Thứ Ba, 7 tháng 5, 2024

Uy tín của Đảng và niềm tin của Nhân dân

 

Uy tín của Đảng và niềm tin của Nhân dân

Những thành tựu vô cùng to lớn mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã giành được trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, là minh chứng cho năng lực lãnh đạo, cầm quyền và uy tín của Đảng ta. Bài viết đánh giá rõ hơn về vai trò và uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua đó gợi mở những vấn đề trọng tâm để mỗi tổ chức cơ sở đảng, mỗi cán bộ, đảng viên cần triển khai thực hiện tốt góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước ta thực sự trong sạch, vững mạnh và uy tín, củng cố thêm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.

Từ ngày thành lập (3-2-1930) cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không ngừng nghiên cứu, tổng kết, đổi mới, đúc rút kinh nghiệm để ngày càng hoàn thiện hơn về vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền trong quá trình giành độc lập cho dân tộc, xây dựng đất nước và trong giai đoạn xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Đồng thời, thể hiện quan điểm, lập trường, tư tưởng nhất quán, kiên định của Đảng ta trong việc vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Đảng đã quy tụ được sức mạnh, tiềm năng, khát vọng, ý chí của Nhân dân và chuyển hóa thành sức mạnh quần chúng - sức mạnh tổng hợp để xây dựng xã hội và cuộc sống của người dân ngày một thịnh vượng… đó chính là “uy tín” của Đảng ta mà “niềm tin” của Nhân dân dành chọn, gửi gắm.

Vai trò và uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trải qua 94 năm xây dựng và trưởng thành, Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo, cầm quyền và tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, ngoại giao… Đảng ta ngày càng vững mạnh là điều kiện quyết định nhất để chúng ta xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; xây dựng chủ nghĩa xã hội thành công.

Sau những năm tiến hành công cuộc đổi mới (từ năm 1986), Đảng ta đã đúc rút kinh nghiệm và nhấn mạnh: “Điều kiện cốt yếu để công cuộc đổi mới giữ được định hướng xã hội chủ nghĩa và đi đến thành công là trong quá trình đổi mới Đảng phải kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững vai trò lãnh đạo xã hội. Đảng phải tự đổi mới và chỉnh đốn, không ngừng nâng cao vai trò lãnh đạo và sức chiến đấu của mình”(1).

Thập niên 90 của thế kỷ trước, tình hình thế giới có nhiều biến động to lớn, đặc biệt là sự sụp đổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu; ở trong nước có một số cán bộ, đảng viên dao động, hoài nghi về sự lựa chọn mô hình phát triển kinh tế - xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Các thế lực thù địch, phản động tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam dưới nhiều hình thức, thủ đoạn tinh vi, nham hiểm… hòng gây chia rẽ sự đoàn kết nội bộ trong Đảng và gây sự hoài nghi, dao động trong mọi tầng lớp nhân dân. Tuy nhiên, nhờ kiên định đường lối đã chọn, sáng suốt, tài tình trong lãnh đạo của Đảng, Đảng ta đã đề ra Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Cương lĩnh năm 1991). Cương lĩnh năm 1991 nhấn mạnh: xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội do nhân dân lao động làm chủ; có một nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột, bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; các dân tộc trong nước bình đẳng, đoàn kết và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân tất cả các nước trên thế giới.

Do đó, trong giai đoạn năm 1991-1995, đất nước ta dần ra khỏi tình trạng trì trệ, suy thoái, nền kinh tế tiếp tục đạt được nhiều thành tựu quan trọng; GDP bình quân tăng 8,2%/năm; hầu hết các lĩnh vực kinh tế đều đạt nhịp độ tăng trưởng tương đối khá. Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đánh giá: “Nước ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15 năm, tuy còn một số mặt chưa vững chắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết để chuyển sang một thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”(2). 

Những thành tựu vô cùng quan trọng mà đất nước ta đạt được trong giai đoạn năm 1991-1995 là thể hiện rõ vai trò và uy tín của Đảng ta đã ngày càng vững mạnh về bản lĩnh chính trị, về tính khoa học đúng đắn trong việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; về tầm cao tư duy dám đổi mới, sáng tạo phù hợp với điều kiện ở trong nước cũng như bối cảnh thế giới, khu vực lúc bấy giờ. Mặt khác, trong Đảng đã dám nhìn thẳng vào sự thật để đánh giá khách quan, khoa học những hạn chế, khuyết điểm, cả những việc chúng ta chưa làm được, chưa thành công… để rút kinh nghiệm, tìm tòi giải pháp để khắc phục, sửa chữa. Đồng thời, trong giai đoạn này Đảng ta tích cực, chủ động trong việc mở rộng quan hệ kinh tế, ngoại giao với các quốc gia, vùng lãnh thổ, với phương châm và quan điểm rõ ràng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Làm bạn với tất cả mọi nước dân chủ và không gây thù oán với một ai”(3).

Từ ngày 11-7-1995, giữa Mỹ và Việt Nam đã bình thường hóa quan hệ ngoại giao, dỡ bỏ lệnh cấm vận về kinh tế đối với Việt Nam. Đây là điều kiện quan trọng để Việt Nam từng bước ký kết các hiệp định thương mại với các quốc gia, tổ chức trên thế giới, góp phần tiếp tục đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và là tiền đề để Đảng, Nhà nước ta xây dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa (từ Đại hội IX của Đảng); từng bước đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng lên.

Cụ thể, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, gắn sản xuất hàng hóa với thị trường; Đảng và Nhà nước ta đẩy mạnh thực hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế (kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, mô hình các hợp tác xã, tổ chức phát triển kinh tế…). Trong đó, trọng tâm là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dần được hình thành, kinh tế vĩ mô đã cơ bản ổn định. Việt Nam đã tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), thực hiện cam kết về khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định Thương mại thế giới (WTO). Đặc biệt, tính đến tháng 8-2023, Việt Nam đã ký kết các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) với các quốc gia, tổ chức kinh tế trên thế giới đang còn hiệu lực (16 hiệp định) và tiếp tục đang đàm phán 3 hiệp định(4). Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ thương mại với hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết hơn 90 hiệp định thương mại song phương với các nước, trong đó, Việt Nam đã nâng tầm quan hệ “Đối tác chiến lược toàn diện” với 7 quốc gia gồm: Trung Quốc (tháng 5-2008), Liên bang Nga (tháng 7-2012), Ấn Độ (tháng 9-2016), Hàn Quốc (tháng 12-2022), Hoa Kỳ (tháng 9-2023), Nhật Bản (tháng 11-2023), Ô-xtrây-li-a (tháng 3-2024) và 18 đối tác chiến lược, 12 đối tác toàn diện.

Trải qua 47 năm (từ ngày 20-9-1977) Việt Nam chính thức gia nhập Liên hiệp quốc, với những đóng góp của mình, Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào nhiều vị trí, cơ quan quan trọng của Liên hiệp quốc và ghi được nhiều “dấu ấn” tại các cơ quan như Hội đồng Bảo an, Hội đồng Nhân quyền... Đặc biệt, ngày 9-4-2024, Hội đồng Kinh tế - xã hội (ECOSOC) đã nhất trí bầu Việt Nam vào Hội đồng Chấp hành cơ quan Liên hiệp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women) nhiệm kỳ 2025-2027.

Với chủ trương đúng đắn của Đảng, Nhà nước ta trong triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới. Tính đến ngày 30-6-2023, cả nước có 6.022/8.177 xã (73,65%) đạt chuẩn nông thôn mới; 1.331 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao và 176 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. Bình quân cả nước đạt 16,9 tiêu chí/xã; có 263/644 đơn vị cấp huyện (40,8%) thuộc 58 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có 100% số xã đạt chuẩn nông thôn mới(5). Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh: “Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng; củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(6).

Do đó, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến phát triển toàn diện con người Việt Nam về sức khỏe, giáo dục và thu nhập cũng như những thụ hưởng về văn hóa, tinh thần… Theo Báo cáo Phát triển con người (HDR) toàn cầu 2021/2022 được Chương trình Liên hiệp quốc tại Việt Nam công bố tháng 9-2022 cho biết: Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam năm 2021 là 0,703, tăng hai bậc trong bảng xếp hạng toàn cầu, từ 117/189 quốc gia vào năm 2019 lên 115/191 quốc gia trong năm 2021; HDI của Việt Nam xếp thứ 6 trong khu vực Đông Nam Á. Tính đến đầu năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều cả nước giảm còn 2,93% (giảm 1,1% so với cuối năm 2022), Việt Nam là 1 trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới và là quốc gia đầu tiên của châu Á áp dụng chuẩn nghèo đa chiều, bảo đảm mức sống tối thiểu và thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản (6 chiều về việc làm, y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt và vệ sinh, thông tin). Có thể khẳng định, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận trong công tác xóa đói, giảm nghèo.

