hệ thống pháp luật mà Chủ tịch Hồ Chí Minh mong muốn xây dựng là sản phẩm của chế độ có một “mục đích duy nhất là mưu tự do hạnh phúc cho mọi người… đặt quyền lợi dân lên trên hết thảy”(3). Trong bài phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Tư pháp toàn quốc năm 1950, Người chỉ rõ: “Pháp luật của ta hiện nay bảo vệ quyền lợi cho hàng triệu người lao động… Pháp luật của ta là pháp luật thật sự dân chủ, vì nó bảo vệ quyền tự do, dân chủ rộng rãi cho nhân dân lao động”(4).

Thứ hai, hệ thống pháp luật Việt Nam cần xây dựng là hệ thống pháp luật dựa trên nền tảng Hiến pháp dân chủ và các đạo luật.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ý thức rất sớm tầm quan trọng của Hiến pháp và các đạo luật trong quản lý nhà nước và xã hội. Ngay từ năm 1919, trong bản “Yêu sách của nhân dân An Nam” gửi tới Hội nghị Versaile, Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu phải “thay thế chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”. Bản yêu sách ngắn gọn, súc tích đã tập trung vào các nội dung đòi tự do, dân chủ cho nhân dân các nước thuộc địa, thể hiện rõ ý thức đề cao, khẳng định vị trí, tầm quan trọng của các đạo luật trong đời sống của một dân tộc, một xã hội(5). Năm 1922, Nguyễn Ái Quốc đã truyền bá rộng rãi trong kiều bào và chuyển về nước bản “Việt Nam yêu cầu ca”, chuyển thể nội dung bản yêu sách thành những vần ca dao dễ đọc, dễ nhớ và yêu sách thứ 7 đã chuyển thành 2 câu thơ lục bát: “Bảy xin Hiến pháp ban hành. Trăm đều phải có thần linh pháp quyền”. Như vậy, ngay từ năm 1922, Nguyễn Ái Quốc, đã nêu “ban hành Hiến pháp” phải trở thành một yêu cầu, một đòi hỏi, một yêu sách của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Hơn nữa, Người yêu cầu pháp quyền đối với “trăm đều” - tức là mọi thứ, là toàn xã hội(6)Khi đã giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, Việt Nam “phải có một hiến pháp dân chủ” để nhân dân được quyền tự do, dân chủ. Trong Thể lệ tổng tuyển cử(7), tại Điều thứ 2 đã quy định: “Tất cả những công dân Việt Nam 18 tuổi trở lên không phân biệt nam nữ đều có quyền bầu cử và ứng cử”.

Trong thực tiễn, dưới sự lãnh đạo của Người, sau một thời gian soạn thảo và xin ý kiến nhân dân, ngày 9-11-1946, Quốc hội đã thông qua bản Hiến pháp dân chủ đầu tiên trong lịch sử nước nhà. Bản Hiến pháp trang trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hoà. Tất cả quyền binh trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” (Điều thứ nhất), đồng thời “thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” (Lời nói đầu). Do chiến tranh, việc cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1946 thành các đạo luật không có điều kiện được thực hiện đầy đủ, nhưng dựa trên các quy định của Hiến pháp năm 1946, Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt văn bản quy phạm pháp luật quan trọng để tổ chức các cơ quan trong chính quyền và thực hiện huy động lực lượng của nhân dân cho sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc, đưa tới sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp vào năm 1954. Sau kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, để bảo đảm phù hợp với điều kiện chính trị, lịch sử cụ thể của thời gian đó, dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong quá trình xây dựng và soạn thảo, Hiến pháp năm 1959 đã được Quốc hội ban hành. Trên cơ sở đó, Quốc hội cũng ban hành một số đạo luật quan trọng, tạo cơ sở pháp lý để chính quyền các cấp tổ chức bộ máy và tổ chức đời sống của nhân dân, xây dựng miền Bắc vững mạnh và làm cơ sở cho cuộc đấu tranh giành lại hòa bình, thống nhất đất nước ở miền Nam.

Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa I – Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sau Tổng tuyển cử ngày 6-1-1946, tại Nhà hát lớn Hà Nội_Nguồn: hochiminh.vn

Thứ ba, pháp luật là công cụ cần thiết “giữ gìn quyền lợi của nhân dân”(8) và duy trì trật tự xã hội.

