Chủ Nhật, 24 tháng 12, 2023

Thực tiễn vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

 Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh và kế thừa những thành tựu lập pháp của đất nước, kể từ khi thống nhất đất nước đến nay, Nhà nước ta đã ban hành 3 bản Hiến pháp mới bao gồm: Hiến pháp năm 1980, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và Hiến pháp năm 2013. Mỗi bản Hiến pháp ra đời đã đánh dấu một bước phát triển mới của đất nước, là cơ sở cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam.

Tính đến nay, Quốc hội đã ban hành 17 bộ luật và 430 luật trên tất cả các lĩnh vực(18), 7.004 nghị định của Chính phủ(19), chưa kể rất nhiều văn bản khác của các bộ, ngành, chính quyền địa phương. Đặc biệt, trong gần 35 năm đổi mới, đất nước ta đã có một sự thay đổi mạnh mẽ trong phát triển kinh tế. Để làm được điều này, bên cạnh quyết tâm chính trị, hệ thống pháp luật liên tục được quan tâm xây dựng, hoàn thiện dựa trên nền tảng tư tưởng, giá trị tốt đẹp mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho tiến trình chuyển đổi kinh tế và quá trình mở cửa, hội nhập quốc tế của Việt Nam thành công.

Một là, thể chế về Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được bổ sung, hoàn thiện một bước quan trọng. Kế tục các tư tưởng tiến bộ của các bản Hiến pháp trước đó (trong đó có Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959), Hiến pháp năm 2013 (Điều 2) trang trọng quy định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức” và “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Hiến pháp cũng quy định rõ: “Các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân; kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền” (Điều 8). Hiến pháp năm 2013 quy định nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước làm cơ sở cho việc xây dựng các đạo luật về tổ chức và hoạt động của các thiết chế cơ bản trong bộ máy nhà nước(20) và hệ thống chính trị, hoàn thiện cơ chế phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp(21), hành pháp, tư pháp.

Hai là, thể chế về bảo vệ, bảo đảm quyền con người được quan tâm hoàn thiện. Trên cơ sở nhận thức sâu sắc về những lẽ phải “không ai chối cãi được” thể hiện trong bản Tuyên ngôn Độc lập, bằng tư duy lập hiến mới của Hiến pháp năm 2013 coi công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân là trách nhiệm của Nhà nước, các đạo luật về quyền dân sự, chính trị, quyền tự do, dân chủ của công dân đã được sửa đổi, bổ sung, ban hành mới, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân(22). Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung, ghi nhận nhiều quyền mới(23) và quy định rõ ràng, đầy đủ hơn nội hàm của các quyền mà Hiến pháp năm 1992 đã quy định, đồng thời bổ sung nguyên tắc quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng (khoản 2 Điều 14). Có thể nói, thể chế bảo đảm cho nhân dân thực hiện các quyền tự do, dân chủ theo tư tưởng Hồ Chí Minh ở nước ta hiện nay đã hoàn thiện một cách khá căn bản.

Ba là, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục được hoàn thiện với nhiều đặc điểm của thể chế kinh tế thị trường hiện đại, phù hợp hơn với thông lệ quốc tế. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay chính là tiền đề giải phóng sức dân, tiền đề pháp lý bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế, phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Chế độ sở hữu(24), pháp luật về các loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế(25) và thể chế cho việc đổi mới, sắp xếp, cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước(26) đều có bước phát triển mới. Các quyền và nghĩa vụ về tài sản được thể chế hóa tương đối đầy đủ. Vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân ngày càng được coi trọng, thu hút vốn đầu tư nước ngoài đạt kết quả tích cực, đội ngũ doanh nhân không ngừng lớn mạnh. Thể chế về các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành đồng bộ hơn, tạo điều kiện cho việc gắn kết với thị trường khu vực và thế giới. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện và thông thoáng hơn; quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được bảo đảm hơn(27). Cải cách thủ tục hành chính trong công tác quy hoạch, quản lý sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, đấu giá quyền sử dụng đất đã được đẩy mạnh, đưa quản lý, sử dụng đất đai vào nền nếp(28). Pháp luật về giá quy định rõ quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giá và hoạt động quản lý giá, qua đó bảo đảm sự điều tiết của Nhà nước về giá thông qua các biện pháp kinh tế nhằm ổn định thị trường; tôn trọng quyền tự định giá của cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh; khuyến khích, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng; ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và bình ổn thị trường(29).

