Thứ Hai, 5 tháng 8, 2024

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Tháng 7 thực hiện tăng lương cơ sở, song lạm phát tăng không đáng kể.

 

Sáng 5-8, dưới sự chủ trì của Thủ tướng Phạm Minh Chính, Chính phủ họp Phiên thường kỳ tháng 7 năm 2024 để thảo luận, cho ý kiến đánh giá về tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2024; tình hình phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công; tình hình triển khai 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; về lãi suất gói tín dụng 120 nghìn tỷ đồng cho vay ưu đãi phát triển nhà xã hội, nhà ở công nhân.

Dự phiên họp có các Phó thủ tướng Chính phủ; các bộ trưởng, thủ tưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ; Phó chủ tịch nước Võ Thị Ánh Xuân; lãnh đạo một số ban của Đảng, các ủy ban, cơ quan của Quốc hội.

Mở đầu phiên họp, Chính phủ dành phút mặc niệm, bày tỏ niềm tiếc thương vô hạn trước sự ra đi của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhà lãnh đạo xuất sắc, kiên trung, có uy tín lớn, trọn đời bền bỉ cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta; tấm gương học tập và làm theo tư tưởng đạo đức phong cách Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Thủ tướng Chính phủ và các đại biểu dự phiên họp cũng chúc mừng đồng chí Tô Lâm được Trung ương bầu giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam với tỷ lệ phiếu bầu đạt tuyệt đối 100%.



Đánh giá tình hình và yêu cầu thảo luận các nội dung phiên họp, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính cho biết, trong tháng 7, nhìn chung tình hình thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường với việc biến động chính trị, cạnh tranh gay gắt giữa các nước lớn, xung đột leo thang; kinh tế toàn cầu phục hồi chậm và thiếu vững chắc song nhờ nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 tiếp tục xu hướng tích cực, đạt kết quả tốt hơn tháng 6, tính chung 7 tháng tốt hơn cùng kỳ trên hầu hết các lĩnh vực; tăng trưởng được thúc đẩy ở cả 3 khu vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm và có thặng dư; 63/63 tỉnh, thành chỉ số phát triển công nghiệp tăng.

Các lĩnh vực chủ yếu của nền kinh tế tiếp tục chuyển biến tích cực; nhiều vấn đề tồn đọng được tập trung tháo gỡ; an sinh xã hội được bảo đảm; các lĩnh vực văn hóa, thể thao, y tế, giáo dục, đào tạo được quan tâm phát triển và có nhiều kết quả tốt; tiếp tục xây dựng nền hành chính liêm chính, vì nhân dân phục vụ; chủ quyền quốc gia, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; đối ngoại được đẩy mạnh; uy tín, vị thế đất nước tiếp tục được nâng lên.

“Trong tháng 7, chúng ta dành nguồn lực lớn để tăng lương cơ sở, song lạm phát tăng không đáng kể”, Thủ tướng nhấn mạnh.



Thủ tướng Chính phủ cho rằng, có được kết quả trên là nhờ sự nỗ lực của các bộ, ngành, địa phương; sự vào cuộc của người dân, doanh nghiệp; sự ủng hộ, giúp đỡ của bạn bè quốc tế; đặc biệt, công tác chỉ đạo điều hành của Chính phủ và các cấp, các ngành, địa phương về cơ bản có kinh nghiệm hơn, chủ động, linh hoạt, phù hợp, sát thực tiễn hơn.

Người đứng đầu Chính phủ cho rằng, bên cạnh kết quả đạt được là cơ bản, vẫn còn những hạn chế, bất cập và khó khăn, thách thức như: Sức ép chỉ đạo điều hành còn cao, nhất là ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tỷ giá; tình hình sản xuất, kinh doanh một số lĩnh vực gặp nhiều khó khăn, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường còn cao; an ninh, trật tự tiềm ẩn rủi ro; kỷ luật, kỷ cương có lúc có nơi còn chưa nghiêm, tình trạng cán bộ, công chức sợ sai, né tránh trách nhiệm...

Tại phiên họp, các thành viên Chính phủ thảo luận đánh giá về tình hình kinh tế - xã hội tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2024; tình hình phân bổ, giải ngân vốn đầu tư công; tình hình triển khai 03 Chương trình mục tiêu quốc gia; về lãi suất gói tín dụng 120.000 tỷ đồng cho vay ưu đãi phát triển nhà xã hội, nhà ở công nhân.

Kết luận phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, từ đầu năm đến nay, các cấp, các ngành, các địa phương đã tập trung triển khai chủ động, quyết liệt, linh hoạt các nhiệm vụ, giải pháp theo các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; đặc biệt đã theo dõi sát, nắm chắc tình hình, xử lý linh hoạt, kịp thời, hiệu quả các vấn đề phát sinh trong ngắn hạn, bảo đảm hài hòa với các nhiệm vụ, giải pháp trong trung và dài hạn.

Nhờ đó, tình hình kinh tế - xã hội tiếp tục xu hướng tích cực, nhìn chung kết quả tháng 7 cao hơn tháng 6 và tính chung 7 tháng tốt hơn so với cùng kỳ năm 2023 trên hầu hết các lĩnh vực. Trong đó, kinh tế tiếp tục đà tăng trưởng tích cực trong cả 3 khu vực: Nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng ổn định; công nghiệp tính chung 7 tháng tăng 8,5%; dịch vụ tiếp tục tăng khá, với tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 7 tháng tăng 8,7%.

Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 7 tháng tăng 4,12% so với cùng kỳ năm ngoái, tăng 0,04% so với tháng 6. Tỷ giá, lãi suất nhìn chung ổn định. An ninh năng lượng, an ninh lương thực được bảo đảm. Xuất khẩu tiếp tục tăng cao, xuất siêu lớn, góp phần bảo đảm cán cân thanh toán…

Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành tiếp tục ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, phấn đấu có thặng dư cao hơn; kiểm soát tốt nợ công, nợ chính phủ, nợ nước ngoài; điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác; giữ ổn định tỷ giá, thị trường ngoại hối; tăng tiếp cận vốn tín dụng, tập trung cho lĩnh vực ưu tiên, phấn đấu tăng trưởng tín dụng cả năm khoảng 15%; tiếp tục giảm lãi suất cho vay; có giải pháp đẩy nhanh thực hiện gói tín dụng nhà ở xã hội 120.000 tỷ đồng.

Thủ tướng Chính phủ đề nghị tập trung làm mới các động lực tăng trưởng truyền thống và thúc đẩy mạnh mẽ các động lực tăng trưởng mới. Trong đó, đẩy mạnh thực hiện các dự án đầu tư công và 3 chương trình mục tiêu quốc gia, với nguyên tắc vốn Trung ương chỉ tập trung các dự án lớn, tránh dàn trải; thúc đẩy đầu tư tư nhân, tăng cường hợp tác công tư, thu hút FDI có chọn lọc; củng cố các thị trường lớn, truyền thống, mở rộng các thị trường mới, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường tiềm năng và điều tra chống bán phá giá đối với hàng Việt Nam; phát triển thị trường, kích cầu tiêu dùng trong nước, cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, thương mại điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt…

Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu theo dõi chặt chẽ diễn biến thiên tai, bão lũ, ứng phó kịp thời, hiệu quả, giảm thiểu đến mức thấp nhất thiệt hại; làm tốt công tác hỗ trợ người dân khắc phục hậu quả thiên tai; bảo đảm xuất cấp gạo kịp thời hỗ trợ kịp thời, không để ai không có chỗ ở, không ai bị đói, rét; không để tình trạng thiếu thuốc, trang thiết bị, vật tư y tế; chuẩn bị tốt cho năm học mới; bảo đảm vệ sinh, an toàn học đường; phòng chống đuối nước ở trẻ em.

Các bộ, ngành chuẩn bị chu đáo phục vụ Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến đến Đại hội lần thứ 14 của Đảng; chuẩn bị đảm bảo chất lượng, tiến độ các Đề án báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư và chuẩn bị kỹ các tài liệu phục vụ Hội nghị Trung ương và Kỳ họp thứ tám, Quốc hội XV.

Giao nhiệm vụ cụ thể cho từng bộ, ngành, từng thành viên Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu, nếu trong quá trình triển khai các nhiệm vụ, giải pháp có những khó khăn, vướng mắc nảy sinh, các bộ trưởng, trưởng ngành phải trực tiếp phối hợp xử lý để đạt các mục tiêu đã đề ra

VẤN ĐỀ XÃ HỘI QUAN TÂM: BÀN VỀ CÁC CUỘC THI HOA HẬU Ở VIỆT NAM!

     Sau 1 đêm, Việt Nam có thêm 2 hoa hậu và 6 á hậu, trong đó người đẹp đến từ Hải Dương, Phạm Thị Ngọc Quỳnh đã xuất sắc vượt qua 38 thí sinh để giành vương miện Hoa hậu Du lịch Việt Nam 2024. Cuộc thi này nhìn chung thành công, đem lại những hiệu ứng tích cực góp phần quảng bá du lịch Việt Nam, tôn vinh những nét đẹp trong văn hóa dân tộc được các người đẹp thể hiện qua các trang phục!

Xung quanh chủ để này, dư luận xã hội cũng có nhiều quan điểm trái chiều khi đặt câu hỏi: Việt Nam cần nhiều hoa hậu, á hậu để làm gì??? Một thắc mắc rất thú vị để các cơ quan quản lý cần nhìn nhận một cách thấu đáo khi những giá trị, đóng góp của các cuộc thi này lan toả ra xã hội tích cực hay tiêu cực.

Vì có nhiều người khó tính than vãn rằng “Việt Nam là quốc gia sản xuất hoa hậu”. Vậy hoa hậu được sản xuất ra lắm để làm gì? có cần thiết hay không? Có dẫn tới việc loạn hoa hậu hay không khi những năm vừa quan nào là hoa hậu hoàn vũ, hoa hậu trái đất, hoa hậu du lịch, hoa hậu môi trường... Ta có cảm giác giống như bội thực và nhiều người còn không nhớ tên hoa hậu hoặc không biết có cuộc thi hoa hậu cho đến khi truyền thông đưa tin công bố giải.

Mặc dù cơ quan quản lý cũng đã có những điều chỉnh kịp thời, sau những ồn ào chạy giải xung quanh 30 cuộc thi hoa hậu năm 2022. Nhưng thực tế cho thấy, số lượng dù có giảm nhưng việc tổ chức nhiều cuộc thi như vậy khiến dư luận không bằng lòng vì cho rằng trong thời buổi "ra ngõ gặp hoa hậu" khi rất nhiều tổ chức, đơn vị đứng ra tổ chức các cuộc thi về nhan sắc.

Hơn nữa, với việc tổ chức nhiều cuộc thi sắc đẹp như vậy, khiên giới trẻ đam mê làm đẹp, mơ mộng trở thành những người đẹp lộng lẫy trên sân khấu hoành tráng. Thậm chí gia đình còn phải dồn hết của cải vốn liếng để cho con làm đẹp với hy vọng con mình sẽ đăng quang… Những hiện tượng như vậy có thể tác động tiêu cực đến nhận thức của các nữ sinh. 

Do đó, một lần nữa rất mong các cơ quan chủ quản phải siết lại các cuộc thi này. Bởi, hạn chế các cuộc thi sắc đẹp cũng chính là 'nâng chất' người đẹp!
Môi trường ST.

Thủ tướng Phạm Minh Chính: Tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả.

 

Chiều 5-8, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì họp với Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và một số bộ, ngành, cơ quan về chính sách tiền tệ.

Theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, 7 tháng đầu năm 2024, bám sát chủ trương của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã chủ động theo sát diễn biến kinh tế trong và ngoài nước để triển khai đồng bộ các giải pháp tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận tín dụng ngân hàng, phục hồi sản xuất, kinh doanh, tăng khả năng hấp thụ vốn, thúc đẩy tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo an toàn hoạt động hệ thống tổ chức tín dụng

 

Đến ngày 31-7, tỷ giá trung tâm ở mức 24.255 VND/USD, tăng 1,63% so với cuối năm 2023, ở mức trung bình thấp và ổn định so với các đồng tiền trong khu vực và trên thế giới. Lãi suất đối với các khoản vay mới và cũ tiếp tục giảm, đến cuối tháng 6-2024, lãi suất cho vay bình quân ở mức 8,3%/năm, giảm 0,96% so với cuối năm 2023. Lãi suất tiền gửi bình quân ở mức 3,59%/năm, giảm 1,08%/năm so với cuối năm 2023.

Tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống phục hồi từ cuối tháng 3 và tăng dần qua các tháng, cao hơn so với mức tăng cùng kỳ năm 2023, đến hết quý II-2024 đạt 6% theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Cuối tháng 7-2024, dư nợ tín dụng gần 14,33 triệu tỷ đồng, tăng 14,99% so với cùng kỳ 2023 và tăng 5,66% so với cuối năm 2023.

Ngân hàng Nhà nước, các bộ, ngành, địa phương phối hợp triển khai các chương trình tín dụng ngành, lĩnh vực như: Chương trình 120 nghìn tỷ đồng cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư; chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm sản, thủy sản, với tổng lũy kế 34,4 nghìn tỷ đồng…


 Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc họp với ngành Ngân hàng về chính sách tiền tệ.

Tại cuộc họp, lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan cho rằng, việc tiếp tục giảm lãi suất cho vay và ổn định tỷ giá, thị trường ngoại hối gặp nhiều khó khăn, thách thức; áp lực lạm phát gia tăng; tăng trưởng tín dụng tại một số địa phương còn thấp; khó khăn trong triển khai một số chương trình, chính sách tín dụng như gói tín dụng 120 nghìn tỷ đồng cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư…

Kết luận cuộc họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, từ đầu năm đến nay, việc chọn thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác là chủ trương phù hợp; Ngân 

Tuy nhiên, theo Thủ tướng Chính phủ, tình hình vẫn có nhiều khó khăn do mặt bằng lãi suất có xu hướng tăng, phải có giải pháp kiềm chế bằng các công cụ ngân hàng; tăng trưởng tín dụng chưa đáp ứng yêu cầu, phải thúc đẩy nhưng yêu cầu lãi suất cho vay phải giữ, thậm chí giảm cho các lĩnh vực ưu tiên... 

Thời gian tới, Thủ tướng Phạm Minh Chính yêu cầu các bộ, ngành liên quan nắm chắc, bám sát tình hình; tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác để thúc đẩy tăng trưởng, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế.

Thủ tướng yêu cầu thực hiện các biện pháp tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách Nhà nước; quyết liệt triển khai chuyển đổi số, áp dụng hóa đơn điện tử trong quản lý thu; triệt để tiết kiệm chi thường xuyên...

Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ đạo thúc đẩy tiêu dùng trong nước; chống buôn lậu, gian lận thương mại; đẩy mạnh thương mại biên giới, khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết và đẩy mạnh đàm phán các FTA mới; thúc đẩy sản xuất trong nước; đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa chuỗi cung ứng...

Người đứng đầu Chính phủ yêu cầu tập trung giữ ổn định tỷ giá, thị trường ngoại hối; tăng tiếp cận vốn tín dụng, tập trung cho lĩnh vực ưu tiên cho các động lực tăng trưởng truyền thống và các động lực tăng trưởng mới; điều hành tỷ giá linh hoạt, gắn với huy động trái phiếu, cung ngoại tệ, thu hút FDI, thúc đẩy xuất khẩu và tiền gửi nước ngoài về; vận động các ngân hàng tiết giảm chi phí để giảm lãi suất cho vay vào các động lực tăng trưởng, dự án phát triển hạ tầng quan trọng, trong đó các Ngân hàng Nhà nước phải tiên phong thực hiện, với phương châm “lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ”.

Về gói tín dụng 120 nghìn tỷ đồng cho vay nhà ở xã hội, Thủ tướng nêu rõ, đây là một chính sách nhân văn làm cho người nghèo có nhà, vì vậy phải có chính sách phù hợp, hợp lý để người dân tiếp cận được gói tín dụng này, nhất là khi 4 Luật về đất đai, nhà ở vừa có hiệu lực.

Thủ tướng tin tưởng, ngành ngân hàng và các bộ, ngành “đã làm tốt rồi thì làm tốt hơn nữa”; phát huy, thúc đẩy những kết quả đạt được, vượt qua khó khăn thách thức để làm tốt hơn trong thời gian tới, góp phần phát triển đất nước nhanh và bền vững.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: XỎ MŨI CIA, DẮT MŨI MẬT THÁM PHÁP, QUA MẶT HOA NAM TÌNH BÁO CỤC - CHÂN DUNG CHIẾN SĨ TÌNH BÁO, ĐIỆP VIÊN HUYỀN THOẠI PHẠM NGỌC THẢO QUA TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH KINH ĐIỂN "VÁN BÀI LẬT NGỬA"!

     Ván bài lật ngửa là bộ phim nhựa trắng đen 8 tập về đề tài gián điệp do Xí nghiệp phim Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Hãng phim Giải Phóng) sản xuất trong những năm 1982-1987!

Bộ phim mô phỏng quãng đời hoạt động của các nhân vật tình báo có thật ngoài đời của Đảng Lao động Việt Nam hoạt động trong lòng địch trong kháng chiến chống Mỹ, đặc biệt là tình báo viên Phạm Ngọc Thảo. Bộ phim do Nguyễn Trương Thiên Lý (Trần Bạch Đằng) viết kịch bản, do Khôi Nguyên (Lê Hoàng Hoa) làm đạo diễn, có sự tham gia diễn xuất của các diễn viên Nguyễn Chánh Tín (vai Nguyễn Thành Luân), ca sĩ Thanh Lan và Thúy An (vai nữ điệp viên tình báo Thùy Dung – vợ của Nguyễn Thành Luân).

Bộ phim được sản xuất vào năm 1982, đất nước vừa mới giải phóng được vài năm, điều kiện còn vô vàn khó khăn thiếu thốn, khó khăn đủ thứ, thiếu thốn đủ thứ, vậy mà vẫn sản xuất và cho ra mắt được bộ phim xuất sắc như thế này. Bộ phim như một tượng đài kinh điển, đứng sừng sững suốt 40 năm, mà cho đến tận bây giờ chưa có một tác phẩm điện ảnh nào đủ sức ngang tầm với bộ phim này. 

Đừng thấy đây là phim đen trắng mà đánh giá thấp bộ phim này, nên nhớ thời điểm nó sản xuất, chưa có bất kỳ cái gì gọi là kỹ xảo điện ảnh hay CGI, hay diễn viên đóng thế, tất cả đều phải làm thủ công, diễn thật, làm thật, ăn thật, tất cả đều phải cố gắng hết sức bằng thực lực của mình. Phim hay bởi kịch bản cực hay, chặt chẽ, cuốn hút. Những màn đối đầu nảy lửa đầy kịch tính, những đoạn hội thoại dò xét nhau hồi hộp gay cấn, ý tại ngôn ngoại, những nút thắt mở tình tiết hợp lý, cắt dựng phim, chuyển cảnh mượt mà, xuất sắc. Phim kết hợp cả những đoạn phim tư liệu lịch sử nên cho cái nhìn chân thật, không khí phim căng thẳng hồi hộp gấp gáp khiến người xem như được sống trong thời khắc lịch sử đó. 

Vào thời điểm đó, Ván bài lật ngửa phô diễn tất cả những trang thiết bị, xe cộ tối tân, sành điệu nhất, những chiếc xe hơi đắt tiền, bóng loáng, mui trần, nếu để so sánh với thời đại ngày nay thì nó phải tương đương với những chiếc siêu xe 30-40 tỷ. Vào thời điểm đó mà đã huy động được trực thăng, máy bay, tăng thiết giáp, xe chở quân, súng đạn, bom rơi đạn nổ, vô cùng hoành tráng chân thật để đóng phim, những thiết bị tối tân nhỏ gọn như máy nghe lén, thiết bị chụp ảnh siêu nhỏ, đủ thứ cũng được đưa vào để làm tăng tính chân thật cho phim. 

Phim ảnh thời đó cũng tỏ ra rất thoáng, các diễn viên nam nữ hôn nhau cuồng nhiệt, bikini 2 mảnh phô diễn hết đường cong của các nữ diễn viên, thời đó chưa có internet như bây giờ, không phải lúc nào cũng có thể ngắm được những đường cong tuyệt mỹ, khúc nào ra khúc đấy như vậy. Các diễn viên nữ chính vô cùng xinh đẹp, vẻ đẹp phồn thực, ấn tượng với cô nhà báo nữ Helene Fanfani do diễn viên Lan Chi thủ vai. Ngoài ra còn có diễn viên thủ vai Thùy Dung, và nhất là người vào vai Trần Lệ Xuân, ghê gớm, đanh đá, đáo để, bốc đồng, góp một phần không nhỏ dìm chết chế độ ngụy quyền VNCH bằng những lời lẽ sôi sục đổ dầu vào lửa. 

Phim cũng có cái nhìn khá khách quan về chế độ VNCH thời kỳ Diệm Nhu. Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu không phải là những kẻ cục súc võ biền mà là những chính trị gia lão luyện, những bộ óc sừng sỏ, với những toan tính cẩn thận, luôn luôn nghi ngờ tất cả, nhưng cuối đời lại phạm phải hết sai lầm này đến sai lầm khác. Phim cũng lý giải rất rõ ràng, tại sao chế độ phi nghĩa VNCH chắc chắn phải sụp đổ, tại sao Diệm Nhu phải c.h.ế.t, nhận viện trợ của Mỹ, dựa vào Mỹ, mà dám bật lại Mỹ, thì chỉ có một kết cục, không còn con đường nào khác. Ngô Đình Nhu và Nguyễn Thành Luân vừa là đối thủ vừa là bạn bè của nhau, vừa đối đầu nhau, vừa tôn trọng nhau. Diễn viên Lâm Bình Chi vào vai Ngô Đình Nhu một cách xuất thần, thâm trầm, kín đáo, sâu sắc, lạnh lùng tàn nhẫn dứt khoát. 

Đạo diễn cũng rất chăm chút các khung hình, không chỉ các cảnh hành động, bắn súng, đấu trí, phản gián mà đạo diễn còn rất coi trọng vấn đề văn hóa, những phòng trà quán bar, những bản nhạc xưa, được những điệu múa cung đình ở Lào, Campuchia, những cung điện đền đài, thánh đường cầu nguyện, những buổi lễ của mỗi tôn giáo khác nhau, những sắc màu lễ hội của các dân tộc Tây Nguyên cũng được đạo diễn rất chú trọng trong phim. 

Không thể không kể đến linh hồn của bộ phim đó là cố diễn viên NSƯT Nguyễn Chánh Tín, bây giờ điện ảnh Việt Nam kiếm đâu ra được diễn viên có được cái thần thái như nghệ sĩ Nguyễn Chánh Tín ngày ấy. Dáng người dong dỏng cao, mũ phớt, áo măng tô, con nhà võ, tóc rẽ ngôi bồng bềnh lãng tử, lạnh lùng, quyết đoán, tỉnh táo phán đoán, nói năng từ tốn thuyết phục, điềm đạm tự tin, bật lửa châm điếu thuốc cũng đầy chất nghệ sĩ. Khung cảnh đầu phim, khi Nguyễn Thành Luân bước ra từ chiếc ô tô, khoác măng tô, đội mũ phớt, đi vào rừng dưới lá cây rơi rào rạc, trong ánh chiều tà, có lẽ là một phân cảnh kinh điển nhất của điện ảnh cách mạng Việt Nam.  

Nguyễn Chánh Tín thể hiện xuất sắc nhà tình báo Phạm Ngọc Thảo, một con người, có lẽ chăng nên được xếp vào top 10 tình báo viên xuất sắc nhất mọi thời đại. Hoạt động một mình đơn tuyến, độc lập tác chiến, đi giữa rừng gươm và biển giáo, giữa muôn trùng vây, thập diện mai phục, mà vẫn hiên ngang bất khuất, đi thẳng vào lòng địch, tung hoành ngang dọc. Đối đầu với những đối thủ sừng sỏ, cả tình báo phòng nhì Pháp, Cục tình báo Trung ương Mỹ CIA, rồi cả Hoa Nam tình báo cục Trung Quốc, Sở mật vụ của VNCH, rồi có cả các đối tượng thành phần khác như Cao Miên, Fulro, đôi khi còn bị ám sát nhầm bởi chính các chiến sĩ của mình (do các chiến sĩ của mình không biết), vậy mà Đại tá Nguyễn Thành Luân - Phạm Ngọc Thảo vẫn bình tĩnh quyết đoán khôn khéo, xử lý hết tất cả mọi công việc một cách bình thản, vừa có lợi nhất cho sự nghiệp cách mạng, vừa cứu được các chiến sĩ cách mạng khỏi tù đày, vừa chuyển được những tin tức mật báo cho cách mạng, vừa lấy được sự tin tưởng của chính quyền tay sai VNCH, vừa không bị các đối thủ khác nghi ngờ phát giác thân phận lai lịch của mình.

Đỉnh cao nhất của nghề tình báo có lẽ là thực hiện đảo chính, thay đổi cả chế độ của quân địch, chia rẽ, gây rối loạn nội bộ hàng ngũ của quân địch. Một mình Đại tá Phạm Ngọc Thảo thực hiện những kế sách mang tầm vóc chiến lược, quyết định cục diện chiến tranh, ngang với một đạo quân hàng vạn người. Xem phim mới biết được, hòa bình, độc lập, thống nhất đất nước, không phải tự nhiên mà có được, không ai mang đến cho, mà phải tự chúng ta đứng lên dành lấy bằng máu của mình, máu của hàng triệu người Việt Nam, của những anh hùng thương binh, liệt sĩ đã đổ xuống để có được nền hòa bình, độc lập, tự chủ, thống nhất như ngày hôm nay. 

Các bạn trẻ hiện nay, có lẽ sinh ra trong thời bình nên mặc nhiên hòa bình là điều đương nhiên phải có. Nhưng để có được nền hòa bình chưa bao giờ là dễ dàng. Cuộc sống chưa bao giờ dễ dàng, nếu bạn thấy nó dễ dàng thì đó là có người đã thay bạn gánh vác phần khó khăn đó. 

Phim đôi khi hơi khó xem, do kịch bản lời thoại của các diễn viên đôi khi thêm vào nhiều từ tiếng Tây, cả Anh, cả Pháp, rồi cả tiếng Hoa, kiến thức dữ liệu lịch sử rất nhiều làm bạn choáng ngợp, bạn nên hết sức tập trung chăm chú theo dõi, lắng nghe lời thoại, kết hợp với cả việc tra cứu lịch sử, để hiểu rõ hơn mới thấy đây là một bộ phim cực hay. 

40 năm trở lại đây cho đến hiện nay, 40 năm rồi đấy, đời người được mấy cái 40 năm. Phim ảnh Việt Nam bây giờ đang làm gì, ngoài mấy bộ phim truyền hình và điện ảnh chiếu rạp quanh đi quẩn lại yêu đương nhăng nhít, hài nhảm vớ vẩn, tình tiết drama, tiểu tam giật chồng, đánh ghen lố lăng, mẹ chồng nàng dâu, LGBT, sốc, sếch, sến, sẩm, câu view lăng nhăng.

Có thể hiện nay phim ảnh Việt Nam về máy móc thiết bị quay phim tối tân hơn, phim ảnh sắc nét hơn, nhưng chẳng thể khỏa lấp nổi sự bế tắc đến quẩn quanh, nhạt nhẽo đến nhàm chán của phim ảnh Việt Nam hiện nay. Đã thế thì các hội nhóm người yêu phim Việt, fanpage của Đài Truyền hình trên mạng xã hội lại cứ thích tung hô nhau, vuốt ve nhau, nâng bi nhau, khen ngợi nhau, quảng cáo con hát mẹ khen hay, ối giời ơi phim hay quá, xúc động quá, xuất thần quá, hết lước chấm, bla... blo vân vân mây mây các kiểu, nhạt như nước ốc, không thể chịu nổi với các bạn trẻ, thiếu niên nhi đồng trình độ cảm thụ non và xanh như tàu lá chuối vậy. 

Đến bao giờ điện ảnh Việt Nam mới có một bộ phim đủ tầm vóc như Ván bài lật ngửa được ra rạp. Cần gì phải remake làm lại phim ở đâu xa, cần gì phải lấy bản quyền phim của nước ngoài. Cứ lấy kịch bản phim Ván bài lật ngửa làm lại cũng là quá tốt rồi. 

Lịch sử Việt Nam với hàng nghìn năm dựng nước giữ nước, trăm năm đối đầu với những cường quốc siêu cường hàng đầu thế giới, đánh Mỹ, chống Pháp, hất cẳng Nhật, diệt Ngụy, phang Tàu, cứu Cam, hàng trăm trận đánh, oai hùng biết mấy, hàng trăm anh hùng, oanh liệt biết bao. Chất liệu lịch sử phong phú biết bao, ngồn ngộn những tư liệu lịch sử với hàng trăm ngàn câu chuyện, nhân vật anh hùng, có thể chuyển thể thành hàng vạn kịch bản phim, hàng vạn bộ phim điện ảnh, hấp dẫn mãn nhãn đẹp mắt kịch tính, vô cùng phong phú mà không bộ phim nào giống bộ phim nào. 

Thế nhưng hiện nay, không ai chịu làm phim ảnh về đề tài lịch sử chiến tranh cách mạng. 

Truyền hình nhà nước không làm
Điện ảnh tư nhân không làm
Công ty cổ phần phim không làm
Vậy ai sẽ làm. Bây giờ chúng ta không làm thì còn định đến bao giờ chúng ta mới làm. 

Ai cũng cho rằng trách nhiệm với lịch sử của đất nước là trách nhiệm của người khác, không phải trách nhiệm của tôi. 

