“Không có lý luận cách mệnh thì không có cách mạng vận động”, luận điểm quan trọng của V.I. Lênin về vai trò và tầm quan trọng của công tác lý luận được Chủ tịch Hồ Chí Minh trích dẫn trang trọng ngay trên trang đầu của tác phẩm Đường cách mệnh - cuốn giáo trình cho các lớp đào tạo cán bộ đầu tiên cho tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản Việt Nam từ những năm 1926-1927. Vị trí, tầm quan trọng đặc biệt của công tác lý luận được Đảng Cộng sản Việt Nam quán triệt sâu sắc trong suốt tiến trình cách mạng, là cơ sở giúp Đảng chủ động và không ngừng phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đổi mới nhận thức lý luận chính trị.
1.
Đổi mới nhận thức lý luận của cán bộ đảng, nhất là đội ngũ cán bộ chiến lược
Việc
đổi mới nhận thức về công tác lý luận đặt ra trước hết đối với đội ngũ
cán bộ lãnh đạo, quản lý, nhất là đội ngũ cán bộ chiến lược, những người đứng
đầu các cơ quan đảng, nhà nước. Nhận thức lý luận của cán bộ đảng
trước hết thể hiện trong việc hiểu đúng vai trò, vị trí, tầm quan trọng và tính
chất của công tác lý luận trong xây dựng, phát triển đất nước. Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã nhấn mạnh: “Cán bộ của Đảng phải hiểu biết lý luận cách mạng, và lý
luận cùng thực hành phải luôn luôn đi đôi với nhau”[4]. Đây là điều kiện quyết định không chỉ để
có một môi trường tích cực cho việc phát triển lý luận, mà quan trọng hơn là
nhằm hai mục đích lớn. Mục đích thứ nhất, từ nhận thức đúng đắn về
lý luận, đội ngũ cán bộ chiến lược của Đảng sẽ ý thức đầy đủ hơn trong việc học
tập, nghiên cứu, nâng cao sự hiểu biết có hệ thống về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, cùng những thành tựu lý luận Mác-xít hiện đại. Đến lượt nó,
đó chính là cơ sở để củng cố niềm tin, lý tưởng và ý thức chính trị cho cán
bộ. Mục đích thứ hai, giúp đội ngũ cán bộ chiến lược quan tâm đúng
mức đến công tác tổ chức nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tế, tiếp nhận và vận
dụng những thành tựu lý luận mới vào thực tiễn công cuộc đổi mới, xây dựng và
phát triển đất nước.
2.
Đổi mới nội dung, phương pháp, nâng cao chất lượng công tác nghiên cứu lý luận,
tổng kết thực tiễn.
Về
nội dung, kết hợp tốt 5 phương hướng nghiên cứu. Phương hướng thứ nhất,
tiếp tục đào sâu nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin, khẳng định được những giá trị
đúng đắn, những vấn đề phương pháp luận cốt lõi, những vấn đề lịch sử đã vượt
qua. Phương hướng thứ hai, mở rộng việc nghiên cứu, tiếp thu có
chọn lọc những thành tựu lý luận của nhân loại, những bài học thành công, thất
bại của phong trào công nhân, cộng sản, của chủ nghĩa xã hội hiện thực và những
thành tựu lý luận khác của nhân loại, theo phương châm tận dụng tốt nhất những
giá trị tích cực của nhân loại phục vụ cho lợi ích dân tộc, cho mục tiêu xây
dựng chủ nghĩa xã hội. Phương hướng thứ ba, tiếp tục nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh, làm rõ hơn và truyền bá sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và
nhân dân những giá trị sáng tạo to lớn của Người về vận dụng chủ nghĩa
Mác-Lênin vào điều kiện lịch sử cụ thể của Việt Nam. Phương hướng thứ
tư, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu gắn với tổng kết thực tế, đặc
biệt là các mô hình hay, những kinh nghiệm tốt trong việc giải quyết các mối
quan hệ lớn, cập nhật và làm rõ những vấn đề mới phát sinh trong thực tiễn,
phát hiện và phản biện kịp thời những chính sách không còn phù hợp. Thứ
năm, nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tế, tiếp tục làm sáng tỏ hơn mô
hình chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, luận giải và làm rõ những vấn đề thực tiễn
xây dựng, phát triển đất nước đang đặt ra, xây dựng cơ sở khoa học và thực tế
phục vụ tốt cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước.
Để
thực hiện tốt 5 phương hướng trên, cần thực sự đổi mới tư duy lý luận, đổi mới
phương pháp nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, vận dụng những phương pháp, cách
tiếp cận hiện đại. Đặc biệt, “các cơ quan lãnh đạo của Đảng từ Trung ương tới
cơ sở” phải “đổi mới phương pháp, phong cách, lề lối làm việc” theo yêu cầu mà
Đại hội XII của Đảng đề ra là “khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, trọng dân,
vì dân, bám sát thực tiễn, nói đi đôi với làm”[5]. Những phương pháp, phong cách đó là cần
thiết đối với hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng nói chung, đồng thời cũng là
điều kiện cần thiết cho việc đổi mới nội dung, phương pháp nghiên cứu, phát
triển lý luận nói riêng.
3.
Đổi mới tổ chức hệ thống các cơ quan nghiên cứu và xây dựng, sử dụng đội ngũ
cán bộ, chuyên gia lý luận.
Đại
hội XII của Đảng đã chỉ rõ yêu cầu: “Đổi mới mô hình tổ chức, phương thức hoạt
động, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu lý luận
của Đảng; đầu tư thích đáng cho việc xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ lý
luận, nhất là những chuyên gia đầu ngành”[6]. Trên thực tế, mô hình tổ chức các cơ quan
nghiên cứu lý luận của Đảng đã được hình thành trong quá trình Đổi mới, đến nay
chưa có thay đổi, cơ chế vận hành của hệ thống có nhưng chuyển biến nhất định
nhưng nhiều vấn đề chưa rõ ràng, nhất là cơ chế vận hành, sự phân định trách
nhiệm, các điều kiện cho việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, quan hệ giữa các cơ
quan nghiên cứu trong cả nước. Hoạt động nghiên cứu, phát triển lý luận còn
tách rời với hoạt động tham mưu về chính sách. Vì thế, việc đổi mới mô hình tổ
chức, cơ chế vận hành của các cơ quan nghiên cứu, phát triển lý luận theo tinh
thần Đại hội XII của Đảng là cấp bách.
Việc
xây dựng, sử dụng đội ngũ cán bộ, chuyên gia lý luận, từ công tác đào tạo ban
đầu, đào tạo, bồi dưỡng chuyên gia, đến chế độ sử dụng, đãi ngộ với cán bộ
nghiên cứu lý luận nhất là cán bộ khoa học đầu ngành cần được đổi mới đồng bộ.
Cần có chính sách thu hút nhân tài vào các ngành đào tạo, nghiên cứu lý luận
chính trị thông qua chính sách đãi ngộ thích đáng và nhiều biện pháp ưu đãi
khác. Đối với các chuyên gia đầu ngành, cần có chính sách sử dụng thống nhất,
chế độ đãi ngộ thích hợp, khuyến khích đối với các thành tựu nghiên cứu. Cần có
chính sách sử dụng, khai thác hợp lý với những cán bộ, chuyên gia lý luận
đã quá tuổi lao động nhưng còn có sức khỏe và năng lực làm việc tốt.
4.
Đổi mới về cơ chế, chính sách, chế độ trong công tác lý luận
Cần
thiết phải đổi mới chính sách đầu tư tài chính, cơ sở hạ tầng kỹ thuật và điều
kiện làm việc cho công tác nghiên cứu lý luận. Về quản lý tài chính đối với
hoạt động nghiên cứu lý luận cần chuyển sang chế độ đặt hàng, quyết toán đầu tư
theo kết quả nghiên cứu, kiên quyết cắt bỏ những khâu thủ tục hành chính, giấy
tờ phức tạp và không có ý nghĩa thực tế. Các kết quả nghiên cứu phải có địa chỉ
sử dụng. Cần có sự chỉ đạo, đánh giá chung, thống nhất trong cả hệ thống để
tránh sự chồng chéo, trùng lặp đề tài, gây lãng phí nguồn lực đầu tư.
Để
thúc đẩy hoạt động nghiên cứu lý luận cần có chính sách, chế độ đầu tư, đảm bảo
các điều kiện hạ tầng kỹ thuật như thông tin, tư liệu, thư viện, không gian làm
việc cho các cơ quan lý luận, các nhà khoa học, nhất là các chuyên gia đầu
ngành.
phải thường xuyên đổi mới
Trả lờiXóa