Bốn là, cùng với việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế, trong những năm qua, Việt Nam đã đẩy mạnh thực hiện việc rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới các văn bản quy phạm pháp luật để phù hợp với thông lệ quốc tế và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, cơ bản đã theo kịp và tương thích với hầu hết các nguyên tắc, tập quán quốc tế, góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư, tài chính, ngân hàng, tương trợ tư pháp, chống khủng bố, chống tội phạm, chống rửa tiền, chống tham nhũng…

Năm là, Hiến pháp và các đạo luật đã trở thành nguồn quy phạm quan trọng nhất về giá trị pháp lý trong việc giải quyết công việc cho nhân dân và trong điều tra, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Thêm vào đó, đến nay, tuyệt đại đa số các lĩnh vực kinh tế - xã hội đều đã được điều chỉnh bởi các đạo luật. Các đạo luật mang tính rường cột của quốc gia, như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Bộ luật Lao động, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật Tố tụng hình sự, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Tố tụng hành chính và các đạo luật về tổ chức Quốc hội, Chính phủ, tòa án nhân dân, viện kiểm sát nhân dân, chính quyền địa phương đã được ban hành đầy đủ. Số lượng đạo luật điều chỉnh lĩnh vực quyền con người, quyền công dân đã cân xứng hơn so với các đạo luật về tổ chức và hoạt động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cũng như các đạo luật điều chỉnh các quan hệ dân sự, kinh tế. Trên cơ sở đó, Chính phủ và các bộ, ngành, chính quyền địa phương đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thi hành, góp phần sớm đưa các quy định trong các đạo luật vào thực tiễn đời sống.

Sáu là, quy trình xây dựng luật, pháp lệnh đã được đổi mới một bước khá cơ bản theo hướng tách bạch quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo bảo đảm sự phù hợp của luật, pháp lệnh với đường lối, chủ trương của Đảng, nâng cao tính công khai, minh bạch trong xây dựng chính sách, tăng cường, phát huy sự tham gia của nhân dân vào quy trình xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đây thực chất là sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy dân chủ và bảo đảm tính khách quan trong công tác xây dựng pháp luật trong thực tiễn cải cách, đổi mới ở nước ta. Trong thực tế, trong những năm gần đây, quy trình xây dựng pháp luật đã được đổi mới, hoàn thiện theo hướng ngày càng chú trọng đến công tác xây dựng chính sách, tách bạch giữa xây dựng chính sách và soạn thảo văn bản, tránh tình trạng “vừa thiết kế vừa thi công”.

Đối với quy trình xây dựng chính sách, cơ quan đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật phải có trách nhiệm tổng kết việc thi hành pháp luật, đánh giá các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan; tổ chức nghiên cứu thông tin, tư liệu, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có liên quan đến đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, xây dựng nội dung chính sách trong đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đánh giá tác động của chính sách, dự kiến nguồn lực, điều kiện bảo đảm cho việc thi hành văn bản sau khi được cơ quan có thẩm quyền thông qua; tổ chức lấy ý kiến đối với đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật… Tất cả những công đoạn này đều nhằm mục đích thu thập đầy đủ nhất nguồn thông tin để từ đó đưa ra những chính sách phù hợp nhất với yêu cầu thực tiễn. Thêm vào đó, chất lượng công tác thẩm định dự án, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật đã được nâng lên rõ rệt; công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện có trọng tâm, trọng điểm. Tiến độ xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết đã được cải thiện, từng bước đáp ứng yêu cầu công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh, tình trạng nợ đọng văn bản quy định chi tiết đã giảm so với các năm trước đây.

1 nhận xét: