Thứ Hai, 7 tháng 10, 2024

Đền Hùng vang vọng lời Người

 

Lời căn dặn của Bác khi về thăm Đền Hùng ngày 19/9/1954: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước/Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước" càng được khẳng định trong những ngày qua, khi các tỉnh phía Bắc chịu sự tàn phá ghê gớm của cơn bão số 3.

Đương đầu với thiên tai, bão lụt là sự chung sức, đồng lòng, khẳng định rõ sức mạnh của sự đoàn kết toàn dân tộc.

Mệnh lệnh thiêng liêng

Một trong những lần về thăm Đền Hùng, ngày 19/9/1954, trước khi cùng Đại đoàn Quân Tiên Phong về tiếp quản Thủ đô, tại sân Đền Giếng ngát xanh màu cổ tích, Người căn dặn: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước".

Đã 70 năm trôi qua, câu nói của Bác đã trở thành mệnh lệnh thiêng liêng nhắc nhở toàn Đảng, toàn quân, toàn dân Việt Nam giữ gìn vững chắc non sông gấm vóc, bảo vệ vẹn toàn độc lập, chủ quyền dân tộc.

Đền Hùng vang vọng lời Người - 1

Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn Quân Tiên Phong ngày 19/9/1954 tại Đền Hùng (ảnh tư liệu)

Cố Thiếu tướng Nguyễn Hiền, nguyên Phó Chính ủy Sư đoàn 308 khi còn sống đã chia sẻ, ông vẫn nhớ như in hình ảnh "Bác ngồi trên cửa ngách bên phải Đền Giếng, đồng chí Thanh Quảng và đồng chí Song Hào ngồi trên bậc sát cạnh Bác, gần một trăm cán bộ, chiến sĩ ngồi xung quanh Bác trên thềm và khoảng sân. Bác căn dặn cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong khi vào thành phố phải giữ gìn quân phong, giữ nghiêm kỷ luật, tôn trọng và giúp đỡ nhân dân; tránh sa ngã, cám dỗ trước những "viên đạn bọc đường".

Bác căn dặn và nhắc nhở bộ đội phải thường xuyên học tập, rèn luyện đạo đức, giữ nghiêm kỷ luật, thực hiện tốt chính sách dân vận, giữ vững lập trường giai cấp... Lần đầu tiên trong lịch sử, quy luật dựng nước và giữ nước được Người tổng kết trong câu nói bất hủ: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước"!

Lời căn dặn của Bác mang hàm nghĩa to lớn "dựng nước phải đi đôi với giữ nước", đó cũng là tư tưởng xuyên suốt qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc ta. Tinh thần đại đoàn kết cũng được thể hiện rất rõ trong lời dạy của Người, kết tinh ở câu "Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước". Lịch sử cũng như thực tế tình hình đất nước hiện nay cho thấy, toàn dân tộc Việt Nam đã giữ vững khối đại đoàn kết, cùng nhau vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Tinh thần này càng rõ ràng hơn trong những ngày qua, khi các tỉnh, thành phía Bắc phải đối mặt với cơn bão số 3 và sức tàn phá ghê gớm của nó.

Đoàn kết là sức mạnh

Trong những ngày cơn bão số 3 đi qua, giữa những khó khăn, mất mát, đau thương, lời Bác dạy vẫn vang vọng, dựng nước và giữ nước, đoàn kết, đại đoàn kết. Nói như Chủ tịch Hồ Chí Minh thì thiên tai, bao gồm lũ lụt và hạn hán, cũng là kẻ thù của đất nước, của Nhân dân vì: "Nếu lụt thì đói. Lụt cũng là một thứ giặc ghê gớm. Chúng ta phải ra sức ngăn giặc lụt như chống giặc ngoại xâm" (trích Hồ Chí Minh toàn tập).

Phòng chống thiên tai cần sự góp sức của toàn dân, sự quan tâm của toàn xã hội, vì vậy, một trong những nhân tố quan trọng, đó là tinh thần đoàn kết, hiệp đồng giữa các lực lượng, để nhất trí, quyết tâm vượt mọi khó khăn, giúp đỡ nhau chiến thắng thiên tai. Trong cơn bão dữ, tinh thần đoàn kết, "tương thân, tương ái", "lá lành đùm lá rách", sự chung tay, đồng lòng của các lực lượng, mọi tầng lớp Nhân dân đã góp phần giảm thiểu phần nào những hậu quả của cơn bão.

Cùng với các cơ quan chức năng, lực lượng vũ trang, các tầng lớp nhân dân cũng tích cực tham gia vào công tác cứu hộ, cứu nạn, sẵn sàng sẻ chia với người dân ở vùng mưa lũ. Các tổ chức, đoàn, hội, các cá nhân tại nhiều địa phương đã cung cấp nhu yếu phẩm, tìm kiếm cứu nạn... Không ai bảo ai nhưng mỗi người một tay, góp sức người, sức của để chia sẻ với đồng bào gặp nạn.

Hình ảnh những người dân thức cả đêm gói bánh chưng, gói những thực phẩm thiết yếu vào từng túi nhỏ để gửi đến người dân vùng lũ, những người không quản đường sá xa xôi từ miền Trung, miền Nam vượt hàng trăm cây số để đến những nơi bị ảnh hưởng bởi mưa bão là những nghĩa cử ấm áp, là nghĩa đồng bào trong cơn hoạn nạn.