 Những thành tựu trên được các quốc gia và chính đảng các nước đánh giá cao. Ông Walter Sorrentino, Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Bra-xin khẳng định: “Từ thực tiễn của Việt Nam, chủ nghĩa xã hội là một chế độ xã hội mà chính quyền phục vụ Nhân dân, lấy Nhân dân làm gốc. Kết quả xóa đói, giảm nghèo của Việt Nam là minh chứng có giá trị hơn mọi lời nói. Điều này càng được thể hiện rõ ràng trong đại dịch COVID-19, cho thấy rõ tính ưu việt trong phòng, chống dịch bệnh của chính quyền các nước xã hội chủ nghĩa… Có được điều này là bởi chủ nghĩa xã hội là nhân văn, là động lực để nhân loại hướng tới một xã hội thịnh vượng, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, bảo vệ độc lập, tự chủ và môi trường thiên nhiên. Nó đòi hỏi phải có một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa quản lý mọi mặt đời sống xã hội, trong đó Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”(7).

Tại sự kiện “Người Việt Nam có tầm ảnh hưởng 2024” (VGLF) ở Pháp, ông Philipp Rösler - nguyên Phó Thủ tướng Đức đánh giá: “Việt Nam đang đứng trước cơ hội, thời điểm để tìm ra con đường hướng tới sự thịnh vượng. Bên cạnh đó, Việt Nam là đất nước trung lập trong nhiều thế kỷ và tìm ra các giải pháp hòa bình. Vì thế, Việt Nam có thể đóng vai trò lớn hơn vì lợi ích của nhân loại”(8). Khi phân tích, đánh giá bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, ông Petro Simonenko, Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản U-crai-na nêu rõ: “Những thành tựu của Việt Nam hiện nay một lần nữa chứng minh ưu thế vượt trội của chủ nghĩa xã hội so với chủ nghĩa tư bản, đó là bảo đảm sự thỏa mãn tối đa các nhu cầu văn hóa và vật chất ngày càng tăng của cả xã hội bằng cách không ngừng nâng cao và hoàn thiện phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa trên cơ sở các thành tựu khoa học - công nghệ mới nhất… Một lần nữa chúng tôi tin tưởng rằng, những ưu việt của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam là rõ ràng và không thể bàn cãi”(9).

Đặc biệt, kết quả tích cực về cải cách thể chế và đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước làm cho Việt Nam trở thành một trong những quốc gia có hệ thống chính trị phát triển, ổn định hàng đầu thế giới. Minh chứng rõ nhất là thành phố Hà Nội đã được lựa chọn là nơi tổ chức Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Triều Tiên lần hai từ ngày 27 đến ngày 28-2-2019 giữa Tổng thống Mỹ Donald Trump và lãnh đạo Kim Jong-un; đồng thời lần đầu tiên trong lịch sử ngoại giao của Việt Nam, Tổng thống Mỹ Joe Biden đã thăm cấp nhà nước tới Việt Nam (từ ngày 10 đến ngày 11-9-2023) theo lời mời của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đây là sự khẳng định cho một thể chế chính trị Việt Nam phát triển hài hòa và mô hình kinh tế hiệu quả; là thể hiện rõ nét nhất về vai trò và uy tín của Đảng và Nhà nước ta trên trường quốc tế. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Những thành tựu đó là sản phẩm kết tinh sức sáng tạo, là kết quả của cả một quá trình nỗ lực phấn đấu bền bỉ, liên tục qua nhiều nhiệm kỳ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của chúng ta là đúng đắn, phù hợp với quy luật khách quan và xu thế phát triển của thời đại; đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”(10).

Niềm tin của Nhân dân đối với Đảng 

Để Đảng ta luôn thực sự là một đảng cầm quyền duy nhất, lãnh đạo toàn diện đất nước trong mọi hoàn cảnh, đòi hỏi Đảng phải thật sự “trí tuệ”, luôn đổi mới, sáng tạo phương thức cầm quyền và phải “tỉnh táo” trước mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Thực tế, từ ngày thành lập cho đến nay, Đảng ta đã hoàn thành tốt sứ mệnh mà nhân dân giao phó, ngày càng đem lại niềm tin vững chắc đối với nhân dân.

 Có được niềm tin rất lớn ở Nhân dân là do Đảng ta đã thẳng thắn đánh giá, chỉ rõ những khuyết điểm, tồn tại trong lãnh đạo, chỉ đạo, để từ đó đề ra giải pháp phù hợp, quyết liệt nhằm sửa chữa, khắc phục. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng nêu rõ: “Việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt và thực hiện một số nghị quyết còn chậm, chưa quyết liệt, chưa hiệu quả. Thực hiện các nguyên tắc xây dựng Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số tổ chức đảng còn chưa nghiêm, thậm chí vi phạm”(11). Điều này cho thấy bản lĩnh chính trị của Đảng ta, dám nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, chứ không né tránh, “che đậy” những hạn chế, cũng chính từ sự “bản lĩnh” này mà Nhân dân càng tin tưởng vào sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay. 

Xác định đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhiệm vụ lâu dài, nên Đảng ta luôn kiên quyết, kiên trì. Từ năm 2013, khi Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được thành lập, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng được thực hiện quyết liệt, đạt được nhiều kết quả toàn diện. Từ tháng 9-2021, để công tác phòng, chống tham nhũng tiếp tục đi vào chiều sâu, toàn diện, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng được Bộ Chính trị quyết định bổ sung chức năng, nhiệm vụ, chỉ đạo công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trọng tâm là chống sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta; đội ngũ cán bộ, đảng viên ngày càng liêm chính, trong sạch, vững mạnh. 

Với quan điểm đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là: “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt” và “Tiền hô hậu ủng, nhất hô bá ứng”. Nhằm cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Bộ Chính trị đã quyết định cho tiến hành từng bước thành lập các ban chỉ đạo phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, do đồng chí bí thư tỉnh ủy làm trưởng ban, đã góp phần gắn kết chặt chẽ hơn giữa phòng và chống theo đúng tinh thần chỉ đạo của Đảng đề ra từ Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Từ khi thành lập đi vào hoạt động, các ban chỉ đạo cấp tỉnh đã có sự chuyển biến rõ rệt, với nhiều kết quả nổi bật trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Cụ thể, về công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng, trong năm 2023, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 606 tổ chức đảng, hơn 24.160 đảng viên (tăng 12% về số đảng viên bị kỷ luật so với năm 2022). Trong đó, thi hành kỷ luật 459 đảng viên do tham nhũng, 8.863 đảng viên do suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, vi phạm những điều đảng viên không được làm. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã thi hành kỷ luật 19 cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Trong đó, lần đầu tiên có 6 cán bộ bị xử lý kỷ luật do vi phạm trong kê khai tài sản, thu nhập. Các cơ quan chức năng đã cho thôi giữ chức vụ, nghỉ công tác, bố trí công tác khác đối với 9 cán bộ diện Trung ương quản lý. Các địa phương đã cho từ chức, miễn nhiệm, bố trí công tác khác hơn 360 trường hợp sau khi bị kỷ luật, trong đó có 92 cán bộ thuộc diện tỉnh ủy, thành ủy quản lý. Tính từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng đến nay, đã thi hành kỷ luật 105 cán bộ diện Trung ương quản lý, trong đó có 22 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng. Về công tác điều tra, truy tố, xét xử, năm 2023, các cơ quan tiến hành tố tụng trên cả nước đã khởi tố hơn 4.500 vụ, hơn 9.370 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ (tăng 46% về số vụ án so với năm 2022). Riêng án tham nhũng tăng gần hai lần về số vụ và hơn hai lần về số bị can(12).

Bất kể cán bộ, đảng viên giữ vị trí công tác nào (dù đương chức hay đã nghỉ công tác) nếu vi phạm “những điều đảng viên không được làm” thì đều bị xử lý kỷ luật kể cả mặt đảng và chính quyền, điều này cho thấy công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng ta là “không có vùng cấm”, “không có ngoại lệ”, “bất kể người đó là ai”. Qua điều tra xã hội học về nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của người dân khi được hỏi, thì đại đa số người dân rất đồng tình, ủng hộ cao cách làm quyết liệt, triệt để, khoa học, thận trọng từng bước khi phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử các cá nhân, tổ chức có dấu hiệu vi phạm, để không bỏ sót, bỏ lọt đối tượng, tránh oan sai. Điều này cho thấy sự đồng thuận, đặt niềm tin rất lớn của người dân vào quyết tâm làm trong sạch bộ máy nhà nước và hệ thống chính trị; quyết tâm diệt trừ tận gốc tệ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng ta, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Giữ vững niềm tin của Nhân dân đối với Đảng 

Hiện nay, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó dự đoán; ở trong nước vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức đan xen; các thế lực thù địch, phản động vẫn tăng cường chống phá cách mạng Việt Nam; sự phát triển của khoa học công nghệ, các nền tảng mạng xã hội khó kiểm soát… Đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục tăng cường bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng là những việc rất quan trọng, do đó trong thời gian tới cần thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Để thực hiện tốt được điều này, trước hết mỗi tổ chức đảng phải thực hiện nghiêm những quy định về nguyên tắc tổ chức hoạt động cơ bản của Đảng ta là: 1) Tập trung dân chủ trong Đảng; 2) Tự phê bình và phê bình; 3) Đoàn kết thống nhất; 4) Gắn bó mật thiết với Nhân dân; 5) Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, phải hết sức chú trọng đến các nguyên tắc trong công tác tư tưởng như: nguyên tắc tính Đảng; nguyên tắc tính khoa học; nguyên tắc thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, lời nói đi đôi với việc làm. Đặc biệt là “tính Đảng” cần hết sức coi trọng, trên cơ sở đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, quán triệt quan điểm, đường lối của Đảng, xác định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Vì vậy, phải tăng cường đổi mới mạnh mẽ tư duy và cách thức làm công tác tư tưởng, mở rộng tính dân chủ, công khai, minh bạch, kiên quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử có thái độ hữu khuynh hoặc mơ hồ những vấn đề tư tưởng có tính nguyên tắc.