Trong tư tưởng của Người, một xã hội không thể thiếu pháp luật. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trước khi có Hiến pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 47/SL, ngày 10-10-1945, giữ lại mọi luật lệ của chế độ cũ chỉ trừ những điều luật trái với nền độc lập, tự do(9). Trong điều kiện chưa thể ban hành ngay hệ thống pháp luật, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho ban hành hàng loạt các sắc lệnh để đưa vào thi hành các quyền tự do, dân chủ của công dân, như: Ngày 6-9-1945, Sắc lệnh số 11 bãi bỏ thuế thân và cam kết các sắc thuế muốn được ấn định thì phải có sắc lệnh quy định; ngày 8-9-1945, ban hành Sắc lệnh về việc lập ra bình dân học vụ để thực hiện chủ trương diệt giặc dốt và Sắc lệnh số 14 mở ra cuộc tổng tuyển cử để bầu Quốc dân đại hội…

Như vậy, trong những giờ phút khẩn trương, bộn bề công việc, chuẩn bị công cuộc kháng chiến bảo vệ nền độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dồn không ít sự quan tâm cho việc xây dựng pháp luật, ban hành chính sách, củng cố bộ máy chính quyền.

Sau này, khi hòa bình lập lại ở miền Bắc sau năm 1954, hoạt động xây dựng pháp luật ở nước ta đã được coi trọng hơn. Quốc hội đã ban hành nhiều đạo luật quan trọng liên quan trực tiếp đền quyền tự do của người dân, như: Luật quy định quyền lập hội ngày 20-5-1957, Luật quy định quyền tự do hội họp ngày 20-5-1957, Luật bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật, thư tín của nhân dân ngày 20-5-1957, Sắc luật về quyền tự do xuất bản ngày 18-6-1957, Luật Công đoàn ngày 5-11-1957(10)

Thứ tư, hệ thống pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ cần được đặc biệt coi trọng để thiết lập và vận hành Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm tới việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước, về quản lý đội ngũ cán bộ và phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bảo đảm bản chất “của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân” của chính quyền cách mạng. Cụ thể, ngày 22-11-1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời ban hành Sắc lệnh số 63-SL về tổ chức các hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính (áp dụng cho chính quyền ở nông thôn); ngày 21-12-1945, ban hành Sắc lệnh số 77-SL về tổ chức chính quyền nhân dân ở các thị xã và thành phố. Đối với hệ thống tòa án nhân dân, ngày 24-1-1946, ban hành Sắc lệnh số 13-SL tổ chức các tòa án và ngạch thẩm phán… Tiếp đó, Hiến pháp năm 1946 được ban hành quy định hệ thống tổ chức chính quyền gồm: Nghị viện nhân dân, Chính phủ, hội đồng nhân dân (ở tỉnh, thành phố, thị xã và xã) và ủy ban hành chính (ở tất cả các đơn vị hành chính), cơ quan tư pháp (gồm Tòa án tối cao, tòa án phúc thẩm, các tòa án đệ nhị cấp và sơ cấp). Ngày 22-5-1950, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Sắc lệnh số 85-SL cải cách bộ máy tư pháp và Luật Tố tụng - có thể coi đây là cuộc cải cách tư pháp đầu tiên kể từ khi chế độ mới được thiết lập năm 1945, nhằm bảo đảm tốt hơn tính nhân dân của nền tư pháp mới.

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc vào năm 1954 cho tới năm 1969, Quốc hội đã ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 1958, Hiến pháp năm 1959, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội năm 1959, Luật Tổ chức Quốc hội năm 1960, Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ năm 1960, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân năm 1960, Luật Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban hành chính các cấp năm 1962…

Thứ năm, bảo đảm dân chủ trong quá trình xây dựng pháp luật.