Đền Hùng vang vọng lời Người - 2

Tỉnh Đoàn đã huy động hơn 300 tình nguyện viên tham gia dọn dẹp vệ sinh tại xã Đan Thượng, Hạ Hòa.

Hình ảnh những chiếc xe ô tô cố tình đi chậm lại, hoặc chủ động đi sát những người đi xe máy, xe đạp,... để che chắn mưa gió cho họ trong cơn bão lớn. Hình ảnh những người chiến sĩ trong bộ quân phục ướt sũng, lấm lem bùn đất với miếng bánh mì cắn vội, với những phút ngủ tạm để hồi sức... đều khiến mỗi chúng ta xúc động, nghẹn ngào.

Càng trong lúc khó khăn, hoạn nạn thì tinh thần đoàn kết, những nghĩa cử cao đẹp của Nhân dân ta lại càng phát huy mạnh mẽ, góp phần tiếp thêm nghị lực, sức mạnh, làm ấm lòng bà con vượt qua bão lũ. Như Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính nhấn mạnh tại cuộc họp trực tuyến với các tỉnh, thành ngày 14/9 thì trong cơn hoạn nạn, tinh thần đoàn kết, bản lĩnh sức mạnh của dân tộc đã góp phần giảm thiểu thiệt hại của cơn bão số 3.

Thực tiễn cho thấy, chống lũ đi đôi với khôi phục sản xuất là chỉ đạo xuyên suốt của Đảng và Nhà nước trong công tác khắc phục hậu quả thiên tai. Nước ta đã từng trải qua nhiều thiên tai và vượt qua thiên tai. Sức mạnh của sự đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc tiếp tục được phát huy trong việc khắc phục hậu quả cơn bão số 3 lần này. Chạy đua với thời gian để cứu các nạn nhân, chạy đua với thời gian để tái thiết cuộc sống của nhân dân, là việc Đảng, Nhà nước, các địa phương cùng cộng đồng đã và đang dốc sức thực hiện lúc này, nhằm làm vơi đi mất mát, đau thương, nhanh chóng ổn định cuộc sống của Nhân dân.

Về thăm Đền Hùng những ngày tháng 9 này, dừng chân nơi Đền Giếng hay dưới Bức phù điêu Bác Hồ nói chuyện với cán bộ, chiến sỹ Đại đoàn Quân Tiên Phong, mỗi người dân Việt Nam như còn nghe thấy lời Người ấm áp từ mùa thu của 70 năm trước.

Ngọc Hà

BA KHÂU ĐỘT PHÁ, TÁM CHỈ TIÊU CỦA ĐOÀN THANH NIÊN CÔNG AN NHÂN DÂN

 


1. Ba khâu đột phá

(1) Phát huy vai trò xung kích của đoàn viên, thanh niên Công an trong thực hiện nhiệm vụ bảo đảm ANTT tại địa bàn cơ sở, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết số 12-NQ/TW ngày 16/3/2022 của Bộ Chính trị;

(2) Đoàn viên, thanh niên Công an tiên phong trong ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số phục vụ công tác Công an;

          (3) Tham mưu hoàn thiện các quy định, cơ chế, tổ chức và hoạt động của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh trong CAND đáp ứng yêu cầu của tình hình mới. 

2. Tám chỉ tiêu

Trong đó, về chỉ tiêu, hằng năm, mỗi tổ chức Đoàn cấp cơ sở triển khai ít nhất 01 công trình, phần việc thanh niên gắn với thực hiện nhiệm vụ công tác chuyên môn. Tổ chức Đoàn trong toàn lực lượng phối hợp triển khai, hỗ trợ, duy trì hiệu quả ít nhất 50 mô hình thanh niên xung kích đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn trọng điểm; tổ chức ít nhất 100 hoạt động hỗ trợ, giúp đỡ đoàn viên thanh niên Công an tình nguyện đảm nhận công tác tại cơ sở, đơn vị trực tiếp chiến đấu; hỗ trợ hiện thực hoá ít nhất 300 ý tưởng, sáng kiến của đoàn viên, thanh niên; trồng mới 100.000 cây xanh; Tuổi trẻ toàn lực lượng hỗ trợ dài hạn ít nhất 1.000 thiếu nhi có hoàn cảnh khó khăn; xây dựng, sửa chữa ít nhất 100 “Ngôi nhà 19/8”, 100 sân chơi thiếu nhi; 100% đoàn viên là chiến sĩ nghĩa vụ được thông tin, tư vấn, hướng nghiệp, giới thiệu việc làm; hằng năm, 100% Đoàn cấp cơ sở tổ chức ít nhất 01 hoạt động đồng hành nâng cao năng lực sử dụng ngoại ngữ, tiếng dân tộc thiểu số, tin học, kỹ năng số cơ bản cho thanh niên. Trong 05 năm, giới thiệu từ 8.000 đến 10.000 đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét kết nạp, trong đó trên 85% được kết nạp đảng./.

 

 

7 Nhận diện thủ đoạn chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân

“Nước Việt Nam là một khối thống nhất về mặt dân tộc, lịch sử và kinh tế, và không một lực lượng nào trên thế giới có thể chia cắt được Việt Nam”. Đây là khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Diễn từ tiệc chiêu đãi ở Bêôgrát (Nam Tư)”, Báo Nhân dân đăng trên số 1248, ngày 8/8/1957. Tinh thần đoàn kết toàn dân tộc đã giúp chúng ta vượt qua những thách thức, cam go của lịch sử, đánh thắng các kẻ thù xâm lược, bảo vệ và xây dựng đất nước đi lên CNXH. Thế nhưng, các thế lực thù địch chống phá Việt Nam lại không mong muốn điều đó, họ luôn ra sức tung hô, cổ xúy cho các hành vi kích động bạo lực, gây hận thù dân tộc, chia rẽ đồng bào lương giáo, ngăn cách đồng bào các dân tộc thiểu số, phá vỡ sự kết nối giữa lòng dân với ý Đảng.

Giáo sư, Tiến sĩ Mạch Quang Thắng, giảng viên cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh cho rằng, trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh phải luôn giữ vững được niềm tin của nhân dân, đó là cơ sở cho sự đoàn kết, thống nhất trong toàn dân. “Tài sản lớn nhất của Đảng là niềm tin của dân. Mất niềm tin là mất tất cả”.

Ở nước ta, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, các thế lực thù địch, phản động xoáy sâu vào những điểm nóng, tập trung mũi nhọn chống phá vào các vấn đề dân tộc, tôn giáo. Thời gian gần đây, các đối tượng nước ngoài liên tục tung tiền, chi phối, giật dây điều khiển các đối tượng cơ hội chính trị trong nước, kích động, lôi kéo nhân dân, tập hợp lực lượng để thành lập các Nhà nước tự xưng như Nhà nước của người Mông, Nhà nước Đề Ga tự trị, Nhà nước của đồng bào Khmer…

Đại tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Thủy, Chủ nhiệm Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa học, Học viện Chính trị phân tích: “Chúng kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc, lôi kéo quần chúng, chống đối chính quyền, kích động đồng bào dân tộc thiểu số di cư trái phép, gây mất ổn định về chính trị xã hội, từ đó, tạo cớ để các lực lượng chính trị bên ngoài can thiệp. Chúng lợi dụng những vấn đề có tính lịch sử để lại để đòi li khai tự trị, tìm cách luật pháp hóa, quốc tế hóa những vấn đề dân tộc, tôn giáo để từ đó tiếp cận chỉ đạo bọn phản động trong nước và ngoài nước kết hợp với nhau hỗ trợ bọn phản động cực đoan trong nước để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta”.

Thực tế cho thấy, đồng bào các dân tộc, tôn giáo trên lãnh thổ Việt Nam đều được chung sống hòa bình, bình đẳng và tích cực đóng góp cho công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước. Các đồng bào tôn giáo đều một lòng hướng thiện, sống tốt đời đẹp đạo, kính chúa yêu nước, chỉ những người nhẹ dạ, cả tin hoặc những chức sắc tôn giáo bị tác động, chi phối bởi các thế lực thù địch mới luôn có tư tưởng và âm mưu chia rẽ đồng bào lương giáo. Đại đức Thạch Dương Trung, Trụ trì chùa Cót Đôn, tỉnh Bạc Liêu và Linh mục Vũ Thanh Lịch, thuộc Giáo phận Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắk Lắk khẳng định như vậy.

“Đảng, Nhà nước chúng ta luôn hỗ trợ, ủng hộ các tôn giáo đều sinh hoạt tín ngưỡng bình đẳng với nhau. Các dân tộc đều có quyền sinh sống bình đẳng, không có sự đàn áp một dân tộc nào. Không chỉ dân tộc Khmer, các dân tộc khác cũng đều như vậy, đều sống bình đẳng” - Đại đức Thạch Dương Trung nói.

Linh mục Vũ Thanh Lịch nhấn mạnh: “Đạo công giáo với tinh thần bác ái, yêu thương, phục vụ và ai cũng có trách nhiệm đối với quê hương, đất nước. Và đặc biệt là người Việt Nam chúng ta, bất kể tôn giáo nào đều có lòng yêu nước thiết tha và sẵn sàng đóng góp mọi mặt cho quê hương mình”.

Theo phân tích của nhà báo Hồng Thanh Quang, nguyên Tổng Biên tập Báo Đại đoàn kết, một số quốc gia hiện nay đang rơi vào chiến tranh, ly khai, loạn lạc đều có bàn tay can thiệp, đạo diễn từ các thế lực bên ngoài. Thông qua đồng tiền, các thế lực bên ngoài khống chế, hà hơi tiếp sức cho các thế lực đối lập, phản động trong nước, thổi bùng lên thành những mâu thuẫn và sau đó dẫn đến sự can thiệp của nước ngoài, dưới hình thức bảo vệ nhân quyền, bảo vệ dân chủ, nhưng kết cục thì hoàn toàn ngược lại.

Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam là một thực thể thống nhất, đồng bào các dân tộc, tôn giáo đều là người dân nước Việt Nam, được quan tâm, chăm lo và bình đẳng trước pháp luật. Mỗi người dân đều có trong mình lòng yêu nước và tinh thần tự tôn dân tộc. Giáo sư Hoàng Chí Bảo cho rằng, lòng yêu nước và truyền thống yêu nước của dân tộc từ bao lâu nay trong lịch sử đã trở thành tài sản, giá trị thiêng liêng, cao quý của dân tộc Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam, không chỉ ôm giữ niềm tự hào, mà cần phải đánh thức, làm sống dậy niềm tự hào đó. Trước hết đó là, bảo vệ tinh thần đoàn kết dân tộc, không nghe theo những xúi giục, kích động của các phần tử bất mãn và các thành phần chống phá chế độ.

“Người dân thì có thể do thiếu hiểu biết, thiếu thông tin, thiếu cân nhắc, tỉnh táo khi quyết định hành vi ứng xử của mình, nhưng kẻ xấu thì làm việc này có tính toán. Chúng chống phá sự phát triển tốt đẹp, bình yên của đất nước chúng ta, chống phá chế độ và muốn chúng ta đi chệch con đường mà Đảng ta, nhân dân ta đã lựa chọn, đó là con đường CNXH” - Giáo sư Hoàng Chí Bảo khẳng định.

Cách đây 6 thế kỷ, sau khi đập tan ách thống trị, đô hộ 20 năm của giặc Minh, Nguyễn Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc ngọn cờ phấp phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào”. Tinh thần và tư tưởng đoàn kết toàn dân, đoàn kết quân dân và binh sĩ đã trở thành mạch nguồn làm nên sức mạnh để chúng ta đương đầu vượt qua mọi khó khăn, thách thức.

Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp như hiện nay, cùng với việc nâng cao tinh thần chủ động phát hiện, đấu tranh với các âm mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, cũng cần huy động sự vào cuộc tích cực của nhân dân. Đây sẽ là “bức tường” vững chắc để ngăn chặn mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thực hành dân chủ trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Cách đây 55 năm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta bản Di chúc thiêng liêng, chứa đựng những tư tưởng lớn về Đảng và xây dựng Đảng, trong đó có nội dung hết sức sâu sắc về thực hành dân chủ trong Đảng.

Quán triệt và thực hành dân chủ trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cách thức hữu hiệu để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, thật sự "là đạo đức, là văn minh" theo tâm nguyện của Người.

Thực hành dân chủ trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - 1

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đến thăm, làm việc với Ban Thường vụ Thành ủy Hà Nội (Ảnh: TTXVN)

1- Trước lúc đi xa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta bản Di chúc thiêng liêng, kết tinh tư tưởng, đạo đức, phong cách và tình cảm, tâm nguyện của Người đối với dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta. Di chúc chứa đựng những tư tưởng lớn, là bản tổng kết lý luận và thực tiễn hết sức sâu sắc về cách mạng Việt Nam. Đặc biệt, Di chúc đề cập nội dung hết sức  sâu sắc về dân chủ và thực hành dân chủ trong Đảng, để Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, ngang tầm với đòi hỏi của tình hình và nhiệm vụ mới, xứng danh là Đảng duy nhất lãnh đạo, cầm quyền ở nước ta.

Trong Di chúc, Chủ tịch Hồ Chí Minh dành nhiều tâm huyết, trí tuệ và suy tư, trăn trở cho công tác xây dựng Đảng. Người căn dặn Đảng ta: việc cần làm trước tiên là "chỉnh đốn lại Đảng", làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ "đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân"; đồng thời nhấn mạnh, "Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy, chúng ta cũng nhất định thắng lợi".

Xác định rõ tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh càng quan tâm sâu sắc tới việc làm thế nào để dân chủ trong Đảngđượcphát huy mạnh mẽ trong mọi hoạt động của ĐảngTheo tư tưởng Hồ Chí Minh, dân chủ là "của quý báu nhất của nhân dân" và thực hành dân chủ là "chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn"(1) trong quá trình Đảng lãnh đạo sự nghiệp cách mạng.

Thực hiện dân chủ trong Đảng là quá trình Đảng đưa các giá trị dân chủ vào hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, trong sinh hoạt đảng, làm cho dân chủ trở thành hiện thực trong mọi hoạt động của Đảng. Dân chủ trong Đảng là dân chủ có tính đảng, gắn với kỷ luật, kỷ cương,đối lập với tình trạng dân chủ tùy tiện, vô chính phủ, dân chủ giả hiệu.

Thực hành dân chủ trong Đảng thể hiện ở nhiều khía cạnh, trong đó có việc tổ chức đảng, đảng viên bàn bạc, thảo luận các vấn đề để đi tới hình thành quyết sách chính trị của Đảng. Dân chủ trong Đảng được phản chiếutrong văn hóa đấu tranh tự phê bình và phê bình, hoạt động chất vấn của tổ chức đảng và đảng viên; phản ánh, kiến nghị với cơ quan có trách nhiệm và yêu cầu được trả lời theo quy định của Điều lệ Đảng và các quy định của Đảng. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, về bản chất, dân chủ không đối lập với tập trung, kỷ luật, mà chỉ đối lập với sự quan liêu, thói gia trưởng, độc đoán, chuyên quyền, lộng quyền và lạm quyền. Tập trung cũng không đối lập với dân chủ, mà chỉ đối lập với phân tán, cục bộ, thói tự do vô chính phủ.

Thực hành dân chủ trong Đảng được thể hiện trong tuân thủ nguyên tắc tập trung dân chủ. V.I. Lê-nin từng chỉ rõ: Không thể có một đảng cách mạng chân chính mà lại phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ. Nếu không có tập trung thì đảng trở thành một tổ chức biệt phái, hỗn độn, một "câu lạc bộ tranh luận"; nếu xa rời dân chủ, đảng sẽ bị biến thành một tổ chức chuyên quyền, độc đoán, quan liêu. Vận dụng đúng đắn quan điểm của V.I. Lê-nin về nguyên tắc tập trung dân chủ vào thực tiễn cách mạng Việt Nam, có lúc Chủ tịch Hồ Chí Minh đề cập "tập trung dân chủ", nhưng nhiều hơn cả là Người đề cập "dân chủ tập trung". Tập trung dân chủ bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, là nguyên tắc tổ chức cao nhất và là chế độ lãnh đạo của Đảng, phải được tuân thủ nghiêm ngặt, triệt để, làm cho Đảng ngày càng thống nhất về ý chí và hành động. Người lý giải: Đảng tổ chức theo nguyên tắc dân chủ tập trung. Nghĩa là: có Đảng chương thống nhất, kỷ luật thống nhất, cơ quan lãnh đạo thống nhất. Cá nhân phải phục tùng đoàn thể, số ít phải phục tùng số nhiều, cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng Trung ương; tất cả đảng viên phải chấp hành vô điều kiện nghị quyết của Đảng. Người còn chỉ rõ: "Tập trung trên nền tảng dân chủ. Cơ quan lãnh đạo của Đảng có uy tín và quyền lực chân chính. Những phương châm, chính sách, nghị quyết của Đảng, mọi đảng viên nhất định phải chấp hành. Kỷ luật của Đảng, mọi đảng viên phải tuân theo. Thế là tập trung. Nhưng tập trung ấy không phải là cá nhân chuyên chính; nó là xây dựng trên nền tảng dân chủ"(2). Dân chủ dưới sự chỉ đạo tập trung, được thể hiện ở chỗ "trong Đảng, mọi đảng viên có quyền nêu ý kiến, đặt đề nghị, tham gia giải quyết vấn đề. Nhưng quyết không được trái sự lãnh đạo tập trung của Đảng, trái nghị quyết và trái kỷ luật của Đảng"(3).

Để thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Phải thật sự mở rộng dân chủ để cho tất cả đảng viên bày tỏ hết ý kiến của mình; phải tập hợp ý kiến của đảng viên để giúp Trung ương chuẩn bị Đại hội Đảng cho thật tốt; làm như thế là khơi dậy tinh thần trách nhiệm và tính tích cực chủ động của tất cả đảng viên. Khi đã thảo luận, bày tỏ ý kiến rồi thì đi đến tập trung, làm cho "Đảng ta tuy nhiều người, nhưng khi tiến đánh thì chỉ như một người"(4), tức là đề cập ý chí thống nhất, hành động thống nhất. Việc thực hành dân chủ, mở rộng dân chủ trong Đảng cũng như đi tìm chân lý trong lĩnh vực tư tưởng. Người chỉ rõ: "Chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người. Khi mọi người đã phát biểu ý kiến, đã tìm thấy chân lý, lúc đó quyền tự do tư tưởng hóa ra quyền tự do phục tùng chân lýChân lý là cái gì có lợi cho Tổ quốc, cho nhân dân. Cái gì trái với lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân tức là không phải chân lý. Ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân - tức là phục tùng chân lý"(5). Trong quá trình thực hành dân chủ phải kiên quyết chống mọi biểu hiện lệch lạc, không để "sinh ra thói "không nói trước mặt, chỉ nói sau lưng", "trong Đảng im tiếng, ngoài Đảng nhiều mồm", sinh ra thói "thậm thà thậm thụt" và những thói xấu khác"(6).

Là tổ chức lãnh đạo xây dựng, phát triển nền dân chủ ở nước ta, Đảng phải là hạt nhân và là tấm gương thực hành, phát huy dân chủ. Vì thế, Người đòi hỏi "đảng viên ở địa vị càng cao... càng phải làm gương dân chủ"(7). Dân chủ trong Đảng, do đó có ý nghĩa rất lớn đối với việc phát huy dân chủ trong xã hội.

Một điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm khi phát huy dân chủ trong Đảng, đó là: Với vai trò, sứ mệnh là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, thì Đảng phải phát huy cao độ vai trò của Mặt trận dân tộc thống nhất và các tổ chức chính trị - xã hội để thông qua các tổ chức này, nhân dân thực hiện và phát huy vai trò là chủ, làm chủ của mình. Quyền lực thuộc về nhân dân - đó chính là dấu hiệu đặc trưng của chế độ dân chủ mới. Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn tình trạng người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản. Đảng tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân; dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng; đoàn kết và lãnh đạo nhân dân tiến hành sự nghiệp cách mạng. Vì thế, thực hành dân chủ trong Đảng đòi hỏi phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng Đảng, "Phải thật sự thi hành dân chủ trong Đảng và trong quần chúng"(8). Đảng phải khuyến khích nhân dân trong vai trò làm chủ "giúp Chính phủ và Đoàn thể kiểm tra công việc và hành vi của các cán bộ"(9). Điều đó có ý nghĩa lớn trong phát triển nền dân chủ mới, giúp cho Đảng phòng, tránh được tệ quan liêu hóa, xa rời nhân dân. Để phát huy dân chủ, Đảng có trách nhiệm làm cho mỗi người dân "phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức mới để có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà"(10)họ phải biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Đó là những vấn đề có liên quan trực tiếp tới quá trình thực hành và phát triển dân chủ trong Đảng và trong xã hội. Một trong những vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm là phòng, chống việc làm đi ngược với lợi ích của quần chúng, biểu hiện lệch lạc trong quá trình dân chủ hóa. Người lên án hiện tượng một số cán bộ "Miệng thì nói dân chủ, nhưng làm việc thì họ theo lối "quan" chủ. Miệng thì nói "phụng sự quần chúng", nhưng họ làm trái ngược với lợi ích của quần chúng, trái ngược với phương châm và chính sách của Đảng và Chính phủ"(11). Người còn chỉ rõ: "Tác phong của những "ông quan liêu" là thiếu dân chủ, không giữ đúng nguyên tắc lãnh đạo tập thể, phân công phụ trách"(12).

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân chủ và kỷ luật của Đảng có mối quan hệ biện chứng, là hai mặt không thể tách rời trong một thể thống nhất của chế độ sinh hoạt đảng. Người cho rằng, dân chủ phải đi đôi với kỷ luật, kỷ cương. "Để làm cho Đảng mạnh, thì phải mở rộng dân chủ (thật thà tự phê bình và phê bình), thực hành lãnh đạo tập trung, nâng cao tính tổ chức và tính kỷ luật"(13) và "thống nhất ý chí, thống nhất hành động, thống nhất kỷ luật, tập trung lãnh đạo là việc cực kỳ cần thiết và cực kỳ quan trọng"(14). Theo Người, "Trong nội bộ Đảng có dân chủ rộng rãi, đồng thời có kỷ luật nghiêm khắc"(15); do đó, phải kiên quyết chống lời nói và việc làm tự do vô tổ chức, như "không xét thời gian, địa điểm, điều kiện mà nói lung tung; tự do hành động; dân chủ quá trớn"(16).

2-Tạo môi trường và điều kiện thuận lợi để phát huy dân chủ, để cán bộ, đảng viên được phát huy tối đa năng lực cá nhân, tạo sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội chính là cách thức phát huy hiệu quả vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng. Vận dụng và phát triển tư tưởng về thực hành dân chủ trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta đã cụ thể hóa trong Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Nghị quyết Đại hội các khóa và từng bước hoàn thiện trong nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, trong hoạt động thực tiễn của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên.

Những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, của công tác xây dựng Đảng là thước đo cho những giá trị đạt được về thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội. Thực tiễn cho thấy, dân chủ ngày càng được thực hiện tốt hơn qua từng năm và qua mỗi nhiệm kỳ Đại hội Đảng. Dân chủ trong Đảng được mở rộng đúng hướng, từ đó tăng cường đoàn kết thống nhất trong nội bộ Đảng; đồng thời, phát hiện và ngăn ngừa nhiều việc làm sai trái, xử lý nghiêm không ít tổ chức đảng và đảng viên vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ.

Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đề cập việc có chính sách khuyến khích và cơ chế phù hợp bảo vệ cán bộ, đảng viên có ý chí chiến đấu cao, gương mẫu thực hiện nguyên tắc của Đảng và pháp luật của Nhà nước, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Nghị quyết các kỳ Đại hội của Đảng đều được lấy ý kiến rộng rãi trong Đảng và trong xã hội. Trong công tác cán bộ, việc lấy phiếu tín nhiệm, ứng cử, đề cử đều được đưa vào quy định của Đảng, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được đẩy mạnh, đi vào chiều sâu, theo phương châm "trong trước, ngoài sau", "trên trước, dưới sau", "cấp trên nêu gương cho cấp dưới", thực hành dân chủ được quán triệt và yêu cầu thực hiện trong tất cả hoạt động của Đảng, từ công tác cán bộ, khen thưởng, kỷ luật và "không có vùng cấm", "không có ngoại lệ" khi xử lý sai phạm.

Trong các nhiệm kỳ gần đây, thực hành dân chủ trong Đảng tiếp tục được mở rộng, phát huy bằng những quy chế, quy định chặt chẽ hơn, như Quy định của Bộ Chính trị báo cáo công việc và hoạt động giữa hai kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương; các cấp ủy có trách nhiệm báo cáo sự lãnh đạo, chỉ đạo giữa hai kỳ họp. Quy định thời gian tiến hành tự phê bình và phê bình, lấy phiếu tín nhiệm cán bộ, đảng viên từ cơ quan cao nhất đến tổ chức cơ sở, nhân dân góp ý xây dựng Đảng. Các quy chế về thông tin, cung cấp thông tin, bảo mật thông tin được tăng cường(17).

Cùng với đẩy mạnh thực hành dân chủ trong Đảng, việc thực hành dân chủ trong các cơ quan nhà nước được chú trọng. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991) xác định Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam "Là tổ chức thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân, Nhà nước ta phải có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật"(18). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011),tiếp tục khẳng định và nêu rõ hơn vấn đề này: "Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Quyền lực Nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Nhà nước ban hành pháp luật; tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa"(19). Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, kế thừa các Hiến pháp trước đó, trên cơ sở truyền thống yêu nước, đoàn kết, nhân nghĩa, kiên cường, bất khuất và xây dựng nên nền văn hiến Việt Nam, quán triệt việc lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, Hiến pháp năm 2013 đã cụ thể hóa tư tưởng Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân.

Thực hành dân chủ trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh - 2

Các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Bình Gia (tỉnh Lạng Sơn), nhiệm kỳ 2020 - 2025 (Ảnh: TTXVN)

Trong sự vận hành của cơ chế"Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ", Đảng ta nhận thức rõ tầm quan trọng của việc phải bảo đảm "tất cả quyền lực thuộc về nhân dân" thông qua kiểm soát chặt chẽ việc thực thi quyền lực của các tổ chức trong hệ thống chính trị.

Trong gần 40 năm đổi mới vừa qua, Đảng đã chỉ đạo xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực đạt nhiều kết quả trong thực tiễn. Nhiều văn bản liên quan được chỉ đạo xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện hiệu quả trong đời sống xã hội(20). Trong nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới, nhất là nhiệm kỳ Đại hội XII và hơn nửa nhiệm kỳ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, Đảng ta đã ban hành nhiều văn bản quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19-12-2016, "Về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên". Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Quy định số 08-QĐi/TW, ngày 25-10-2018, về "Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương". Để nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, Bộ Chính trị đã ban hành Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền; Ban Bí thư đã ban hành Chỉ thị số 18-CT/TW, ngày 26-10-2022, về phát huy vai trò, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng lần lượt được ban hành, như Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở...

Tuy nhiên, để dân chủ thấm sâu trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội..., chúng ta còn nhiều việc phải làm. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận về dân chủ và phát huy dân chủ phần nào chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn, đặc biệt trong điều kiện mới, như phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang thúc đẩy công nghệ thông tin, công nghệ số, mạng xã hội phát triển nhanh chóng, mở ra nhiều cơ hội đồng thời đưa đến nhiều thách thức cho việc thực hành dân chủ,... Việc thực hành dân chủ có lúc, có nơi còn mang tính hình thức, nhiều mặt chưa gắn kết chặt chẽ với việc thực hiện pháp luật, kỷ luật, kỷ cương. Tình trạng tùy tiện, thiếu ý thức tổ chức, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm, không chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, báo cáo không trung thực, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, làm cho một số nghị quyết của Đảng khó vào cuộc sống. Một số tổ chức đảng ở các cấp chưa được chỉnh đốn kịp thời; dân chủ bị vi phạm, kỷ luật, kỷ cương lỏng lẻo, nội bộ không đoàn kết, chất lượng sinh hoạt đảng giảm sút... Đại hội XIII của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra: "Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ ở một số nơi chưa nghiêm, thậm chí còn vi phạm, mất đoàn kết nội bộ, có nơi còn biểu hiện cục bộ, lợi ích nhóm. Kiểm soát quyền lực còn lúng túng, hiệu quả thấp"(21).

3- Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đảng ta là một đảng cách mạng, một đảng vì dân, vì nước"(22). Người cũng lưu ý: "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài"(23), vào Đảng không phải là để "làm quan cách mạng", để "thăng quan tiến chức", để "một người làm quan cả họ được nhờ", "đè đầu cưỡi cổ dân chúng như dưới thời thực dân, phong kiến",... Đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải ý thức rất rõ trách nhiệm lịch sử và vinh quang khi được nhân dân và dân tộc trao sứ mệnh lãnh đạo, cầm quyền, để quyết tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, theo đó: "Việc gì lợi cho dân, ta phải hết sức làm. Việc gì hại đến dân, ta phải hết sức tránh". Trong bản Di chúc lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: "Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân"(24).

Với tư cách là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam có vai trò quyết định trong quá trình phát huy dân chủ. Dân chủ trong Đảng là một trong những tiền đề chủ yếu để thúc đẩy dân chủ trong xã hội. Đứng trước thuận lợi, thời cơ mới của đất nước sau gần 40 năm đổi mới; đối diện với nhiều khó khăn, thách thức đan xen trong quá trình phát triển đất nước, Đảng ta ngày càng nhận rõ sức mạnh của dân chủ và phát huy dân chủ trong Đảng và trong xã hội.

Để thực hành dân chủ trong Đảng theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh một cách thực chất, hiệu quả, trước hết cần giáo dục cho cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu, thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội, làm cho họ nhận thức rõ sức mạnh và ý nghĩa hết sức to lớn của dân chủ đối với Đảng, với chế độ. Cùng với đó, quy định cụ thể, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong mọi hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên; giúp cho cán bộ, đảng viên tự giác, nghiêm túc, thường xuyên thực hiện và thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ và các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, theo hướng mở rộng dân chủ trong tất cả các khâu, từ tuyển dụng, tạo nguồn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đến bổ nhiệm, giới thiệu, bầu cử, sử dụng, thực hiện chính sách đối với cán bộ,... bảo đảm lựa chọn và sử dụng được người có đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ. Hoàn thiện thể chế và cơ chế kiểm soát quyền lực đi đôi với bảo vệ, khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo vì lợi ích chung; thực hiện quy định nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là của cấp ủy, người đứng đầu bảo đảm thực chất, thiết thực đồng thời với đẩy mạnh việc noi gương, học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Đổi mới mạnh mẽ nội dung và hình thức sinh hoạt đảng theo hướng phát huy hơn nữa tinh thần dân chủ, tiếp thu ý kiến góp ý. Có cơ chế cụ thể để phát huy mạnh mẽ vai trò và tinh thần trách nhiệm của nhân dân trong tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, đặc biệt là trong giám sát việc thực hiện nêu gương, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. 

Bản Di chúc thiêng liêng, trong đó có những lời căn dặn quý báu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về dân chủ và thực hành dân chủ rộng rãi trong Đảng, luôn là kim chỉ nam, là ánh sáng soi đường để Đảng và nhân dân ta thêm kiên định, vững vàng trên nền tảng tư tưởng của Đảng, xây dựng Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện, xứng danh Đảng "là đạo đức, là văn minh", tiêu biểu cho trí tuệ, lương tri, phẩm giá của dân tộc và thời đại./.

Dư luận trong nước và quốc tế ủng hộ Việt Nam trong vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc


Thực tế thời gian qua cho thấy, Việt Nam hoàn toàn xứng đáng và có thể làm tốt bất cứ vai trò quốc tế quan trọng nào. Việt Nam đã từng trúng cử và đã hoàn thành tốt vai trò thành viên Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016. Việt Nam đã hai lần trúng cử là Uỷ viên không thường trực chính thức của Hội đồng bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008-2009 và nhiệm kỳ 2020 - 2021). Kể từ khi chính thức trở thành thành viên Liên hợp quốc vào tháng 9/1977, Việt Nam đã đóng góp hiệu quả vào hoạt động của Liên hợp quốc trong xây dựng hoà bình, phát triển và bảo đảm quyền con người. Hiện nay, Việt Nam là điều phối viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tại Hội đồng Nhân quyền. Việt Nam cũng đã hoàn thành Báo cáo quốc gia theo cơ chế kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ 2 của Hội đồng nhân quyền và đang tiến hành những khuyến nghị cho UPR chu kỳ 3. Việc Việt Nam quan tâm đến các công ước quốc tế về bảo vệ và thúc đẩy quyền con người cũng đã tạo ấn tượng sâu đậm tới cộng đồng quốc tế về nỗ lực đóng góp nâng cao đảm bảo quyền con người ở Việt Nam hiện nay.

Không chỉ dư luận nhân dân trong nước ủng hộ, tự hào mà các cơ quan báo chí nước ngoài cũng đưa tin bài, thể hiện sự ủng hộ Việt Nam trong vai trò thành viên của Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc. Báo Washington Times ngày 21/9/2022 đã đăng bài viết trong đó ủng hộ Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 – 2025. Bài viết cho thấy Việt Nam tiếp tục được đánh giá cao tại Liên hợp quốc với việc cử cán bộ tham gia Phái bộ gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc tại Nam Sudan và Cộng hoà Trung Phi, là thành viên tích cực trong các cuộc đàm phán nhằm đạt được các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Hơn nữa, cuộc chiến chống đại dịch COVID – 19 của Việt Nam cũng ghi nhận nhiều kết quả. Việt Nam đã hỗ trợ hiệu quả cho một số quốc gia về điều kiện, cơ sở vật chất để phòng chống dịch. Bài viết tổng kết rằng, kể từ khi chính thức trở thành thành viên Liên hợp quốc vào tháng 9/1977, Việt Nam đã đóng góp hiệu quả vào hoạt động của Liên hợp quốc trong xây dựng hòa bình, phát triển và đảm bảo quyền con người.

Theo bà Caitlin Wiesen, Nguyên trưởng Đại diện thường trú Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, một trong những thành tựu nổi bật của Việt Nam trong việc đảm bảo quyền con người là công cuộc xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân. Không phải ngẫu nhiên Việt Nam được Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) tín cử là đại diện cho Khối tham gia ứng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025.

Có thể thấy rằng, việc Việt Nam trúng cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2025 có ý nghĩa rất quan trọng, là lời khẳng định đanh thép, đập tan các luận điệu xuyên tạc, chống phá của các đối tượng, các tổ chức phản động, thù địch ở trong và ngoài nước đang cố tình phủ nhận thành quả của Việt Nam trong việc thúc đẩy quyền con người.

Sự kiện này một lần nữa khẳng định cho ý chí, quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta về coi trọng và phát huy hiệu quả nhân tố con người trong phát triển đất nước, đồng thời khẳng định tính đúng đắn trong đường lối đối ngoại của Đảng ta trong tình hình mới. Với sự đồng thuận và phối hợp chặt chẽ trong cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, cùng sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế, Việt Nam chắc chắn sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ tại Hội đồng nhân quyền, chung tay với cộng đồng quốc tế xây dựng một thế giới hoà bình, đảm bảo quyền con người trong xã hội./.