Tại Phiên họp đầu tiên của Tiểu ban nhân sự chuẩn bị cho Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Tiểu ban chủ trì phiên họp có đề cập và nhấn mạnh đến những vấn đề có tính nguyên tắc của Đảng ta và cũng phù hợp với thể chế chính trị ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, đó là: “Tập thể lãnh đạo”, “Lãnh đạo tập thể”, “Lãnh tụ tập thể”. Có thể nói, đây cũng là lần đầu tiên khái niệm “lãnh tụ tập thể” được nhấn mạnh trong công tác chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Bởi vì, tầm đặc biệt quan trọng của công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng có ý nghĩa lịch sử, là trọng trách nặng nề; “Lãnh tụ tập thể” còn có hàm nghĩa quy tụ, hội tụ được những cán bộ, đảng viên thực sự có đức, có tài, trong đó đức là gốc. Cụ thể, là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, nhân sự trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng phải thực sự là một khối thống nhất, thông suốt trong hành động, trong lãnh đạo, chỉ đạo những vấn về quan trọng của đất nước.

Hai là, tiếp tục đổi mới nội dung, phong cách, phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta phù hợp với xu thế thời đại và thực tiễn đất nước. Đảng ta là đảng cầm quyền, những thắng lợi và thành tựu, những thất bại và tổn thất của cách mạng đều gắn liền với trách nhiệm của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng tác động trực tiếp đến toàn bộ hệ thống để bảo đảm giữ vững quyền lực chính trị của nhân dân. Tính nhất quán tạo nên phong cách, sự kiên định tạo nên sức mạnh, nghĩa là nhất quán trong việc ban hành chỉ thị, nghị quyết với hành động; kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng mà Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn. Do đó, đổi mới nội dung, phong cách và phương thức lãnh đạo của Đảng không phải là để hạ thấp hay xóa bỏ vai trò lãnh đạo, mà chính là để nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng; tăng cường mối liên hệ giữa Đảng với Nhân dân, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong đó, cần phân rõ được đúng chức năng giữa Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị, trước hết là giữa Đảng với Nhà nước, có cơ chế và phương thức hoạt động khoa học, phù hợp, linh hoạt để phát huy dân chủ và đoàn kết toàn dân tộc trong xây dựng đất nước.

Ba là, quyết liệt, mạnh mẽ trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta sớm nhận diện và ngày càng xác định rõ hơn về nguy cơ, tác hại của tệ tham nhũng, tiêu cực đối với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa và sự nghiệp xây dựng đất nước. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng thẳng thắn đánh giá: “Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở một số địa phương, bộ, ngành chưa có chuyển biến rõ rệt; công tác phòng ngừa tham nhũng ở một số nơi còn hình thức. Việc phát hiện xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế, nhất là việc tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ cơ quan, đơn vị còn yếu; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong một số cơ quan, đơn vị khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi… Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, có mặt lúng túng”(13). Do đó, chúng ta phải quyết liệt, mạnh mẽ trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài. 

Bốn là, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng và lựa chọn đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý “có tâm”, “có tầm”. Trong công tác cán bộ, từ khâu tuyển dụng, sử dụng, bổ nhiệm phải thận trọng, khách quan, công tâm, đặc biệt đối với những cán bộ cấp chiến lược, cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải là người thực sự tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, lối sống, nổi trội về năng lực lãnh đạo, quản lý, có tầm nhìn chiến lược dài hạn; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách để bảo vệ, khuyến khích những cán bộ có tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; có tinh thần cống hiến, phụng sự Tổ quốc… Hiện nay, chúng ta đang chuẩn bị cho công tác nhân sự Đại hội XIV của Đảng (nhiệm kỳ 2026-2030), đây là nhiệm vụ vô cùng quan trọng, có ý nghĩa lịch sử trong chặng đường tiếp theo của cách mạng Việt Nam.

Năm là, tiếp tục thực hiện nghiêm, hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết, kết luận của Trung ương về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Mỗi cơ quan, đơn vị cần xây dựng chương trình, kế hoạch để triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, hiệu lực, hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Trung ương, trọng tâm là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm những cán bộ, đảng viên suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đặc biệt, phải thực hiện nghiêm, hiệu quả Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm; Quy định số 114-QĐ/TW ngày 11-7-2023 của Ban Chấp hành Trung ương về kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ. 

Sáu là, tăng cường giao lưu, hợp tác quốc tế với các chính đảng trên thế giới, đặc biệt là Đảng Cộng sản các nước. Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã xác định: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”(14). Với phương châm chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế, nhận được sự tin cậy của bạn bè thế giới và đem lại nhiều thành tựu trên các lĩnh vực chính trị, an ninh, kinh tế và văn hóa xã hội. Tăng cường giao lưu, hợp tác với các chính đảng, các quốc gia trên thế giới còn nhằm tranh thủ sự ủng hộ, đồng thuận; làm cho các quốc gia, tổ chức hiểu rõ hơn về bản chất tốt đẹp của Đảng Cộng sản và con người Việt Nam; giảm bớt sự thù địch, chống phá của các thế lực phản động.

Có thể khẳng định, thực hiện hiệu quả những nội dung cơ bản nêu trên không chỉ góp phần tạo thêm uy tín của Đảng, củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân, mà còn thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra. Trọng tâm là những nhiệm vụ rất quan trọng trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2021-2030, phấn đấu đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Nước ta là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao; xây dựng một nước Việt Nam “giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, thể hiện sự nhất quán về quan điểm, chủ trương của Đảng ta về phát triển đất nước giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn đến năm 2045, góp phần tiếp tục bổ sung, phát triển nhận thức lý luận của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Không còn uy tín là mất niềm tin và mất niềm tin là mất tất cả, vì vậy đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi tổ chức đảng phải thực sự gương mẫu, thực sự liêm chính trong sạch, vững mạnh; đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước phải hợp lòng dân, vì lợi ích của nhân dân, đem lại cuộc sống khá giả cả về vật chất lẫn tinh thần cho người dân… Thực hiện được những điều đó, thì Nhân dân sẽ mãi một lòng sắt son đối với Đảng. 

Hiệp định Giơ - ne - vơ 1954: Một mốc son lịch sử của nền ngoại giao Việt Nam

 

Cách đây 70 năm, Hiệp định Giơ - ne - vơ về đình chỉ chiến sự ở Việt Nam đã được ký kết, mở ra một trang mới trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân ta. 

Trải qua 70 năm, những bài học từ đàm phán, ký kết và thực thi Hiệp định Giơ - ne - vơ vẫn còn nguyên giá trị đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc ngày nay.

Ý nghĩa và tầm vóc lịch sử của Hiệp định Giơ - ne - vơ

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ là thắng lợi của nhiều yếu tố, trong đó yếu tố vô cùng quan trọng là nghệ thuật quân sự đỉnh cao của cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở đánh giá chính xác tình hình, Đảng ta đã đưa ra những chỉ đạo đúng đắn về chiến lược, nghệ thuật chiến dịch và chiến thuật chiến đấu để giành toàn thắng.

Trả lời phỏng vấn của một nhà báo Thụy Điển ngày 26-11-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương lượng và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình, thì nhân dân và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó" và “cơ sở của việc đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thật thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, 2011, Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 8, trang 340).

Ngày 8-5-1954, đúng một ngày sau chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu", Hội nghị Giơ - ne - vơ bắt đầu bàn về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương. Trải qua 75 ngày đàm phán căng thẳng và phức tạp với 7 phiên toàn thể và 24 phiên họp cấp trưởng đoàn, Hiệp định Giơ - ne - vơ đã được ký vào ngày 21-7-1954.

Cùng với bản Tuyên bố về vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương và Hiệp định đình chiến ở Đông Dương, bản Hiệp định đình chiến ở Việt Nam đã khẳng định độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, quy định quân đội nước ngoài phải rút khỏi Đông Dương, xác định các giới tuyến quân sự chỉ có tính tạm thời và mỗi nước Đông Dương sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do để thực hiện thống nhất đất nước...

Trong “Lời kêu gọi sau khi Hội nghị Giơ - ne - vơ thành công” ngày 22-7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá: “Hội nghị Giơ - ne - vơ đã kết thúc. Ngoại giao ta đã thắng lợi to” (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, 2011, Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 9, trang 1). Quả thực, nếu trong Hiệp định Sơ bộ năm 1946, Pháp chỉ công nhận Việt Nam là quốc gia tự do nằm trong khối Liên hiệp Pháp, thì với Hiệp định Giơ - ne - vơ, lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc ta, các quyền dân tộc cơ bản của Việt Nam là độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ đã chính thức được khẳng định trong một điều ước quốc tế và được các nước tham dự Hội nghị Giơ - ne - vơ thừa nhận. Đây là cơ sở chính trị, pháp lý rất quan trọng để nhân dân ta đấu tranh trên mặt trận chính trị, ngoại giao trong công cuộc giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước sau này.

Cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ, việc ký kết Hiệp định Giơ - ne - vơ đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta cũng như chấm dứt hoàn toàn sự đô hộ của chủ nghĩa thực dân cũ kéo dài gần 100 năm tại Việt Nam. Với ý nghĩa đó, Hiệp định đã mở ra thời kỳ chiến lược mới của cách mạng Việt Nam là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, đồng thời tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam để đi tới thực hiện trọn vẹn mục tiêu độc lập dân tộc và thống nhất đất nước.

Thắng lợi tại Hội nghị Giơ - ne - vơ bắt nguồn từ đường lối cách mạng đúng đắn và sự lãnh đạo, chỉ đạo sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; từ khát vọng hòa bình cháy bỏng, chủ nghĩa yêu nước cùng bản lĩnh và trí tuệ của dân tộc Việt Nam được hun đúc qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Hiệp định Giơ - ne - vơ là kết tinh thành quả đấu tranh quật cường và bền bỉ của quân và dân ta, từ chiến thắng Việt Bắc Thu - Đông 1947 đến Chiến dịch Biên giới Thu Đông 1950 và tiến công Chiến lược Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Cùng với Hiệp định Sơ bộ 1946 và Hiệp định Pa - ri 1973, Hiệp định Giơ - ne - vơ 1954 là một mốc son lịch sử của ngoại giao cách mạng Việt Nam, mang đậm dấu ấn tư tưởng, phong cách và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh.

Hội nghị Giơ - ne - vơ đã tôi luyện nên những nhà lãnh đạo đồng thời cũng là những nhà ngoại giao xuất sắc trong thời đại Hồ Chí Minh như các đồng chí Phạm Văn Đồng, Tạ Quang Bửu, Hà Văn Lâu và nhiều cán bộ ngoại giao ưu tú khác.

Nhìn lại 70 năm ngày ký Hiệp định Giơ - ne - vơ, chúng ta biết ơn vô hạn đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thế hệ cách mạng tiền bối cũng như sự hy sinh vô cùng to lớn của quân và dân ta trong kháng chiến chống thực dân Pháp.

Chúng ta luôn ghi nhớ tình đoàn kết trong sáng và sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân Lào, Cam - pu - chia, các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, trong đó có nhân dân Pháp, dành cho Việt Nam trong suốt cuộc kháng chiến chống thực dân và đế quốc. Do đó, Hiệp định Giơ - ne - vơ không chỉ là thắng lợi của Việt Nam, mà còn là thắng lợi chung của ba nước Đông Dương và cũng là thắng lợi của các dân tộc bị áp bức trong đấu tranh giải phóng dân tộc. Cùng với chiến thắng Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ - ne - vơ đã cổ vũ mạnh mẽ cho phong trào đấu tranh vì hòa bình và độc lập dân tộc, mở đầu cho sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ trên toàn thế giới. Từ năm 1954 đến năm 1964, có tới 17 trong 22 thuộc địa của Pháp đã giành độc lập; riêng năm 1960 có tới 17 nước ở châu Phi tuyên bố độc lập.

 Những bài học trường tồn với nền ngoại giao Việt Nam mang đậm bản sắc "cây tre Việt Nam"

Đàm phán, ký kết và thực thi Hiệp định Giơ - ne - vơ là cuốn cẩm nang quý báu về trường phái đối ngoại và ngoại giao Việt Nam với nhiều bài học còn nguyên giá trị về nguyên tắc, phương pháp và nghệ thuật ngoại giao, mang đậm bản sắc ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.

Trước hết, đó là bài học về kiên định độc lập, tự chủ trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc. Quá trình đàm phán, ký kết Hiệp định Giơ - ne - vơ cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn giá trị của nguyên tắc độc lập, tự chủ trong các vấn đề quốc tế. Bởi các quốc gia đều vì lợi ích của mình, nên chỉ có kiên định độc lập, tự chủ mới giúp chúng ta giữ vững thế chủ động và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc.

Thứ hai, bài học về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, gắn kết đoàn kết dân tộc với đoàn kết quốc tế để tạo nên “một sức mạnh vô địch." Bên cạnh phát huy tối đa sức mạnh ngọn cờ chính nghĩa và khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta đã có chủ trương đúng đắn về không ngừng mở rộng đoàn kết quốc tế, trước hết là đoàn kết với Lào, Cam - pu -  chia, các nước xã hội chủ nghĩa, bạn bè quốc tế và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới.

Thứ ba, bài học về kiên định mục tiêu, nguyên tắc, song cơ động, linh hoạt sách lược theo phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến."

Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, sách lược của ta thì linh hoạt" (Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật, 2011, Hồ Chí Minh toàn tập, Tập 8, trang 555), trong đàm phán và thực thi Hiệp định Giơ - ne - vơ, cái gốc "bất biến" là Việt Nam độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đến Hiệp định Pa - ri 1973 sau này.

Còn “vạn biến” là trong lúc chưa thể thực hiện được trọn vẹn mục tiêu cuối cùng, có thể linh hoạt và biến hóa trong sách lược để rồi từng bước tiến tới đạt được mục tiêu bất biến. Đó là một phương pháp và nghệ thuật ngoại giao Hồ Chí Minh được kế thừa, vận dụng sáng tạo và phát triển trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế của nước ta; đồng thời, thể hiện bản sắc “cây tre Việt Nam” của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam, “gốc vững," “thân chắc," “cành uyển chuyển."

Thứ tư, bài học về coi trọng nghiên cứu, đánh giá và dự báo tình hình, “biết mình," “biết người," “biết thời," “biết thế” để từ đó “biết tiến," “biết thoái," “biết cương," “biết nhu." Đây là bài học sâu sắc, nhất là trong bối cảnh thế giới hiện nay đang trải qua những biến động lớn, phức tạp và khó lường, càng phải đẩy mạnh công tác nghiên cứu, dự báo tình hình thế giới, nhất là chuyển động của các xu hướng lớn, điều chỉnh chiến lược, chính sách của các đối tác, trên cơ sở đó chủ động có đối sách phù hợp với từng đối tác, từng vấn đề.

Thứ năm, bài học về sử dụng đối thoại và đàm phán hòa bình để giải quyết bất đồng, xung đột trong quan hệ quốc tế. Cùng với quyết định mở cuộc tiến công Chiến lược Đông - Xuân 1953-1954, Đảng ta đã chủ trương dùng biện pháp đàm phán hòa bình để chấm dứt chiến tranh, từ đó đã mở hướng đi tới một cuộc đàm phán để kết thúc chiến tranh ở Đông Dương.

Dù có thể có góc nhìn khác nhau, song không thể phủ nhận Hội nghị Giơ - ne - vơ đã để lại một bài học mang tính thời đại về giải quyết bất đồng và xung đột quốc tế bằng biện pháp hòa bình, nhất là trong bối cảnh thế giới hiện nay đang diễn ra nhiều xung đột phức tạp.

Thứ sáu, bài học bao trùm là sự lãnh đạo thống nhất, tuyệt đối của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta nói chung và mặt trận ngoại giao nói riêng. Đảng đã đề ra chủ trương, đường lối và sách lược cách mạng đúng đắn, mở ra mặt trận ngoại giao chủ động tiến công, phối hợp chặt chẽ và thống nhất với các mặt trận chính trị, quân sự để tạo nên sức mạnh tổng hợp, bảo đảm cao nhất lợi ích dân tộc.

Những bài học nổi bật nói trên cùng nhiều bài học quý báu khác từ Hiệp định Giơ - ne - vơ đã được Đảng ta kế thừa, vận dụng sáng tạo và phát triển trong suốt quá trình đàm phán, ký kết và thực thi Hiệp định Pa - ri 1973 cũng như trong triển khai công tác đối ngoại hiện nay.

Trong gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, chúng ta luôn nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn này, đến nay nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 193 quốc gia thành viên Liên hiệp quốc, có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện với 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc, có mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước. Việt Nam là thành viên tích cực, có trách nhiệm của hơn 70 tổ chức, diễn đàn khu vực và quốc tế lớn như Liên hiệp quốc, ASEAN, WTO, APEC, ASEM...; đã tham gia và đang đàm phán 19 hiệp định thương mại tự do, tạo nên một mạng lưới liên kết kinh tế rộng mở với khoảng 60 nền kinh tế trên thế giới.