Nếu bây giờ chúng ta không làm thì đành phải để cho các nước khác làm phim về chiến tranh Việt Nam cho chúng ta xem thôi.

Đương nhiên, nước ngoài làm phim về chiến tranh Việt Nam thì phải theo góc nhìn của họ, theo quan điểm của họ. Áp đặt về văn hóa, thay đổi về nhận thức, tự diễn biến, tự chuyển hóa là từ đây chứ từ đâu nữa.

Đọc hàng nghìn trang sách lịch sử cũng chẳng thể bằng xem một bộ phim. Phim ảnh lịch sử chính là cách truyền tải nhanh nhất, ngắn nhất thông điệp lịch sử đến khán giả. Phim ảnh lịch sử gieo vào lòng người xem lòng tự hào dân tộc, khơi dậy tinh thần tự tôn dân tộc, đoàn kết dân tộc, gắn kết quốc gia, giúp đất nước vượt qua khó khăn, đương đầu thử thách trong thời kỳ đầy rẫy những biến cố hiện nay./.
Yêu nước ST.

"TIN VUI" CHO TỔ CHỨC KHỦNG BỐ VIỆT TÂN, PHẢN ĐỘNG LƯU VONG!

     Tiếp tục chương trình làm việc tại Hoa Kỳ từ ngày 31/7 - 4/8, Thượng tướng Trần Quốc Tỏ, Ủy viên Trung ương Đảng, Thứ trưởng Bộ Công an đã thăm và làm việc với đối tác an ninh điều tra Hoa Kỳ (FBI), thăm và làm việc tại Học viện FBI, nhân dịp FBI kỷ niệm 116 năm thành lập (26/7/1908 -28/7/2024)!

Thay mặt lãnh đạo Bộ Công an, Thứ trưởng Trần Quốc Tỏ gửi lời chúc mừng lãnh đạo, nhân viên FBI, cùng đánh giá những kết quả mà hai bên đã triển khai trong hợp tác đấu tranh phòng chống tội phạm, thực thi pháp luật, đảm bảo an ninh trật tự của mỗi nước.

Sau khi Bộ Công an Việt Nam và FBI ký kết Bản ghi nhớ về hợp tác phòng chống tội phạm xuyên quốc gia vào năm 2019, đến nay đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, xử lý hơn 300 yêu cầu trao đổi thông tin tội phạm của FBI liên quan đến đấu tranh chuyên án, hỗ trợ điều tra, truy tố, xét xử tội phạm. Đặc biệt, Bộ Công an Việt Nam cũng đã hỗ trợ Hoa Kỳ xử lý 17 đề nghị phong tỏa tài khoản giá trị hơn 600.000 USD…

Nhằm tiếp tục nâng cao hiệu quả quan hệ hợp tác giữa FBI và Bộ Công an Việt Nam, Thứ trưởng Trần Quốc Tỏ đề nghị hai bên tiếp tục thực hiện có hiệu quả Bản ghi nhớ về hợp tác phòng chống tội phạm xuyên quốc gia; FBI cần hỗ trợ tương xứng cho phía Việt Nam đối với các yêu cầu xác minh phục vụ công tác điều tra, làm rõ tội phạm của Việt Nam; hai bên thúc đẩy sớm ký kết Hiệp định Tương trợ tư pháp về hình sự, Hiệp định Dẫn độ, Hiệp định về Chuyển giao người bị kết án phạt tù; Bộ Công an Việt Nam và FBI tăng cường trao đổi đoàn các cấp để phục vụ hiệu quả công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, trong đó có tội phạm khủng bố, tội phạm chống Nhà nước Việt Nam...

Nếu Hiệp định dẫn độ tội phạm giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được ký kết, các tổ chức khủng bố Việt tân, phản động sẽ hết đường chống phá Nhà nước Việt Nam./.
Yêu nước ST.

Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương Nguyễn Phú Trọng - Kiến trúc sư tạo dựng cơ đồ đất nước

 

Đảng ta, nhân dân ta, đất nước ta đã phải vĩnh biệt nhà lãnh đạo kiên trung, một người cộng sản mẫu mực, trí tuệ, bản lĩnh, suốt đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Dẫu biết rằng sự ra đi của Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương Nguyễn Phú Trọng cũng là quy luật của tạo hóa nhưng nhân dân ta, từ già, trẻ, gái, trai ở khắp mọi miền Tổ quốc đều trào dâng xúc động, vô vàn yêu kính, tiếc thương!

Có biết bao những nhận xét với sự tôn quý, trân trọng đối với Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương Nguyễn Phú Trọng về tấm gương cần - kiệm - liêm - chính, về sự khiêm tốn, đôn hậu, gần gũi, về hình ảnh mẫu mực trong việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh; về bản lĩnh, trí tuệ trong đổi mới, sáng tạo của một nhà lý luận, nhà chính trị xuất sắc, tất cả vì nhân dân, vì đất nước!

Sự nghiệp đổi mới đang được đẩy mạnh và đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế quốc tế như ngày nay. Đó là kết quả của sự đồng lòng, chung sức của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; trong đó, có sự đóng góp quan trọng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với những tư tưởng chỉ đạo, quyết sách sáng suốt và lãnh đạo việc tổ chức thực hiện hiệu quả.

Vậy nên có thể nói: Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương Nguyễn Phú Trọng là kiến trúc sư kiến tạo xây dựng cơ đồ đất nước Việt Nam trong thời đại mới. Hành trình hơn 55 năm công tác của đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã thể hiện rõ điều đó.

Tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Hà Nội, Đồng chí được phân công về Tạp chí Cộng sản. Qua hơn 20 năm công tác ở cơ quan lý luận hàng đầu của Đảng, Đồng chí đã trưởng thành nhanh chóng. Từ biên tập viên, Đồng chí từng bước được đề bạt là Phó Trưởng ban, Trưởng ban Xây dựng Đảng, Ủy viên Ban Biên tập, Phó Tổng Biên tập và Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản. Với sự cố gắng học tập, rèn luyện không ngừng, bút lực của Đồng chí ngày càng được nâng tầm với nhiều tác phẩm báo chí xuất sắc, ấn tượng. Đồng chí đã có nhiều đóng góp trong việc nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn khi đất nước ta bước vào thời kỳ đổi mới. Đó là những nội dung quan trọng về đổi mới tư duy, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp; tăng cường công tác xây dựng Đảng, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại. Có nhiều bài đăng trên Tạp chí Cộng sản thời kỳ ấy được bạn đọc coi như “những dấu ấn nổi bật” về quan điểm đổi mới, về những phân tích làm sâu sắc các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng.

Thời gian 08 năm làm Phó Bí thư và Bí thư Thành ủy Hà Nội, Đồng chí đã vận dụng những những kiến thức và trình độ về lý luận chính trị để cùng tập thể Thành ủy lãnh đạo toàn diện các hoạt động của Thủ đô, đưa Thành phố Hà Nội đạt nhiều kết quả tốt đẹp và qua đó tích lũy nâng cao khả năng lãnh đạo toàn diện công tác xây dựng Đảng và phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Qua 06 năm làm Chủ tịch Quốc hội tại hai nhiệm kỳ của Quốc hội, với chức năng, nhiệm vụ người đứng đầu, cùng với tập thể Đảng đoàn, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các ủy ban và các cơ quan của Quốc hội,... đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã có đóng góp to lớn trong việc cải tiến, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Gần đây nhất, trước khi vĩnh biệt chúng ta, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã để lại cuốn sách quý “Quốc hội trong tiến trình đổi mới đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Đây là một báu vật quý giá, thiết thực hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Tổng tuyển cử Quốc hội Việt Nam.

Hội tụ những phẩm chất đạo đức tốt đẹp và cao quý của người cộng sản mẫu mực, từ năm 2011 đến nay, trong ba nhiệm kỳ là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Quân ủy Trung ương, Đồng chí đã có đóng góp quan trọng trong việc hoàn thiện và từng bước hiện thực hóa đường lối đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Là hạt nhân lãnh đạo, chỉ đạo công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng một cách quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả, Đồng chí đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, củng cố, tăng cường đoàn kết trong Đảng và hệ thống chính trị, thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. Đồng chí đặc biệt quan tâm chỉ đạo xây dựng Nhà nước và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đồng chí chỉ đạo quyết liệt cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, coi đó là việc làm cần thiết, tất yếu, một xu thế không thể đảo ngược. Kết quả của cuộc đấu tranh này trong thời gian qua đã được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá cao, bạn bè quốc tế ghi nhận.

Là nhà lãnh đạo mẫu mực đồng thời là nhà lý luận chính trị suất sắc, tất cả các văn kiện đại hội Đảng những khóa gần đây, cũng như các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đều được Đồng chí chỉ đạo, định hướng những nội dung căn cốt nhất. Những quan điểm, tư tưởng của Đồng chí không ngừng hoàn thiện và mang tầm lý luận sâu sắc trên rất nhiều lĩnh vực và được xuất bản thành những cuốn sách quý. Đó là những tác phẩm quý giá đề cập đến các vấn đề: công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực; xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát triển phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng trong thời kỳ mới; xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam”, v.v.

Với trọng trách là Bí thư Quân ủy Trung ương, Đồng chí thường xuyên quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo thể hiện tư tưởng nhất quán xuyên suốt của Đảng về mục tiêu, phương hướng trong xây dựng và hoạch định đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng và quán triệt thực hiện trong toàn quân đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Điểm đột phá, cốt lõi trong tư duy của đồng chí Tổng Bí thư chính là tư tưởng “Bảo vệ nền độc lập, tự chủ của đất nước phải gắn với bảo vệ hòa bình”, bởi hòa bình được coi là giá trị thiêng liêng “Bảo vệ môi trường hòa bình, ổn định để đất nước phát triển”. Nội dung những chỉ đạo của Bí thư Quân ủy Trung ương là kế thừa truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam; đồng thời, đúc rút những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn phong phú, sinh động, thể hiện sự sâu sát, quyết liệt, toàn diện và đầy sức thuyết phục. Những quan điểm chỉ đạo của Tổng Bí thư, Bí thư Quân ủy Trung ương là định hướng quan trọng để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện đường lối quân sự, chiến lược quốc phòng Việt Nam đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam, xây dựng cơ đồ đất nước Việt Nam trong thời kỳ mới. Đồng thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng luôn dành sự quan tâm sâu sắc đến lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; chăm lo xây dựng Quân đội, Công an vững mạnh, đoàn kết gắn bó. Đồng chí thường xuyên căn dặn lực lượng vũ trang phải thấm nhuần, học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, lấy “Danh dự là điều thiêng liêng cao quý nhất”, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, “dựa vào dân mà làm việc”, “phải thực sự trung thành, tôn kính, thương yêu dân”, gắn bó mật thiết với nhân dân, bảo vệ lợi ích của nhân dân, phải làm cho dân ngày càng tin hơn, giúp đỡ nhiều hơn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang tinh, gọn, mạnh, thực sự trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới đạt nhiều kết quả quan trọng; lực lượng Công an, lực lượng Quân đội đoàn kết, phối hợp chặt chẽ, thực sự là thanh kiếm và lá chắn, hai cánh của một con chim, bảo vệ giữ gìn hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.

Sự tận tâm, tận hiến vì nước, vì dân, vì chủ nghĩa xã hội của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là tấm gương mẫu mực, sáng ngời về bản lĩnh, tinh thần nhiệt huyết cách mạng, đạo đức trong sáng, không chỉ đồng bào, chiến sĩ cả nước mà rất nhiều nhà lãnh đạo và nhân dân trên thế giới suy tôn, quý trọng. Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres khẳng định: “Ông Nguyễn Phú Trọng là nhà lãnh đạo có vai trò then chốt trong lịch sử đương đại của Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam tiếp tục con đường phát triển mạnh mẽ trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh hàng đầu thế giới và là một đối tác quan trọng của Liên hợp quốc”. Điện chia buồn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc viết: “Đồng chí Nguyễn Phú Trọng là nhà Mác-xít kiên định, là vị lãnh đạo vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhân dân Việt Nam. Đồng chí đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp của Đảng và Nhà nước Việt Nam, có những đóng góp kiệt xuất cho công cuộc đổi mới và sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam cũng như phong trào xã hội chủ nghĩa trên thế giới”. Thư của Tổng thống Nga Vladimir Putin viết: “Đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã hiến dâng cả cuộc đời để phụng sự Tổ quốc. Qua nhiều năm công tác trên các cương vị trọng trách của Nhà nước và Đảng, đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã nhận được sự kính trọng sâu sắc của người dân Việt Nam và có uy tín lớn trên trường quốc tế. Nước Nga sẽ nhớ đến Tổng Bí thư như một người bạn thực sự có đóng góp cá nhân to lớn cho việc thiết lập và phát triển quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa Moskva và Hà Nội”. Thư của Đại tướng Raúl Castro Ruz và Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba, Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba Miguel Díaz Canel-Bermúdez viết: “Cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Nguyễn Phú Trọng là di sản vô giá cho thế hệ mai sau. Những cống hiến của Đồng chí về vai trò của Đảng Cộng sản, về sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tầm nhìn của Đồng chí về quan hệ quốc tế trong bối cảnh hiện nay là những đóng góp nổi bật vào công

cuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội tại Việt Nam”. Tổng Bí thư Đảng Lao động Mexico (PT) Alberto Anaya Gutiérrez  khẳng định: “Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng không chỉ là một trong những nhà lãnh đạo xuất sắc của Việt Nam trong nhiều thập kỷ qua, mà còn là một nhà lý luận thiên tài hiếm hoi trong giai đoạn lịch sử chứng kiến nhiều biến động như hiện nay. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phát huy cao độ việc kết hợp chủ nghĩa Marx-Lenin với sự nghiệp cách mạng. Tầm nhìn và phong cách lãnh đạo của Tổng Bí thư không chỉ là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam, mà còn mang lại nhiều bài học quý báu cho phong trào cách mạng thế giới”. Báo New York Times, ngày 19/7/2024 viết: “Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là một nhà lãnh đạo liêm khiết, giản dị. Dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Việt Nam đã nâng cao uy tín trên trường quốc tế và là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất châu Á. Trong nhiệm kỳ của Ông, các siêu cường lớn trên thế giới đã tích cực xây dựng mối quan hệ với quốc gia Đông Nam Á này”, v.v.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, một trí tuệ lớn, tài năng lớn của cách mạng Việt Nam, nhà tư tưởng, nhà văn hóa, ngọn cờ lý luận của Đảng, người học trò xuất sắc không ngừng học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc ta, sống trọn cuộc đời vì nước, vì dân. Dù đã đi xa, nhưng tấm gương nhân cách trong sáng, lòng tận tụy với đất nước, trí tuệ minh triết của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sẽ luôn là tấm gương cho các thế hệ người Việt Nam noi theo.

 

Chiến thắng trận đầu 60 năm trước và bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam

 

Cách đây đúng 60 năm, Mỹ dựng lên cái gọi là "sự kiện vịnh Bắc Bộ", bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc lần thứ nhất.

Chiến thắng trận đầu ngày 2/8 và 5/8/1964 đã đi vào lịch sử là trận đánh oanh liệt của quân và dân miền Bắc. Nòng cốt là bộ đội Hải quân và Phòng không, những người lính Bộ đội Cụ Hồ đã đáp trả hành động khiêu khích của đối phương bằng trí tuệ, bản lĩnh và lòng quả cảm.

Lạch Trường, Thanh Hóa, 60 năm trước, các tàu phóng lôi và tàu tuần tiễu của Hải quân Việt Nam đã bí mật hành quân đến đây, bắt đầu trận chiến đánh đuổi tàu khu trục Maddox.

Do rất cần một cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc, để ngăn chặn sự chi viện cho chiến trường miền Nam, từ tháng 3/1964, Mỹ cho tàu khu trục tuần tiễu ven biển miền Bắc. Đỉnh điểm là vào cuối tháng 7, tàu khu trục Maddox đã xâm phạm nghiêm trọng hải phận nước ta.

"Tháng 7, tàu Mỹ hoạt động rất gần bờ. Ngày 31, chúng tôi đã đánh tàu biệt kích vào đánh Hòn Mê. Chính vì trận hôm đó, chúng tôi có một khí thế để vào trận ngày mùng 2, đánh tàu khu trục Maddox", ông Cao Trọng Đoan, Pháo thủ, Tàu 142 (năm 1964), chia sẻ.

Với việc dựng lên "sự kiện Vịnh Bắc Bộ" vu cáo hải quân Bắc Việt Nam tấn công tàu khu trục trên vùng biển quốc tế, ngày 5/8/1964, thanh gươm chiến tranh đã rút ra khỏi vỏ. Mỹ đã bắt đầu cuộc chiến tranh phá hoại quy mô lớn tấn công vào miền Bắc dọc theo bờ biển từ Quảng Bình đến Quảng Ninh.

"Chúng tôi có gì đâu, 6 khẩu pháo 88. Máy tính K440 từ thời cổ lỗ sĩ, vừa tính chậm, vừa tính sai. Đạn bắn 10 quả thì may ra nổ được 5 - 6 quả. Nhưng trận đó, tôi nghĩ là một trận phải nói là xuất sắc", ông Phạm Khắc Định, Tiểu đoàn Phòng không 217 (năm 1964), cho hay.

"Lực lượng hải quân của chúng ta lúc bấy giờ, nếu so với đối phương thì ta còn nhỏ bé. Lực lượng phòng không cũng không phải mạnh. Thế nhưng chúng ta biết chọn thời cơ, biết tính toán cách đánh. Chúng ta đã bắn rơi các loại máy bay hiện đại lúc bấy giờ. Đây là điều rất quý, nó sẽ thúc đẩy, nhân rộng, làm niềm tin, làm chỗ dựa cho các trận đánh tiếp theo", Đại tướng Phan Văn Giang, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, nhận định.

Chiến thắng trận đầu mãi mãi là biểu tượng của ý chí kiên cường, bất khuất của dân tộc Việt Nam, là sự khẳng định ý chí dám đánh, quyết đánh và biết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của bộ đội Hải quân, bộ đội Phòng không - Không quân nói riêng và toàn quân, toàn dân ta nói chung.

 

XÂY DỰNG TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH, CỦNG CỐ NỀN TẢNG VỮNG CHẮC CỦA ĐẢNG TRONG BỐI CẢNH MỚI

 