Trong việc xây dựng hệ thống pháp luật, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất chú trọng tính nhân văn, dân chủ, vì con người. Muốn có được hệ thống pháp luật như vậy, sự tham gia của nhân dân trong quá trình xây dựng pháp luật là điều kiện tiên quyết. Một trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước ngay sau khi Chính phủ lâm thời được thành lập năm 1945 đó là tổng tuyển cử và lập hiến(11); muốn có Hiến pháp thì phải tổ chức tổng tuyển cử để nhân dân bầu ra Quốc hội và Quốc hội sẽ chịu trách nhiệm đại diện cho nhân dân soạn thảo ra Hiến pháp. Quốc hội được bầu ngày 6-1-1946 chính là Quốc hội lập hiến(12). Như vậy, tư tưởng dân chủ trong lập hiến, lập pháp của Người thể hiện rất rõ ở việc xác định tham gia xây dựng Hiến pháp, pháp luật là quyền của nhân dân. Việc xây dựng pháp luật phải xuất phát từ sáng kiến của nhân dân, có sự tham gia đóng góp ý kiến của các cơ quan đoàn thể và mọi tầng lớp nhân dân. Trong quá trình xây dựng Hiến pháp năm 1959, việc bảo đảm sự tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân vào xây dựng pháp luật đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm. Để bảo đảm pháp luật thực sự của nhân dân, trong quá trình xây dựng Hiến pháp, Hồ Chí Minh yêu cầu: “Bản Hiến pháp của chúng ta sẽ thảo ra… phải tiêu biểu được các nguyện vọng của nhân dân… Sau khi thảo xong chúng ta cần phải trưng cầu ý kiến của nhân dân cả nước một cách thật rộng rãi. Có như thế bản Hiến pháp của chúng ta mới thật sự là bản Hiến pháp của nhân dân, của chế độ dân chủ”(13).

Như vậy, trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, pháp luật sinh ra không vì cái gì khác hơn là vì dân. Pháp luật dân chủ, tiến bộ là mục tiêu hướng tới của quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật. Người nhấn mạnh, tư tưởng của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân phải được “quán triệt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng cấu trúc thượng tầng của chế độ và thể chế của nhà nước ta”(14). Người luôn căn dặn: “Chính phủ và Đảng chỉ mưu giải phóng cho nhân dân, vì thế, bất kỳ việc gì cũng vì lợi ích của nhân dân mà làm và chịu trách nhiệm trước nhân dân”(15), nhất là “sự lãnh đạo trong mọi công tác thiết thực của Đảng, ắt phải từ trong quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng”(16).

Thứ sáu, bảo đảm tính khách quan của pháp luật.

Trong bài viết “Xây dựng những con người của chủ nghĩa xã hội”, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Chớ đem chủ quan của mình thay cho điều kiện thực tế. Phải chống bệnh chủ quan, tác phong quan liêu, đại khái. Phải xây dựng tác phong điều tra, nghiên cứu trong mọi công tác cũng như trong khi định ra mọi chính sách của Đảng và của Nhà nước”(17). Điều này có nghĩa rằng, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng nguyên tắc khách quan trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật. Lý do là, pháp luật là một hiện tượng khách quan, pháp luật sinh ra do nhu cầu của xã hội, phản ánh trình độ phát triển, thực tiễn cuộc sống. Do vậy, xây dựng và hoàn thiện pháp luật phải bảo đảm phản ánh được những nhu cầu khách quan về sự cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật đối với những quan hệ xã hội nhất định. Nội dung của pháp luật phải phù hợp với các quy luật khách quan, bảo đảm phát huy vai trò tích cực của pháp luật đối với đời sống. Để bảo đảm tính khách quan quá trình xây dựng pháp luật cần coi trọng quá trình nghiên cứu thực tiễn xã hội, thực tiễn phát triển kinh tế, chính trị, đặc điểm văn hóa, dân cư, nhu cầu của các đối tượng liên quan… Các thông tin này sẽ là những cơ sở để xây dựng các quy phạm pháp luật phù hợp.

Không Thể Tách Rời Giữa Bảo Vệ Độc Lập, Chủ Quyền, Thống Nhất, Toàn Vẹn Lãnh Thổ Tổ Quốc Với Bảo Vệ Đảng, Nhà Nước Và Chế Độ Xã Hội Chủ Nghĩa

Một trong những quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng ta là, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc gắn với bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Song, hòng chống phá, hạ thấp vai trò, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta, các thế lực thù địch tìm mọi cách phủ nhận quan điểm này. Vì vậy, cần nhận thức rõ, kiên quyết đấu tranh bác bỏ. Kế thừa quan điểm, đường lối của các kỳ Đại hội trước, Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa…”1. Đây là quan điểm đúng đắn, thể hiện sự phát triển nhận thức của Đảng về mục tiêu bảo vệ Tổ quốc; sự trung thành, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quy luật xây dựng đi đôi với bảo vệ Tổ quốc vào điều kiện cách mạng nước ta hiện nay. Song, hòng chống phá đường lối, quan điểm của Đảng về bảo vệ Tổ quốc, các thế lực thù địch cho rằng, “bảo vệ Tổ quốc là bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền quốc gia, chứ không phải bảo vệ một thể chế chính trị hay một đảng phái nào”; và “Quân đội và Công an chỉ có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền lãnh thổ quốc gia, không có nghĩa vụ phải bảo vệ đảng phái nào”, v.v. Quan điểm này của các thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái; thực chất nhằm mục tiêu nhất quán của họ là “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, làm cho Quân đội, Công an từng bước xa rời bản chất cách mạng, xa rời sự lãnh đạo của Đảng, xa rời mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện lật đổ chế độ chính trị từ bên trong, bằng biện pháp phi quân sự, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Song, cả lý luận và thực tiễn đã cho thấy, không thể tách rời bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ với bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, bởi những lý do sau. Tổ quốc là một phạm trù lịch sử dùng để chỉ đất nước, con người gắn liền với biên giới, lãnh thổ xác định, với những điều kiện kinh tế, tự nhiên và truyền thống văn hóa, tâm lý, tình cảm của những cộng đồng người hình thành trong lãnh thổ đó, tương ứng với một chế độ xã hội và thể chế chính trị nhất định. Như vậy, nói đến bất cứ loại hình Tổ quốc nào cũng là sự thống nhất của hai yếu tố tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội. Trên phương diện tự nhiên - lịch sử, Tổ quốc bao gồm: vùng đất, vùng trời, vùng biển, hải đảo - cương vực, được quốc tế thừa nhận và có cộng đồng dân cư sinh sống trên vùng lãnh thổ đó. Trên phương diện chính trị - xã hội, Tổ quốc bao gồm: chế độ chính trị, kinh tế, xã hội, được quy định bởi bản chất của giai cấp thống trị, cùng với ngôn ngữ chung, truyền thống lịch sử, văn hóa, tập quán, tâm lý, v.v. Điều đó cho thấy, mỗi quốc gia, dân tộc, yếu tố tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội gắn bó chặt chẽ với nhau, mang tính tự nhiên, khách quan, lịch sử; thiếu một yếu tố không thể hình thành nên Tổ quốc. Trong đó, lãnh thổ là yếu tố vật chất cho sự tồn tại của quốc gia đó, có giá trị thiêng liêng và vĩnh hằng, không có lãnh thổ thì không có nhà nước. Yếu tố chính trị - xã hội được hình thành trên cơ sở yếu tố vật chất, có vai trò quan trọng, tác động trở lại, quyết định bản chất, định hướng phát triển của quốc gia, dân tộc. Cũng như các loại hình Tổ quốc khác, Tổ quốc xã hội chủ nghĩa cũng có hai thành tố cơ bản là: tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội. Song, Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là loại hình Tổ quốc khác hẳn về chất so với các loại hình Tổ quốc khác trong lịch sử. Đó là: Tổ quốc xã hội chủ nghĩa ra đời gắn liền với thắng lợi cách mạng xã hội chủ nghĩa, là sản phẩm đấu tranh giai cấp của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Chế độ chính trị xã hội xã hội chủ nghĩa được thiết lập do nhân dân lao động làm chủ dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản. Mục tiêu của nó là xây dựng một chế độ mới, chế độ cộng sản chủ nghĩa, với nhiều đặc trưng tốt đẹp, đặc biệt là xóa bỏ chế độ người bóc lột người. Đối với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, là