Thứ Hai, 7 tháng 10, 2024

Một số vấn đề về phòng, chống tham nhũng trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay

 TCCS -  Tham nhũng trong xây dựng pháp luật hay còn gọi là tham nhũng chính sách, là hình thức tham nhũng lớn, vô cùng phức tạp; là biểu hiện tha hóa quyền lực nhà nước ở mức độ cao nhất; là sự “bắt tay” giữa các chủ thể công, tư, “nhóm lợi ích”, “nhóm thân hữu” nhằm trục lợi chính sách từ văn bản pháp luật. Do đó, cần nhận diện đầy đủ về bản chất, đặc điểm, nguyên nhân, điều kiện phát sinh để góp phần nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở nước ta hiện nay.

Bản chất và đặc trưng của tham nhũng trong xây dựng pháp luật

Tham nhũng trong xây dựng pháp luật là hành vi của người, nhóm người, tổ chức có chức vụ, nhiệm vụ, quyền hạn trong hoạt động xây dựng pháp luật đã lợi dụng chức vụ, nhiệm vụ, quyền hạn đó để vụ lợi cho cá nhân, nhóm, tổ chức của mình(1). Các hành vi tham nhũng diễn ra trong toàn bộ chu trình chính sách công, gồm các giai đoạn, như lựa chọn chính sách; xây dựng và ban hành chính sách; thực thi chính sách; đánh giá, hậu kiểm chính sách.

Tham nhũng trong xây dựng pháp luật mang đầy đủ bản chất của tham nhũng nói chung: (i) Là hành vi của thể nhân/pháp nhân/nhóm xã hội có chức vụ, quyền hạn; (ii) thể nhân/pháp nhân/nhóm xã hội này đã lợi dụng chức vụ quyền hạn đó với mục đích vụ lợi; (iii) khách thể mà hành vi tham nhũng xâm hại đồng thời là các giá trị liêm chính, sự phát triển bền vững và lành mạnh của khu vực công và tư, các quyền về tài sản, quyền bình đẳng về cơ hội cho mọi công dân và các chủ thể pháp luật. Ngoài ra, tham nhũng trong xây dựng pháp luật có những dấu hiệu đặc trưng khác biệt trong so sánh với các dạng tham nhũng khác, cụ thể:

Một là, về phạm vi: Tham nhũng trong xây dựng pháp luật là hành vi tham nhũng diễn ra trong toàn bộ quá trình của hoạt động xây dựng pháp luật, như: Khảo sát, đánh giá thực tiễn; phát hiện và nêu ý tưởng chính sách; đề xuất chính sách; duyệt/quyết định chương trình và nội dung chính sách; soạn thảo chính sách thành dự luật; quyết định, thông qua chính sách/pháp luật; tổng kết, sơ kết đánh giá chính sách, pháp luật và quá trình thực thi chính sách, pháp luật chuẩn bị cho đề nghị sửa đổi, bổ sung, ban hành mới chính sách, pháp luật.

Hai là, về chủ thể: Chủ thể của hành vi tham nhũng trong xây dựng pháp luật hết sức phong phú, có thể là cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước; tổ chức xã hội, pháp nhân, nhóm xã hội và cá nhân. Những chủ thể này có điểm chung là có nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm hoặc lợi ích liên quan trong quá trình xây dựng pháp luật và liên quan đến nội dung chính sách của văn bản quy phạm pháp luật là sản phẩm của hoạt động xây dựng pháp luật trong tương lai. Trong số này, chủ thể có ảnh hưởng nhất là các “nhóm lợi ích” thuộc khu vực công và tư, bao gồm bộ, ngành, địa phương, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hiệp hội, doanh nghiệp, các tổ chức phi chính phủ.

Ba là, về đối tượng và khách thể xâm hại: Đối tượng xâm hại của hành vi tham nhũng trong xây dựng pháp luật là nội dung chính sách trong văn bản pháp luật; khách thể xâm hại là tính đúng đắn của nội dung chính sách trong văn bản quy phạm pháp luật được hình thành trong tương lai. Theo đó, các chính sách đã được ban hành hướng tới phục vụ “lợi ích nhóm” nào đó là các chính sách đã bị xâm hại, thao túng bởi hành vi tham nhũng.

Bốn là, về đối tượng tác động: Đối tượng tác động của hành vi tham nhũng trong xây dựng pháp luật chính là các chủ thể có nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm, lợi ích trong hoạt động xây dựng pháp luật. Trong nhiều trường hợp, đối tượng bị tác động của hành vi tham nhũng có thể hoán đổi để đồng thời là chủ thể của hành vi tham nhũng - nghĩa là một thể nhân/pháp nhân/nhóm xã hội nào đó vì lợi ích của mình, có thể vừa thực hiện hành vi đưa hối lộ và nhận hối lộ liên quan đến cùng một quá trình xây dựng văn bản pháp luật cụ thể.

Năm là, về động cơ và mục tiêu. Mục tiêu “vụ lợi” của hành vi tham nhũng trong xây dựng pháp luật thường là mục tiêu sâu xa, có tính lâu dài, chưa hiện thực nhưng sẽ đạt được trên thực tế vì lợi ích không chính đáng của cá nhân, nhóm, tổ chức đã được “cài, cắm” vào nội dung văn bản pháp luật sẽ được ban hành. Tuy nhiên, bên cạnh đó, một số chủ thể, chẳng hạn chủ thể của hành vi nhận hối lộ có thể đã đạt được lợi ích bất hợp pháp của mình ngay trong quá trình đề xuất hoặc soạn thảo văn bản pháp luật.

Sáu là, về biểu hiện khách quan. Tham nhũng trong xây dựng pháp luật diễn ra vô cùng tinh vi, rất khó phát hiện bản chất của mối quan hệ “thân hữu” giữa biểu hiện bên ngoài và động cơ thực sự bên trong. Đặc biệt, trong nhiều trường hợp, nó được che đậy bằng các “lập luận khoa học”, chẳng hạn coi đó là các hành vi nhân danh lợi ích chung; thể chế hóa đường lối của Đảng và Nhà nước; đáp ứng nhu cầu xã hội; theo thông lệ quốc tế, thông lệ kinh doanh, thông lệ đầu tư; đã có tiền lệ, phổ biến; phù hợp với tập quán, văn hóa truyền thống; phù hợp với kinh tế thị trường và điều kiện Việt Nam…, nhưng thực chất là sự bao biện nhằm hướng đến lợi ích cục bộ của một “nhóm thân hữu”, một tổ chức, một ngành nghề trong và ngoài khu vực công.

Bảy là, về hậu quả, tác hại: Tham nhũng trong xây dựng pháp luật có hậu quả thường nặng nề, lâu dài, phạm vi rộng lớn, có thể trên phạm vi toàn quốc và trên mọi phương diện của đời sống xã hội và thường không thể lượng hóa. Về kinh tế, tham nhũng trong xây dựng pháp luật làm cho môi trường kinh doanh trở nên thiếu bình đẳng; cản trở sự phát triển lành mạnh của doanh nghiệp; khoa học - công nghệ, năng suất lao động và hiệu quả đầu tư xã hội chậm được cải thiện; các doanh nghiệp phải gồng mình với các gánh nặng chi phí đủ loại và nguy cơ phá sản hoặc bỏ lỡ cơ hội phát triển, nâng cao sức cạnh tranh. Về chính trị - xã hội, tham nhũng trong xây dựng pháp luật làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước; làm sai lệch bản chất chế độ, tha hóa cán bộ; đe dọa sự phát triển ổn định của hệ thống thể chế và sự lành mạnh nền kinh tế - tài chính quốc gia; làm gia tăng sự phân hóa và bất bình đẳng xã hội; tước đoạt cơ hội của các doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp “thân cô thế cô”, nhóm yếu thế trong xã hội; làm mất lòng tin của nhân dân vào các giá trị cốt lõi(2); ngăn cản các mục tiêu phát triển bền vững của các quốc gia. Đặc biệt, “lũng đoạn nhà nước” - cấp độ cao nhất của tham nhũng trong xây dựng chính sách, pháp luật sẽ gây ra tác hại vô cùng to lớn cho nhiều chủ thể khác nhau. So với các hình thức tham nhũng khác, tác hại của “lũng đoạn nhà nước” nghiêm trọng hơn nhiều, vì nó có phạm vi rộng, làm biến đổi, méo mó các quy tắc pháp lý và đạo đức, từ đó tác động tiêu cực lên toàn bộ xã hội(3).

Tham nhũng trong xây dựng chính sách sẽ phát sinh trong điều kiện chính trị - pháp lý và xã hội sau:

Thiếu dân chủ trong hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật; trong tiếp cận thông tin; trong việc tham gia xây dựng chính sách, pháp luật và giám sát quá trình này từ phía người dân; thiếu sự công khai, minh bạch và bảo đảm về trách nhiệm giải trình của các cơ quan đề xuất chính sách, soạn thảo và thông qua văn bản luật. Đây là cơ hội, điều kiện lý tưởng để các “nhóm thân hữu”, tiêu cực “đi đêm”, chi phối thực tế quá trình chính sách.

- Đạo đức liêm chính và năng lực của các chủ thể nhà nước trong lập chính sách công và chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật còn hạn chế, bất cập. Theo đó, các cơ quan chủ trì hoặc cán bộ, công chức, đại biểu dân cử có trách nhiệm đề nghị, đề xuất, soạn thảo, tiếp thu - giải trình, góp ý - phản biện, quyết định văn bản quy phạm pháp luật... không đủ liêm chính khi lợi dụng quyền hạn của mình chủ động “vòi vĩnh” hối lộ để “ban ơn” chính sách cho các doanh nghiệp, hiệp hội, “nhóm lợi ích” công - tư hoặc cá nhân; hoặc thụ động nhận hối lộ để ghi nhận, thể hiện trong dự thảo văn bản pháp luật các nội dung chính sách cục bộ của một “nhóm lợi ích”. Mặt khác, cơ quan chủ trì hoặc cán bộ, công chức, đại biểu dân cử thiếu năng lực, khả năng phân tích, dự báo chính sách; thiếu kỹ năng thể chế hóa chính sách thành quy phạm và khả năng tiếp thu, giải trình đối với các chủ thể có liên quan, dẫn tới thụ động chấp nhận, ghi nhận, thể hiện trong văn bản dự thảo hoặc thông qua những văn bản đã bị các “nhóm lợi ích” chi phối về nội dung chính sách trong đó.

- Trình độ dân trí thấp là môi trường lý tưởng cho tham nhũng trong xây dựng pháp luật. Khi người dân không có đủ năng lực góp ý, phản biện đối với dự kiến chính sách hay dự thảo luật; không có khả năng phản hồi về tác động, tính thực tiễn, khả thi của dự luật thì các “nhóm lợi ích” có thể dễ dàng thao túng toàn bộ quá trình xây dựng pháp luật. Ngược lại, việc tham gia rộng rãi, hiệu quả của các tầng lớp nhân dân vào quá trình xây dựng luật sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của cơ quan đề xuất ý tưởng chính sách và soạn thảo chính sách, hạn chế tối đa hành vi tham nhũng.

- Quy trình xây dựng pháp luật thiếu khoa học, không chặt chẽ, tạo nguy cơ tham nhũng trong xây dựng pháp luật. Nếu quy trình xây dựng pháp luật không thu hút sự tham gia thực chất, hài hòa của các đối tượng chịu tác động; không bảo đảm sự công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình của các chủ thể có liên quan và khả năng kiểm soát hoạt động xây dựng pháp luật từ phía Nhà nước và nhân dân; không bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư cho hoạt động xây dựng pháp luật thì các “nhóm lợi ích”, các chủ thể có liên quan lợi dụng trục lợi trong quá trình xây dựng pháp luật.

- Bất cập về điều kiện tài chính, kỹ thuật cho công tác xây dựng pháp luật. Với nguồn lực tài chính đầu tư cho hoạt động xây dựng pháp luật không được bảo đảm, các hoạt động nghiên cứu, tổng kết, khảo sát thực tiễn; trưng cầu, tiếp thu, phản hồi, giải trình ý kiến góp ý đối với dự luật sẽ không thể bảo đảm chất lượng các dự án luật. Cơ quan chủ trì soạn thảo và các nhà hoạch định chính sách, chuyên gia pháp lý rất dễ chịu sự tác động tiêu cực của các “nhóm lợi ích” và các chủ thể có liên quan.

- Thiếu cơ chế hữu hiệu nhằm kiểm soát quyền lực trong hoạt động xây dựng pháp luật. Thực tiễn cho thấy, tình trạng tham nhũng chính sách xảy ra chủ yếu ở những ngành, lĩnh vực, địa phương mà cơ chế kiểm soát quyền lực còn lỏng lẻo, bao gồm “tiền kiểm - hậu kiểm” văn bản/dự thảo văn bản pháp luật và kiểm soát nội bộ hay kiểm soát từ bên ngoài. Việc tổ chức giám sát, phản biện chính sách của các lực lượng chức năng còn hình thức; thanh tra, kiểm tra, xử lý các sai phạm trong hoạt động xây dựng pháp luật bị “buông lỏng” đã tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh và gia tăng của hành vi tham nhũng trong xây dựng pháp luật.

Cần nhận diện đầy đủ về bản chất, đặc điểm, nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng trong xây dựng pháp luật để góp phần nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng (Trong ảnh: Kiểm toán nhà nước kiểm tra tài chính nhà nước, quá trình quản lý, sử dụng tài sản công) _Nguồn: vietnamplus.vn

Nhận diện tham nhũng trong xây dựng pháp luật

Tham nhũng có thể xảy ra trong các giai đoạn của hoạt động xây dựng pháp luật, cụ thể:

- Giai đoạn lựa chọn vấn đề chính sách: Trong thực tiễn có rất nhiều vấn đề đang đặt ra cần được giải quyết bằng chính sách. Tham nhũng trong xây dựng pháp luật bắt đầu bằng hành vi vận động của các chủ thể nhà nước và xã hội để vấn đề, lợi ích của chủ thể được ưu tiên “luật hóa”, được giải quyết ở tầm chính sách và chính sách đó phải được lựa chọn đưa vào chương trình xây dựng pháp luật.

- Giai đoạn soạn thảo chính sách thành pháp luật. Trong giai đoạn này, nội dung chính sách đã được duyệt hay định hình từ trước đó, “nhóm lợi ích” vẫn có thể trực tiếp hoặc gián tiếp đưa những nội dung hay phương án hoặc “cài” câu, chữ “có lợi” vào văn bản dự thảo; cũng có thể đưa ra các thủ tục - điều kiện, các “giấy phép con” vào dự thảo văn bản để sau này có thể trục lợi. Trong giai đoạn này, các “nhóm lợi ích” thường “núp bóng” với lý do “lợi ích nhân dân”, “sự ổn định” hay “sự đổi mới” hoạt động của ngành - lĩnh vực, “tuân thủ điều ước quốc tế”… để che đậy mục đích tham nhũng.

- Giai đoạn thông qua dự thảo văn bản quy phạm pháp luật: Đây là giai đoạn mang tính chất quyết định, nên các hành vi tham nhũng diễn ra trong giai đoạn này hướng vào việc “mua phiếu”, “mua quyết định” của những chủ thể có thẩm quyền quyết định về chính sách hay biểu quyết thông qua dự thảo văn bản pháp luật. Như vậy, tham nhũng có thể xảy ra khi những đại biểu dân cử hay những người đứng đầu cơ quan hành chính, tư pháp không giữ được phẩm chất đạo đức liêm chính và đã “trục lợi” khi quyết định hoặc tác động để thông qua dự thảo văn bản quy phạm pháp luật có lợi cho “nhóm lợi ích”.

Những nguy cơ tiềm ẩn tham nhũng trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam

Thời gian qua, thể chế về xây dựng pháp luật ở Việt Nam không ngừng được hoàn thiện. Tuy nhiên, một số hạn chế về xây dựng pháp luật hiện hành là nguyên nhân, điều kiện phát sinh tham nhũng:

Một là, quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật làm gia tăng khả năng xung đột lợi ích trên thực tế. Với quy định trưởng ban soạn thảo “là người đứng đầu cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo”(4), trong hầu hết các trường hợp, đó là bộ trưởng các bộ, cơ quan ngang bộ phụ trách lĩnh vực mà văn bản quy phạm pháp luật đó điều chỉnh. Quy định này luôn tiềm ẩn rủi ro là việc xây dựng luật từ chức năng của Quốc hội thực tế đã “tự động” chuyển sang cho cơ quan hành pháp. Tình trạng “vừa đá bóng, vừa thổi còi” có thể đã làm gia tăng khả năng xung đột lợi ích, là nguyên nhân  dẫn đến tình trạng một số văn bản quy phạm pháp luật chỉ có “tác dụng - ý nghĩa” tăng thêm quyền lực của “nhóm lợi ích” là bộ, ngành nào đó. Đồng thời đẩy cái khó cho người dân, doanh nghiệp, không tính đến hoặc đề cập rất chung chung, mờ nhạt về quyền của các nhóm chủ thể khác, nhất là các chủ thể xã hội.

Hai là, thiếu cơ chế phản biện từ bên ngoài trong xây dựng thông tư. Quy trình xây dựng thông tư, thông tư liên tịch hiện còn có tình trạng “đóng kín”, thiếu cơ chế thẩm định, phản biện từ bên ngoài hiệu quả, nhất là thiếu tiền kiểm nhằm bảo đảm tính khách quan, minh bạch, trách nhiệm giải trình và phòng, chống “lợi ích nhóm” trong hoạt động xây dựng thông tư của bộ, ngành. Do đó, thông tư được ban hành luôn tiềm ẩn rủi ro là sẽ chỉ tập trung phản ánh ý chí chủ quan của bộ, ngành hoặc mong muốn của “nhóm lợi ích” mà không quan tâm đúng mức đến nhu cầu của các chủ thể khác, nhất là các đối tượng xã hội chịu sự tác động của thông tư.

Ba là, góp ý, phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật còn hình thức. Các quy định hiện hành chưa bảo đảm sự minh bạch và trách nhiệm giải trình của các chủ thể có trách nhiệm trong việc đề nghị, đề xuất, ban hành chính sách, pháp luật trên thực tế. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chưa quy định cụ thể về trách nhiệm phòng, chống tham nhũng của các chủ thể công và tư thông qua góp ý, phản biện chính sách, pháp luật(5). Do đó, nội dung các góp ý, phản biện thường không đề cập đến khả năng phát sinh tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng của văn bản quy phạm pháp luật trong tương lai, cũng như không nhận được ý kiến góp ý, phát hiện, phản biện về hiện tượng “lợi ích nhóm” và “vận động hành lang” trong quá trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Bốn là, quy định hiện hành chưa có yêu cầu đánh giá tác động của chính sách đến tình trạng tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng. Các quy định hiện hành về đánh giá tác động chính sách chưa đề cập đến khả năng tham nhũng và phòng, chống tham nhũng của chính sách trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Thực tiễn cho thấy, không có bất kỳ chủ thể có thẩm quyền nào đề cập đến đánh giá tác động về tham nhũng và công tác phòng, chống tham nhũng trong các đề nghị, đề xuất xây dựng luật, pháp lệnh. Mặt khác, việc đánh giá tác động chính sách chỉ thực hiện đối với dự thảo luật trước khi cơ quan chủ trì soạn thảo trình Chính phủ; nhưng ở các giai đoạn tiếp theo, khi Chính phủ trình dự thảo luật sang Quốc hội thì nhiều nội dung chính sách đã được điều chỉnh mà không được đánh giá tác động. Quy định pháp lý về đánh giá tác động chính sách hiện chưa chặt chẽ, tạo ra điều kiện để các nhóm chủ thể khu vực công và tư cài cắm lợi ích cục bộ, đơn lẻ trong các giai đoạn xây dựng pháp luật.

Năm là, thiếu các quy định pháp lý cụ thể về kiểm soát tham nhũng trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; về nguy cơ phát sinh tham nhũng và khả năng phòng, chống tham nhũng trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Thể chế về xây dựng pháp luật thiếu quy định về kiểm soát tham nhũng trong quá trình đề nghị và xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, cũng như thiếu quy định về nguy cơ phát sinh tham nhũng và khả năng phòng, chống tham nhũng trong dự thảo văn bản quy phạm pháp luật. Thực tiễn cho thấy, trong nhiều trường hợp, quá trình xây dựng pháp luật tuy không có biểu hiện can thiệp của “lợi ích nhóm” nhưng khi văn bản quy phạm pháp luật được ban hành và có hiệu lực đã bộc lộ nhiều sơ hở, tạo điều kiện phát sinh tham nhũng. Nguyên nhân chính là do thiếu quy định pháp lý về tiền kiểm và hậu kiểm của các cơ quan chức năng của Chính phủ, Quốc hội hay cơ quan tư pháp về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng trong quá trình xây dựng pháp luật, trong nội dung chính sách của dự thảo văn bản quy phạm pháp luật.

Sáu là, thiếu quy định về hậu kiểm văn bản quy phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Các hoạt động hậu kiểm văn bản quy phạm pháp luật, bao gồm giám sát, kiểm tra của cơ quan quyền lực nhà nước và cơ quan hành chính nhà nước đều hướng tới mục tiêu phát hiện và xử lý văn bản quy phạm pháp luật trái pháp luật(6). Tuy nhiên, đặc điểm chung của các quy định này là không giả định tình huống “văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu làm phát sinh tham nhũng, tiêu cực” hoặc “văn bản quy phạm pháp luật không bảo đảm yếu tố phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực”. Theo đó, trách nhiệm và trọng tâm ưu tiên phát hiện và xử lý sai phạm qua công tác giám sát và kiểm tra văn bản chỉ tập trung vào việc xem xét, đánh giá văn bản đó có trái với Hiến pháp, luật và văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên hay không. Việc xem xét, đánh giá “văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu làm phát sinh tham nhũng, tiêu cực” hoặc “văn bản quy phạm pháp luật không bảo đảm yếu tố phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực” là yêu cầu chưa có tiền lệ, chưa được coi trọng, nên chưa được xác định là những tiêu chí chính trị - pháp lý phổ quát, bắt buộc.

Bảy là, thiếu chế tài xử lý vi phạm trong hoạt động xây dựng pháp luật. Trong các quy định pháp luật hiện hành không đề cập đến phòng ngừa, xử lý các hành vi “lợi ích nhóm”, tham nhũng chính sách trong quá trình xây dựng pháp luật. Các quy định về trách nhiệm của các chủ thể có liên quan tới hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới chỉ dừng lại ở nguyên tắc chung mà không thể áp dụng trực tiếp, cũng không quy định rõ các trách nhiệm chính trị, hành chính - công vụ, đạo đức hay hình sự, do đó, thiếu tính khả thi trong xử lý các hành vi vi phạm trên thực tiễn(7).

Tám là, thiếu quy định pháp lý về vận động chính sách công. Pháp luật Việt Nam chưa quy định chính thức về vận động chính sách công. Hiến pháp năm 2013 của nước ta có nhiều quy định xác lập căn cứ cho việc nhân dân tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật. Đây là cơ sở quan trọng cho việc vận động chính sách trong xây dựng pháp luật của các chủ thể. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) quy định quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, theo đó, cơ quan, tổ chức, đại biểu Quốc hội chủ trì soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật và cơ quan, tổ chức liên quan có trách nhiệm tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia đóng góp ý kiến về đề nghị xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, dự thảo văn bản quy phạm pháp luật(8). Tuy nhiên, góp ý, phản biện xã hội đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật hiện nay vẫn còn hình thức. Việc chậm ban hành quy định về vận động chính sách công sẽ tạo cơ hội để các “nhóm lợi ích” “móc ngoặc” với nhau trong hoạt động xây dựng pháp luật.

Quan điểm, định hướng phòng, chống tham nhũng trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam trong thời gian tới

Một là, tiếp tục thể chế hóa các chủ trương của Đảng về phòng, chống tham nhũng trong xây dựng pháp luật. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định vai trò của các cấp ủy trong “lãnh đạo thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng thành chính sách, pháp luật”(9); “Tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, những biểu hiện tự diễn biến, tự chuyển hóa trong nội bộ”(10). Đảng ta cũng đã có những chỉ đạo định hướng liên quan đến xây dựng pháp luật và phòng, chống “lợi ích nhóm”. Mới đây, Bộ Chính trị ban hành Quy định số 178-QĐ/TW, ngày 27-6-2024, "Về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác xây dựng pháp luật". Đây là văn bản chỉ đạo chuyên biệt đối với vấn đề phòng, chống tham nhũng trong xây dựng pháp luật, cần sớm được cụ thể hóa thành các quy định của pháp luật trong thời gian sớm nhất, nhất là nghiên cứu thể chế các nội dung của Quy định số 178-QĐ/TW vào Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (sửa đổi).

Đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua một dự luật_Ảnh: TTXVN

Ba là, bảo đảm minh bạch, trách nhiệm giải trình trong xây dựng pháp luật. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng tiếp tục xác định đây là một trong những yêu cầu hết sức quan trọng trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đó là: “Xây dựng được hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, có sức cạnh tranh quốc tế, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(11). Do đó, cần tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong xây dựng pháp luật phù hợp với quan điểm, mục tiêu trong Chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng, tiêu cực đến năm 2030.

Bốn là, tăng cường công tác đấu tranh phòng, chống “lợi ích nhóm”. Quán triệt và thực hiện hiệu quả các nghị quyết, kết luận của Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, các cấp ủy, tổ chức đảng chỉ đạo rà soát, hoàn thiện các quy định, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, điều hành bảo đảm công khai, minh bạch, góp phần xóa bỏ cơ chế “xin - cho”, “duyệt - cấp”; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, “lợi ích nhóm”, “sân sau”, trục lợi trong quá trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật.

Năm là, đổi mới nhận thức về bản chất của pháp luật và hoạt động xây dựng pháp luật. Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cần đổi mới mạnh mẽ “triết lý” về pháp luật và hoạt động xây dựng pháp luật theo quan điểm “dân là gốc”, thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”..., mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân.

Sáu là, hoàn thiện thể chế phòng, chống tham nhũng trong xây dựng pháp luậtTrọng tâm hoàn thiện thể chế nhằm phòng, chống tham nhũng trong xây dựng pháp luật gồm các quy định về thẩm quyền, quy trình xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; các quy định pháp luật chuyên ngành về phòng, chống tham nhũng và các quy định có liên quan của Bộ luật Hình sự, Luật Cán bộ, công chức, các nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng pháp luật.

Bảy là, tiếp thu kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam. Phòng, chống tham nhũng trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam được tiến hành trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế sâu, rộng. Do đó, việc hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế trong công tác này rất cần thiết nhằm tiếp thu kinh nghiệm trong phòng, chống tham nhũng, nhất là kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng chính sách của các quốc gia có nền quản trị tiên tiến, như kinh nghiệm nhận diện, phòng ngừa, phát hiện, xử lý hành vi tham nhũng chính sách; thu hồi tài sản tham nhũng có yếu tố nước ngoài; kiểm soát tài sản thu nhập của cán bộ, công chức và kiểm soát tài sản xã hội; công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động xây dựng chính sách, pháp luật.../.

---------------------

Thủ tướng chỉ đạo quyết liệt xóa nhà tạm, nhà dột nát trên toàn quốc

 

(Dân trí) - Thủ tướng Phạm Minh Chính vừa ký Công điện số 102/CĐ-TTg ngày 6/10/2024, chỉ đạo đẩy mạnh việc xóa nhà tạm, nhà dột nát trên toàn quốc.

Công điện gửi đến các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan và lãnh đạo địa phương nêu bật kết quả tích cực từ phong trào thi đua "Chung tay xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước trong năm 2025". Phong trào được Thủ tướng phát động ngày 13/4/2024 tại Hòa Bình.

Đặc biệt, trong lễ phát động chương trình "Mái ấm cho đồng bào tôi" ngày 5/10, nhiều tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân trong và ngoài nước đã đóng góp hàng nghìn tỷ đồng để hỗ trợ các địa phương khó khăn thực hiện việc xóa nhà tạm.

Trong công điện, Thủ tướng Phạm Minh Chính ghi nhận và biểu dương tinh thần trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương, các doanh nghiệp và cá nhân tham gia vào phong trào. Ông nhấn mạnh và tin tưởng rằng, với tình đoàn kết dân tộc, sự đồng lòng của toàn dân, phong trào sẽ tiếp tục lan tỏa sâu rộng và đạt được mục tiêu đề ra vào cuối năm 2025.

Thủ tướng chỉ đạo quyết liệt xóa nhà tạm, nhà dột nát trên toàn quốc - 1

Theo Thủ tướng Phạm Minh Chính, việc xóa nhà tạm, nhà dột nát không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội (Ảnh: Thành Đông).

Thủ tướng yêu cầu các Bộ trưởng, lãnh đạo cơ quan ngang Bộ, UBND các tỉnh, thành phố và Bí thư tỉnh ủy, thành ủy tập trung lãnh đạo, chỉ đạo triển khai mạnh mẽ, đồng bộ và hiệu quả, để đạt được những kết quả thực chất, góp phần chào mừng các ngày lễ lớn của dân tộc như 95 năm ngày thành lập Đảng, 80 năm ngày thành lập nước, và 50 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

Một trong những nội dung chính được nhấn mạnh trong công điện là việc huy động nguồn lực xã hội hóa, kết hợp với nguồn lực của Nhà nước. Điều này bao gồm việc đa dạng hóa các nguồn tài trợ từ trung ương, địa phương, các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước.

Các địa phương có điều kiện kinh tế xã hội tốt hơn cũng được khuyến khích hỗ trợ cho những địa phương còn nhiều khó khăn. Người dân cũng cần tự chủ động góp phần vào việc cải thiện tình trạng nhà ở của mình, thông qua việc kêu gọi sự giúp đỡ từ bạn bè, người thân.

Thủ tướng nhấn mạnh rằng, việc xóa nhà tạm, nhà dột nát không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước mà còn là trách nhiệm chung của toàn xã hội, với phương châm "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể hỗ trợ, Nhân dân làm chủ".

Thủ tướng yêu cầu mọi nguồn lực từ cộng đồng cần được huy động một cách minh bạch, đúng quy định, tránh lãng phí và tham nhũng. Những người có điều kiện hơn được khuyến khích giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn hơn, theo tinh thần "ai có ít giúp ít, ai có nhiều giúp nhiều".

Thủ tướng giao Bộ Xây dựng khẩn trương hướng dẫn các tỉnh, thành phố nghiên cứu, thiết kế những mẫu nhà ở điển hình, đảm bảo kỹ thuật, chất lượng và phù hợp với văn hóa từng địa phương, phù hợp với hoàn cảnh kinh tế của mỗi gia đình.

Thủ tướng cũng chỉ đạo Bộ LĐ-TB&XH khẩn trương phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan báo cáo, đề xuất thành lập Ban Chỉ đạo trung ương cho chương trình này, thời hạn là trước ngày 10/10. Ban Chỉ đạo do Thủ tướng làm Trưởng Ban, các Phó Trưởng Ban gồm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Thủ tướng Thường trực và Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH.

Bộ LĐ-TB&XH chủ động tham mưu, đề xuất với Thủ tướng và Ban Chỉ đạo các biện pháp, giải pháp, cách làm cụ thể, hiệu quả để triển khai xóa nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước, bảo đảm đúng tiến độ và yêu cầu đề ra.

Bên cạnh đó, người đứng đầu Chính phủ lưu ý Bí thư các tỉnh thành chỉ đạo thành lập các Ban Chỉ đạo tại địa phương để đảm bảo việc triển khai sát với tình hình thực tế của từng khu vực. Các thành viên của Ban Chỉ đạo tại địa phương bao gồm lãnh đạo các cơ quan chuyên môn và đoàn thể, nhằm đảm bảo sự phối hợp nhịp nhàng và đồng bộ giữa các đơn vị.

Nâng cao hiệu quả công tác dân vận, góp phần phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân trong phát triển mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước

 TCCS - Trong những năm qua, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, công tác dân vận có nhiều cách làm hay, sáng tạo, mang lại hiệu quả thiết thực; qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và góp phần vào phát triển mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Thời gian tới, Đảng ta xác định tiếp tục thực hiện hiệu quả công tác dân vận, góp phần phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính thăm hỏi người dân sống trong khu vực dự án đường bộ cao tốc Khánh Hòa - Buôn Ma Thuột _Ảnh: TTXVN

Về sức mạnh của nhân dân trong phát triển mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội của đất nước

Chủ nghĩa Mác - Lê-nin luôn luôn đề cao vai trò của quần chúng nhân dân, coi sức mạnh của nhân dân là vô địch; muốn lãnh đạo cách mạng phải liên hệ chặt chẽ với nhân dân, cách mạng muốn thắng lợi phải được đông đảo nhân dân ủng hộ. V.I. Lê-nin khẳng định: “Đối với đảng cộng sản hiện còn yếu về số lượng, với tư cách là đội tiền phong của giai cấp công nhân đang lãnh đạo một nước rộng mênh mông, đang thực hiện (lúc này chưa có sự ủng hộ trực tiếp của các nước tiên tiến hơn) bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, thì một trong những nguy hiểm lớn nhất và đáng sợ nhất là tự cắt đứt liên hệ với quần chúng”(1).

Trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhận thức sâu sắc vai trò to lớn của nhân dân, thường xuyên chăm lo xây dựng và củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Đây là mối quan hệ rất đặc biệt, được hình thành do đòi hỏi khách quan của sự nghiệp cách mạng nước ta. Đảng vừa là người lãnh đạo, cầm quyền, vừa là người phục vụ nhân dân, còn nhân dân tự giác đi theo Đảng, chịu sự lãnh đạo của Đảng, tin tưởng, trung thành với Đảng, với Tổ quốc. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân./ Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân./ Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra./ Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên./ Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”(2); Người nói: “Nước lấy dân làm gốc”(3), “Nước ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ”(4), “Chế độ ta là chế độ dân chủ, tức là nhân dân là người chủ”(5). Như vậy, dân phải làm chủ và có quyền làm chủ; bởi lẽ, nếu dân không được làm chủ thì dân chủ chỉ là hình thức. Phát huy truyền thống hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của ông cha, tiếp thu lý luận chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đưa ra quan điểm hết sức đúng đắn, cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đặc biệt nhấn mạnh việc phát huy vai trò của nhân dân và dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Từ thực tiễn công cuộc đổi mới, Đảng rút ra 5 bài học kinh nghiệm, nhất là bài học: “Trong mọi công việc của Đảng và Nhà nước, phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “dân là gốc”; thật sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, kiên trì thực hiện phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ yêu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; thắt chặt mối quan hệ mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu; củng cố và tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(6). Trong 5 quan điểm chỉ đạo, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh quan điểm: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam, bồi dưỡng sức dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có cơ chế đột phá để thu hút, trọng dụng nhân tài, ứng dụng mạnh mẽ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạnh công nghiệp lần thứ tư, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, tạo động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững đất nước”(7) và trong 6 nhiệm vụ trọng tâm ở nhiệm kỳ Đại hội XIII của Đảng, có 3 nhiệm vụ đề cập đến phát huy vai trò của nhân dân: “Củng cố niềm tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”(8), “Khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”, “Hoàn thiện đồng bộ hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm phát huy mạnh mẽ dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của nhân dân”(9).

Gần 40 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới, Đảng đã phát huy sức mạnh của các tầng lớp nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, đạt nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đại hội XIII của Đảng đánh giá rất rõ các thành tựu đó: “Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(10).

Kết quả, hạn chế về công tác dân vận thời gian qua

Về kết quả của công tác dân vận

Đánh giá khái quát ưu điểm công tác dân vận thời gian qua, Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Công tác dân vận được chú trọng và tiếp tục đổi mới; quan điểm “dân là gốc”, là chủ thể của công cuộc đổi mới được nhận thức và thực hiện ngày càng sâu sắc, đầy đủ hơn; mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân được củng cố, tăng cường. Nhận thức, trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng và hệ thống chính trị được nâng cao; coi trọng việc lắng nghe, nắm tình hình và giải quyết những nguyện vọng, kiến nghị hợp pháp, chính đáng, những vấn đề bức xúc của nhân dân; góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân và phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng”(11). Trên thực tế, nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước đối với công tác dân vận được đổi mới. Đảng đã kịp thời ban hành nhiều nghị quyết về công tác dân vận, như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VI (tháng 3-1990), “Về đổi mới công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”; Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XI (tháng 6-2013), về “Tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới” để lãnh đạo, tập hợp các tầng lớp nhân dân; đồng thời, Đảng có nhiều chủ trương, chính sách phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, phát huy quyền làm chủ của nhân dân.

Thực hiện các văn kiện của Đảng, cùng Quy chế Dân chủ ở cơ sở, đồng thời với việc ban hành các văn bản pháp luật liên quan, công tác dân vận của các cơ quan nhà nước đạt được nhiều kết quả tích cực; việc tiếp công dân, đối thoại với nhân dân của người đứng đầu cấp ủy được thực hiện nền nếp, tinh thần gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên được nâng lên. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động hướng về cơ sở, tăng cường hoạt động giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh. Các hình thức vận động, tập hợp đoàn viên, hội viên ngày càng phong phú, đa dạng và hiệu quả hơn. Nhiều phong trào thi đua yêu nước, nhất là phong trào “Dân vận khéo”, được đẩy mạnh, gắn với việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, góp phần quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, giải quyết hiệu quả nguyện vọng hợp pháp, lợi ích chính đáng của nhân dân.

Về hạn chế và nguyên nhân

Thời gian qua, công tác dân vận có chuyển biến tích cực, nhưng vẫn còn một số hạn chế cần nhận diện và tiếp tục khắc phục. Việc thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng về công tác dân vận, như phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” còn chưa phù hợp với từng đối tượng quần chúng, các loại hình ở cơ sở. Một số cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền chưa coi trọng công tác vận động quần chúng và chưa chú trọng đưa nguyện vọng hợp pháp, lợi ích chính đáng của nhân dân làm nội dung chủ yếu trong lãnh đạo, chỉ đạo của mình. Việc thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong các loại hình doanh nghiệp có nơi còn mang tính hình thức. Công tác đánh giá và dự báo tình hình, nắm bắt tư tưởng trong các tầng lớp nhân dân có nơi còn thiếu chính xác, chưa kịp thời; còn để xảy ra “điểm nóng” hoặc khiếu kiện phức tạp kéo dài. Công tác tuyên truyền, hướng dẫn nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước chưa được quan tâm đúng mức; chưa tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát huy tốt vai trò của các cơ quan truyền thông, mạng xã hội, mở rộng các kênh đối thoại trực tiếp với nhân dân. Việc lựa chọn nội dung và cách thức vận động, tập hợp đoàn viên, hội viên ở một số nơi thiếu sáng tạo, chưa sát thực tế, nên hiệu quả chưa cao. Công tác tuyên truyền gương điển hình là tổ chức, cá nhân trong sản xuất, kinh doanh giỏi, làm giàu chính đáng có lúc chưa được quan tâm đúng mức. Việc tiến hành sơ kết, tổng kết theo quy định của Trung ương có nơi làm chậm hoặc làm hình thức, chiếu lệ.

Những hạn chế về công tác dân vận có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan, cụ thể: 1- Một số cấp ủy, chính quyền, chưa nhận thức đầy đủ, rõ ràng vị trí, vai trò của công tác dân vận trong tình hình mới; 2- Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức đảng, nhất là ở cơ sở còn hạn chế; 3- Một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu gương mẫu, vai trò tiên phong, nòng cốt còn mờ nhạt, cá biệt còn suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, làm giảm lòng tin của nhân dân đối với cấp ủy, chính quyền; 4- Việc tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nhất là về phát triển kinh tế - xã hội nhằm cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân còn chậm, hiệu quả thấp. Chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận và các tổ chức chính trị - xã hội chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

Cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Biên phòng giúp đồng bào thu hoạch lúa_Ảnh: TTXVN

Một số nhiệm vụ, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác dân vận để tiếp tục phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân trong thời kỳ mới

Một là, các cấp ủy tiếp tục lãnh đạo, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và hành động về công tác dân vận của cả hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân.

Tiếp tục quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định của Trung ương về công tác dân vận đến tổ chức đảng, đảng viên; đổi mới công tác dân vận theo hướng thiết thực, sáng tạo, lấy kết quả công việc, sự hài lòng và tín nhiệm của nhân dân làm tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, phát huy vai trò của nhân dân tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh, tạo sự đồng thuận, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Hai là, Đảng tiếp tục lãnh đạo tập trung thực hiện tốt công tác dân vận.

Cơ quan nhà nước cần có phương pháp, cách thức, hình thức thực hiện hiệu quả, nhằm phát huy vai trò của nhân dân tham gia trong quá trình xây dựng chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm hài hòa lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng giữa Nhà nước, doanh nghiệp và nhân dân, gắn với lợi ích quốc gia - dân tộc. Từng bước tăng cường hình thức dân chủ trực tiếp để phát huy trí tuệ tập thể, sự đóng góp ý kiến quan trọng, quý báu của các tầng lớp nhân dân; sớm hoàn thiện, cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” và phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Tiếp tục thực hiện hiệu quả việc tiếp xúc cử tri, hoạt động giám sát, phản biện xã hội, tiếp dân, đối thoại với công dân, giải quyết kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân kịp thời, đúng pháp luật. Hoàn thiện và thực thi quy định về đạo đức công vụ kết hợp với tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; quan tâm công tác tập huấn, bồi dưỡng kỹ năng công tác dân vận cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ở cơ quan nhà nước các cấp. Phát huy vai trò gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ thường xuyên tiếp xúc, làm việc với nhân dân, cán bộ cấp chiến lược, người đứng đầu các ngành, các cấp, các đơn vị, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, Kiên quyết phê phán, đấu tranh mạnh mẽ với các biểu hiện thờ ơ, vô cảm, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, nhũng nhiễu nhân dân; đồng thời, chống các khuynh hướng mị dân, kích động nhân dân. Tiếp tục tuyên truyền và tổ chức thực hiện tốt Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, thường xuyên lắng nghe tâm tư, nguyện vọng chính đáng của nhân dân để có biện pháp giải quyết kịp thời. Tập trung xử lý dứt điểm các vấn đề “nóng”, bức xúc liên quan trực tiếp đến đời sống nhân dân, không để các vụ khiếu kiện phức tạp kéo dài, các “điểm nóng” về an ninh, trật tự xảy ra ở cơ quan, đơn vị, cơ sở.

Ba là, tiếp tục đổi mới tổ chức, nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội.

Thực hiện tốt vai trò là người đại diện, bảo vệ quyền lợi hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của các thành viên, đoàn viên, hội viên, theo đó Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội xây dựng, củng cố tổ chức bộ máy, đội ngũ cán bộ các cấp thật sự vững mạnh, đáp ứng yêu cầu về trình độ lý luận, năng lực thực tiễn và kỹ năng công tác dân vận. Quan tâm việc lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng và có cơ chế, chính sách động viên đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận, mặt trận, đoàn thể yên tâm công tác; kiên quyết không bố trí cán bộ thiếu gương mẫu, đạo đức kém, vi phạm kỷ luật làm công tác dân vận. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, hướng mạnh về cơ sở; đa dạng hóa hình thức tập hợp, vận động đoàn viên, hội viên; làm tham mưu cho cấp ủy, là nòng cốt trong việc nắm bắt dư luận xã hội, tình hình nhân dân; phát huy dân chủ, ý thức trách nhiệm của công dân trong thực hiện giám sát xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Thực hiện nghiêm túc, nhất quán nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự bảo đảm kinh phí hoạt động theo pháp luật khi phát triển các tổ chức quần chúng. Nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức quần chúng, thường xuyên bồi dưỡng đoàn viên, hội viên ưu tú, tiêu biểu cả đức và tài để giới thiệu nguồn cán bộ cho Đảng, Nhà nước; đồng thời, quan tâm xây dựng, phát huy vai trò người có uy tín trong cộng đồng, kể cả đồng bào ta ở nước ngoài hướng về xây dựng đất nước.

Bốn là, đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, công tác phòng, chống tham nhũng, kiên quyết, kiên trì đấu tranh với các quan điểm, luận điệu sai trái.

Đại hội XIII của Đảng xác định rõ phương hướng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng”(12). Đại hội đặt ra yêu cầu: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(13). Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng, ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đồng thời, tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa với chủ động phát hiện, xử lý nghiêm minh, kịp thời hành vi tham nhũng, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng; can thiệp, cản trở việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kết quả phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực thời gian vừa qua được nhân dân đồng tình, ủng hộ; qua đó, tăng cường niềm tin, khơi dậy và phát huy sức mạnh của nhân dân để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trước tình hình và điều kiện mới, các thế lực thù địch có nhiều hoạt động chống phá hết sức tinh vi, thâm độc, nhằm chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, chống phá đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; do đó, cần tăng cường công tác tuyên truyền, giải thích cho nhân dân hiểu rõ, hiểu đúng đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát huy “thế trận lòng dân”, quyết tâm, quyết liệt đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch trong tình hình mới.

Năm là, tiếp tục đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, góp phần phát huy sức mạnh của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong giai đoạn mới.

Trong thời gian tới, công tác dân vận của Đảng phải tiếp tục góp phần tích cực vận động, tập hợp được các tầng lớp nhân dân trong cả hệ thống chính trị thành lực lượng to lớn tham gia các phong trào thi đua yêu nước, theo tinh thần “thi đua là yêu nước, yêu nước thì phải thi đua”. Các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội bám sát nhiệm vụ chính trị, nắm bắt đầy đủ lợi ích hợp pháp, nguyện vọng chính đáng của các tầng lớp nhân dân để xác định nội dung và lựa chọn cách thức phát động phong trào thi đua sát với thực tế của từng cơ quan, đơn vị, địa phương và phù hợp với từng đối tượng. Trên cơ sở tổng kết phong trào thi đua “Dân vận khéo” và các phong trào thi đua do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội phát động thời gian qua để rút kinh nghiệm, qua đó thực hiện nhiệm vụ chính trị tốt hơn, hiệu quả hơn trong thời gian tới. Các phong trào thi đua cần thiết thực, tránh hình thức, lãng phí, tốn kém; lấy hiệu quả về chính trị, kinh tế - xã hội làm thước đo đánh giá từng phong trào thi đua; thường xuyên tổ chức theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, sơ kết, tổng kết và khen thưởng kịp thời. Trong giai đoạn phát triển mới, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cần hướng phong trào thi đua vào khuyến khích tổ chức, doanh nghiệp, đoàn viên, hội viên thi đua sản xuất, kinh doanh để làm giàu chính đáng. Trên cơ sở đó, tạo ra nhiều việc làm, tăng thu ngân sách cho Nhà nước, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thực hiện ngày càng tốt hơn chính sách an sinh xã hội, phát huy tối đa sức mạnh của nhân dân trong phát triển mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội đất nước trong tình hình mới.

Sáu là, cả hệ thống chính trị phối hợp chặt chẽ, đồng bộ trong thực hiện quy chế công tác dân vận.

Ngày 30-7-2021, Bộ Chính trị đã ban hành Quyết định số 23-QĐ/TW, “Về việc ban hành Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị” nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ về công tác dân vận trong tình hình mới. Quy chế đã nêu rõ trách nhiệm lãnh đạo và thực hiện công tác dân vận của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Dân vận Trung ương, Văn phòng Trung ương Đảng, các ban đảng ở Trung ương, đảng đoàn, ban cán sự đảng ở Trung ương, Ban Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, trách nhiệm của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành, các cơ quan tư pháp, trách nhiệm của lực lượng vũ trang, trách nhiệm của chính quyền các cấp, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Trên cơ sở trách nhiệm về công tác dân vận được Bộ Chính trị giao, các tổ chức trong hệ thống chính trị nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện tốt để công tác dân vận có chuyển biến tích cực, rõ rệt. Cần xây dựng cơ chế phối hợp giữa chính quyền và các tổ chức với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở từng cấp. Cấp ủy các cấp cần thường xuyên đôn đốc, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy chế; đồng thời, định kỳ tổ chức sơ kết, tổng kết, khen thưởng kịp thời theo quy định của Trung ương./.

----------------------------

Chủ tịch Quốc hội: "Làm sao để người dân thấy đoàn giám sát đến là mừng"

 

(Dân trí) - Theo Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, việc giám sát phải trúng, có trọng tâm, trọng điểm, làm sao đối tượng được giám sát "thực sự tâm phục, khẩu phục".

Dự án luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND lần đầu được Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến tại phiên họp thứ 38, sáng 7/10.

Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Quốc hội Y Thanh Hà Niê K'đăm cho biết dự thảo luật bổ sung nhiều điều khoản để quy định về tiêu chí lựa chọn các nhóm vấn đề chất vấn tại kỳ họp Quốc hội, HĐND; chuyên đề giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc và các ủy ban Quốc hội cũng như của HĐND…

Từ phía cơ quan thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùng cho biết đa số ý kiến đề nghị cân nhắc việc luật hóa, bảo đảm bám sát quan điểm xây dựng luật, đồng thời tổng kết, đánh giá tác động đầy đủ, bảo đảm đã đủ rõ, có sự đồng thuận cao.

Chủ tịch Quốc hội: Làm sao để người dân thấy đoàn giám sát đến là mừng - 1

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Hoàng Thanh Tùng (Ảnh: Hồng Phong).

"Các tiêu chí hiện được quy định tại nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội cơ bản phù hợp, tuy nhiên vẫn có trường hợp áp dụng khác để phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn. Do đó, việc luật hóa có thể sẽ ảnh hưởng đến tính ổn định của luật", ông Tùng nói.

Cho biết sắp tới Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ tổ chức các diễn đàn về hoạt động giám sát, xây dựng pháp luật, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn cho rằng từ các diễn đàn này sẽ đúc kết các kinh nghiệm để điều chỉnh công tác giám sát, lập pháp của Quốc hội, HĐND.

Ông Mẫn lưu ý việc giám sát phải trúng, có trọng tâm, trọng điểm, là những vấn đề Đảng, cử tri, nhân dân đặt ra cho Quốc hội. Yêu cầu quan trọng nhất đối với việc giám sát là phải làm sao đối tượng được giám sát "thực sự tâm phục, khẩu phục", theo lời Chủ tịch Quốc hội.

"Làm sao người ta thấy đoàn giám sát đến là mừng, là vui vì đoàn giám sát sẽ chỉ ra cái mạnh, hạn chế và giải pháp để thực hiện trong thời gian tới", ông Mẫn nói.

Ông nhắc lại thời điểm công tác ở địa phương, mỗi khi thấy đoàn thanh tra, kiểm toán, các đoàn của Trung ương đến địa phương làm việc đều rất mừng vì đoàn giúp cho địa phương trong khi địa phương không có thời gian để kiểm tra hết các lĩnh vực.

Nhấn mạnh yêu cầu về "hậu giám sát", ông Mẫn nói đây là nội dung rất quan trọng.

Chủ tịch Quốc hội: Làm sao để người dân thấy đoàn giám sát đến là mừng - 2

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn lưu ý công tác giám sát cần có trọng tâm, trọng điểm (Ảnh: Hồng Phong).

"Khi đoàn giám sát rút ra những đề xuất, kiến nghị thì ai làm, thực hiện như thế nào, bao giờ xong là phải có địa chỉ, có thời gian nhất định để giám sát. Có như thế mới xứng đáng công sức bỏ ra đi làm, viết báo cáo, tổng hợp, phân tích, đánh giá, rút ra kiến nghị với các cơ quan", Chủ tịch Quốc hội nói.

Ông cũng lưu ý giám sát của Quốc hội, HĐND không chồng chéo với các giám sát, thanh tra của các cơ quan khác.

Theo Chủ tịch Quốc hội, phải xác định đầy đủ các nguyên tắc cần thiết của hoạt động giám sát và làm rõ tiêu chí chọn nội dung giải trình, chất vấn, các chuyên đề giám sát của Quốc hội, HĐND.

Nhắc đến phương thức chất vấn, trả lời chất vấn trong giám sát, Chủ tịch Quốc hội nêu thực tế nhiều bộ trưởng thấy lo khi bị chất vấn nhiều, song theo ông, đây là vinh dự lớn vì qua đó có thể trả lời, làm cho cử tri hiểu rõ hơn về ngành, lĩnh vực mình quản lý.

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh định hướng cho công tác bảo vệ an ninh, trật tự và xây dựng lực lượng công an nhân dân

 TCCS - Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta một văn kiện vô cùng quý giá có ghi hàng chữ “Tuyệt đối bí mật”. Văn kiện “Tuyệt đối bí mật” này (từ sau ngày 9-9-1969 được Đảng ta gọi là Di chúc) là một di sản tinh thần vô giá của Đảng và nhân dân Việt Nam, đúng như Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã viết: “Bản Di chúc tuy rất ngắn gọn song nó chứa đựng biết bao giá trị tư tưởng và tình cảm, là sự kết tinh một đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh, đem lại sự đổi đời của dân tộc Việt Nam ta, đồng thời để lại những di sản bất hủ đối với những thế hệ mai sau”(1).

Trong Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh tại trụ sở Bộ Công an, đồng chí Trần Quốc Hoàn, Bộ trưởng Bộ Công an khi đó đã thay mặt toàn thể lực lượng Công an nhân dân Việt Nam tuyên thệ: “Lực lượng Công an nhân dân đoàn kết và quyết tâm làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà”(2). Dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện, tuyệt đối của Đảng, suốt 55 năm qua, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soi rọi, dẫn đường cho công tác bảo vệ an ninh, trật tự, xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam lập nhiều chiến công, thành tích, xứng đáng với niềm tin của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Chỉ với hơn 1.000 từ, Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã truyền cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, trong đó có lực lượng Công an nhân dân Việt Nam ý chí và quyết tâm sắt đá, niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của dân tộc Việt Nam, sức mạnh của chính nghĩa và chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”(3), đưa cả dân tộc giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, thực hiện thành công công cuộc đổi mới, làm cho “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay(4).

Đại tướng Tô Lâm, Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Công an kiểm tra trang thiết bị, quân tư trang của cán bộ, chiến sĩ Cảnh sát cơ động tham gia tổng duyệt lễ diễu binh kỷ niệm 50 năm ngày truyền thống lực lượng Cảnh sát cơ động, ngày 7-4-2024_Ảnh: TTXVN

Quán triệt sâu sắc và thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, lực lượng Công an nhân dân Việt Nam được tiếp thêm động lực và sức mạnh to lớn, không quản ngại khó khăn, gian khổ, tận tụy trong công tác, dũng cảm trong chiến đấu, sẵn sàng hy sinh bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ thành quả cách mạng và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ công cuộc đổi mới, giữ gìn an ninh, trật tự, đánh thắng mọi âm mưu, hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm, đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong những năm gần đây, thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, bám sát và triển khai có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội và xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam có nhiều đổi mới mang tính bước ngoặt, đạt được những kết quả quan trọng trên các mặt công tác, đã được cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ghi nhận, khẳng định: Nhìn lại nửa nhiệm kỳ vừa qua, ngành Công an “hoạt động rất vất vả, song cũng rất đáng tự hào, để lại nhiều dấu ấn tốt(5).

Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong công an nhân dân được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp, toàn diện về mọi mặt của Đảng đối với các mặt công tác bảo vệ an ninh, trật tự và xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam. Tập trung xây dựng lực lượng công an thực sự trong sạch, vững mạnh, “Vì nước quên thân, vì dân phục vụ”, “Chỉ biết còn Đảng thì còn mình”, “Danh dự là điều thiêng liêng, cao quý nhất” theo đúng di nguyện của Bác. Đảng ủy Công an Trung ương đã chủ động, tham mưu, đề xuất Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 12-NQ/TW, ngày 16-3-2022, “Về đẩy mạnh xây dựng lực lượng Công an nhân dân thực sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại”; lãnh đạo cụ thể hóa và tổ chức thực hiện quyết liệt Nghị quyết này, gắn với kế hoạch thực hiện Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Hội nghị Trung ương 4, khóa XIII, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị”; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Theo đó, kiên quyết ngăn chặn, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Công an nhân dân Việt Nam. Quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, trước hết là phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngay trong nội bộ Công an nhân dân Việt Nam; đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế kiểm soát chặt chẽ quyền lực và chấn chỉnh thái độ thực thi công vụ của toàn lực lượng. Tăng cường kiểm tra, giám sát, thanh tra, nhất là ở những lĩnh vực nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng và ở những nơi có nhiều dư luận phản ánh, nhiều đơn, thư tố cáo. Cùng với đó, lần đầu tiên ban hành và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Đảng ủy Công an Trung ương về công tác chính trị, tư tưởng, Quy định về học tập, thực hiện Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân; tổ chức sâu rộng, lan tỏa hàng chục đợt sinh hoạt chính trị, hội thảo chuyên đề về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong Công an nhân dân Việt Nam, về học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Sáu điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân; nghiên cứu, tìm hiểu các tác phẩm của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, như: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”, “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”, “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, “Xây dựng và phát triển nền đối ngoại, ngoại giao Việt Nam toàn diện, hiện đại, mang đậm bản sắc “cây tre Việt Nam””...; gắn với quyết liệt rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, tạo chuyển biến mạnh mẽ, rõ nét trong xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam thực sự trong sạch, tuyệt đại bộ phận cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng, có tinh thần trách nhiệm và ý thức phục vụ nhân dân, luôn sẵn sàng chấp nhận khó khăn, gian khổ, hy sinh để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Lực lượng Công an nhân dân Việt Nam tích cực tham gia công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo chức năng, nhiệm vụ, góp phần quan trọng đẩy lùi một bước nguy cơ mất an ninh chính trị nội bộ, suy giảm “thế trận lòng dân”, làm suy yếu sức chiến đấu của Đảng, của chế độ ta từ gốc, từ bên trong. Thực hiện chức năng bảo vệ Đảng, Đảng ủy Công an Trung ương đã tập trung lãnh đạo thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, an ninh văn hóa - tư tưởng, an ninh thông tin - truyền thông, an ninh mạng. Tăng cường các giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Phòng ngừa, đấu tranh, vô hiệu hóa mọi âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phản động thâm nhập, chuyển hóa nội bộ, cài cắm nội gián, chui sâu, leo cao; kịp thời phát hiện, báo cáo tham mưu với Đảng ngăn chặn những biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Tập trung cao độ điều tra, xử lý dứt điểm, nghiêm minh, triệt để, đúng pháp luật nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế nghiêm trọng, phức tạp, theo đúng quan điểm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”, không để kéo dài, “chìm xuồng” và thực sự tạo sự lan tỏa theo đúng phương châm “xử lý một vụ, cảnh tỉnh cả vùng, cả lĩnh vực, xử lý một người để cứu muôn người”(6); qua đó, được nhân dân đồng tình ủng hộ, đánh giá cao, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, củng cố lòng tin, sự gắn bó của nhân dân với Đảng, Nhà nước. Toàn lực lượng Công an nhân dân Việt Nam là một khối đoàn kết, thống nhất về ý chí, gắn kết tư tưởng và hành động; cùng với đoàn kết giữa Công an nhân dân Việt Nam với Quân đội nhân dân Việt Nam và các ban, bộ, ngành, địa phương; đoàn kết, hợp tác quốc tế với các đối tác an ninh, trật tự, tạo sức mạnh to lớn giúp lực lượng Công an nhân dân Việt Nam hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, kể cả trong bối cảnh các vấn đề an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống diễn biến phức tạp chưa từng có tiền lệ, gia tăng thách thức, áp lực mạnh mẽ từ nhiều hướng đối với bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Công tác thu thập thông tin, phân tích, tham mưu chiến lược của lực lượng Công an nhân dân Việt Nam đã cung cấp luận cứ góp phần quan trọng giúp Đảng, Nhà nước hoạch định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế. Nhờ đó, an ninh quốc gia được giữ vững, tội phạm liên tục kéo giảm qua các năm, môi trường an ninh, an toàn, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của đất nước ngày càng được củng cố vững chắc, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh “phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và văn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân”(7).

Tình quân dân (Tác giả: Bùi Việt Đức)_Nguồn: nhiepanhdoisong.vn

Xuyên suốt cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là mục tiêu, lý tưởng “hết lòng hết sức phục vụ nhân dân”, Người nói: “Cả đời tôi chỉ có một mục đích, là phấn đấu cho quyền lợi Tổ quốc, và hạnh phúc của quốc dân”(8). Trong bản Di chúc thiêng liêng để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta, tư tưởng, tình cảm chủ đạo trong những điều Người căn dặn là tình yêu thương trọn vẹn của Người đối với mọi tầng lớp nhân dân; kể cả những lời cuối khi Người nói “về việc riêng”, vẫn toát lên những suy nghĩ trăn trở, lo cho nước, cho dân. Quán triệt, học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là tư tưởng, đạo đức, phong cách trong Di chúc của Người, mọi chủ trương, chính sách về bảo đảm an ninh, trật tự, xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam đều phải “vì dân phục vụ và dựa vào dân mà làm việc”(9), “phải thực sự trung thành, tôn kính, thương yêu dân”(10), “việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”(11), vì cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân.

Với việc tham mưu ban hành và phát huy vai trò thường trực thực hiện Quyết định số 06/QĐ-TTg, ngày 6-1-2022, của Thủ tướng Chính phủ, “Phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030”, lực lượng Công an nhân dân Việt Nam đã gương mẫu, đi đầu trong chuyển đổi số, góp phần cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu tiêu cực, “tham nhũng vặt”, phục vụ tốt nhất cho nhân dân. Tập trung xây dựng công an cấp xã, tham mưu xây dựng lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự ở cơ sở, đổi mới mạnh mẽ phương pháp làm việc theo phương châm “công an tìm đến dân”, “gần dân, hiểu dân”, “lúc dân cần, lúc dân khó, có công an”, qua đó, là chỗ dựa tin cậy của nhân dân ở từng địa bàn cơ sở. Chủ động, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, địa phương, các nhà hảo tâm xây dựng hàng chục nghìn ngôi nhà cho hộ nghèo, gia đình chính sách, gia đình khó khăn về nhà ở tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, không chỉ giải quyết từ gốc rễ vấn đề bảo đảm an ninh quốc gia, an ninh con người, mà còn góp phần quan trọng củng cố “thế trận lòng dân” trong thế trận an ninh nhân dân, nền an ninh nhân dân vững chắc. Công tác đền ơn, đáp nghĩa, chính sách hậu phương trong Công an nhân dân Việt Nam luôn được chú trọng với nhiều hoạt động thiết thực, nghĩa tình, thể hiện sâu sắc sự tri ân.

Năm mươi lăm năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại những bài học vô cùng quý báu trong công tác bảo vệ an ninh, trật tự. Đó là bài học về tăng cường và bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện, trực tiếp về mọi mặt của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của sự nghiệp bảo vệ an ninh, trật tự, xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam; bài học về hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, mọi chủ trương, biện pháp công tác an ninh, trật tự đều phải xuất phát từ nguyện vọng, bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, vì cuộc sống bình yên và hạnh phúc của nhân dân; bài học về không ngừng củng cố đoàn kết - đoàn kết trong các cấp ủy đảng, trong toàn lực lượng Công an nhân dân Việt Nam; đoàn kết giữa lực lượng Công an nhân dân Việt Nam với lực lượng Quân đội nhân dân Việt Nam, với các cơ quan, ban, ngành hữu quan; tinh thần đoàn kết quốc tế trong sáng vì hòa bình, ổn định và cùng phát triển; bài học về chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ Công an nhân dân Việt Nam vừa “hồng”, vừa “chuyên”, gắn bó mật thiết với nhân dân, trọng dân, lễ phép với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, lấy niềm vui của nhân dân làm niềm vui, lẽ sống của mình.

Hiện nay, toàn lực lượng Công an nhân dân Việt Nam đang ra sức phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết để tổ chức đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2025 - 2030, tiến tới Đại hội Đảng bộ Công an Trung ương lần thứ VIII, nhiệm kỳ 2025 - 2030 theo Chỉ thị số 35-CT/TW, ngày 16-6-2024, của Bộ Chính trị khóa XIII trong bối cảnh các yếu tố bên trong, bên ngoài, an ninh truyền thống, an ninh phi truyền thống diễn biến phức tạp, gia tăng thách thức, áp lực đối với công tác bảo vệ an ninh, trật tự, xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam. Các thế lực thù địch, phản động, các loại tội phạm ra sức tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ, đảng viên Công an nhân dân Việt Nam; chúng ráo riết triển khai nhiều âm mưu, hoạt động hết sức thâm độc, trực diện, không từ thủ đoạn nào hòng thúc đẩy các yếu tố suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, “phi chính trị hóa”, gây chia rẽ lực lượng vũ trang với nhân dân.

Bối cảnh tình hình trên đòi hỏi lực lượng Công an nhân dân Việt Nam hơn bao giờ hết, luôn phải thấm nhuần sâu sắc những di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh; phát huy truyền thống anh hùng vẻ vang; kiên quyết, kiên trì thực hiện công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo chức năng, nhiệm vụ; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, đảng viên Công an nhân dân Việt Nam; xây dựng lực lượng Công an nhân dân Việt Nam thực sự trong sạch, vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới. Thấm nhuần phương châm “dĩ bất biến, ứng vạn biến”của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tận dụng tối đa thời cơ, đẩy lùi mọi nguy cơ, thách thức đối với nhiệm vụ bảo vệ an ninh, trật tự, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược của Đảng, phấn đấu đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trọn đời vì nước, vì dân, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; là biểu tượng, tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”. Học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và Di chúc của Người, lực lượng Công an nhân dân Việt Nam luôn kiên định và trung thành với sự nghiệp, lý tưởng cách mạng của Người, đoàn kết, thống nhất, chung sức, đồng lòng, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, không nề gian khổ, hy sinh, nỗ lực phấn đấu, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta kế tục xuất sắc sự nghiệp cách mạng mà Người đã trọn đời cống hiến, hy sinh. Toàn lực lượng Công an nhân dân Việt Nam nguyện hết lòng, hết sức thực hiện di huấn của Người, phấn đấu vì một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh./.

------------------------------