Tổ chức cơ sở đảng là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối giữa Đảng và nhân dân, trực tiếp truyền tải, triển khai các nghị quyết của Đảng, vận động quần chúng tham gia vào quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Đồng thời là nơi tiếp nhận, tập hợp ý kiến, nguyện vọng của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Do đó, xây dựng hệ thống tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh là yếu tố căn cốt bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bài viết đi sâu phân tích vai trò của xây dựng tổ chức cơ sở đảng với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong bối cảnh hiện nay.
1. Mở đầu
Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền là sự phản ánh quy luật lịch sử khách quan cách mạng Việt Nam và thể hiện sự tin tưởng, giao phó của nhân dân đối với Đảng. Vị thế này không chỉ khẳng định sức mạnh, uy tín của Đảng mà còn tạo ra những điều kiện thuận lợi để Đảng thực hiện mục tiêu, lý tưởng của mình. Điều này đã được thực tiễn chứng minh qua các giai đoạn lịch sử.
Là Đảng duy nhất cầm quyền, tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) giữ vai trò là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở, là cầu nối quan trọng giữa Đảng và nhân dân. TCCSĐ là cấp trực tiếp tổ chức triển khai đường lối, chủ trương của Đảng vào thực tiễn, đồng thời phản ánh tâm tư, nguyện vọng của quần chúng lên cấp trên. TCCSĐ có vai trò quan trọng trong việc trực tiếp định hướng dư luận xã hội, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
2. Vai trò của xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh với bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
TCCSĐ lãnh đạo quần chúng thực hiện các nhiệm vụ chính trị và có trách nhiệm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân và có vai trò quan trọng trong việc giáo dục, rèn luyện quần chúng để phát triển đảng, kết nạp và sàng lọc đảng viên, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cho Đảng và hệ thống chính trị, bảo đảm tính tiên phong và trong sạch của Đảng. Bởi vậy, chất lượng của hệ thống TCCSĐ có ảnh hưởng quyết định năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng và uy tín của Đảng với nhân dân.
Thực tiễn đã khẳng định vai trò đặc biệt quan trọng của hệ thống TCCSĐ trong việc hiện thực hóa đường lối, chủ trương của Đảng. Thông qua các TCCSĐ, đường lối của Đảng được cụ thể hóa, tác động đến toàn xã hội. Sự đổi mới và kết hợp hiệu quả các phương thức lãnh đạo đã tăng cường hiệu lực lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng.
Trong các thời kỳ cách mạng, Đảng ta luôn đặc biệt quan tâm củng cố, nâng cao chất lượng TCCSĐ bằng việc ban hành các quy định về chức năng, nhiệm vụ, tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát... góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu nhiệm vụ cách mạng.
TCCSĐ là nền tảng của Đảng, là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, do đó nâng cao chất lượng TCCSĐ là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên.
Sức mạnh và sự trong sạch của TCCSĐ là sự cộng hưởng sức mạnh của tổ chức và từng đảng viên. Đảng do các cá nhân đảng viên tạo nên, từng đảng viên mạnh sẽ làm cho tổ chức mạnh và tổ chức mạnh sẽ tạo môi trường thuận lợi để mỗi đảng viên phát huy năng lực. Đảng ta luôn chú trọng xây dựng tổ chức chặt chẽ, khoa học, đồng thời không ngừng rèn luyện, nâng cao phẩm chất, năng lực của đội ngũ và từng cán bộ, đảng viên. Việc lựa chọn, bố trí cán bộ lãnh đạo được thực hiện cẩn trọng, nhằm tạo ra những tập thể đồng bộ, hiệu quả.
Tổ chức cơ sở Đảng mạnh là do thực hành dân chủ, lấy dân làm gốc. Xây dựng Đảng trong điều kiện đảng duy nhất cầm quyền, Đảng có khả năng thảo luận, tranh luận một cách rộng rãi, dân chủ trong nội bộ và lấy ý kiến nhân dân về mọi vấn đề, từ Cương lĩnh, đường lối chiến lược, sách lược đến chủ trương, chính sách cụ thể. Điều này cũng xuất phát từ việc Đảng luôn đặt lợi ích của dân tộc lên trên hết, không có bất kỳ lợi ích riêng nào khác.
Để Đảng mạnh, phải phát huy dân chủ: “Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc...”, “Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết”.
Tổ chức cơ sở đảng thể hiện rõ trong công tác tư tưởng. TCCSĐ có nhiệm vụ hàng đầu là thực hiện công tác tư tưởng, thường xuyên thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân; chủ động nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, định hướng dư luận theo hướng tích cực, kịp thời đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đây là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục của TCCSĐ.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin, giao thông, công tác tư tưởng giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.
3. Tình hình công tác xây dựng hệ thống tổ chức cơ sở đảng.
Trải qua gần 95 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, cách mạng Việt Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đưa đất nước vững bước tiến lên CNXH. Những thành tựu đó là kết quả của quá trình nỗ lực của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, là sự hy sinh, cống hiến không ngừng nghỉ của các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác là phấn đấu cho lợi ích của dân tộc vì hoà bình độc lập và phát triển. Là đảng duy nhất cầm quyền, từ Cương lĩnh, đường lối chiến lược đến chủ trương, chính sách cụ thể Đảng đều có thể thảo luận, tranh luận rộng rãi trong Đảng và lấy ý kiến của quần chúng nhân dân. Không chỉ thảo luận dân chủ, rộng rãi trong nội bộ mà Đảng luôn đưa ra cho toàn dân thảo luận trước khi quyết định.
Trải qua các giai đoạn lịch sử, hệ thống TCCSĐ không ngừng phát triển và được hoàn thiện, góp phần quan trọng đưa đường lối cách mạng thành hiện thực.
Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, XIII, công tác củng cố, xây dựng TCCSĐ và nâng cao chất lượng đảng viên đạt được kết quả nổi bật. Năm 2022, toàn Đảng có 51.686 TCCSĐ thì đến tháng 6-2023 là 52.323. Tính đến ngày 31-12-2022, tổng số đảng viên toàn Đảng là 5.380.573, đến tháng 6-2023 là 5.420.161 người. Sáu tháng đầu năm 2023, toàn Đảng kết nạp được 39.588 quần chúng ưu tú. Một số tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương đã kết nạp đạt tỷ lệ từ 3% đến 4% tổng số đảng viên. Đảng viên được kết nạp có cơ cấu độ tuổi tương đối phù hợp, số lượng đảng viên nữ, trẻ, đồng bào dân tộc thiểu số, người có tôn giáo, chủ doanh nghiệp tư nhân tăng lên, tạo sinh lực mới cho Đảng.
Cùng với tăng về số lượng, chất lượng đảng viên có chuyển biến tích cực, trình độ học vấn, chuyên môn, lý luận chính trị ngày càng được nâng cao. Hiện nay, có trên 55% đảng viên có trình độ đại học và trên 60% đảng viên có trình độ lý luận chính trị từ sơ cấp trở lên. Việc quản lý, rà soát, sàng lọc, đánh giá, xếp loại chất lượng, kiểm tra, giám sát đảng viên thực hiện nhiệm vụ, xử lý đảng viên vi phạm, đưa đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng được thực hiện nghiêm túc. Công tác đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được đẩy mạnh.
Bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, Đảng cũng đã nhận rõ những hạn chế, yếu kém của hệ thống TCCSĐ cần khắc phục. Hội nghị Trung ương 4 khóa XII đã thẳng thắn chỉ ra những hạn chế trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, đặc biệt là tình trạng nhiều TCCSĐ và bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, thậm chí vi phạm pháp luật.
Đảng đã chỉ rõ nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém.
Công tác tự phê bình và phê bình chưa thực sự đi vào chiều sâu, còn mang tính hình thức, né tránh, thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm. Một số đảng viên có biểu hiện suy giảm niềm tin, không tuân thủ kỷ luật phát ngôn, gây ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín của Đảng trong lòng dân.
Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí trong thời gian qua vẫn còn diễn biến phức tạp, đặc biệt trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có chức vụ trong bộ máy công quyền. Mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ, cá nhân chủ nghĩa, lợi ích nhóm… không chỉ diễn ra ở cấp cơ sở mà còn xuất hiện ở một số cơ quan Trung ương, doanh nghiệp nhà nước. Những điều này đã làm giảm sút lòng tin của nhân dân với đảng, ảnh hưởng nghiêm trọng tới vai trò lãnh đạo của đảng.
Nhiều TCCSĐ và đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, lơ là, mất cảnh giác, lúng túng trong nhận diện và đấu tranh chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Việc đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, thù địch còn mang tính hình thức, bị động, thiếu hiệu quả.
Bên cạnh đó, sinh hoạt đảng ở nhiều nơi còn hình thức, hiệu quả thấp. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn yếu kém. Công tác tổ chức, cán bộ còn nhiều bất cập, nhiều cán bộ, đảng viên chưa thể hiện tính tiên phong, gương mẫu, còn quan liêu, xa rời thực tiễn. Công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng chưa đủ sức răn đe, phòng ngừa.
Đại hội XIII đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém và nguyên nhân của thực trạng công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng, đó là việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện một số nghị quyết còn chậm, thiếu quyết liệt và hiệu quả. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng ở một số nơi chưa được thực hiện nghiêm túc, thậm chí còn có dấu hiệu vi phạm. Công tác tư tưởng chưa được coi trọng đúng mức, thiếu tính kịp thời và thuyết phục. Công tác tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước chưa đáp ứng được nhu cầu và sự mong đợi của quần chúng nhân dân.
Vai trò, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn hạn chế. Công tác rèn luyện, quản lý đảng viên còn nhiều bất cập, sinh hoạt đảng còn hình thức, thiếu tính chiến đấu. Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa gương mẫu, công tác phát triển đảng viên ở một số địa bàn gặp nhiều khó khăn. Việc đánh giá, xếp loại tổ chức đảng và đảng viên chưa thực chất, một bộ phận cán bộ, đảng viên phai nhạt lý tưởng, suy giảm về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng còn nhiều bất cập, công tác phòng ngừa chưa được chú trọng. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ chưa đáp ứng yêu cầu, công tác dân vận còn hạn chế. Công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí đã có những kết quả nhưng chưa có chuyển biến rõ rệt, việc tự kiểm tra, tự phát hiện của nhiều tổ chức cơ sở đảng chưa kịp thời và xử lý còn yếu. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị còn chậm đổi mới, cơ chế kiểm soát quyền lực chưa đầy đủ, đồng bộ nên hiệu lực, hiệu quả chưa cao.
Những hạn chế, yếu kém trên đã làm suy giảm vai trò lãnh đạo của Đảng, ảnh hưởng đến niềm tin của nhân dân, gây ra những nguy cơ trực tiếp đe dọa đến sự tồn vong của Đảng và chế độ.
Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 16-6-2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới đã chỉ ra những hạn chế, yếu kém còn tồn tại trong công tác xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên thời gian qua, đó là: Chất lượng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức cơ sở đảng còn hạn chế; chậm đổi mới phương thức lãnh đạo; chưa kịp thời sửa đổi, bổ sung quy chế làm việc; thực hiện chưa nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ; chất lượng sinh hoạt chi bộ, đảng bộ cơ sở, sinh hoạt cấp ủy, tinh thần tự phê bình và phê bình, công tác đánh giá, xếp loại còn hạn chế; chưa thể hiện rõ vai trò lãnh đạo của Đảng trong giải quyết những khó khăn, bức xúc của nhân dân ở cơ sở. Một số cấp ủy cơ sở chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, thiếu gương mẫu; chưa chủ động, kịp thời kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm; mất sức chiến đấu, để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật, giảm niềm tin của nhân dân với Đảng. Mô hình tổ chức một số loại hình tổ chức cơ sở đảng còn bất cập, chậm được kiện toàn, sắp xếp. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng khu vực ngoài nhà nước, nhất là doanh nghiệp tư nhân còn hạn chế, tỉ lệ có tổ chức đảng, đảng viên thấp, vai trò lãnh đạo mờ nhạt, lúng túng cả về nội dung và phương thức hoạt động. Một số tổ chức cơ sở đảng ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, ở ngoài nước… hoạt động còn khó khăn. Một số nơi còn tình trạng “trắng” đảng viên. Một bộ phận đảng viên năng lực, trình độ, trách nhiệm chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; phai nhạt lý tưởng cách mạng, thiếu bản lĩnh chính trị, đấu tranh tự phê bình và phê bình yếu; tinh thần trách nhiệm, ý chí phấn đấu giảm sút; chưa gương mẫu, sống thực dụng; suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm nguyên tắc, kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật. Nhận thức về Đảng, động cơ phấn đấu vào Đảng của không ít đảng viên chưa đúng, không trong sáng. Cơ cấu đảng viên chưa hợp lý; tỷ lệ đảng viên trẻ chưa tương xứng với tiềm năng.
Nhận thức rõ những hạn chế, yếu kém còn tồn tại trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng hệ thống TCCSĐ, Đảng ta đã triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Xác định đây là nhiệm vụ cấp bách, then chốt, nhằm củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đạt được những thành tựu mới.
4. Giải pháp tăng cường xây dựng hệ thống tổ chức cơ sở đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới
Một là, thực hành dân chủ, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh lấy dân làm gốc, coi trọng vai trò chủ thể của nhân dân trong mọi quyết sách của Đảng “Việc gì cũng hỏi ý kiến dân chúng, cùng dân chúng bàn bạc...”, “Đưa mọi vấn đề cho dân chúng thảo luận và tìm cách giải quyết”. Đây là nguyên tắc xuyên suốt trong tư tưởng và hành động của Hồ Chí Minh, là bài học quý báu về phương pháp lãnh đạo, xây dựng và phát triển đất nước.
Thực hiện tư tưởng này, TCCSĐ không chỉ là lắng nghe ý kiến của nhân dân mà còn tôn trọng, tin tưởng và phát huy trí tuệ, sức mạnh của nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội, bảo đảm mọi quyết sách của Đảng và Nhà nước thực sự vì dân, do dân và phục vụ lợi ích của nhân dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam với nền tảng tư tưởng cách mạng, được nhân dân tin tưởng và suy tôn là lực lượng lãnh đạo duy nhất Nhà nước và xã hội. Nhân dân thông qua Đảng để bày tỏ nguyện vọng, ý chí và thực hiện quyền làm chủ của mình. Mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nước được thể hiện rõ ràng: Nhà nước hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng, chịu trách nhiệm trước Đảng và nhân dân. Các cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong bộ máy nhà nước đều do Đảng lựa chọn, giới thiệu và được nhân dân bầu ra. Do đó, người dân phản ánh nguyện vọng, thắc mắc trực tiếp với cán bộ lãnh đạo tổ chức đảng tại cơ sở, tin tưởng Đảng lắng nghe và giải quyết. Sự tin tưởng này bắt nguồn từ những thành tựu mà Đảng đã lãnh đạo nhân dân đạt được, đồng thời từ việc Đảng luôn khẳng định vai trò đại diện cho lợi ích của nhân dân.
Tuy nhiên, Đảng cũng nhận thức rõ rằng sự tin tưởng này cần được củng cố và vun đắp không ngừng thông qua việc đổi mới, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng nói chung, trong đó có hệ thống TCCSĐ, để Đảng thực sự là người đại diện trung thành cho lợi ích của nhân dân
Hai là, là đảng duy nhất cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ lãnh đạo những vấn đề lớn lao của đất nước, mà còn có trách nhiệm sâu sắc đối với đời sống hàng ngày của nhân dân. V.I.Lênin đã nhấn mạnh khi ông đòi hỏi Đảng phải luôn “liên hệ với quần chúng. Sống trong lòng quần chúng. Biết tâm trạng quần chúng. Biết tất cả. Hiểu quần chúng. Biết đến với quần chúng. Giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng”.
Tư tưởng của V.I.Lênin về mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng nhấn mạnh vai trò then chốt của việc gắn bó mật thiết với nhân dân, bởi lẽ để lãnh đạo thành công, Đảng không thể đứng ngoài quần chúng mà phải “sống trong lòng quần chúng”, thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng và khó khăn của họ. Do đó, “liên hệ với quần chúng” không chỉ là khẩu hiệu, mà còn là phương châm hành động cụ thể. Đảng cần chủ động tiếp xúc, lắng nghe ý kiến của nhân dân, coi đó là nguồn thông tin quan trọng để hoạch định đường lối, chính sách. Hơn thế nữa, “biết tâm trạng quần chúng” là thấu hiểu những suy nghĩ, cảm xúc của nhân dân, từ đó có những hành động phù hợp, đáp ứng đúng nhu cầu và nguyện vọng của họ.
Hồ Chí Minh khẳng định: “Chính sách của Ðảng và Chính phủ là phải hết sức chăm nom đến đời sống của nhân dân. Nếu dân đói, Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân rét là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân dốt là Ðảng và Chính phủ có lỗi; nếu dân ốm là Ðảng và Chính phủ có lỗi”. Điều này thể hiện rõ quan điểm “dân là gốc” của Đảng, coi việc chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân là nhiệm vụ hàng đầu.
Để “biết tất cả. Hiểu quần chúng”, đòi hỏi các TCCSĐ phải có sự am hiểu sâu sắc về đời sống xã hội, về những vấn đề mà nhân dân quan tâm. Chỉ khi hiểu rõ quần chúng, Đảng mới có thể đề ra những giải pháp đúng đắn, thiết thực.
Bên cạnh đó, “biết đến với quần chúng” là sự chủ động, gần gũi của Đảng với nhân dân. Đảng cần có mặt ở những nơi nhân dân cần, chia sẻ khó khăn, động viên, khích lệ nhân dân. Cuối cùng, “giành được lòng tin tuyệt đối của quần chúng” là mục tiêu cuối cùng của Đảng. Bởi lẽ, lòng tin của nhân dân là tài sản vô giá, là sức mạnh to lớn để Đảng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách.
Ba là, kiểm soát quyền lực, phòng chống bệnh quan liêu.
Vị thế đảng duy nhất cầm quyền cũng tiềm ẩn những nguy cơ, dễ dẫn đến chủ quan, tự mãn, quan liêu, xa rời nhân dân, thậm chí là lạm dụng quyền lực. Bệnh quan liêu trong hoạt động quản lý nhà nước, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, thường gắn liền với sự suy thoái, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng. Khi tính dân chủ trong Đảng bị xói mòn, việc thực hiện dân chủ đối với nhân dân cũng sẽ gặp nhiều khó khăn. Đây chính là nguy lớn nhất đối với một đảng cầm quyền, đặc biệt là đối với những người nắm giữ quyền lực.
Để phòng ngừa, ngăn chặn nguy cơ này, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng là vấn đề sống còn. Trong bối cảnh đảng duy nhất cầm quyền, việc tăng cường vai trò của đảng viên và các tổ chức cơ sở đảng trở nên đặc biệt quan trọng. Đây là biện pháp hữu hiệu để tạo ra sức mạnh nội tại giúp Đảng luôn vững mạnh và trong sạch.
Bốn là, tăng cường thực hiện các giải pháp xây dựng và chính đốn Đảng.
Thực tế cho thấy, hoạt động của TCCSĐ và đảng viên đang đối mặt với nhiều thách thức. Những mặt trái của cơ chế thị trường, sự tác động từ bên ngoài, cùng với những diễn biến phức tạp trong xã hội, đã khiến một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức và lối sống. Tình trạng này đòi hỏi Đảng phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, đồng thời đẩy mạnh đấu tranh phê bình và tự phê bình.
Các Đại hội IX, XI, XII và XIII của Đảng đều nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, chống tư tưởng cơ hội, thực dụng. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII thể hiện quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng trong việc nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, kiên quyết sửa chữa, khắc phục những sai lầm, khuyết điểm.
Để thực hiện thành công công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cần thiết lập nề nếp phê bình và tự phê bình thường xuyên, yêu cầu cán bộ, đảng viên nghiêm túc chấp hành các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, cần củng cố, nâng cao công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, kết hợp chặt chẽ với thanh tra của nhà nước và thanh tra, giám sát của nhân dân, mở rộng sự tham gia của nhân dân vào công tác xây dựng Đảng. Qua đó, phẩm chất đạo đức của đảng viên sẽ được nâng cao, nguy cơ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống sẽ được ngăn chặn và đẩy lùi, góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với niềm tin của nhân dân.
Năm là, gắn kết chặt chẽ giữa công tác cán bộ, đảng viên.
Để hoàn thành nhiệm vụ, mỗi TCCSĐ cần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn. Hồ Chí Minh khẳng định cán bộ là cái gốc của mọi công việc, chất lượng đội ngũ cán bộ ảnh hưởng trực tiếp đến thành công hay thất bại của Đảng, bởi khi đội ngũ cán bộ không đạt yêu cầu, phẩm chất yếu, năng lực yếu, sẽ làm Đảng suy yếu, đường lối của Đảng không thể trở thành hiện thực.
Mỗi thời kỳ cách mạng, đều cần có một đội ngũ cán bộ thích ứng, có phẩm chất và năng lực đáp ứng được đòi hỏi của nhiệm vụ. Vì vậy, việc tăng cường công tác cán bộ là một yêu cầu cấp thiết.
Các TCCSĐ cần tạo sự chuyển biến thực sự và đồng bộ trong công tác cán bộ trên tất cả các khâu: đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và chính sách. Đặc biệt, cần coi trọng việc xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, trọng dụng nhân tài, đồng thời luôn chú trọng trẻ hóa đội ngũ cán bộ, kết hợp hài hòa ba độ tuổi, đảm bảo tính kế thừa và phát triển.
Trong công tác cán bộ, cần nắm vững quan điểm giai cấp, có chính sách đoàn kết, tập hợp rộng rãi cán bộ, trọng dụng nhân tài của đất nước. Khai thác mặt mạnh của mỗi loại cán bộ để bổ sung cho nhau, đồng thời đặc biệt coi trọng xây dựng và kiện toàn đội ngũ cán bộ cấp chiến lược vĩ mô và cấp cơ sở.
Đổi mới quan niệm và phương pháp tiến hành công tác cán bộ theo hướng dân chủ, kết hợp chặt chẽ giữa tập thể và cá nhân, tuân thủ quy trình chặt chẽ, là yếu tố quan trọng để phát huy mạnh mẽ vai trò lãnh đạo của Đảng trên mọi mặt của đời sống xã hội, đưa đất nước ngày càng phát triển.
5. Kết luận
Trong bối cảnh hiện nay, việc tăng cường xây dựng TCCSĐ trong sạch vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu, nâng cao hiệu lực lãnh đạo của cấp ủy cơ sở, tính tiền phong của cán bộ đảng viên là nhiệm vụ cấp thiết. Để đẩy mạnh thực hiện nhiệm vụ này, cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa việc nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng với việc phát huy vai trò tiên phong của đội ngũ cán bộ đảng viên. Tập trung vào đổi mới nội dung, phương thức lãnh đạo, tăng cường dân chủ trong Đảng, lắng nghe ý kiến của nhân dân, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, quan liêu, tiêu cực, giữ vững và tăng cường niềm tin của nhân dân với Đảng, để TCCSĐ là nền tảng cảu Đảng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thành công mục tiêu xây dựng đất nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

Tình quân dân như viên ngọc góp phần tỏa sáng hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ

 

Sự tin cậy của người dân không chỉ từ trong hành động, cử chỉ việc làm của người lính cách mạng mà ấn tượng từ hình thức, trang phục bên ngoài và đặc biệt là tác phong, phong cách ứng xử giản dị, chân thành, thủy chung, chí nghĩa, chí tình của bộ đội.

1. "Bộ đội Cụ Hồ", tên gọi trìu mến ra đời từ những năm tháng đầu kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đã được nhân dân ghi nhận. Theo thời gian, những phẩm chất tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ ngày càng tỏa sáng, đi vào đời sống xã hội và kết tinh nâng tầm trở thành văn hóa Bộ đội Cụ Hồ, trong đó chứa đựng bản sắc văn hóa dân tộc, sự hòa quyện giữa tính truyền thống và tính hiện đại. Đây cũng là nét đẹp tinh thần của con người Việt Nam, của Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hy sinh, cống hiến.

Kể từ khi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời, chỉ có mấy chục người với vũ khí ít ỏi, thô sơ, trải qua 80 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp giáo dục, rèn luyện, Quân đội nhân dân Việt Nam xứng đáng là lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân, trở thành lực lượng chính trị tin cậy, lực lượng chiến đấu tinh nhuệ của Đảng, Nhà nước và nhân dân, góp phần làm rạng rỡ, vẻ vang cho Tổ quốc.    

Có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân cơ bản, nội sinh là Quân đội ta được xây dựng trên nền tảng phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ. Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ là một hệ thống chuẩn mực, giá trị nhân cách của người quân nhân cách mạng. Cũng từ đó, hình ảnh người chiến sĩ Quân đội được nhân dân dành trọn niềm tin yêu đặc biệt cả trong thời chiến và thời bình.

Trong đám đông, nhìn thấy người vận quân phục, đội mũ có gắn ngôi sao vàng 5 cánh, tác phong chững chạc, người dân biết đấy là người mình đáng tin cậy. Thời chiến tranh, trên đường dài trong đêm tối, kẻ đi một mình hay sợ sệt, hãi hùng, bỗng gặp một đoàn bộ đội hành quân đi tới, anh ta cảm giác như có chỗ dựa, niềm tin vững bước đi lên.

Sự tin cậy của người dân không chỉ từ trong hành động, cử chỉ, việc làm của người lính cách mạng mà ấn tượng từ hình thức, trang phục bên ngoài và đặc biệt là tác phong, phong cách ứng xử giản dị, chân thành, thủy chung, chí nghĩa, chí tình của bộ đội.

2. Khác với nhiều quốc gia trên thế giới có đội quân đánh thuê, họ chiến đấu chủ yếu vì lợi ích của giai cấp thống trị. Quân đội cách mạng Việt Nam, từ nhân dân mà ra, vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân mà chiến đấu, hy sinh, cống hiến. Khi Tổ quốc bị xâm lăng, họ tình nguyện tòng quân ra trận. Trên chiến trường, giữa bom rơi đạn nổ, nhưng phía sau là xóm làng, nơi có những mẹ già, em nhỏ, người thân yêu mong ngóng dõi theo. Những nơi anh bộ đội đi qua luôn nhận được vòng tay ấm áp của người dân che chở, đùm bọc.

Từ xưa đến nay, dân tộc Việt Nam có truyền thống đoàn kết dân-binh, tạo nên sức mạnh vô địch. Nhà Trần 3 lần chống giặc Mông-Nguyên thế kỷ 13 từng có sách lược thân dân. Hội nghị Diên Hồng là biểu tượng sáng ngời về ý chí đoàn kết dân-binh, huy động sức mạnh vô địch của nhân dân để chiến đấu và chiến thắng quân xâm lược.

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, sự đoàn kết, gắn bó máu thịt quân dân được nâng lên tầm cao mới là đại đoàn kết dân tộc. Dân hăng hái tăng gia sản xuất lấy thóc gạo nuôi quân, dân tự nguyện chở che bộ đội khi giặc càn quét săn lùng, dân nhiệt tình mở đường cho quân đi... Đó là biểu hiện sinh động của tình quân dân cá nước, là cội nguồn để tạo nên sức mạnh thần kỳ của Quân đội ta.

Tình cảm gắn bó máu thịt quân dân cũng là nguồn cảm hứng cho những tác phẩm văn học, nghệ thuật ra đời: “Các anh đi/ Ngày ấy đã lâu rồi/ Xóm làng tôi còn nhớ mãi/ Các anh đi/ Bao giờ trở lại/ Xóm làng tôi trai gái vẫn chờ mong” (“Bao giờ trở lại”-Hoàng Trung Thông).

Có lẽ hiếm có quân đội nào mà người dân lại dành tình cảm ưu ái lớn lao như nhân dân Việt Nam dành cho Quân đội cách mạng của mình. Tình cảm quân dân bền chặt, thủy chung, no đói cùng nhau, sướng khổ có nhau đã trở thành tình cảm vô tư, trong trẻo, tuyệt đẹp: “Tấm áo ấy bấy lâu nay con thường vẫn mặc/ Để nhớ ngày chúng con về Hà Bắc/ Quần nhau với giặc, áo con rách thêm/ Nên các mẹ già lại phải thức thâu đêm vá áo/ Tấm áo ấy bấy lâu nay con quý hơn cơm gạo/ Người mẹ nghèo trông áo rách, áo rách nên thương” (“Tấm áo mẹ vá năm xưa”-Nguyễn Văn Tý).

3. Cũng chẳng có gì làm lạ khi người lính cách mạng tri ân, kính trọng nhân dân như cha mẹ, người thân yêu của mình, vì vậy, họ đã tự nguyện chiến đấu, hy sinh để bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân. Không chỉ trong chiến tranh mà trong những lúc đất nước khó khăn, hình ảnh người lính vì dân càng tỏa sáng.

Trong những tháng ngày cả nước chống đại dịch Covid-19, đã có hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ chẳng quản nguy hiểm để sát cánh cùng nhân dân “chống dịch như chống giặc”. Những trận lũ quét, sạt lở ở miền Trung, đã có hàng trăm chiến sĩ dầm mưa, vượt lũ lụt đi tìm người dân, cứu hộ, cứu nạn và có những chiến sĩ đã hy sinh trong lúc cứu giúp nhân dân.

Hầu như tất cả lĩnh vực trong đời sống, từ làm công tác dân vận, xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới đến xây dựng hệ thống chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế-xã hội ở nơi vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo... đều có công góp sức của bộ đội. Tôi từng đến một bản người Dao ở huyện biên giới Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh, được chứng kiến những câu chuyện cảm động. Các anh bộ đội sống ở đây đã nhiều năm gian khổ mà vẫn tự nguyện bỏ nhiều công sức, tiền của để giúp dân làm đường bê tông, xây trạm xá, trường học, kéo điện lưới về từng bản làng, thắp lên ánh sáng văn minh miền biên viễn. Bộ đội còn hướng dẫn dân cách trồng cây ăn quả ngắn hạn và trồng các loại cây lâu năm như thông, hồi, quế, cùng nhau xây dựng đời sống văn hóa mới, xóa bỏ hủ tục bao đời của cư dân bản địa. Nhờ đó, người dân biết kết hợp giữa phát triển kinh tế với nhiệm vụ củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh, góp phần xây dựng vùng biên giới hòa bình, hữu nghị.

Vì vậy, có thể nói rằng, tình đoàn kết, gắn bó máu thịt quân dân lung linh như viên ngọc, góp phần làm tỏa sáng nhân cách Bộ đội Cụ Hồ.

Trong thời bình, cán bộ, chiến sĩ Quân đội càng phải thấm thía bài học “dân làm gốc”, vì đó là chân lý và cũng là đạo lý. Phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ được xây đắp nên từ tinh thần chiến đấu dũng cảm không ngại hy sinh, gian khổ của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ được Đảng, Bác Hồ rèn luyện và được sự đùm bọc, thương yêu của nhân dân. Vì thế, cán bộ, chiến sĩ phải luôn trân trọng, giữ gìn, phát huy giá trị đó để nâng tầm trở thành di sản văn hóa của quốc gia, dân tộc, xứng đáng với niềm tin yêu, sự kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân.