Thứ Hai, 7 tháng 10, 2024

“TỰ DO TÔN GIÁO” ÂM MƯU PHÍA SAU CỦA NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

 Một trong những nguyên nhân khiến các thế lực thù địch và đối tượng xấu thường xuyên bịa đặt, vu cáo về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là nhằm bẻ lái luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam theo các tiêu chuẩn phương Tây.

Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”: Sức mạnh trong sự đồng thuận của toàn xã hội.

Những năm qua, do cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí nên một số cá nhân, tổ chức hoạt động dưới danh nghĩa “người bảo vệ” tự do tôn giáo và nhân quyền thế giới vẫn tung ra những thông tin thiếu khách quan, những nhận định sai trái về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Điển hình là gần đây, 21/8/2024, trên trang Facebook Việt Tân phát tán bài “Lên án nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam” đàn áp tôn giáo”; ngày 29/9/2024 trên trang Facebook Chân Trời mới Meddia tán phát bài “Cha Lê Quốc Thăng rời khỏi uỷ ban công lý và Hoà bình của Hội đồng giáo mục Việt Nam”, nội dung vu cáo chính quyền Việt Nam “đàn áp” các hoạt động của tôn giáo; cổ suý cho hoạt động chống phá chính quyền của Linh mục Lê Quốc Thăng và hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng trong tổ chức “Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên”.

Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có cả tôn giáo nội sinh và tôn giáo ngoại nhập và từng được ví như một “bảo tàng” về tín ngưỡng, tôn giáo của thế giới. Theo thống kê cập nhật từ Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và hơn 26,5 triệu tín đồ, chức sắc của các tôn giáo. Tính đến hết năm 2021 đã có 16 tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận, trong đó có Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo...

Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, bảo đảm công bằng, không phân biệt đối xử với các tôn giáo. Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có chính sách dân tộc, tôn giáo tiến bộ; tạo mọi điều kiện cho các loại hình tôn giáo hoạt động theo những quy định của Pháp luật và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân khuyến khích đồng bào có đạo hay không có đạo đoàn kết cùng chung mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN./.

 

NHẬN DIỆN VÀ ĐẤU TRANH PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU ĐÒI XÓA BỎ ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH

Đoàn viên, thanh niên là lực lượng đông đảo, đóng vai trò nòng cốt trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vị trí, vai trò quan trọng của Đoàn Thanh niên đã được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận và thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam chứng minh. Trong thời kỳ cách mạng 4.0 hiện nay, các thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn tìm mọi cách tác động vào giới trẻ để gây ra sự mơ hồ, mất phương hướng cho lực lượng thanh niên và mục đích chúng hướng đến là xóa bỏ tổ chức Đoàn thanh niên. Trong bài viết này, tác giả sẽ nhận diện một số thủ đoạn, chiêu trò nham hiểu nhằm hạ bệ vai trò của tổ chức đoàn và tuổi trẻ Việt Nam hiện nay và đưa ra các luận cứ để phản bác các quan điểm sai trái, thù địch đó.

Nhận diện thủ đoạn, chiêu trò nham hiểm đòi xóa bỏ tổ chức Đoàn và hạ bệ vai trò của tuổi trẻ Việt Nam.

Lợi dụng sự tập trung theo dõi của giới trẻ đối với các hoạt động truyền thông về Đoàn, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tạo cớ đào rộng, khoét sâu, ngụy tạo chứng cứ gây nhiễu thông tin, nội công ngoại kích, lèo lái dư luận theo ý đồ, kịch bản được vạch sẵn, gây ra sự mơ hồ, mất phương hướng cho lực lượng thanh niên, gây ra biểu hiện “nhạt Đảng, khô Đoàn, xa rời chính trị” là thực tế đang tồn tại ở một số bộ phận đoàn viên, thanh niên. Đặc biệt, trong thời kỳ cách mạng 4.0 với sự bùng nổ công nghệ thông tin như hiện nay, các thế lực thù địch trong và ngoài nước luôn tìm mọi cách tác động vào giới trẻ, đưa ra những thông tin thật, giả lẫn lộn, cố tình quy chụp, đánh đồng hiện tượng thành bản chất, cùng với các luận điệu sai trái, xuyên tạc đã và đang lan truyền trên mạng xã hội với tốc độ cao.

Xuất phát từ một số vụ việc mang tính cá nhân của một số cán bộ Đoàn, những kẻ cơ hội chính trị đã quy chụp kệch cỡm với một thái độ định kiến, hằn học và ngụy biện cho rằng, Đoàn chỉ là cái vỏ bọc hình thức, không còn phù hợp với tuổi trẻ thời hội nhập quốc tế. Đơn cử như một tài khoản có tên là “Trần Duy Hiển”đã cùng một số đối tượng sử dụng mạng xã hội Facebook đăng tải bải viết và có những bình luận quy chụp, xuyên tạc rằng: “Cái màu xanh đó hằng năm tiêu tốn hàng nghìn tỷ ngân sách quốc gia”; “hay ăn no ấm cật là bên Đoàn”; “Họ trả phải động não suy nghĩ sáng tạo đổi mới gì cả”; “Nhiều khi các bạn trẻ thiếu hiểu biết chính trị bị cái tổ chức này lợi dụng”. Đáng chú ý, ở phần bình luận đã có nhiều phần tử cơ hội, thế lực chống phá, cá nhân thiếu hiểu biết đã hùa theo và để lại những bình luận xuyên tạc rất phản cảm.

Bên cạnh đó, trên cơ sở “dẫn chứng” về một số thanh niên có lối sống lệch lạc, vi phạm pháp luật, các đối tượng cơ hội, thù địch lồng ghép thông tin, bình luận, ngụy biện nhằm phủ nhận vai trò của tổ chức Đoàn đối với thanh niên, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với Đoàn thanh niên nói riêng và với đất nước nói chung. Qua đó chúng hòng tác động tiệu cực đối với một số bộ phận thanh niên ít rèn luyện, tu dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, không đủ kiến thức và sự tỉnh táo để nhận diện âm mưu thâm độc của chúng và tạo nên sự “chuyển hóa về tư tưởng” dần dần của lớp trẻ, hòng tạo ra một thế hệ trẻ sống theo chủ nghĩa thực dụng, thiếu hiểu biết, thiếu kiến thức, thích ăn chơi, vụ lợi, vị kỷ, dễ dàng bị kích động, sẵn sàng xét lại quá khứ... Đây cũng là một âm mưu thâm độc mà các thế lực thù địch đã sử dụng, tấn công vào thanh niên các nước xã hội chủ nghĩa trước kia, nhằm “phá hủy lực lượng cộng sản tiềm năng không thể coi thường ở các nước xã hội chủ nghĩa”

Lợi dụng chiêu thức té nước theo mưa, chiến dịch công kích, chống phá của các thế lực thù địch hiện nay đang chĩa mũi nhọn vào thanh niên, vào tổ chức Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh. Từ việc phủ định thành quả của Đoàn, chúng kêu gọi thanh niên, trí thức trẻ đi theo trào lưu “cấp tiến”, tư tưởng “tự do”, “dân chủ”, tung hô những người trẻ lầm đường lạc lối là những “anh hùng”. Bằng các hình thức tọa đàm, phỏng vấn, lấy ý kiến người trẻ, chúng sắp xếp sẵn những đối tượng thanh niên là người Việt Nam ở nước ngoài có tư tưởng chống đối Đảng, Nhà nước ta để gieo rắc, truyền tải tư tưởng phản động. Từ ý kiến cá nhân trên một số diễn đàn, chúng đòi xóa bỏ Huy hiệu Đoàn, kêu gọi tuổi trẻ tẩy chay tổ chức đoàn và các phong trào thanh niên. Nhiều trang thông tin hải ngoại phát tiếng Việt gọi những đối tượng này bằng những danh xưng ngoa ngôn như “nhà hoạt động dân chủ”, “nhà đấu tranh nhân quyền”, “nhà phản biện xã hội”... cổ xúy trào lưu lợi dụng tự do ngôn luận để “phản biện”, lôi kéo thanh niên rời Đoàn, bỏ Đảng. Đón trước những hoạt động, sự kiện chính trị của tổ chức Đoàn, thời gian qua, một số đối tượng núp bóng tổ chức phi chính phủ, lợi dụng các hoạt động từ thiện để tập hợp, lôi kéo thanh niên Việt Nam tham gia các khóa đào tạo ở nước ngoài nhằm “tẩy não”, gieo rắc tư tưởng cực đoan, chống đối Đảng, Nhà nước.

Các thủ đoạn của thế lực thù địch nhằm “tẩy não” giới trẻ Việt Nam đã và đang thay đổi ngày một tinh vi nhằm chuyển hóa tư tưởng, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở những chủ nhân tương lai của đất nước. Chính vì vậy, trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng cũng đã nhấn mạnh cần phải: “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch”. Và thực tế đó đòi hỏi tổ chức đoàn nói chung, mỗi đoàn viên, thanh niên nói riêng phải tỉnh táo để tránh rơi vào “bẫy suy thoái” được giăng sẵn bởi các phần tử cơ hội, cũng như có các luận cứ để phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch nói trên.

 


ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH TRONG BỐI CẢNH MỚI

 Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, khó lường thì nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch càng có ý nghĩa cấp thiết.

Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời mùa Xuân năm 1930 là dấu mốc lịch sử trọng đại, bước ngoặt quan trọng trong tiến trình lịch sử cách mạng Việt Nam, mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc. Đến nay, suốt 94 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, 38 năm tiến hành công cuộc đổi mới, 33 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng ta luôn phải đối mặt với nhiều âm mưu, thủ đoạn chống phá, công kích của các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị. Không từ một thủ đoạn nào, bọn chúng ra sức gây nhiễu, tạo khoảng trống ý thức hệ trong cán bộ, đảng viên, kích động, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” hòng làm lung lạc niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Thời gian qua, nhờ có sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc đồng bộ, tích cực của cả hệ thống chính trị, cùng với sự đồng tình, hưởng ứng, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân cả nước và đồng bào ta ở nước ngoài, chúng ta đã khắc phục, vượt qua được những khó khăn rất lớn, những tác động tiêu cực do dịch bệnh, thiên tai, bão lụt, hạn hán xảy ra. Đó là minh chứng sinh động, khẳng định tính ưu việt của chế độ; truyền thống đoàn kết, yêu nước, lòng nhân ái và ý chí kiên cường của nhân dân ta. Càng trong khó khăn, thử thách, truyền thống và ý chí đó càng được nhân lên gấp bội, là nguồn lực và động lực to lớn, không một thế lực nào có thể ngăn cản, để xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh, đất nước tiếp tục đi lên, dân tộc phát triển cường thịnh, trường tồn.

Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử là kết tinh sức sáng tạo của Đảng và nhân dân ta, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta là phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển của thời đại; khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Trong đó, phải kể đến công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch được Đảng ta đặc biệt quan tâm, đạt nhiều kết quả tích cực. Cụ thể:

Thứ nhất, chất lượng lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch ngày càng được nâng cao.

Thứ hai, sử dụng đa dạng giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.

Thứ ba, Đảng ta đã sử dụng các phương thức, giải pháp có tính bản lề, kết hợp “xây” và “chống”.

Thứ tư, kết hợp cùng lúc nhiều phương thức, giải pháp, như đấu tranh, phản bác với nêu gương; tuyên truyền, phổ biến với giáo dục ý thức cách mạng, chủ nghĩa yêu nước; đấu tranh, phản biện với chứng minh, đối chứng, so sánh (“chứng cứ thật, giá trị thật”); đấu tranh, phản biện với sử dụng biện pháp mạnh (“xử lý không có vùng cấm”, “không chấp nhận lợi ích cục bộ, lợi ích nhóm”, “trục lợi chính sách”).

Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ quan trọng, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn thể nhân dân. Thời gian tới, để bảo đảm hiệu quả cao nhất, cần mạnh dạn hoàn thiện, bổ sung và đổi mới phương thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch qua một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ðảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch.

Hai là, xây dựng Đảng thực sự trong sạch, vững mạnh, đấu tranh không khoan nhượng với mọi biểu hiện của sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tham nhũng, tiêu cực. Đảng phải tự cường, thực sự trong sạch, vững mạnh trên tất cả các mặt về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ... để có khả năng tự bảo vệ mình.

Ba là, thực hiện bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bằng nhiều hình thức đa dạng, thiết thực, hiệu quả.

Bốn là, chú trọng và nâng cao hiệu quả xây dựng “thế trận lòng dân” bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới.

Năm là, xây dựng phương thức “giá trị pháp lý - chuẩn mực cao nhất” làm nền tảng cho việc đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, xuyên tạc, bôi nhọ.

 

KHÔNG CHỦ QUAN LƠI LỎNG TAY SÚNG

 Bác Hồ đã căn dặn các chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong trong buổi trò chuyện thân mật ngày 19-9-1954 trước khi đơn vị vào tiếp quản Thủ đô: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Thực hiện lời dạy của Bác và thi hành các thỏa thuận đã ký kết, sáng ngày 10-10-1954, các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam gồm có bộ binh, pháo binh, cao xạ, cơ giới... từ năm cửa ô, với quân phục chỉnh tề, huy hiệu “Chiến thắng Điện Biên Phủ” lấp lánh trên ngực, lưỡi lê tuốt trần đứng trên các xe ô tô sơn màu xanh rêu, cánh cửa in phù hiệu cờ đỏ sao vàng hùng dũng tiến vào Thủ đô Hà Nội trong niềm vui, phấn khởi chào đón của nhân dân thành phố.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mặc dù phải đối đầu với tên đầu sỏ của chủ nghĩa đế quốc có lực lượng quân sự hàng đầu thế giới, nhưng dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, anh dũng chiến đấu, mưu trí, sáng tạo, “dám đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng” đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, cùng nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đánh bại ý chí xâm lược của đối phương; đánh bại nỗ lực cao nhất của kẻ thù, làm nên Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội (12-1972); tiến hành Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, viết lên trang sử hào hùng, oanh liệt của thời đại Hồ Chí Minh.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu, cùng cả nước tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Bước vào công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta; bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, biên giới và hải đảo của nước Việt Nam thống nhất... Tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.

Mỗi chiến công, mỗi thành tựu của Quân đội nhân dân Việt Nam là sự kết tinh của nhiều yếu tố. Đó là sự lãnh đạo của Đảng, là thực hiện theo tư tưởng của Bác, là sự đóng góp của nhân dân, sự phấn đấu hy sinh, quên mình, anh dũng, sáng tạo của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ... đã đi vào lịch sử dân tộc như bản hùng ca bất hủ, biểu tượng sáng ngời ý chí chiến đấu vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, để lại những kinh nghiệm sâu sắc về tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, về xây dựng lực lượng, phương pháp tiến hành và nghệ thuật quân sự phát huy sức mạnh tổng hợp trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Lời căn dặn của Bác không chỉ nói với Đại đoàn Quân Tiên Phong mà còn nói với toàn quân, toàn dân ta, không chỉ nói với thế hệ năm xưa mà còn nói với thế hệ hôm nay và cả với các thế hệ mai sau, như một mệnh lệnh vang vọng ngàn năm, trường tồn cùng với đất nước, với dân tộc Việt Nam: “Dựng nước phải đi đôi với giữ nước”

 

Ninh Bình tôn vinh 65 cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến học và làm theo Bác.

 65 cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến tham dự Lễ tôn vinh hôm nay là minh chứng rõ nét nhất cho kết quả triển khai việc học tập và làm theo Bác trong 10 năm qua từ tỉnh đến cơ sở, trên các ngành, các lĩnh vực, các tầng lớp nhân dân của tỉnh Ninh Bình.

Đồng chí Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình biểu dương, chúc mừng 65 tập thể, cá nhân được vinh danh, khen thưởng tại buổi lễ.   

Nhân dịp kỷ niệm 55 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh và 65 năm Bác Hồ về thăm Ninh Bình (1959-2024), ngày 3/10, Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Ninh Bình tổ chức Lễ tôn vinh 65 cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (giai đoạn 2014-2024).

Tham dự buổi lễ có các đồng chí: Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình; Đinh Thị Mai, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương.

Phát biểu khai mạc buổi lễ, đồng chí Bùi Mai Hoa, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Ninh Bình cho biết: Cùng với cả nước, Đảng bộ, chính quyền, lực lượng vũ trang và nhân dân tỉnh Ninh Bình đang thi đua lập thành tích và tổ chức nhiều hoạt động thiết thực chào mừng kỷ niệm 55 năm thực hiện Di chúc của Bác, 65 năm Bác Hồ về thăm tỉnh. Ninh Bình vinh dự 5 lần được Bác Hồ về thăm, đây là những sự kiện trọng đại, là kỷ niệm thiêng liêng mãi mãi khắc ghi trong tâm trí, tình cảm của mỗi cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân tỉnh Ninh Bình. Những lời căn dặn ân cần của Bác mỗi khi về thăm thể hiện tình cảm sâu sắc của Bác dành cho Ninh Bình. 

Đồng chí Bùi Mai Hoa khẳng định: 65 cá nhân, tập thể điển hình tiên tiến tham dự Lễ tôn vinh hôm nay là minh chứng rõ nét nhất cho kết quả triển khai việc học tập và làm theo Bác trong 10 năm qua từ tỉnh đến cơ sở, trên các ngành, các lĩnh vực, các tầng lớp nhân dân của tỉnh Ninh Bình. 65 điển hình là 65 câu chuyện khác nhau với những việc làm cụ thể trên nhiều lĩnh vực đang hàng ngày, hàng giờ tỏa hương, thắp sáng, làm đẹp cho đời. Đó là những tấm gương về tinh thần trách nhiệm, nói đi đôi với làm, không ngại khó, ngại khổ, lao động sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, vượt mọi hiểm nguy gìn giữ bình yên cuộc sống. Đó là những tấm gương thầm lặng cống hiến cho khoa học. Đó là những con người đầy khổ đau nhưng lại hi sinh, bao bọc hàng trăm mảnh đời nghèo khổ. Đó là những tấm gương đầy nhân ái bao dung "thương người như thể thương thân" với phương châm "cho đi là còn mãi", "sống cho đi không nhận riêng mình". Và nhiều người trong các điển hình được tôn vinh, việc học tập và làm theo Bác đã trở thành nhu cầu tự thân, nhu cầu văn hóa...

Đồng chí Bùi Mai Hoa, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Ninh Bình báo cáo kết quả 10 năm thực hiện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trên địa bàn tỉnh.   

“Mỗi câu chuyện, nghĩa cử đẹp của các cá nhân, tập thể điển hình đã để lại ấn tượng sâu sắc cho xã hội về tinh thần học tập, lao động và cống hiến, hy sinh; thể hiện ý chí quyết tâm vượt khó, nghị lực phi thường, bản lĩnh sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, vượt qua thử thách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Nhiều tấm gương cảm động về tình yêu thương con người, trách nhiệm đối với nhân dân và xã hội, góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn, văn minh hơn, nhân ái và nghĩa tình hơn. 

Như câu chuyện của chị Lê Thị Thu Thủy, Chủ tịch Hội chữ thập đỏ thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình, một tấm gương điển hình tiên tiến học tập theo lời Bác về giàu lòng nhân ái, chị Thủy đã tích cực tuyên truyền, vận động gia đình, người thân và nhân dân thực hiện tốt phong trào đăng ký hiến mô, hiến tạng. Trong 10 năm (2014-2024), chị Lê Thị Thu Thủy đã lãnh đạo Hội Chữ thập đỏ thành phố Tam Điệp vận động được 6.321 tình nguyện viên tham gia, hiến 5.179 đơn vị máu (tương đương 1.295 lít máu) cung cấp cho các bệnh viện điều trị, cấp cứu bệnh nhân; trực tiếp 6 lần đưa tình nguyện viên đi hiến máu cấp cứu bệnh nhân ở các bệnh viện; từ năm 2018 đến 2024 đã vận động được 55 người đăng ký hiến mô tạng sau khi qua đời, đã vận động được 1 trường hợp hiến tạng, 3 người hiến giác mạc. Đặc biệt, vận động gia đình đăng ký hiến mô tạng của em trai để nối dài sự sống cho 4 người mắc bệnh hiểm nghèo và mang lại ánh sáng cho 2 người mù; vận động bố đẻ và người thân hiến tặng giác mạc cho 4 người mù. 

Hình ảnh tại Lễ tuyên dương. 

Hay gương điển hình khác là ông Đỗ Quang Sản (thôn 21, xã Khánh Trung, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình), tích cực học tập và làm theo lời Bác, những năm qua, ông và gia đình đã nỗ lực phát triển kinh tế, duy trì ổn định cuộc sống gia đình và tạo việc làm cho 8-10 lao động địa phương có thu nhập ổn định. Ông đã bỏ chi phí hơn 300 triệu đồng, xây dựng, sửa chữa nhiều cây cầu đã xuống cấp trong xã để phục vụ bà con nhân dân đi lại, góp phần xây dựng nông thôn mới và phát triển kinh tế cho địa phương... và hàng chục câu chuyện điển hình nhân văn khác của các cá nhân, tập thể được tôn vinh trong ngày hôm nay” – Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Ninh Bình cho biết.

Cũng trong chương trình, các đại biểu tham dự đã xem phóng sự truyền hình "Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn", qua đó giới thiệu khái quát về kết quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh của các cấp, ngành, địa phương và các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, giai đoạn 2014-2024.

Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình nhiệt liệt biểu dương, chúc mừng 65 tập thể, cá nhân được vinh danh, khen thưởng tại buổi lễ. Các tập thể, cá nhân được khen thưởng và được biểu dương, tôn vinh tại buổi lễ là những tập thể, cá nhân có thành tích tiêu biểu, xuất sắc trong học tập và làm theo Bác, đó là những bông hoa đẹp của "rừng hoa đẹp" làm cho đất nước phát triển phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, góp phần xây dựng văn hóa, lối sống con người vùng đất Cố đô đang hướng tới tầm nhìn di sản thiên niên kỷ, thành phố sáng tạo. 

65 điển hình là 65 câu chuyện khác nhau với những việc làm cụ thể trên nhiều lĩnh vực đang hàng ngày, hàng giờ tỏa hương, thắp sáng, làm đẹp cho đời.

Bí thư Tỉnh ủy Đoàn Minh Huấn nhấn mạnh: Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu luôn là tấm gương sáng ngời; vị lãnh tụ thiên tài, lỗi lạc của Đảng, dân tộc ta, Nhân dân ta. Tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người là sự kết tinh những truyền thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa của nhân loại. Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã trở thành phong trào sâu rộng, nhu cầu tự thân như một lẽ tự nhiên ở đời và làm người, học tập và lao động, sản xuất và chiến đấu, tu tâm và rèn trí của mỗi người dân đất Việt, của mỗi người dân Cố đô, của mỗi cán bộ, đảng viên trong vai trò lãnh đạo và trách nhiệm cầm quyền. Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân phải tự nhắc nhở bản thân, ra sức học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh bằng cả bổn phận và trách nhiệm, thực hành đạo đức công vụ trong lối sống, nếp sống đời thường, cả làm việc và làm người...

“Hướng tới chuẩn bị Đại hội Đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu lần thứ XIV của Đảng và nỗ lực phấn đấu đến năm 2035, Ninh Bình trở thành thành phố trực thuộc Trung ương với đặc trưng đô thị di sản thiên niên kỷ, thành phố sáng tạo, đòi hỏi phải giải phóng mọi nguồn lực, sức mạnh nội sinh, dựa vào nền tảng giá trị tư tưởng, văn hóa và đạo đức con người theo tấm gương Chủ tịch Hồ Chí Minh” – Đồng chí Đoàn Minh Huấn cho biết.

Tại buổi lễ, 21 tập thể, 44 cá nhân điển hình tiên tiến học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh (giai đoạn 2014-2024) được tôn vinh và biểu dương. 

Lễ tôn vinh 65 điển hình tiên tiến (giai đoạn 2014 - 2024) là sự khẳng định việc tiếp nối, lan tỏa các giá trị tốt đẹp trong xã hội, truyền đi những thông điệp ý nghĩa đến các tầng lớp nhân dân trong tỉnh phấn đấu học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cánh Hồ Chí Minh; tạo sức bật mạnh mẽ cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân tiếp tục phát huy truyền thống lịch sử và cách mạng của quê hương, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XXII, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, xây dựng quê hương Ninh Bình ngày càng giàu đẹp, văn minh. 

Ninh Bình vinh dự được 5 lần đón Bác Hồ về thăm. Những năm qua, khắc sâu tâm nguyện, những lời dạy của Người dành cho Ninh Bình, Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân địa phương đã phát huy sức mạnh đoàn kết, thi đua học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Các nội dung học tập và làm theo Bác đã được cụ thể hóa thành các tiêu chí rèn luyện đối với cán bộ, đảng viên; các chuyên đề học tập hàng năm, qua đó tạo môi trường rèn luyện, thực hiện các nội dung đăng ký làm theo Bác. Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã thực sự thấm sâu trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội, nét văn hóa lắng đọng, bền vững và có sức truyền cảm mạnh mẽ lan tỏa sâu rộng trên toàn địa phương.

HÀ NỘI TỰ HÀO “THÀNH PHỐ VÌ HOÀ BÌNH”

 Ngày 16/7/1999, Hà Nội là Thủ đô duy nhất trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) trao tặng danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”. Đến nay, sau 25 năm, Thủ đô Hà Nội không chỉ tự hào về danh hiệu đó mà còn về những nỗ lực không ngừng để trở thành một thành phố hòa bình, hội nhập và phát triển nhưng vẫn giữ bản sắc văn hóa của Thủ đô ngàn năm văn hiến.

Trên thế giới, việc sở hữu danh hiệu của UNESCO không chỉ là sự công nhận về giá trị văn hóa, lịch sử và tự nhiên của một địa phương hay quốc gia, mà còn là cấu phần quan trọng hình thành nên thương hiệu mỗi quốc gia, địa phương. Danh hiệu này có sự đóng góp to lớn cho phát triển kinh tế - xã hội thông qua thu hút khách du lịch, chuyển đổi cơ cấu phát triển kinh tế, thúc đẩy mô hình tăng trưởng xanh, bền vững.

Nhận thấy rõ “gánh nặng” trên vai, để xứng đáng với danh hiệu, suốt những năm qua, Hà Nội luôn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ sắp xếp, kiện toàn tổ chức, bộ máy, hệ thống chính trị các cấp, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thành phố cũng đã triển khai nhiều dự án về văn hóa, giáo dục truyền thống, bảo vệ môi trường... Nhiều mục tiêu, chương trình, công trình đã được hoàn thành, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần cải thiện đời sống người dân.

Trong 25 năm qua, Thủ đô Hà Nội đã không ngừng phát triển trở nên văn minh và hiện đại hơn, xứng đáng với danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”, đồng thời khẳng định vai trò là trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế của cả nước. Đáng nói, dù đã có sự thay đổi rõ rệt về diện mạo, hiện đại hơn, phát triển hơn nhưng Hà Nội vẫn giữ vững bản sắc văn hóa đặc trưng của một Thủ đô ngàn năm văn hiến. Thành phố vẫn giữ nguyên những giá trị riêng có, đó là kho tàng văn hoá đồ sộ, đó là những thực hành văn hóa, nghệ thuật sáng tạo được tiếp diễn liên tục qua các thế hệ, đó là các hoạt động bảo tồn di sản, phát huy vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên,… Sự tồn tại của những giá trị riêng vốn có này cho thấy Hà Nội là một thành phố vừa hiện đại, dân tộc, văn hiến nhưng cũng văn minh, từng bước xứng tầm một Thủ đô của một quốc gia với gần trăm triệu dân, có vị thế nhất định trên thế giới.

Đáng mừng, trước niềm phấn khởi và tự hào trước danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”, những năm qua người dân Hà Nội đã không ngừng phát huy truyền thống văn hóa đặc sắc của người Hà thành từ bao đời nay: hào hoa, thanh lịch, nghĩa tình, văn minh, tiêu biểu cho văn hoá, lương tri và phẩm giá con người Việt Nam. Đây cũng chính là mục tiêu, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, là một trong những yếu tố quyết định sự thành công trong quá trình đổi mới của Thủ đô. Theo quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Hà Nội qua các thời kỳ, trong xây dựng văn hóa Thủ đô phải tập trung vào việc xây dựng con người, đề cao vai trò chủ thể sáng tạo và thụ hưởng văn hóa của Nhân dân. Việc xây dựng con người còn là điều kiện để Thủ đô Hà Nội rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thủ đô và cũng là điều kiện để Hà Nội hội nhập kinh tế quốc tế

 

QUYỀN LỰC TỐI THƯỢNG Ở VIỆT NAM LÀ PHỤC VỤ NHÂN DÂN, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC

 Thời gian gần đây, một số “nhà dân chủ” trong nước và ngoài nước cho rằng, bộ máy chính trị ở Việt Nam đã lộng quyền, tha hóa quyền lực. Thực tế đó chỉ là sự đánh tráo khái niệm, đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất nhằm chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

1. Bản chất quyền lực tối thượng ở Việt Nam là phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc.

Với chế độ của chúng ta, từ khi đặt nền móng độc lập (năm 1945) đến nay, Hiến pháp và luật pháp của Việt Nam luôn hướng tới những điều tốt đẹp, quyền lực tối thượng luôn để phục vụ nhân dân và Tổ quốc. Điều này là bất di bất dịch. Gần 80 năm qua, chúng ta luôn kiên định, đem tất cả của cải và vật chất, trí tuệ và niềm tin, nhất quán với con đường đã chọn, nhưng cũng biết cách linh hoạt để bảo vệ quyền lợi cao nhất của nhân dân, của quốc gia, dân tộc. Để giữ gìn sự liêm chính của chính thể, sự trong sạch của bộ máy công quyền, những năm qua, chúng ta đã đẩy mạnh công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, kiên quyết "nhốt" quyền lực trong lồng cơ chế.

Xã hội Việt Nam ngày càng công bằng, dân chủ, văn minh hơn, trước hết do chúng ta đã biết tự cân bằng các khu vực quyền lực, ứng xử đúng mực với mọi giai tầng xã hội. Điều này không phải bây giờ mới diễn ra mà đã có từ thượng cổ. Đó chính là nền tảng văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng phong phú, sâu sắc, toàn diện và luôn được các thế hệ người Việt Nam vun trồng, bồi đắp và được Đảng ta phát huy.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo Nhà nước và xã hội là chính danh, hợp hiến và hợp pháp, không có sự độc tôn chính trị.

Xã hội Việt Nam đang trưởng thành về mọi mặt. Trong bước đường trưởng thành sẽ phải đối mặt và vượt qua nhiều thách thức, trở ngại, mà thách thức và trở ngại lớn nhất chính là quá trình thực thi quyền lực trong cơ chế chính trị một Đảng cầm quyền duy nhất ở nước ta. Điều này đã được Đảng, Nhà nước ta nhận thức sâu sắc, rõ ràng và đang nỗ lực thực hiện bằng nhiều giải pháp đồng bộ để bảo đảm cho đất nước ta phát triển lành mạnh, ổn định, bền vững, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc.

Gần 80 năm qua, kể từ ngày lập quốc theo chế độ mới đến nay, việc thực thi quyền lực nhà nước của chúng ta ngày càng đúng đắn, tốt đẹp hơn, vì sự tối thượng là phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Do đó, nếu “nhà dân chủ” nào không hiểu bản chất vấn đề, cố ý đánh đồng giữa hiện tượng và bản chất, đánh tráo khái niệm giữa sự tha hóa quyền lực của một bộ phận cán bộ với mục tiêu, bản chất thực thi quyền lực tối cao thuộc về nhân dân của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là điều đáng phải phê phán. 

Ủy ban Dân tộc thông báo nhanh kết quả Hội nghị Trung ương 10 (Khóa XIII).

 Đồng chí Hầu A Lềnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban Cán sự Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT yêu cầu Đảng bộ cơ quan UBDT, các tổ chức đảng trực thuộc bám sát nội dung của Hội nghị Trung ương 10 khóa XIII, chủ động cụ thể hóa quan điểm, mục tiêu và giải pháp của Trung ương bằng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện sát yêu cầu, nhiệm vụ chính trị.