Phát huy các bài học của Hiệp định Giơ - ne - vơ và truyền thống vẻ vang của ngoại giao cách mạng Việt Nam, toàn ngành ngoại giao dưới sự lãnh đạo của Đảng quyết tâm xây dựng nền ngoại giao Việt Nam vững mạnh, toàn diện, hiện đại, đóng góp xứng đáng vào thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại Đại hội XIII của Đảng vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

Cộng đồng quốc tế đánh giá cao thành tựu về nhân quyền của Việt Nam

 

Ngày 7-5-2024 tại Trụ sở Liên hiệp quốc tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sỹ, Đoàn đại biểu Việt Nam do Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Đỗ Hùng Việt dẫn đầu đã tham gia Phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia của Việt Nam theo Cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV của Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc.

Cùng tham gia đoàn có đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ban Tôn giáo Chính phủ, Ủy ban Dân tộc, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Phát biểu khai mạc và trình bày báo cáo quốc gia của Việt Nam, Thứ trưởng Đỗ Hùng Việt bày tỏ lòng tự hào của Đoàn Việt Nam khi phiên đối thoại với các nước được tổ chức đúng vào ngày kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ, ngay chính tại Trụ sở Liên hiệp quốc, nơi chứng kiến quá trình đàm phán và ký kết Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954 và những sự kiện lịch sử quan trọng trong công cuộc giải phóng dân tộc, đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân của nhân dân Việt Nam cũng như nhiều dân tộc trên thế giới.

Tại phiên đối thoại, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao một lần nữa khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Với chủ trương coi con người là trung tâm, là mục tiêu và động lực của quá trình đổi mới, phát triển đất nước, Việt Nam đã vươn lên từ một nước nghèo để trở thành một trong những nước có nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới, hội nhập quốc tế sâu rộng.

Kể từ lần rà soát UPR chu kỳ III vào năm 2019, Việt Nam đã tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về quyền con người và đạt được nhiều thành tựu trên thực tế. Các quyền y tế, giáo dục, bảo đảm an sinh xã hội, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, tự do báo chí, in-tơ-net, bình đẳng giới đều đạt những tiến bộ rõ rệt. Các chỉ số về phát triển con người (HDI), bình đẳng giới (GEI) của Việt Nam do các cơ quan Liên hiệp quốc xếp hạng liên tục được cải thiện. Chính phủ đã có nhiều chính sách, biện pháp để bảo vệ sức khỏe người dân, phát triển kinh tế - xã hội sau đại dịch COVID-19, tích cực thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, kinh tế số và thực hiện các cam kết của Việt Nam theo các điều ước quốc tế về quyền con người.

Phiên rà soát UPR của Việt Nam được các nước quan tâm cao với hơn 130 nước tham gia đối thoại và phát biểu trong không khí cởi mở, thẳng thắn và thực chất. Các nước ghi nhận các chính sách, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người, việc Việt Nam luôn nghiêm túc thực hiện các khuyến nghị UPR đã chấp thuận. Nhiều nước hoan nghênh các thành tựu của Việt Nam về phát triển kinh tế, bảo đảm công bằng xã hội, đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức về quyền con người, thúc đẩy quyền phụ nữ, quyền của nhóm đồng tính, song tính và chuyển giới, quyền của người dân tộc thiểu số.

Đoàn Việt Nam khẳng định những ưu tiên của Việt Nam về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trong thời gian tới, trong đó có xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách hành chính, thúc đẩy đối thoại tích cực và hợp tác về quyền con người, tăng cường giáo dục về quyền con người…

Đoàn Việt Nam cũng trả lời nhiều câu hỏi, cung cấp thêm thông tin về các vấn đề được các nước quan tâm, trong đó có nỗ lực thực hiện các Mục tiêu phát triển bền vững, xây dựng nền kinh tế xanh, bao trùm, phát triển của in-tơ-nét và mạng xã hội, quyền tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin của người dân, quyền của người lao động, vai trò của Tòa án Nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do học thuật, gia nhập và thực thi các công ước cơ bản của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), phòng chống mua bán người, thực hiện Công ước chống tra tấn, hỗ trợ người dân tộc thiểu số…

Đối với một số ý kiến dựa trên những nguồn tin chưa được kiểm chứng, đoàn Việt Nam đã giải đáp, cung cấp thông tin xác thực, nhấn mạnh nguyên tắc đối thoại, hợp tác, tôn trọng khác biệt; đồng thời nhấn mạnh không có một mô hình chung cho tất cả các nước, mỗi nước tùy theo đặc thù, điều kiện của mình sẽ có con đường phát triển riêng. Việt Nam tự tin tiếp bước trên con đường đã chọn để xây dựng đất nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, người dân được thụ hưởng các quyền con người cơ bản.

Tại Phiên đối thoại, Việt Nam nhận được khoảng 300 khuyến nghị với nội dung đa dạng, đề cập đến tất cả các lĩnh vực quyền con người. Sau phiên đối thoại, ngày 10-5 Nhóm công tác về UPR của Hội đồng Nhân quyền sẽ họp để xem xét thông qua Báo cáo về kết quả rà soát UPR đối với Việt Nam, trình Hội đồng Nhân quyền Liên hiệp quốc chính thức thông qua tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 57 (tháng 9 và 10-2024).

 

CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN QUÂN ĐỘI KHÔNG NGỪNG NÂNG CAO CẢNH GIÁC, ĐẤU TRANH CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỆU SAI TRÁI, BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG

 

Hơn 93 năm qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn dân tộc; sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, làm nên những kỳ tích của Việt Nam

Với 93 mùa xuân, Đảng Cộng sản Việt Nam thật sự là trí tuệ, là cội nguồn sức mạnh đưa đất nước vượt qua khó khăn sóng cả phát triển, hội nhập vững vàng vươn ra biển lớn. Suốt thời gian đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của toàn dân tộc; sự lãnh đạo đúng đắn và sáng suốt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng, làm nên những kỳ tích của Việt Nam. Đặc biệt, hơn 35 năm tiến hành công cuộc đổi mới đã chứng minh Đảng không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của dân tộc; không có một lực lượng chính trị nào khác ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua khó khăn, từng bước phát triển vững chắc. Tự hào về Đảng quang vinh, chúng ta biết ơn vô hạn Chủ tịch Hồ Chí Minh - Người sáng lập, lãnh đạo và rèn luyện Đảng ta; khắc ghi sự cống hiến, hy sinh của các thế hệ cán bộ, đảng viên, đồng bào, đồng chí vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, vì sự trường tồn của dân tộc.

Kiên cường, bền bỉ trong “cuộc chiến” giữ vững vị thế, uy tín, thanh danh của Đảng Cộng sản Việt Nam

 


Để góp phần bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, vấn đề cần quan tâm hiện nay là phải nhận thức đúng đắn, thực hiện đồng bộ việc nâng cao hiệu quả, tăng cường tính chiến đấu và bảo đảm tính thuyết phục trong “cuộc chiến” giữ gìn, bảo vệ vị thế, uy tín, thanh danh của Đảng Cộng sản Việt Nam và bản chất chế độ chính trị-xã hội ưu việt mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn.

Phát huy trò của thanh niên trong đấu tranh bảo vệ nề tảng tư tưởng của Đảng trên không gian mạng trong tình hình mới.

 


Kế thừa những giá trị của Chủ nghĩa Mác – Lênin, trong quá trình tìm đường cứu nước và lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh rất đề cao vị trí, vai trò của thanh niên đối với sự phát triển của đất nước. Người coi thanh niên là người chủ hiện tại và tương lai của đất nước: “nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Thanh niên là lực lượng xung kích của cách mạng, là cánh tay đắc lực, đội hậu bị tin cậy của Đảng. Người viết: “trong mọi công việc thanh niên ta luôn luôn hăng hái xung phong và họ xứng đáng là cánh tay đắc lực của Đảng”. Đồng thời, thanh niên có vai trò rất lớn trong việc tổ chức, hướng dẫn, dìu dắt thiếu niên, nhi đồng, giúp các em học tập, vui chơi, lành mạnh. Người viết: “thanh niên là người tiếp sức cách mạng cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai - tức là các cháu nhi đồng”.  

SỰ PHÁT TRIỂN TƯ DUY CỦA ĐẢNG VỀ BẢO VỆ LỢI ÍCH QUỐC GIA- DÂN TỘC

 SỰ PHÁT TRIỂN TƯ DUY CỦA ĐẢNG VỀ BẢO VỆ LỢI ÍCH QUỐC GIA - DÂN TỘC

      Lợi ích quốc gia - dân tộc là một phạm trù được đề cập rộng rãi trong quá trình hoạch định, triển khai chính sách đối nội và đối ngoại của các quốc gia trên thế giới. Các nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế đã đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc. Trong đó, lợi ích quốc gia là lợi ích chung của cộng đồng những người chung sống trên một đất nước, có chung nguồn gốc, lịch sử, phong tục, tập quán và phần nhiều còn chung cả tiếng nói, chữ viết. Vấn đề lợi ích quốc gia thiên về đại diện của giai cấp cầm quyền trong xã hội, còn lợi ích dân tộc bao hàm tất cả những gì tạo thành điều kiện cần thiết cho sự trường tồn của cộng đồng với tư cách quốc gia - dân tộc có chủ quyền, thống nhất, độc lập, lãnh thổ toàn vẹn tạo nền tảng cho sự phát triển đi lên về mọi mặt của quốc gia - dân tộc theo hướng làm cho đời sống vật chất và tinh thần của cộng đồng người nơi đó ngày càng phong phú, tốt đẹp hơn; từ đó không ngừng nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế, vị trí, vai trò, uy tín quốc tế của quốc gia - dân tộc. 

     Ở Việt Nam, lợi ích quốc gia gắn liền với lợi ích của giai cấp cầm quyền, đó là lợi ích của giai cấp công nhân, lợi ích đó thống nhất với lợi ích của đại đa số quần chúng nhân dân lao động nên lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc được xem là có chung nội hàm, có thể sử dụng thay thế lẫn nhau. Lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam thể hiện rất sinh động cả trong đối nội và đối ngoại, trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

     Trong đối nội, lợi ích quốc gia - dân tộc được biểu hiện ở những quyền và lợi ích hợp pháp của từng tổ chức, cá nhân và cộng đồng người trên cơ sở tuân thủ hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Trong chính sách đối ngoại, lợi ích quốc gia - dân tộc được thể hiện bao chùm đó là bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

     Bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc là tổng thể các hoạt động của Đảng, Nhà nước, các tổ chức, cá nhân đấu tranh bảo vệ những quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các tổ chức, cá nhân trong quan hệ đối ngoại và đối nội. Bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc không ngừng được Đảng, Nhà nước ta nghiên cứu, vận dụng và phát triển trong hoạch định chiến lược bảo vệ Tổ quốc ở các giai đoạn cách mạng với những cách diễn đạt khác nhau. 

     Mục tiêu bao trùm của bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc là bảo vệ vững chắc “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Tuy nhiên ở từng giai đoạn cách mạng, gắn với thực tiễn, vấn đề tư duy của Đảng về bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc luôn gắn với sự phát triển của đất nước và biến động của tình hình thế giới, được hoàn chỉnh qua các kỳ Đại hội của Đảng. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa ngày nay lợi ích quốc gia - dân tộc được coi trọng trong từng chủ trương, chính sách phát triển đất nước và hoạt động đối ngoại.

     Tại Đại hội XI của Đảng (năm 2011) lần đầu tiên Đảng ta nêu lên mục tiêu đối ngoại “vì lợi ích quốc gia - dân tộc”. Kế thừa, phát triển quan điểm đối ngoại trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) xác định mục tiêu bảo vệ Tổ quốc là: Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc; bảo vệ an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị, môi trường hòa bình, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc là một trong sáu nội dung mục tiêu bảo vệ Tổ quốc.

     Đến Đại hội XII (năm 2016) Đảng ta chỉ rõ mục tiêu hoạt động đối ngoại của nước ta phải nhằm “bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia - dân tộc, trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi”( ). Đảng ta khẳng định về lợi ích quốc gia - dân tộc đó là: Lợi ích quốc gia và lợi ích dân tộc là thống nhất. Lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam là những lợi ích chính đáng, không phải là những lợi ích vị kỷ. Lợi ích quốc gia - dân tộc của Việt Nam được xác định trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi, cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc nghĩa là đặt lợi ích quốc gia - dân tộc lên trước hết và trên hết, luôn nỗ lực đạt được lợi ích quốc gia - dân tộc tới mức cao nhất có thể, lợi ích quốc gia - dân tộc là tiêu chí hàng đầu đánh giá hiệu quả của mọi hoạt động đối ngoại( ). 

     Trên cơ sở tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc, tại Hội nghị Trung ương 8 (khóa XIII), Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết 44-NQ/TW ngày 24/11/2023 về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó, mục tiêu chung bảo vệ Tổ quốc đó là: Bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân, chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ thành quả cách mạng, sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bảo vệ nền văn hoá và uy tín, vị thế quốc tế của đất nước; bảo vệ an ninh quốc gia, an ninh con người, an ninh kinh tế, an ninh mạng; giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội; giữ vững, củng cố, tăng cường môi trường hoà bình để xây dựng, phát triển đất nước; đóng góp tích cực vào gìn giữ hoà bình khu vực, thế giới. Như vậy, bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc được Đảng ta khái quát trở thành nội dung bao chùm của mục tiêu bảo vệ Tổ quốc cũng là vấn đề tối thượng cả trong chính sách đội nội và đối ngoại của Việt Nam./.

     .ankhe.08.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÁO CHÍ MEXICO BÌNH LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH LỊCH SỬ TRONG CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ!

         Thay đổi phương châm tác chiến từ "Đánh nhanh thắng nhanh" sang "Đánh chắc tiến chắc" được coi là một bước ngoặt kịch tính nhất trong lịch sử cuộc kháng chiến chống Pháp, điều mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp gọi là quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của mình, tờ Voces Del Periodista của Mexico nhấn mạnh trong bài viết đăng trên số ra đầu tháng 5 nhân kỷ niệm 70 năm Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954-7/5/2024)!

Theo phóng viên TTXVN tại Mexico, trong bài viết có tựa đề "Chiến thắng Điện Biên Phủ: Âm hưởng trường tồn," Voces Del Periodista - diễn đàn học thuật và là tiếng nói của các nhà báo Mexico, khẳng định quyết định thay đổi phương châm tác chiến được coi là một quyết định lịch sử trong một chiến dịch lịch sử, phản ánh một quá trình tư duy quân sự sắc sảo và xử lý thực tiễn linh hoạt, đầy sáng tạo và đây cũng là "chìa khóa," là nhân tố quyết định bảo đảm thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ.

Mở đầu bài viết trên Voces Del Periodista, tác giả Mouris Salloum George nêu rõ sau 56 ngày đêm kiên cường chiến đấu, đào núi, ngủ hầm, quân và dân Việt Nam - dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh - đã vượt qua mọi hy sinh, thử thách để tiêu diệt căn cứ quân sự mạnh nhất của thực dân Pháp ở Đông Dương. Sau 70 năm, dư âm chiến thắng Điện Biên Phủ vẫn vang vọng như một bản anh hùng ca bất hủ của thế kỷ 20.

Trong bài viết, tác giả Mouris Salloum George, đồng thời là Chủ tịch Hội nhà báo Mexico, chỉ rõ một trong những yếu tố quyết định của Chiến thắng Điện Biên Phủ chính là tinh thần đoàn kết của người dân Việt Nam, điều mà chính viên chỉ huy trưởng tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ, tướng De Castries, sau khi thất bại trở về Pháp, đã thú nhận trước Ủy ban Điều tra của Bộ Quốc phòng Pháp rằng "Người ta có thể đánh bại một quân đội, chứ không thể đánh bại được một dân tộc."

Theo nhà báo Mouris Salloum George, kiêm Tổng Biên tập Voces Del Periodista, đây chính là sức mạnh của một cuộc chiến tranh nhân dân được phát động và lãnh đạo một cách tuyệt vời và đầy khéo léo, từ đó mang đến nguồn cổ vũ lớn lao cho các dân tộc bị áp bức đứng lên giành độc lập, trong đó có nhiều nước tại châu Phi và Mỹ Latinh.

Nhắc tới Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà báo Mouris Salloum George kể lại sự kiện ngày 11/3/1954, 2 ngày trước khi chiến dịch mở màn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư tới các chiến sỹ: "Các chú sắp ra trận. Nhiệm vụ các chú lần này rất to lớn khó khăn nhưng rất vinh quang... Bác tin chắc rằng các chú sẽ phát huy thắng lợi vừa qua, quyết tâm vượt mọi khó khăn gian khổ để làm tròn nhiệm vụ vẻ vang sắp tới... Chúc các chú thắng to!"

Lời nhắn nhủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự động viên tinh thần to lớn, có tác động mạnh mẽ tới tinh thần của quân và dân Việt Nam ngay khi trận chiến bắt đầu.

Ngay trong trận mở màn, quân đội Việt Nam non trẻ đã giành thắng lợi lớn, xé toang cứ điểm phòng thủ vòng ngoài Him Lam, đồng thời chọc thủng con đường huyết mạch tiến vào Phân khu Trung tâm của Pháp từ hướng Đông Bắc.