thành quả của cuộc đấu tranh gian khổ, hy sinh của Nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh. Cũng như các quốc gia khác, Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa gồm yếu tố tự nhiên - lịch sử và chính trị - xã hội gắn kết chặt chẽ với nhau không thể tách rời. Trong đó, về yếu tố tự nhiên - lịch sử, Việt Nam là quốc gia có lãnh thổ riêng, gắn với nó có cộng đồng dân tộc Việt Nam sinh sống trên lãnh thổ đó đã hàng nghìn năm, được quốc tế thừa nhận. Về yếu tố chính trị - xã hội hiện nay là chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là sự lựa chọn, xác lập của nhân dân. Đó là quá trình tất yếu, khách quan, sự lựa chọn của lịch sử, mà không ai có thể phủ nhận. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 khẳng định: Việt Nam “là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”; “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Đặc biệt, Hiến pháp khẳng định, Việt Nam là quốc gia có độc lập, chủ quyền của mình trên mọi lĩnh vực. Đó là quyền làm chủ tuyệt đối, toàn vẹn, đầy đủ về lãnh thổ quốc gia và mọi mặt về phương diện chính trị, như: quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; các vấn đề về kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Việt Nam,… đều do Việt Nam tự quyết định, các quốc gia khác cũng như các tổ chức quốc tế không có quyền can thiệp, mọi tổ chức, cá nhân cư trú trên lãnh thổ của Việt Nam phải tuân thủ pháp luật của Việt Nam. Điều đó cho thấy, trong chủ quyền quốc gia, quyền tự quyết về chính trị, đối nội, đối ngoại là biểu hiện rõ nhất tính độc lập, tự chủ của một quốc gia có chủ quyền. Như vậy, chủ quyền quốc gia và chế độ chính trị luôn gắn bó chặt chẽ, biện chứng với nhau, không thể tách rời. Mặt khác, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa là bảo vệ thành quả cách mạng của Nhân dân; bảo vệ chế độ tốt đẹp thực sự mang lại độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc; tự do, hạnh phúc cho Nhân dân. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, sự ra đời, xác lập vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là tất yếu khách quan, là sự lựa chọn của lịch sử, được thừa nhận, ghi trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”2. Đảng chỉ có mục tiêu duy nhất, luôn hy sinh cống hiến vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân; xây dựng nước Việt Nam theo con đường xã hội xã hội chủ nghĩa, ngày càng giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc. Không chỉ về mặt lý luận, thực tiễn đã chứng minh vai trò lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành của Nhà nước trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm và là lực lượng duy nhất có năng lực lãnh đạo, quy tụ sức mạnh toàn Đảng, toàn dân và toàn quân bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, xây dựng đất nước ngày càng phát triển. Ngay sau khi đất nước thống nhất, Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm giải quyết các vấn đề pháp lý nhằm bảo đảm chủ quyền lãnh thổ quốc gia trên thực tế. Đối với biên giới đất liền giữa Việt Nam với các quốc gia láng giềng (Trung Quốc, Lào, Campuchia) trước năm 1975 chủ yếu mang tính lịch sử, thì sau khi đất nước thống nhất, Nhà nước Việt Nam đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết cơ bản vấn đề này. Đến nay toàn bộ chiều dài hơn 5.000km đường biên giới đất liền của nước ta từ tỉnh Quảng Ninh đến Kiên Giang đã được hoạch định bằng một loạt văn bản pháp lý quốc tế, được ký kết giữa Việt Nam và các quốc gia láng giềng với tư cách là các quốc gia độc lập có chủ quyền. Hiện nay, biên giới Việt Nam - Trung Quốc dài 1.449,56km, trong đó có 383,914km là sông, suối đã hoàn thành việc phân giới, cắm mốc vào ngày 31/12/2008, với 1.971 cột mốc, bao gồm 1.548 mốc chính và 422 mốc phụ, v.v. Biên giới Việt Nam - Lào đã hoàn thành tăng dầy, tôn tạo cột mốc. Biên giới Việt Nam - Campuchia đã hoàn thành phân giới, cắm mốc được trên 84%, còn lại khoảng 16% hai bên phấn đấu hoàn thành trong thời gian sớm nhất. Về chủ quyền biển, đảo, ngày 12/5/1977, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ra tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Tiếp đó, ngày 12/11/1982, Chính phủ ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam. Ngày 02/7/2012, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký sắc lệnh số 16/2012/L-CTN công bố Luật biển Việt Nam đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khoá XIII) thông qua. Đây là những văn bản pháp lý quan trọng, đặt nền móng cho các văn bản, pháp luật về biển và quản lý biển của nước ta; là cơ sở để Việt Nam tiến hành đàm phán giải quyết vấn đề phân định vùng biển chồng lấn với các quốc gia láng giềng. Đến nay, Việt Nam đã ký Hiệp định về phân định ranh giới biển với Thái Lan; Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc; Hiệp định phân định thềm lục địa chồng lấn với Indonesia. Bên cạnh đó, Việt Nam đã ký Hiệp định quản lý chung vùng nước lịch sử với Campuchia (năm 1982), khai thác chung thềm lục địa với Malaysia (năm 1992). Về kinh tế, xã hội, hiện nay Việt Nam là nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt. Nếu năm 1989, GDP của nước ta chỉ là 6,3 tỉ USD, thì năm 2022 đã đạt hơn 400 tỉ USD, tăng hơn 60 lần, đứng thứ 37 thế giới, đứng thứ năm trong ASEAN và trong nhóm 14 nước châu Á. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Việt Nam được Liên hợp quốc đánh giá là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, nổi bật là: xóa đói giảm nghèo, bình đẳng giới, an sinh xã hội, v.v. Bên cạnh đó, tình hình chính trị, xã hội ổn định; dân chủ được phát huy; người dân được tự do tín ngưỡng theo quy định của pháp luật; các dân tộc bình đẳng, cùng nhau đoàn kết, phát triển; quốc phòng, an ninh được củng cố, uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao; giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử đó là sự kết tinh sáng tạo của Đảng và Nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó là những lợi ích chính trị cốt lõi cần phải được bảo vệ, đúng như V.I.Lênin đã khẳng định: “bảo vệ chủ nghĩa xã hội với tính cách là Tổ quốc”3. Vì vậy, nội hàm của bảo vệ Tổ quốc phải bao hàm: gắn bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ với bảo vệ Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, đó là một thể thống nhất, gắn bó chặt chẽ, tác động lẫn nhau, không thể tách rời. Điều đó là hoàn toàn phù hợp với quy luật tồn tại và phát triển của dân tộc Việt Nam. Muốn bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ phải có chế độ chính trị mạnh và ổn định; có giai cấp, lực lượng lãnh đạo ưu tú, thực sự là đại biểu của nhân dân, có đường lối đúng đắn, được toàn dân ủng hộ, phải có sức mạnh kinh tế, quốc phòng, an ninh và chính sách đối ngoại đúng đắn. Ngược lại, một đất nước yếu về chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; không có lực lượng lãnh đạo ưu tú, mâu thuẫn lợi ích với nhân dân,… đất nước đó không thể bảo vệ được Tổ quốc và chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ. Đó là quy luật. Vì vậy, quan điểm cho rằng, bảo vệ Tổ quốc chỉ là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ chứ không phải là bảo vệ một thể chế chính trị hay bảo vệ một đảng phái nào là hoàn toàn sai trái cả lý luận và thực tiễn, đi ngược lại quy luật tồn tại phát triển của dân tộc Việt Nam. Bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc phải gắn với bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân, là nguyên tắc bất di bất dịch, là quy luật tồn tại phát triển của nước ta. Xa rời quan điểm trên là sai lầm, dẫn đến những nguy cơ tan rã, nguy cơ sụp đổ chế độ, mất độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc./.

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo tư tưởng Hồ Chí Minh

 Trong phần “Bộc bạch đôi lời” tại cuốn “Pháp quyền nhân nghĩa Hồ Chí Minh”, cụ Vũ Đình Hoè (Bộ trưởng Bộ Tư pháp giai đoạn 1946 - 1960) đã nhận định, Chủ tịch Hồ Chí Minh “có một tư duy pháp lý nhạy bén tuyệt vời, gần như thiên bẩm, hiểu thấu và thi hành một cách sáng tạo lý luận và thực tiễn chế độ Nhà nước - Pháp quyền của thời đại và của thế giới văn minh”(1). Nhận định đó đã khẳng định giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước, pháp luật và tư tưởng đó của Người là chỉ dẫn quan trọng để chúng ta xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta trong 75 năm qua.

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh công bố Hiến pháp năm 1959_Ảnh: TTXVN