Đồng chí Hầu A Lềnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban Cán sự Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT báo cáo tại Hội nghị.

Chiều 3/10, tại Hà Nội, Đảng ủy cơ quan Ủy ban Dân tộc (UBDT) đã tổ chức Hội nghị thông báo nhanh kết quả Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 10, khóa XIII. Đồng chí Hầu A Lềnh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Ban Cán sự Đảng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT chủ trì và báo cáo tại Hội nghị.

Tại Hội nghị, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Hầu A Lềnh đã thông báo tới các đại biểu kết quả Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, diễn ra từ ngày 18/9 đến ngày 20/9/2024, tại Thủ đô Hà Nội, dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm.

Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Hầu A Lềnh nhấn mạnh tinh thần đổi mới, trách nhiệm rất cao tại Hội nghị. Hội nghị đã rút ngắn thời gian, làm việc cả ngoài giờ hành chính và hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra. 

Theo đó, Trung ương đã làm việc với tinh thần khẩn trương để thảo luận, cho ý kiến về nhiều nội dung quan trọng: Về các dự thảo báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII); báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng.

Dự thảo báo cáo đánh giá 5 năm thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội (KT-XH) 10 năm 2021 - 2030; phương hướng, nhiệm vụ phát triển KT-XH 5 năm 2026 - 2030; báo cáo tổng kết thực hiện quy chế bầu cử trong Đảng ban hành kèm theo Quyết định số 244-QĐ/TW, ngày 9/6/2014 của BCH Trung ương Đảng (khóa XI) và dự thảo sửa đổi, bổ sung quy chế bầu cử trong Đảng; dự thảo tổng kết công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) và phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIV).

Trung ương cho ý kiến nội dung giới thiệu quy hoạch Bộ Chính trị, Ban Bí thư (khóa XIV), nhiệm kỳ 2026 - 2031; bổ sung quy hoạch Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIV), nhiệm kỳ 2026 - 2031; báo cáo tình hình thực hiện kế hoạch phát triển KT-XH năm 2024, dự kiến kế hoạch phát triển KT-XH năm 2025; báo cáo đánh giá tình hình thực hiện ngân sách nhà nước năm 2024, dự toán ngân sách nhà nước năm 2025; kế hoạch tài chính - ngân sách nhà nước 3 năm quốc gia 2025 - 2027; chủ trương đầu tư toàn tuyến dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam; chủ trương thành lập Thành phố Huế trực thuộc Trung ương; bầu bổ sung Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương khóa XIII và một số nội dung quan trọng khác.

Các đại biểu tham dự Hội nghị. 

Theo đó, Ban Chấp hành Trung ương đã nghiên cứu, thảo luận, cơ bản tán thành kết cấu và những nội dung chính của dự thảo báo cáo chính trị trình Đại hội XIV; phân tích, nhấn mạnh, làm sâu sắc thêm ý nghĩa, chủ đề của Đại hội XIV; khẳng định dự thảo báo cáo chính trị có nhiều nội dung mới, điểm nhấn khác biệt so với Đại hội XIII, mang tầm chiến lược, lịch sử, có tính chất cương lĩnh để thực hiện trong giai đoạn tới; đánh dấu mốc quan trọng đặc biệt cho Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, phù hợp với yêu cầu của thời đại, mở ra kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam…

Ban Chấp hành Trung ương thông qua nội dung cơ bản các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV gồm: Dự thảo báo cáo tổng kết một số vấn đề lý luận và thực tiễn về công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa trong 40 năm qua ở Việt Nam; dự thảo báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành điều lệ Đảng trình Đại hội XIV của Đảng; dự thảo báo cáo 5 năm thực hiện chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2021 - 2030; phương hướng, nhiệm vụ phát triển KT-XH 5 năm 2026 - 2030. Ban Chấp hành Trung ương giao Bộ Chính trị căn cứ ý kiến thảo luận của Trung ương, báo cáo tiếp thu, giải trình của Bộ Chính trị để chỉ đạo các tiểu ban hoàn chỉnh các dự thảo văn kiện trên để lấy ý kiến đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội XIV của Đảng…

Ban Chấp hành Trung ương cũng thống nhất chủ trương đầu tư toàn tuyến Dự án đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam. Giao Ban Cán sự Đảng Chính phủ và Đảng đoàn Quốc hội chỉ đạo các cơ quan liên quan khẩn trương hoàn thiện hồ sơ để trình Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV xem xét, quyết định thông qua chủ trương, một số cơ chế, chính sách đặc thù để huy động nguồn lực, thủ tục đầu tư dự án.

Tại hội nghị, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Hầu A Lềnh yêu cầu Đảng bộ cơ quan UBDT, các tổ chức đảng trực thuộc tổ chức tuyên truyền, quán triệt, phổ biến nội dung Hội nghị lần thứ 10, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tới đông đảo cán bộ, đảng viên bằng các hình thức phù hợp. Qua đó, tạo sự đoàn kết thống nhất, góp phần hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ chính trị năm 2024 và những năm tiếp theo; đồng thời, bám sát nội dung của Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chủ động cụ thể hóa quan điểm, mục tiêu và giải pháp của Trung ương bằng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện sát yêu cầu, nhiệm vụ chính trị./.

LỜI CĂN DẶN CỦA BÁC HỒ VỚI CHIẾN SĨ TRƯỚC NGÀY TRỞ VỀ TIẾP QUẢN THỦ ĐÔ

 Tại Đền Hùng, Bác Hồ căn dặn các chiến sĩ về tiếp quản Thủ đô phải luôn đoàn kết cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ, chăm tuyên truyền cho nhân dân hiểu rõ chủ trương đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, ông Lê Văn Tính (SN 1935, cựu chiến binh Trung đoàn Thủ đô, Sư đoàn 308) về Đền Hùng (tỉnh Phú Thọ) gặp Bác Hồ và được giao nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô. Đây là sự kiện để lại ấn tượng sâu sắc mà cả cuộc đời ông Tính không bao giờ quên.

Lần đầu gặp Bác, chiến sĩ Lê Văn Tính xúc động khi thấy Bác mạnh khỏe, trời se lạnh mà chỉ mặc bộ quần áo nâu bạc màu. Bác ngồi trên bậc thềm nhà và thân mật hỏi: “Các chú có biết đây là nơi nào không?”. Có vài lời thưa: “Thưa Bác đây là Đền Hùng”.

Lúc đó Bác Hồ đáp: Các Vua Hùng có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước. Tám, chín năm nay, quân dân ta kiên quyết kháng chiến nên mới có thắng lợi về Hà Nội. Vì thế các chú được Trung ương Đảng và Chính phủ giao cho nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô là được nhận một vinh dự lớn.

“Bác ân cần dặn: Khi vào tiếp quản Thủ đô các chú phải hết sức đề phòng âm mưu phá hoại của địch, đấu tranh giữ được nguyên vẹn điện, nước, bệnh viện, trường học, nhà cửa, đường sá... để ta dùng. Các chú phải luôn giữ kỷ luật nghiêm minh, giữ gìn phẩm chất cách mạng. Trong chiến tranh xông pha lửa đạn không chết vì viên đạn đồng, trong hòa bình nếu không giữ được phẩm chất cách mạng có thể ngã vì viên đạn bọc đường... các chú phải luôn đoàn kết cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ, chăm tuyên truyền cho nhân dân hiểu rõ chủ trương đường lối của Đảng, chính sách quy định của Nhà nước, phản bác những luận điệu sai trái của kẻ thù”, ông Lê Văn Tính nhớ lại.

Kết thúc buổi nói chuyện Bác hỏi: Vào thành phố mới giải phóng Bác mong các chú nghiêm chỉnh gương mẫu chấp hành, hoàn thành nhiệm vụ có được không?".

“Anh em đứng dậy hứa với Bác hoàn thành nhiệm vụ và chúc Bác mạnh khỏe sống lâu. Bác cười đôn hậu: “Được, muốn Bác vui khỏe sống lâu, các chú hãy hoàn thành lời Bác căn dặn”. Bộ đội vỗ tay hân hoan chào Bác”, cựu chiến binh Lê Văn Tính chia sẻ.

Chấp hành chỉ thị của Bác về công tác đặc biệt này, đơn vị của ông Tính có hơn một tháng để chuẩn bị khẩn trương, nghiêm túc và rất cụ thể. Các buổi truyền đạt quy định trong vùng mới giải phóng, đặc biệt là hướng dẫn sinh hoạt trong thành phố được tiến hành chu đáo, chan hòa tình đồng đội, cùng với đó là không khí phấn khởi, háo hức mong nhanh đến ngày vào Thủ đô.

“Ngày 10/10/1954 ngày lịch sử đã đến. 5 giờ sáng, rời làng Phùng (huyện Đan Phượng), chúng tôi đội ngũ chỉnh tề theo đường 32 tiến về Hà Nội. Qua Cầu Diễn hiện ra trước mặt: Hà Nội một rừng cờ hoa, biểu ngữ, khẩu hiệu, các kiểu chữ rất cầu kỳ, nhiều nhất là: Hồ Chí Minh muôn năm!”, ông Tính hồi tưởng.

Cựu chiến binh Lê Văn Tính nhớ như in hình ảnh sáng mùa thu lịch sử 70 năm trước, đông đảo nhân dân Thủ đô đứng hai bên đường vẫy cờ hoa đón chào hàng quân chỉnh tề diễu qua. “Những ánh mắt ướt lệ, những cánh tay như muốn ôm chặt lấy người thân xa lâu ngày gặp lại. Khó nén nỗi xúc động dâng trào mắt nhòa lệ, nhất là những đồng chí đã chiến đấu 60 ngày đêm trong đội quân “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” giữ Hà Nội, ra đi từ ngày đầu kháng chiến nay trở về”, cựu chiến binh Sư đoàn 308 cho hay.

Khi đoàn quân đi qua các đường phố đến Hồ Gươm, về cửa chợ Đồng Xuân, dù phố phường đang có lệnh giới nghiêm nhưng nhà nào cũng mở cửa, mọi người đứng trong nhà nhìn bộ đội đi qua với nét mặt thân thiện, gần gũi như mong đợi từ lâu.

Buổi chiều ngày 10/10/1954, đoàn quân tiếp quản Thủ đô tập trung ở sân Cột Cờ, đội ngũ chỉnh tề cùng nhân dân dự lễ thượng cờ. 15 giờ cùng ngày, còi Nhà hát thành phố nổi lên một hồi dài, Quốc ca hùng tráng vang lên, cờ Tổ quốc phấp phới bay trên đỉnh cột cờ Hà Nội.

“Sư đoàn trưởng Vương Thừa Vũ đọc thư Hồ Chủ Tịch gửi đồng bào Thủ đô. Lời thư thân mật, tha thiết, trong không khí thiêng liêng, lòng tôi xúc động rưng rưng nước mắt, lời đọc vừa dứt, tiếng hô Hồ Chí Minh muốn năm vang lên, biểu thị tấm lòng kính yêu lãnh tụ của nhân dân Thủ đô”, ông Lê Văn Tính nói.

Ông Tính cho biết, tiến hành quân quản trong một thời gian ngắn, phố phường Thủ đô buôn bán ngày càng nhộn nhịp, sinh hoạt trở lại bình thường. Những ngày đầu đơn vị ông Tính chia tổ 3 người vào từng nhà thăm hỏi, nói chuyện, giải đáp những vướng mắc cho nhân dân, được mọi nhà tiếp đón vui vẻ.

“Thực hiện lời căn dặn của Bác, chúng tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ Bác giao. Đơn vị được khen thưởng, riêng tôi và một số cán bộ trong trung đoàn được Bác tặng Huy hiệu của Người là một phần thưởng vô cùng quý giá”, cựu chiến binh ông Lê Văn Tính xúc động nói./.

 

Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần thứ X sẽ diễn ra từ ngày 16 -18/10.

 Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam lần thứ X, nhiệm kỳ 2024 - 2029 có chủ đề “Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển” sẽ diễn ra tại Hà Nội từ ngày 16 -18/10 với sự tham gia của gần 1.400 đại biểu.

Đây là thông tin được Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cho biết tại buổi Họp báo về Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ X, nhiệm kỳ 2024-2029 do đồng chí Nguyễn Hữu Dũng, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì diễn ra vào sáng 4/10, tại Hà Nội.

Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Hữu Dũng phát biểu tại buổi họp báo.

Đồng chí Vũ Văn Tiến, Trưởng Ban Tuyên giáo cơ quan Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam cho biết, Đại hội dự kiến sẽ có gần 1.400 đại biểu tham dự.  Trong đó, có 324 đại biểu nữ (30,7%); 492 đại biểu là người ngoài Đảng (46,7%); 267 đại biểu là dân tộc thiểu số (25,3%); 198 đại biểu là tôn giáo (18,8%); 20 đại biểu là người Việt Nam ở nước ngoài (1,9%)… Đại biểu trẻ tuổi nhất 20 tuổi, đại biểu cao tuổi nhất 95 tuổi.

Đại biểu khách mời dự kiến khoảng 300 đại biểu là các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương, các địa phương; đại diện cơ quan ngoại giao, tổ chức quốc tế tại Việt Nam...

Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ X, nhiệm kỳ 2024 - 2029 có chủ đề “Đoàn kết - Dân chủ - Đổi mới - Sáng tạo - Phát triển” và có báo cáo chính trị “Nâng cao vai trò nòng cốt chính trị của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phát huy dân chủ, truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu mạnh, văn minh, nhân dân ta có cuộc sống ấm no, hạnh phúc”.

Dự kiến Đại hội sẽ triển khai 6 chương trình hành động, gồm: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tập hợp các tầng lớp nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc; Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giám sát và phản biện xã hội, thực hiện dân chủ, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước; Động viên các tầng lớp nhân dân thi đua, sáng tạo, thực hiện hiệu quả các cuộc vận động, phong trào thi đua; Phát huy vai trò làm chủ, tinh thần tự quản của nhân dân, xây dựng khu dân cư đoàn kết, ấm no, hạnh phúc; Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại nhân dân và công tác người Việt Nam ở nước ngoài; Tiếp tục đổi mới tổ chức bộ máy, nội dung phương thức hoạt động; Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ Mặt trận các cấp.

Đến nay, các công tác chuẩn bị cho Đại hội như: Công tác xây dựng dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội và sửa đổi Điều lệ; công tác tuyên truyền; công tác chuẩn bị hậu cần đã được chuẩn bị chu đáo và hoàn tất.

Quang cảnh buổi Họp báo. 

Phát biểu tại buổi Họp báo, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Hữu Dũng nêu rõ, nhiệm kỳ vừa qua, công tác Mặt trận đang ngày càng nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và cấp ủy chính quyền địa phương, nhất là các tầng lớp nhân dân, khẳng định vị thế của MTTQ Việt Nam và vị trí, vai trò quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam nhấn mạnh, để đáp ứng được yêu cầu công tác Mặt trận trong tình hình mới, Văn kiện Đại hội lần này được xây dựng trên cơ sở bám sát các chủ trương mới của Đảng, đồng thời tổng kết, đánh giá kỹ lưỡng tình hình công tác Mặt trận từ cơ sở, lấy ý kiến rộng rãi các ngành, các tổ chức thành viên và các tầng lớp nhân dân và có những điểm mới nổi bật.

Nhấn mạnh và khái quát 5 điểm mới của Báo cáo chính trị trình Đại hội, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Nguyễn Hữu Dũng nêu rõ, tiêu đề dự thảo Báo cáo chính trị của Đại hội đã thể hiện quan điểm mới về vai trò nòng cốt chính trị và nhiệm vụ bao trùm của Mặt trận trong giai đoạn cách mạng mới.

Trong dự thảo Báo cáo chính trị đã bổ sung một số kết quả, nhiệm vụ mới từ thực tiễn, thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự sáng tạo, linh hoạt của Mặt trận, kết quả có tính lay động, lan tỏa sâu rộng trong nhân dân; đồng thời bổ sung nội dung nhận định, đánh giá khái quát quá trình 40 năm đổi mới của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam theo đường lối của Đảng; bổ sung mới một chương trình hành động: “Phát huy vai trò làm chủ, tinh thần tự quản của nhân dân, xây dựng khu dân cư đoàn kết, ấm no, hạnh phúc”.

Về Đề án nhân sự trình Đại hội, đồng chí Nguyễn Hữu Dũng cho biết, dự kiến số lượng Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khóa X là: 405 vị (tăng 20 vị so với khóa IX). Trong đó, tái cử là 249 vị (tỷ lệ 61,5%), mới là 156 vị (tỷ lệ 38,5%). Số lượng Ủy viên Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam khoá X là 72 vị (tăng 10 vị so với khóa IX). Trong đó tái cử là 49 vị (tỷ lệ 68,1%), mới là 23 vị (tỷ lệ 31,9%)./.


THẾ TRẬN LÒNG DÂN TRONG SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG VÀ BẢO VỆ TỔ QUỐC

 Chiến lược bảo vệ Tổ quốc cùng với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là hai chiến lược nền tảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, thế trận lòng dân là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Không có thế trận này, mọi giải pháp trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc sẽ không phát huy được tác dụng và hiệu quả.

Chiến lược bảo vệ Tổ quốc gắn chặt với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - một nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và điều tiết vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là nội hàm cốt lõi và nền tảng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta. Chỉ có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hướng đến mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân ta mới thực sự có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, một cuộc sống hài hòa cả về vật chất và tinh thần, từ đó mãi mãi gắn bó với Đảng và chế độ.

Phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở quan điểm, chủ trương, chính sách hợp lòng dân vì lợi ích của toàn thể dân tộc Việt Nam của Đảng và Nhà nước. Tạo sự gắn kết từng con người Việt Nam, cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cả trong nước và nước ngoài với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, xứng đáng vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trước đây về lý luận chính trị, chúng ta đề cập vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp và xem đấu tranh giai cấp là động lực của sự pháp triển. Trong tình hình mới với sự nghiệp đổi mới hiện nay, đại đoàn kết toàn dân tộc là biểu hiện của sự đồng lòng của cả dân tộc, là động lực tinh thần to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các vấn đề nêu trên, là những thành tố cơ bản tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước, nguồn lực nội sinh của dân tộc, cội nguồn hình thành và phát triển ngày càng vững chắc của thế trận lòng dân. Đây cũng là một trong những nhóm giải pháp cơ bản cùng chiến lược đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự và các chiến lược chuyên ngành khác…, nhằm thực hiện thành công mục tiêu Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới hiện nay.

Nắm vững và phát triển không ngừng những thành tố cơ bản tạo nên cội nguồn của thế trận lòng dân, làm cơ sở để xây dựng các thế trận trên từng lĩnh vực cụ thể: Thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận biên phòng toàn dân… Trong đó, cần kết hợp chặt chẽ ba thành tố cơ bản nêu trên, trên từng không gian cụ thể. Từ đó, hình thành các phương án, kế hoạch, được quán triệt, huấn luyện, diễn tập tạo sự thuần thục, xử lý kịp thời, hiệu quả khi có tình huống xảy ra. Đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu cụ thể của Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên từng không gian cụ thể, nhất là địa bàn cơ sở tiềm ẩn nhiều phức tạp trong tình hình mới hiện nay