Cuối bài viết, Voces Del Periodista - diễn đàn của 45.000 nhà báo chuyên nghiệp tại Mexico, khẳng định Chiến thắng Điện Biên Phủ đã tạo nên bước ngoặt quan trọng cho Cách mạng Việt Nam, dẫn đến việc ký kết Hiệp định Geneva nhằm chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở khu vực Đông Dương, tạo cơ sở và điều kiện để Việt Nam tiến lên giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ cũng cho thấy sự trưởng thành vượt bậc của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đội quân này đã không ngừng lớn mạnh. Đây cũng là tiền đề để sau đó 21 năm, Việt Nam tiếp tục chiến thắng trong cuộc chiến giành độc lập và thống nhất đất nước./.

Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: BÀI HỌC VỀ "THẾ TRẬN LÒNG DÂN" TRONG CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ!

     Cách đây vừa tròn 70 năm, dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân ta đã tiến hành thắng lợi Chiến dịch Điện Biên Phủ, tiêu diệt tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của quân viễn chinh Pháp, đập tan cố gắng chiến tranh cao nhất của Chính phủ Pháp!

Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ là bản anh hùng ca của chiến tranh nhân dân Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, “được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng, hay một Đống Đa trong thế kỷ XX, đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi, đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc”(I), mà còn đánh dấu sự phát triển cao về nghệ thuật quân sự Việt Nam và để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý, trong đó có bài học về xây dựng “thế trận lòng dân”.

Có thể quan niệm “thế trận lòng dân” là sự tổ chức, bố trí, xây dựng, tạo lập điều kiện trong thế trận chung của đất nước nhằm quy tụ sức mạnh tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân theo mục tiêu chính trị thống nhất, thực hiện thắng lợi những yêu cầu của nhiệm vụ cứu nước và giữ nước, mà thực chất là nhân tố tinh thần của nhân dân được quy tụ và phát huy tạo thành sức mạnh chiến thắng kẻ thù. Vấn đề lòng dân, “thế trận lòng dân” luôn luôn là vấn đề có tầm quan trọng hàng đầu trong công cuộc giữ nước, chống ngoại xâm, trong chiến lược xây dựng sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.

Vào giữa thế kỷ XX, Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ là một thiết chế vật chất quân sự mạnh của một quân đội đế quốc cỡ hàng đầu thế giới và đã có truyền thống lục quân hằng mấy trăm năm. Một lực lượng vật chất quân sự như vậy chỉ có thể bị đánh bại bởi một lực lượng vật chất đối sánh mạnh hơn. Lực lượng tinh thần, “thế trận lòng dân” dù to lớn đến đâu thì tự bản thân nó và chỉ riêng nó cũng không giải quyết được mọi vấn đề. Quy luật nghiệt ngã của chiến tranh là “mạnh được yếu thua”, để chiến thắng, nhất thiết phải tạo ra được sức mạnh, ưu thế hơn hẳn kẻ thù, nhất là ta phải đối phó với quân Pháp có ưu thế tuyệt đối hơn ta về xe tăng và không quân trong cuộc đối đầu giữa chủ lực hai bên ở chiến trường Điện Biên Phủ...

Nhưng, lại đúng là sức mạnh tinh thần Việt Nam, là “thế trận lòng dân” mà cốt lõi là tinh thần yêu nước, ý thức dân tộc, ý chí quật cường, quyết chiến, quyết thắng của nhân dân được khơi dậy, quy tụ, được phát huy trong thế trận chung theo mục tiêu chính trị của Đảng, của lãnh tụ Hồ Chí Minh… đó là sức mạnh trước hết, trên hết khởi nguồn, đồng thời cũng là chất xúc tác cực mạnh cho mọi sức mạnh đánh thắng quân xâm lược của dân tộc ta trong Chiến cục Đông Xuân 1953 -1954 nói chung, Chiến dịch quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ nói riêng đạt đến đỉnh cao nhất. Không có sức mạnh tinh thần đó, không có “thế trận lòng dân” đó thì rất khó có Chiến thắng Điện Biên Phủ.

Trong đó, sức mạnh tinh thần, “thế trận lòng dân” của quân và dân ta làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ là sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam hiện đại, một chủ nghĩa yêu nước trong khi kế thừa truyền thống yêu nước từ ngàn xưa để lại đã biết đổi mới phát triển và hấp thu những luồng gió mới của thời đại trong thế kỷ XX đầy sôi động của các phong trào giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng xã hội, giải phóng con người. Đó còn là chủ nghĩa yêu nước Hồ Chí Minh, lại nằm trong cao trào của Cách mạng Tháng Tám và kháng chiến chống Pháp, khi mà những người tham gia kháng chiến hầu hết vừa được giải phóng khỏi cảnh bị áp bức, bị bóc lột và cảnh thống khổ bởi sưu cao, thuế nặng; của bầu không khí ngột ngạt vì nghèo đói xác xơ mà tiêu điểm là nạn đói khủng khiếp năm 1945 ở Việt Nam...

Thế rồi, cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở nước ta đã nổ ra và thành công, làm thay đổi căn bản bộ mặt của đất nước Việt Nam, nhân dân ta đã giành được độc lập, tự do và vô cùng phấn khởi, hân hoan với thành quả mới giành được ấy. Cũng do đó, để bảo vệ chế độ mới, bảo vệ những thành quả của nền độc lập, tự do vừa mới giành được ấy, người dân tự giác chấp nhận mọi hy sinh gian khổ để có được thắng lợi cuối cùng trong cuộc kháng chiến chống Pháp và làm cho tinh thần yêu nước Việt Nam, “thế trận lòng dân” của dân tộc ta đạt tới đỉnh cao, nó có sức mạnh để nhấn chìm và cuốn trôi mọi thế lực cướp nước và bán nước đương thời.

Đặc biệt, Chiến dịch quyết chiến chiến lược Điện Biên Phủ năm 1954 là một chiến dịch lớn, dài ngày, trên địa bàn rừng núi ở cách xa vùng tự do của ta (từ Việt Bắc sang tới Điện Biên Phủ khoảng 200km, từ Thanh - Nghệ - Tĩnh ra tới Điện Biên Phủ khoảng 500-700km). Khó khăn lớn nhất của Quân đội và nhân dân Việt Nam trong Chiến dịch Điện Biên Phủ là đảm bảo hậu cần (riêng gạo cần có khoảng 80 tấn/ngày).

Để giành được thắng lợi, quân và dân ta đã khắc phục nhiều khó khăn do mưa lũ gây nên, chủ động triển khai tuyến vận tải, tiếp tế trên quãng đường dài để bảo đảm cung cấp kịp thời đạn dược, lương thực, thuốc men và lực lượng mới cho chiến dịch diễn ra dài ngày với lượng tiêu thụ, tiêu hao lớn chưa từng có. Theo số liệu từ Hội đồng Cung cấp Trung ương của Mặt trận, trong cả Chiến cục Đông Xuân 1953-1954, ta đã huy động gần 40.000 tấn gạo, hàng nghìn tấn thực phẩm, hơn 500.000 dân công, 23.000 xe đạp thồ, hơn 4.000 thuyền và các lực lượng vận tải khác.

Riêng đối với Chiến dịch Điện Biên Phủ, thực hiện chủ trương “Toàn dân, toàn Đảng và Chính phủ nhất định đem toàn lực chi viện cho Chiến dịch Điện Biên Phủ và nhất định làm mọi việc cần thiết để giành thắng lợi cho chiến dịch này”(II), một cuộc vận động nhân dân về vật chất để chi viện cho tiền tuyến đã diễn ra rầm rộ, rộng lớn nhất trong kháng chiến chống thực dân Pháp.

Với tinh thần “Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng” của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ đầu tháng 12-1953, công tác chuẩn bị cho Chiến dịch Điện Biên Phủ được tiến hành hết sức khẩn trương; từ vùng tự do Việt Bắc, Liên khu 3, Liên khu 4, vùng mới giải phóng Tây Bắc, đến vùng du kích và căn cứ du kích ở đồng bằng Bắc Bộ đều dồn sức người, sức của cho Điện Biên, cả hậu phương hùng hậu một lòng hướng ra mặt trận.

Nhân dân ở các vùng tự do và vùng tạm chiếm đều hăng hái tự nguyện đóng góp thuế nông nghiệp, bán thực phẩm, đóng góp tiền của cung cấp cho bộ đội ở tiền tuyến; nhiều gia đình mang cả thóc giống cung cấp cho bộ đội; cùng với đó là hàng chục vạn dân công và thanh niên xung phong được huy động phục vụ chiến dịch. Đặc biệt, khi địch phá đường, thanh niên xung phong, bộ đội, dân công hoả tuyến lại làm đường, mở thêm đường mới; quân và dân ta đã tận dụng cả đường bộ và đường sông và sử dụng mọi phương tiện vận chuyển từ thô sơ đến hiện đại làm tăng thêm khả năng và khối lượng vận chuyển, tiếp tế…

Mặc dù Pháp đã sử dụng tận lực không quân để phá tuyến đường vận tải, nhưng với tinh thần dũng cảm, quên mình, dân công cùng các chiến sĩ công binh, vận tải đã vô hiệu hoá mọi thủ đoạn của kẻ thù. Dưới sự uy hiếp thường xuyên của máy bay địch, những xe ô tô vận tải vẫn vượt đèo Pha Đin, những chiếc mảng chở từ 2 tạ đến 3 tạ gạo do dân công phụ trách theo dòng Nậm Na vượt hơn 100 ghềnh thác; những đoàn xe đạp thồ, mỗi chiếc chở hàng tạ gạo (cao nhất tới 352kg) vượt hàng trăm km đường đèo dốc ngày đêm chuyển hàng ra tiền tuyến…

Theo thống kê của Tổng cục Hậu cần, số lương thực, thực phẩm được huy động tính tại gốc là 20.056 tấn lương thực, 907 tấn thịt, hàng nghìn tấn thực phẩm. Chỉ tính riêng số được chuyển ra mặt trận là 23.056 tấn gạo, 266 tấn muối, 1.909 tấn thực phẩm. Riêng “nhân dân Tây Bắc đã cung cấp cho tiền tuyến 47% nhu cầu gạo, 43% nhu cầu thịt, 100% rau tươi, 100% thuyền và ngựa được sử dụng, cung cấp 14% số ngày công chủ yếu từ trung tuyến ra tiền tuyến” (III) …

Rõ ràng, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chúng ta đã xây dựng và phát huy được “thế trận lòng dân”, huy động được tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải, cả nước một lòng, toàn dân đánh giặc, với tinh thần toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến… Sự kết hợp huy động khả năng hậu cần tại chỗ và đưa từ hậu phương chiến lược ra đã góp phần cung cấp nhanh chóng các nhu cầu hậu cần cho chiến dịch… Đây là “cái” đã làm cho quân Pháp bị bất ngờ và là một trong những nguyên nhân quan trọng khiến Navarre cùng Bộ chỉ huy của ông ta mắc sai lầm về đối phương và chấp nhận kết cục thảm bại.

Có thể nói: Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng của toàn bộ sức mạnh Việt Nam, cả lực lượng vật chất và tinh thần được phát triển đến đỉnh cao trong kháng chiến chống Pháp và biểu hiện một cách trực tiếp trong sức mạnh quân sự Việt Nam để đủ sức đánh bại sức mạnh quân sự của Pháp. Trong đó, sức mạnh tinh thần, “thế trận lòng dân” làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ chính là sức mạnh của lòng dân Việt Nam, là chủ nghĩa yêu nước đã làm nên cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám và tiếp tục là động lực cho cuộc kháng chiến chống Pháp và Điện Biên Phủ.

Điều đó đã cho thấy vì sao Chiến dịch Điện Biên Phủ có quy mô rất lớn, diễn ra trong một thời gian dài, trên một địa bàn rừng núi xa hậu phương, vận tải, tiếp tế rất khó khăn, thời tiết bất lợi, sinh hoạt của bộ đội Việt Nam rất gian khổ và thiếu thốn. Đặc biệt phải chiến đấu với đối thủ có trang bị mạnh, phải đánh trong điều kiện ác liệt, liên tục căng thẳng... vậy mà, quân và dân Việt Nam vẫn một lòng tin tưởng vào thắng lợi, tin tưởng vào sự lãnh đạo sáng suốt của Chính phủ “Cụ Hồ”; đồng thời cũng phần nào lý giải vì sao người Pháp lại thất bại, người Pháp phải kinh hoàng. Điều mà trong cuộc chiến này, từ Chính phủ Pháp đến những tướng lĩnh cao cấp nhất của họ vẫn chưa thể giải thích được.

Như vậy, nội dung “thế trận lòng dân” trong Chiến thắng Điện Biên Phủ phản ánh sâu sắc quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về vũ trang toàn dân, về vai trò quần chúng nhân dân trong lịch sử; là sự kế thừa, phát triển và nâng lên tầm cao mới truyền thống nghệ thuật quân sự, tư tưởng “trăm họ là binh, toàn dân đánh giặc”, xây dựng “bức thành lòng dân” của dân tộc trong giai đoạn cách mạng mới; đồng thời, thể hiện bản chất, sự vững chắc của thế trận, sức mạnh quốc phòng-an ninh, bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, tư tưởng “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết” của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là sợi chỉ đỏ chỉ đạo xây dựng “thế trận lòng dân” Chiến dịch Điện Biên Phủ, mà còn trong suốt 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Ngày nay, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đan xen. Sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế đã có thêm nhiều nội dung mới, không chỉ giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, mà còn là bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng- văn hóa và an ninh xã hội; giữ vững ổn định chính trị của đất nước, ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc mọi thành quả của cách mạng...

Do đó, “thế trận lòng dân” vẫn là chỗ dựa vững chắc, nguồn sức mạnh chính trị tinh thần của nền quốc phòng toàn dân; là một bộ phận trong thế trận chung của cả nước, gắn kết tất cả các vùng lãnh thổ, các lĩnh vực hoạt động của mọi tầng lớp nhân dân hướng vào mục tiêu bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa.

Cũng do đó, những bài học kinh nghiệm được đúc rút từ Chiến thắng Điện Biên Phủ (trong đó có bài học về “thế trận lòng dân”) đã được khắc sâu vào truyền thống văn hóa quân sự Việt Nam, được các thế hệ người Việt Nam vun đắp, kế thừa và phát triển cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể của đất nước và con người Việt Nam. Đến ngày nay, vấn đề này đã được quân và dân Việt Nam nâng lên một tầm cao mới và sẽ còn tiếp tục hoàn thiện hơn nữa trong tương lai./.




Yêu nước ST.

HỌC VIỆN QUỐC PHÒNG TỔ CHỨC THEO DÕI CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TRỰC TIẾP KỶ NIỆM 70 NĂM CHIẾN THẮNG LỊCH SỬ ĐIỆN BIÊN PHỦ!

     Sáng 07 tháng 5 năm 2024 cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên và chiến sỹ Học viện Quốc phòng phấn khởi, tự hào cùng quân và dân cả nước theo dõi chương trình truyền hình trực tiếp Lễ kỷ niệm 70 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ!
Đến dự và chỉ đạo buổi theo dõi Lễ kỷ niệm có đồng chí Trung tướng Đỗ Văn Bảnh, Bí thư Đảng ủy, Chính ủy Học viện chủ trì. Cùng dự còn có các đồng chí trong Thường vụ Đảng ủy, Ban Giám đốc Học viện, Thủ trưởng các cơ quan, khoa, hệ và toàn thể cán bộ, giảng viên, nhân viên và chiến sỹ trong Học viện tham dự./.


Yêu nước ST.

LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 7 THÁNG 5 NĂM 1958!

     “Lý luận kết hợp với thực hành, học tập kết hợp với lao động”!
Đó là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Sinh viên Việt Nam lần thứ II, năm 1958.

Lời dạy của Người đối với sinh viên Việt Nam diễn ra trong bối cảnh miền Bắc đang thực hiện Kế hoạch 3 năm lần thứ hai (1958- 1960). Cùng với các lĩnh vực khác, trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, góp phần không nhỏ vào việc nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước. Tuy nhiên, cũng có những vấn đề mới trong thực tiễn đặt ra, đòi hỏi phải kịp thời chấn chỉnh, định hướng; Bác đã chỉ rõ: “Lao động trí óc mà không lao động chân tay, chỉ biết lý luận mà không thực hành thì cũng là tri thức có một nửa. Vì vậy, cho nên các cháu trong lúc học lý luận cũng phải kết hợp với thực hành”. Lời dạy của Người chỉ ra phương châm giáo dục đào tạo bao hàm cả lý luận và thực tiễn, lý thuyết với thực hành, Người xác định lao động là quyền, là nghĩa vụ thiêng liêng của mỗi công dân đối với Tổ quốc. Ai cũng phải tùy khả năng của mình mà tự nguyện, tự giác tham gia lao động, góp phần xây dựng nước nhà. Mỗi người phải nhận rõ: Lao động là vinh quang, lao động chân tay hay lao động trí óc đều là vẻ vang, đáng quý. Do vậy, học tập phải kết hợp với lao động, sản xuất...

Học tập và làm theo lời Bác dạy, công tác huấn luyện, đào tạo trong quân đội luôn được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cấp ủy, chỉ huy các cấp quan tâm, lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc với việc ban hành nhiều chỉ thị, nghị quyết chuyên đề lãnh đạo công tác huấn luyện, công tác giáo dục đào tạo và được cụ thể hóa thành 3 quan điểm, 8 nguyên tắc, 6 mối kết hợp trong huấn luyện; trong đó, xác định lý luận liên hệ với thực tiễn, lý thuyết đi đôi với thực hành, lấy thực hành làm chính. Kết hợp chặt chẽ giữa huấn luyện, kiểm tra và diễn tập các cấp có bắn đạn thật để không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Kết quả công tác huấn luyện, đào tạo được xác định là một tiêu chí quan trọng, là thước đo để đánh giá năng lực lãnh đạo, chỉ huy của cấp ủy, chỉ huy các cấp. Bên cạnh việc thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của đội quân chiến đấu, quân đội luôn coi trọng và tiến hành có hiệu quả chức năng đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất trong tình hình mới./.
Môi trường ST.