Thứ Hai, 7 tháng 10, 2024

Những nhiệm vụ cần hoàn thành để thúc đẩy phát triển hạ tầng chiến lược.

 

 Hiện cả nước đang nỗ lực hoàn thành các chỉ tiêu theo Nghị quyết Đại hội XIII, trong đó có chỉ tiêu về hạ tầng chiến lược như xây dựng 3.000km cao tốc tới năm 2025, các sân bay, bến cảng, hạ tầng điện, viễn thông… Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, công việc nhiều, thời gian ngắn, yêu cầu cao, mong đợi của nhân dân lớn, do đó các chủ thể cần cùng nhau tập trung thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm.

Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc làm việc của Thường trực Chính phủ với các doanh nghiệp xây dựng các công trình trọng điểm quốc gia. 

Chiều 3/10, tại Trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Phạm Minh Chính chủ trì cuộc làm việc của Thường trực Chính phủ với các doanh nghiệp xây dựng các công trình trọng điểm quốc gia.

Cùng tham dự cuộc làm việc có Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Nguyễn Hòa Bình; các Ủy viên Trung ương Đảng: Phó Thủ tướng Trần Hồng Hà, Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Trần Văn Sơn, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Thanh Nghị, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Đỗ Đức Duy; lãnh đạo các bộ, ngành, cơ quan Trung ương; đại diện gần 30 doanh nghiệp, nhà thầu tham gia xây dựng các công trình trọng điểm quốc gia, các hiệp hội.

Thường trực Chính phủ làm việc với các doanh nghiệp xây dựng (Nguồn: vtvgo.vn)

Phát biểu khai mạc phiên họp, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, Nghị quyết Đại hội XIII tiếp tục xác định 3 đột phá chiến lược, trong đó có đột phá chiến lược về hạ tầng, gồm hạ tầng giao thông vận tải, hạ tầng năng lượng, hạ tầng ứng phó biến đổi khí hậu, hạ tầng y tế, văn hóa, giáo dục…

Điểm lại một số thành tựu, kết quả trong phát triển hạ tầng chiến lược thời gian qua, Thủ tướng cho biết, về hàng không, công trình Cảng hàng không quốc tế Long Thành dự kiến cơ bản hoàn thành trong năm 2025, nhà ga T3 Tân Sơn Nhất dự kiến hoàn thành dịp 30/4/2025, nhà ga T2 Nội Bài cũng dự kiến về đích đúng tiến độ.

Về đường cao tốc, đến nay đã hoàn thành hơn 2.000 km, đang thi công 1.700 km và sẽ khởi công thêm 1.400 km thời gian tới; Về đường sắt, Chính phủ đã trình cấp có thẩm quyền chủ trương xây dựng đường sắt tốc độ cao Bắc-Nam và các tuyến đường sắt kết nối với Trung Quốc.

Các dự án cảng biển lớn tại Lạch Huyện (Hải Phòng), Liên Chiểu (Đà Nẵng), Quy Nhơn (Bình Định), Cái Mép-Thị Vải (Bà Rịa-Vũng Tàu) và cảng Cần Giờ (TP Hồ Chí Minh) đang được thúc đẩy. Cùng với đó là các dự án hạ tầng điện, sóng, đặc biệt là dự án đường dây điện 500 kV mạch 3 Quảng Trạch-Phố Nối đã hoàn thành trong thời gian thần tốc chỉ hơn 6 tháng.

Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh, các dự án hạ tầng đã tạo không gian phát triển mới, giúp hình thành các khu công nghiệp, đô thị, dịch vụ mới, làm tăng giá trị của đất đai, tạo thuận lợi cho người dân đi lại, giảm chi phí lotistics, giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, sản phẩm, của nền kinh tế.

Từ đầu nhiệm kỳ tới nay, Chính phủ đã tổ chức nhiều hội nghị gặp gỡ, làm việc với các doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp. Thủ tướng đánh giá thời gian qua, các doanh nghiệp xây dựng đã có nhiều đóng góp tích cực, quan trọng trong triển khai các công trình, dự án trọng điểm quốc gia, góp phần phát triển kinh tế-xã hội, nhất là thúc đẩy tăng trưởng, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế, kiểm soát tốt nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài, bội chi ngân sách…

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp cũng có đóng góp tích cực trong khắc phục hậu quả COVID-19, hậu quả thiên tai, bão lũ… Thủ tướng ghi nhận, biểu dương, đánh giá cao những kết quả đạt được, những đóng góp của các doanh nghiệp xây dựng với sự phát triển của đất nước.

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, Thường trực Chính phủ tổ chức cuộc làm việc để lắng nghe ý kiến các doanh nghiệp về kinh nghiệm triển khai các dự án; việc huy động nguồn vốn cho các dự án; tiếp tục hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách như liên quan mỏ nguyên vật liệu thông thường cho các dự án…

Thủ tướng cũng mong muốn các doanh nghiệp tiếp tục nỗ lực, vượt qua giới hạn của chính mình và đẩy mạnh liên kết, hợp tác với các đối tác nước ngoài, từ đó tiếp tục tham gia triển khai, xây dựng các dự án lớn khác của đất nước trong thời gian tới. Chính phủ luôn đồng hành, lắng nghe, thấu hiểu với các doanh nghiệp, tháo gỡ khó khăn, vượt qua thách thức, trên tinh thần 'cùng làm, cùng hưởng, cùng chiến thắng, cùng phát triển', lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ, hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân để thúc đẩy sự phát triển chung của đất nước, trong đó có sự phát triển của các doanh nghiệp.

Tại cuộc làm việc, các đại biểu đề nghị Chính phủ chỉ đạo: Hoàn thiện thể chế về đầu tư, hợp đồng, đấu thầu; phân cấp, phân quyền mạnh mẽ hơn nữa; các bộ, ngành, địa phương phối hợp chặt chẽ, hiệu quả hơn nữa; có cơ chế chỉ định thầu đối với một số công trình, gói thầu đặc biệt; tăng hạn mức vay cho các doanh nghiệp xây dựng; tạo điều kiện để các doanh nghiệp trong nước liên kết với doanh nghiệp quốc tế để triển khai các dự án nhằm tranh thủ công nghệ, kinh nghiệm, nguồn lực, quản lý để doanh nghiệp trong nước không ngừng lớn mạnh…

Thủ tướng Phạm Minh Chính phát biểu kết luận cuộc làm việc

Sau khi đại diện các bộ, ngành và các Phó Thủ tướng giải đáp, làm rõ các vấn đề mà các hiệp hội, doanh nghiệp có ý kiến, phát biểu kết luận, Thủ tướng Phạm Minh Chính nêu rõ, cuộc làm việc cho thấy sự quan tâm của Chính phủ với các doanh nghiệp xây dựng; lắng nghe, chia sẻ và thấu hiểu với các khó khăn của doanh nghiệp; cùng nhau thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển, trưởng thành hơn, tự tin hơn bước vào giai đoạn mới, thực hiện các công trình tầm cỡ, những công trình thế kỷ đánh dấu sự phát triển vươn mình của đất nước.

Thủ tướng cơ bản đồng tình với nội dung báo cáo của Bộ Xây dựng, các ý kiến phát biểu tâm huyết của các đại biểu, giao Văn phòng Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng và các bộ, ngành liên quan tiếp thu đầy đủ các ý kiến, ban hành Thông báo kết luận hội nghị để thống nhất chỉ đạo, triển khai thực hiện.

Thủ tướng khái quát một số kết quả đạt được trong triển khai các dự án trọng điểm, các dự án quan trọng quốc gia: Theo đó, công tác lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, thường xuyên với sự phát triển của ngành xây dựng nói chung và các doanh nghiệp nói riêng, trên cơ sở bám sát chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và tình hình thực tiễn.

Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng, các bộ trưởng thường xuyên có mặt trên công trường các dự án để kiểm tra, động viên, đôn đốc.

Cùng với đó là sự tham gia, vào cuộc tích cực của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của người dân, doanh nghiệp, nhất là trong công tác giải phóng mặt bằng. Thủ tướng lấy ví dụ, dự án đường dây 500 kV mạch 3 liên quan tới hàng nghìn người dân, nhưng người dân tự nguyện nhường mặt bằng cho dự án, không phải cưỡng chế. Các địa phương, nhất là các đồng chí bí thư, chủ tịch đã phát huy tinh thần trách nhiệm, chủ động triển khai các nhiệm vụ được giao với tinh thần "chỉ bàn làm, không bàn lùi", chia sẻ với các chủ đầu tư, các nhà thầu.

Chủ đầu tư và các chủ thể tham gia dự án đã quyết tâm cao, trách nhiệm, chủ động vào cuộc quyết liệt, sáng tạo, dám nghĩ dám làm để vượt qua mọi thách thức; các doanh nghiệp, nhà thầu thi công triển khai với tinh thần "3 ca, 4 kíp", vượt nắng, thắng mưa", "làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm", các nhà thầu chính hợp tác, hỗ trợ các nhà thầu phụ, doanh nghiệp địa phương tham gia dự án.

Thủ tướng Phạm Minh Chính đánh giá, cùng với đó, sự phối hợp, chia sẻ, đồng cảm giữa các cơ quan chức năng, doanh nghiệp và người dân đã giúp vượt qua các thách thức, giải quyết các khó khăn, vướng mắc trong triển khai các dự án. Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật để triển khai các dự án đầu tư xây dựng nói chung, đã dần được hoàn thiện và ngày càng được hoàn thiện. Với sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự tham gia của người dân và doanh nghiệp, chúng ta đã hoàn thành tốt sứ mệnh lịch sử của mình trong triển khai các dự án hạ tầng chiến lược thời gian qua.

Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Thủ tướng Phạm Minh Chính biểu dương tinh thần làm việc, cống hiến, đóng góp của các doanh nghiệp, các nhà thầu đối với sự phát triển của đất nước, nhất là trong triển khai các dự án hạ tầng chiến lược.

Bên cạnh những kết quả rất cơ bản, Thủ tướng Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ rõ việc triển khai các dự án cũng còn những tồn tại, hạn chế, bất cập liên quan công tác giải phóng mặt bằng; hệ thống định mức xây dựng; các quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện; đào tạo nhân lực… mà các chủ thể liên quan cần cùng nhau cố gắng, làm tốt hơn.

Hiện cả nước đang nỗ lực hoàn thành các chỉ tiêu theo Nghị quyết Đại hội XIII, trong đó có chỉ tiêu về hạ tầng chiến lược như xây dựng 3.000km cao tốc tới năm 2025, các sân bay, bến cảng, hạ tầng điện, viễn thông… Thủ tướng nêu rõ, công việc nhiều, thời gian ngắn, yêu cầu cao, mong đợi của nhân dân lớn, do đó các chủ thể cần cùng nhau tập trung thực hiện 6 nhiệm vụ trọng tâm.

Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng, các bộ trưởng thường xuyên có mặt trên công trường các dự án để kiểm tra, động viên, đôn đốc. 

Thứ nhất, nhận thức rõ hơn nữa về tầm quan trọng của các dự án trọng điểm, các dự án quan trọng quốc gia trong tạo không gian phát triển mới, giúp hình thành các khu công nghiệp, đô thị, dịch vụ mới, làm tăng giá trị của đất đai, tạo thuận lợi cho người dân đi lại, giảm chi phí lotistics, giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa, sản phẩm, của nền kinh tế. Việc triển khai các dự án hạ tầng chiến lược đã và đang được làm tốt, sắp tới phải cùng nhau làm tốt hơn.

Thứ hai, cùng nhau huy động nguồn lực, đa dạng hóa nguồn lực của Nhà nước, người dân, doanh nghiệp, nhà đầu tư trực tiếp và gián tiếp, nguồn lực hợp tác công tư để phát triển hạ tầng chiến lược với tinh thần hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân.

Thứ ba, cùng nhau tập trung ứng dụng hiệu quả các thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, phát triển và chuyển giao công nghệ tiên tiến, đào tạo nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng lực quản trị theo hướng thông minh trong hoạt động của các doanh nghiệp và triển khai các dự án.

Thứ tư, tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện thể chế liên quan giải phóng mặt bằng, vật liệu xây dựng, quy chuẩn, quy trình, đấu thầu, chỉ định thầu… trong triển khai dự án, bảo đảm thông thoáng, thuận lợi, tháo gỡ các điểm nghẽn về thể chế.

Thứ năm, các doanh nghiệp phát huy tinh thần tự lực, tự cường đi lên từ sức mạnh nội sinh, cùng với sự hỗ trợ của Nhà nước và hợp tác với các đối tác nước ngoài.

Thứ sáu, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp luôn chia sẻ, lắng nghe, thấu hiểu với các khó khăn, thách thức, động viên, khích lệ về những thành quả đã làm được, kịp thời tháo gỡ các vướng mắc về thể chế, nguồn lực, nhân lực để thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển nhanh, bền vững, góp phần phát triển đất nước.

Cùng với đó, Thủ tướng nhấn mạnh phải thực hiện tốt yêu cầu của Hội nghị Trung ương 10 vừa qua về đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, tăng cường giám sát, kiểm tra và cải cách, đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Về nhiệm vụ cụ thể, 
Thủ tướng nêu rõ, Chính phủ, các bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn để triển khai các công việc theo các nhiệm vụ trọng tâm nói trên.

Bộ Xây dựng làm tốt công tác quy hoạch; xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức sao cho phù hợp, kịp thời, hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân; chủ động hướng dẫn khi doanh nghiệp gặp khó khăn, vướng mắc. Chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương chủ động, tích cực hơn trong công tác phổ biến, nâng cao năng lực, cập nhật các quy định pháp luật để các chủ thể nắm chắc, hiểu và áp dụng đúng các quy định của pháp luật.

Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục cập nhật, lắng nghe, đi kiểm tra, giám sát, từ đó tiếp thu ý kiến của các doanh nghiệp để xử lý kịp thời các vấn đề liên quan đất đai, vật liệu xây dựng, bảo vệ môi trường, nhất là các quy định về mỏ nguyên vật liệu và chuyển đổi mục đích sử dụng đất, rừng.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư thực hiện quản lý nhà nước liên quan công tác quy hoạch, vận dụng các cơ chế, chính sách sẵn có, tiếp thu ý kiến của các doanh nghiệp dể xây dựng các cơ chế, chính sách mới phù hợp tình hình để huy động, kích hoạt mọi nguồn lực của người dân, doanh nghiệp phát triển hạ tầng chiến lược.

Bộ Tài chính triển khai các chính sách liên quan thuế, phí, lệ phí, thực hiện chính sách tài khóa, công tác thanh toán, quyết toán được thuận lợi, nhanh chóng với doanh nghiệp.

Ngân hàng Nhà nước chịu trách nhiệm các vấn đề liên quan chính sách tiền tệ, lãi suất, tỷ giá phù hợp, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các hợp đồng; đồng thời ổn định kinh tế vĩ mô. Các ngân hàng phải vào cuộc, chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp, tiết giảm chi phí, tăng cường chuyển đổi số, góp phần hạ lãi suất, nghiên cứu các gói tín dụng ưu tiên cho phát triển hạ tầng.

Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, Bộ Xây dựng, Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp, nghiên cứu đẩy mạnh, nâng cao chất lượng đào tạo kỹ năng nghề, đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành xây dựng.

Các địa phương làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, tái định cư với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của bí thư cấp ủy, bảo đảm nơi ở mới của người dân tái định cư tốt hơn hoặc bằng nơi ở cũ, quan tâm chăm lo sinh kế, đời sống, sản xuất, kinh doanh… của người dân. Đồng thời, phối hợp, động viên, chia sẻ với các nhà đầu tư, nhà thầu, không để nhà thầu cô đơn trên công trường.

Các chủ đầu tư, ban quản lý dự án triển khai các quy trình, thủ tục dự án chặt chẽ, đúng quy định, chống tham nhũng, tiêu cực; tạo thuận lợi, đồng hành, hỗ trợ, chia sẻ, xem việc của doanh nghiệp, nhà thầu như việc của mình.

Các doanh nghiệp, nhà thầu tham gia công trình phát huy tinh thần lợi ích hài hòa, rủi ro chia sẻ, đặt lợi ích của dân tộc, đất nước lên trên hết, trước hết; hoạt động đúng pháp luật, không thông thầu, bán thầu; "đã nói là làm, đã cam kết là thực hiện", vượt nắng, thắng mưa, không thua bão gió", "chỉ bàn làm, không bàn lùi", "ăn tranh thủ, ngủ khẩn trương", làm việc xuyên ngày nghỉ, ngày lễ, ngày Tết; luôn năng động, sáng tạo, đổi mới, dám nghĩ dám làm trong triển khai công việc.

Các hiệp hội nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của các doanh nghiệp, tập hợp, phản ánh với các cơ quan chức năng về những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn triển khai các dự án để kịp thời có giải pháp tháo gỡ với tinh thần cái gì đã chín, đã rõ, được thực tế chứng minh là đúng thì áp dụng.

Thủ tướng mong muốn, tin tưởng và kêu gọi các doanh nghiệp xây dựng, trong đó có các doanh nghiệp tham gia dự án, công trình trọng điểm, quan trọng quốc gia tiếp tục phát huy tinh thần "đi lên từ bàn tay, khối óc, khung trời, cửa biển của mình", "nguồn lực bắt nguồn từ tư duy và tầm nhìn, động lực bắt nguồn từ sự đổi mới và sáng tạo, sức mạnh bắt nguồn từ nhân dân và doanh nghiệp", "biến không thành có, biến khó thành dễ, biến không thể thành có thể", "đã làm tốt rồi thì làm tốt hơn; quyết tâm rồi, quyết tâm hơn nữa; nỗ lực rồi, nỗ lực hơn nữa; quyết liệt rồi, quyết liệt hơn nữa", tiếp tục phát triển mạnh mẽ, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, trong đó có việc tích cực hưởng ứng phong trào 500 ngày đêm cao điểm thi đua xây dựng 3.000 km cao tốc.

Về các kiến nghị, Thủ tướng yêu cầu Văn phòng Chính phủ tổng hợp và phân công các Phó Thủ tướng theo lĩnh vực chỉ đạo các bộ ngành liên quan xử lý theo tinh thần "rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm"./.


Triển lãm cây cảnh nghệ thuật nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô.

 Trong khuôn viên hơn 1.000 m2, 70 tác phẩm cây cảnh nghệ thuật đặc sắc được tuyển chọn tại 3 miền, tượng trưng cho 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2024) được giới thiệu tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật (Hà Nội).

Từ ngày 6 - 12/10/2024, tại Trung tâm Văn hóa Nghệ thuật, 22 Hàng Buồm (Hoàn Kiếm, Hà Nội), Câu lạc bộ bonsai Phố cổ Hà Nội (Hội Sinh vật cảnh Việt Nam) triển lãm 70 tác phẩm cây cảnh bonsai nghệ thuật tượng trưng về 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô. Đây là dịp giúp công chúng thưởng lãm những nét đặc sắc của nghệ thuật bonsai độc đáo của Việt Nam.

Sự kiện do Ban Quản lý Hồ Hoàn Kiếm và Phố cổ Hà Nội, Câu lạc bộ bonsai Phố cổ Hà Nội tổ chức nhằm tôn vinh ngành sinh vật cảnh Việt Nam, góp phần giới thiệu, quảng bá nét đẹp, giá trị văn hóa, thú chơi sinh vật cảnh của người Thủ đô với bạn bè trong nước và quốc tế, đồng thời tôn vinh những nghệ nhân, thợ giỏi sinh vật cảnh của Hà Nội và các tỉnh, thành phố trên cả nước.

Trong khuôn viên hơn 1.000 m2, 70 tác phẩm cây cảnh nghệ thuật đặc sắc được tuyển chọn tại 3 miền (Bắc - Trung - Nam), tượng trưng cho 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô được giới thiệu. Trong khuôn khổ hoạt động, Ban tổ chức trưng bày, tái hiện đặc trưng nét đẹp văn hóa lịch sử nghệ thuật Hà Nội 36 phố phường; Khu chia sẻ kỹ thuật, kiến thức về thú chơi cây cảnh của người Hà Nội xưa và nay.

Khu trưng bày các tác phẩm thuộc các nhóm sinh vật cảnh gồm có hoa, cây bonsai kết hợp đá cảnh, cây bonsai kết hợp gỗ lũa, cây cảnh nhiều thế dáng. Nổi bật là Khu trưng bày giới thiệu các tác phẩm cây cảnh bonsai, tác phẩm non bộ tiểu cảnh, có rất nhiều các chủng loại cây bonsai, từ các loại cây quý như cây tùng, cây bách đến các loại cây dân gian, dễ trồng như cây đa, cây si… Những chậu bonsai có thế dáng đẹp, sống động, hài hòa như những tác phẩm nghệ thuật kỳ diệu được kết hợp từ thiên nhiên với đôi bàn tay tài hoa của các nghệ nhân, người chơi cây, đã mang lại nhiều cảm xúc cho người thưởng ngoạn. Bên cạnh đó, khách tham có dịp giao lưu với các nghệ nhân tạo tác cây cảnh, hoa cảnh, đá cảnh, gỗ lũa, bể đá cổ.

 Du khách thăm quan triển lãm.

Theo một chủ cây cảnh tại triển lãm cho hay, một cây cảnh bonsai thuộc hàng “độc” phải bảo đảm các yếu tố “Cổ - Kỳ - Mỹ”. “Cổ” được hiểu là cây lâu năm, độ cổ của cây bao gồm cổ lão nhân tạo và cổ lão tự nhiên. Còn yếu tố “Kỳ” là “dị thảo” đó là sự kỳ công của tự nhiên và nghệ nhân tạo nên dáng thế, mang tới sự kỳ thú cho người thưởng ngoạn. Còn “Mỹ” trong bonsai được hiểu là vẻ đẹp, sự hoàn hảo. Một cây cảnh hội tụ đủ các yếu tố “Cổ - Kỳ - Mỹ” thì cây cảnh bonsai sẽ hàm chứa giá trị nhân văn sâu sắc.

Anh Hà Mạnh Đức - một người chơi cây bonsai lâu năm tại Hà Nội cho biết, nét khác biệt giữa thưởng thức một cây cảnh thường và cây bonsai là ở cây cảnh thường người ta tập trung nhiều vào việc ngắm hoa và lá, còn với bonsai, sự thưởng lãm nằm ở vẻ đẹp của toàn cây và sự hòa điệu của cây với chậu, cành. Trong nghệ thuật bonsai, lá cây được tìm cách thu nhỏ - càng nhỏ càng hay, còn hoa chỉ là yếu tố phụ.

Triển lãm là hoạt động có ý nghĩa, tạo cơ hội cho các hội, làng nghề, câu lạc bộ, nghệ nhân sinh vật cảnh trong và ngoài Thủ đô gặp gỡ, trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm, nâng cao trình độ nghệ thuật, tay nghề nhằm tạo ra nhiều tác phẩm sinh vật cảnh có giá trị; cùng hợp tác và phát triển. Nâng cao ý thức bảo vệ cảnh quan môi trường, gìn giữ, bảo tồn, quảng bá, giới thiệu hình ảnh đất và người Thủ đô tới bạn bè trong nước và quốc tế.

 Triển lãm mang tới người xem một không gian văn hóa độc đáo của nghệ thuật chơi cây cảnh Việt Nam.

Thủ đô Hà Nội hiện là một trong những địa phương đi đầu cả nước về quy mô và giá trị sinh vật cảnh. Năm 2023, Thành phố có trên 8.100 ha chuyên canh hoa, cây cảnh, đạt giá trị sản xuất khoảng 7.000 tỷ đồng. Thành phố đã công nhận 14 làng nghề về hoa, cây cảnh trên địa bàn, có 36 sản phẩm hoa, cây cảnh đã được công nhận là sản phẩm OCOP từ 3 sao trở lên. Sinh vật cảnh có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển Thủ đô “sáng, xanh, sạch, đẹp”, cũng như định hướng phát triển ngành nông nghiệp sinh thái bền vững và đô thị thông minh.

Hiện nay, Hà Nội đang xây dựng Đề án nông nghiệp đô thị, trong đó sinh vật cảnh được xác định là một nhóm ngành hàng quan trọng được ưu tiên phát triển, giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu, giảm tác động của quá trình đô thị hóa nhanh, tăng tỷ lệ diện tích cây xanh bình quân trên đầu người./.

Cội nguồn của thế trận lòng dân

 Chiến lược bảo vệ Tổ quốc cùng với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội là hai chiến lược nền tảng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong đó, thế trận lòng dân là một trong những nhân tố có ý nghĩa quyết định trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Không có thế trận này, mọi giải pháp trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc sẽ không phát huy được tác dụng và hiệu quả.

Chiến lược bảo vệ Tổ quốc gắn chặt với Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - một nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và điều tiết vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là nội hàm cốt lõi và nền tảng của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước ta. Chỉ có nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hướng đến mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nhân dân ta mới thực sự có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, một cuộc sống hài hòa cả về vật chất và tinh thần, từ đó mãi mãi gắn bó với Đảng và chế độ.

Phát huy đại đoàn kết toàn dân tộc trên cơ sở quan điểm, chủ trương, chính sách hợp lòng dân vì lợi ích của toàn thể dân tộc Việt Nam của Đảng và Nhà nước. Tạo sự gắn kết từng con người Việt Nam, cộng đồng các dân tộc Việt Nam, cả trong nước và nước ngoài với khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, xứng đáng vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.

Trước đây về lý luận chính trị, chúng ta đề cập vấn đề giai cấp và đấu tranh giai cấp và xem đấu tranh giai cấp là động lực của sự pháp triển. Trong tình hình mới với sự nghiệp đổi mới hiện nay, đại đoàn kết toàn dân tộc là biểu hiện của sự đồng lòng của cả dân tộc, là động lực tinh thần to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Các vấn đề nêu trên, là những thành tố cơ bản tạo nên sức mạnh tổng hợp của đất nước, nguồn lực nội sinh của dân tộc, cội nguồn hình thành và phát triển ngày càng vững chắc của thế trận lòng dân. Đây cũng là một trong những nhóm giải pháp cơ bản cùng chiến lược đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự và các chiến lược chuyên ngành khác…, nhằm thực hiện thành công mục tiêu Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới hiện nay.

Nắm vững và phát triển không ngừng những thành tố cơ bản tạo nên cội nguồn của thế trận lòng dân, làm cơ sở để xây dựng các thế trận trên từng lĩnh vực cụ thể: Thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân, thế trận biên phòng toàn dân… Trong đó, cần kết hợp chặt chẽ ba thành tố cơ bản nêu trên, trên từng không gian cụ thể. Từ đó, hình thành các phương án, kế hoạch, được quán triệt, huấn luyện, diễn tập tạo sự thuần thục, xử lý kịp thời, hiệu quả khi có tình huống xảy ra. Đáp ứng được mục tiêu, yêu cầu cụ thể của Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trên từng không gian cụ thể, nhất là địa bàn cơ sở tiềm ẩn nhiều phức tạp trong tình hình mới hiện nay

Tầm nhìn mới, cơ hội mới xây dựng Thủ đô Hà Nội văn hiến - văn minh - hiện đại.

 Ngày 7/10, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an và Thành ủy Hà Nội phối hợp tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia “Tầm nhìn mới, cơ hội mới xây dựng Thủ đô Hà Nội văn hiến - văn minh - hiện đại, thành phố kết nối toàn cầu”.

Các đồng chí điều hành Hội thảo. 

Đây là một trong hai sự kiện cấp quốc gia chào mừng kỷ niệm 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10/10/1954 - 10/10/2024) do thành phố Hà Nội phối hợp tổ chức. 

Dự Hội thảo có các đồng chí: Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương; Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; Trần Sỹ Thanh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội; Thượng tướng Lê Huy Vịnh, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Trung tướng Lê Quốc Hùng, Thứ trưởng Bộ Công an; Nguyễn Văn Phong, Phó Bí thư Thành ủy Hà Nội cùng gần 500 đại biểu là lãnh đạo một số bộ, ngành, địa phương, thành phố Hà Nội; các chuyên gia, nhà khoa học; các hiệp hội, doanh nghiệp…

Phát biểu tại Hội thảo, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Trần Sỹ Thanh nêu rõ, kỷ niệm 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô là dịp để nhìn lại, đánh giá những kết quả, thành tựu rất đáng tự hào của thành phố trong giai đoạn vừa qua. Bước vào thời kỳ đổi mới, Hà Nội đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, toàn diện, đạt được nhiều thành tựu trên mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội.

Đến nay, GRDP bình quân đầu người đạt gần 6.300 USD, gấp hơn 130 lần so với năm 1954. Quy mô nền kinh tế đạt khoảng 55 tỷ USD, đóng góp 16% GDP và 19% tổng thu ngân sách của cả nước. Các giá trị văn hóa được phát huy, khơi dậy ý chí, niềm tự hào, khát vọng vươn lên của mỗi người dân Thủ đô. Bộ mặt đô thị ngày càng khang trang, hiện đại. Quốc phòng, an ninh được giữ vững. Hà Nội được quốc tế vinh danh và công nhận là "Thành phố Vì hòa bình", "Thành phố sáng tạo".

Phát biểu đề dẫn Hội thảo, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng khẳng định, Hội thảo là dịp để nhìn lại, khẳng định tầm vóc, giá trị của những dấu mốc quan trọng và đúc rút bài học kinh nghiệm trong tiến trình lịch sử của Hà Nội 70 năm qua. Từ đó hướng tới những tầm nhìn mới, khát vọng mới, xây dựng Thủ đô bản sắc, hiện đại và hội nhập, cùng cả nước vững vàng bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương phát biểu đề dẫn Hội thảo.

Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng cho rằng, 70 năm qua, từ thực tiễn xây dựng, phát triển, quản lý và bảo vệ Thủ đô đã dệt kết nên những bài học kinh nghiệm quý báu. Đó là không ngừng phát huy truyền thống cách mạng, sự năng động, sáng tạo và vị thế của Thủ đô qua các thời kỳ; khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh, huy động hiệu quả mọi nguồn lực to lớn của Hà Nội. Đồng thời, tranh thủ sự quan tâm, giúp đỡ của Trung ương, phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành Trung ương và địa phương; thường xuyên chăm lo, xây dựng Đảng bộ Hà Nội thật sự trong sạch, vững mạnh, ngay từ cơ sở; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa cán bộ, đảng viên với nhân dân, không ngừng củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Cùng với cả nước, Hà Nội đang bừng sáng với một tư thế, diện mạo, sức sống mới, khẳng định vị trí trung tâm đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hóa, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế. Thủ đô định vị trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam và bạn bè quốc tế bằng những danh xưng cao quý: Hà Nội văn hiến và anh hùng, niềm tin và hy vọng; Thủ đô của lương tri và phẩm giá con người; Thành phố Vì hòa bình, Thành phố sáng tạo; xứng đáng với sự quan tâm sâu sắc và những phần thưởng, danh hiệu cao quý nhất mà Đảng và Nhà nước trao tặng.

Điều đó mang đến những cơ hội mới, động lực mới để Hà Nội hoàn thành mục tiêu đến năm 2030 là thành phố “Văn hiến - Văn minh - Hiện đại”; trở thành trung tâm, động lực thúc đẩy phát triển vùng Đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước; hội nhập quốc tế sâu rộng, có sức cạnh tranh cao trong khu vực và trên thế giới, phấn đấu phát triển ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực.

Để xây dựng Thủ đô Văn hiến - văn minh - hiện đại, thành phố kết nối toàn cầu, đồng chí Nguyễn Xuân Thắng chia sẻ một số vấn đề để hội thảo thảo luận là: Cần trân trọng giữ gìn và phát huy di sản văn hiến vô giá của Thủ đô, cũng là của đất nước mà tổ tiên cùng các thế hệ cha ông ta đã để lại; xây dựng Hà Nội trở thành đô thị hiện đại, thông minh, xanh, đáng sống, an toàn và mến khách; chủ động, tích cực đẩy mạnh, nâng tầm hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế sâu rộng và toàn diện của Thủ đô; quyết liệt, kiên trì xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị của Thủ đô Hà Nội đoàn kết thống nhất, thật sự gương mẫu, trong sạch, vững mạnh toàn diện.

Quang cảnh Hội thảo. 

Hội thảo đã thu hút 90 bản báo cáo, tham luận của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo, chuyên gia, nhà khoa học. Các ý kiến khẳng định sự quan tâm đặc biệt trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đối với quá trình xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội. Nhiều ý kiến tại Hội thảo và các tham luận đã chỉ rõ, Thủ đô Hà Nội có vai trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong công cuộc đổi mới đồng bộ, toàn diện đất nước. Thủ đô đi trước, đi đầu trong việc thực hiện và hoàn thành sớm các kế hoạch, chiến lược phát triển đất nước. Đóng vai trò là trung tâm, đầu mối kết nối, dẫn dắt, tạo động lực thúc đẩy, tạo hiệu ứng lan tỏa đổi mới sáng tạo đối với vùng đồng bằng sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước; có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển đô thị quốc gia.

Các tham luận tại Hội thảo khẳng định, đến năm 2030, Thủ đô Hà Nội sẽ ngày càng hội tụ nhiều tiềm năng to lớn cho phát triển và là một cực tăng trưởng của vùng Đồng bằng sông Hồng và của cả nước. Hà Nội chắc chắn vẫn sẽ tiếp tục giữ vị thế là cực tăng trưởng kinh tế lớn nhất của vùng Đồng bằng sông Hồng và của cả miền Bắc.

Tại Hội thảo, GS.TS Phùng Hữu Phú, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội, nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Lý luận Trung ương nhấn mạnh: Trải qua 70 năm xây dựng, phát triển, Thủ đô Hà Nội đã có tầm vóc, vị thế xứng đáng, tiềm lực đủ mạnh; thể chế thông thoáng, môi trường quốc tế thuận lợi và ngày càng nhận được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo đặc biệt của Đảng, Nhà nước, sự ủng hộ, phối hợp chặt chẽ của các địa phương trong cả nước, sự hợp tác quốc tế hiệu quả. Đảng bộ, chính quyền, đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân Hà Nội đã trưởng thành vượt bậc, tích lũy được nhiều bài học kinh nghiệm phong phú, quí báu. Đó chính là những tiền đề vững chắc để Hà Nội phát triển bứt phá, trở thành Thủ đô văn hiến - văn minh - hiện đại, cùng cả nước tiến mạnh vào kỷ nguyên mới - “ kỷ nguyên vươn mình của dân tộc”.

GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc nhận định, Hà Nội là không gian lịch sử - văn hóa có lịch sử lâu đời và tập trung cao nhất của toàn bộ tiến trình lịch sử đất nước. Hà Nội là đất tụ thủy, tụ nhân, tụ tài, tụ lực, cùng với các lớp cư dân bản địa từ thời dựng nước đầu tiên là các lớp cư dân tứ xứ, anh tài bốn phương đổ về.

GS.TS.NGND Nguyễn Quang Ngọc nhấn mạnh,  đến phát huy tối đa nhân tố con người, xây dựng con người Hà Nội thanh lịch, văn minh, phát triển toàn diện, gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống và giá trị hiện đại chính là chìa khóa thành công của công cuộc xây dựng Thủ đô Văn hiến - Văn minh - Hiện đại.

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương phát biểu bế mạc Hội thảo.

Phát biểu bế mạc Hội thảo, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương khái quát, đánh giá các ý kiến phát biểu, tham luận trực tiếp tại Hội thảo đã khẳng định sự quan tâm đặc biệt trong lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đối với quá trình xây dựng và phát triển Thủ đô Hà Nội. Nhiều ý kiến chỉ rõ, Thủ đô Hà Nội có vai trò to lớn trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong công cuộc đổi mới đồng bộ, toàn diện đất nước.

Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa khẳng định, Hội thảo đã thu hút sự quan tâm của đông đảo chuyên gia, nhà khoa học, nhà lãnh đạo, quản lý và các cơ quan nghiên cứu hàng đầu ở nhiều lĩnh vực quan trọng. Đây là lực lượng trí thức tâm huyết, nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm cho sự nghiệp xây dựng và phát triển Thủ đô.

Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa nhấn mạnh, nhiều chuyên gia, nhà khoa học đã đi sâu phân tích, tổng kết các bài học kinh nghiệm trong nước và quốc tế chỉ ra, để thực sự tạo đột phá phát triển Thủ đô trong giai đoạn tới cần ưu tiên tập trung vào các vấn đề như dịch vụ và kinh tế đô thị; phát triển công nghiệp văn hoá kết hợp với dịch vụ, du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn; xây dựng Hà Nội trở thành trung tâm hàng đầu về công nghiệp vi mạch bán dẫn, công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo …

 “Thời gian tới, bên cạnh sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, Nhà nước, sự nỗ lực không ngừng của Đảng bộ và Nhân dân Thủ đô, các chuyên gia, nhà khoa học, các quý vị đại biểu tiếp tục hỗ trợ, đồng hành cùng Thủ đô để góp phần thúc đẩy phát triển thành phố Hà Nội "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại" - xứng đáng vừa là trung tâm chính trị, hành chính của quốc gia, vừa là trung tâm phát triển kinh tế - xã hội năng động, đổi mới sáng tạo, kết nối toàn cầu”, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa bày tỏ./.

Mùa thu lịch sử 70 năm trước

  Tại Đền Hùng, Bác Hồ căn dặn các chiến sĩ về tiếp quản Thủ đô phải luôn đoàn kết cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ, chăm tuyên truyền cho nhân dân hiểu rõ chủ trương đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, ông Lê Văn Tính (SN 1935, cựu chiến binh Trung đoàn Thủ đô, Sư đoàn 308) về Đền Hùng (tỉnh Phú Thọ) gặp Bác Hồ và được giao nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô. Đây là sự kiện để lại ấn tượng sâu sắc mà cả cuộc đời ông Tính không bao giờ quên.

Lần đầu gặp Bác, chiến sĩ Lê Văn Tính xúc động khi thấy Bác mạnh khỏe, trời se lạnh mà chỉ mặc bộ quần áo nâu bạc màu. Bác ngồi trên bậc thềm nhà và thân mật hỏi: “Các chú có biết đây là nơi nào không?”. Có vài lời thưa: “Thưa Bác đây là Đền Hùng”.

Lúc đó Bác Hồ đáp: Các Vua Hùng có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước. Tám, chín năm nay, quân dân ta kiên quyết kháng chiến nên mới có thắng lợi về Hà Nội. Vì thế các chú được Trung ương Đảng và Chính phủ giao cho nhiệm vụ tiếp quản Thủ đô là được nhận một vinh dự lớn.

“Bác ân cần dặn: Khi vào tiếp quản Thủ đô các chú phải hết sức đề phòng âm mưu phá hoại của địch, đấu tranh giữ được nguyên vẹn điện, nước, bệnh viện, trường học, nhà cửa, đường sá... để ta dùng. Các chú phải luôn giữ kỷ luật nghiêm minh, giữ gìn phẩm chất cách mạng. Trong chiến tranh xông pha lửa đạn không chết vì viên đạn đồng, trong hòa bình nếu không giữ được phẩm chất cách mạng có thể ngã vì viên đạn bọc đường... các chú phải luôn đoàn kết cùng nhau hoàn thành nhiệm vụ, chăm tuyên truyền cho nhân dân hiểu rõ chủ trương đường lối của Đảng, chính sách quy định của Nhà nước, phản bác những luận điệu sai trái của kẻ thù”, ông Lê Văn Tính nhớ lại.

Kết thúc buổi nói chuyện Bác hỏi: Vào thành phố mới giải phóng Bác mong các chú nghiêm chỉnh gương mẫu chấp hành, hoàn thành nhiệm vụ có được không?".

“Anh em đứng dậy hứa với Bác hoàn thành nhiệm vụ và chúc Bác mạnh khỏe sống lâu. Bác cười đôn hậu: “Được, muốn Bác vui khỏe sống lâu, các chú hãy hoàn thành lời Bác căn dặn”. Bộ đội vỗ tay hân hoan chào Bác”, cựu chiến binh Lê Văn Tính chia sẻ.

Chấp hành chỉ thị của Bác về công tác đặc biệt này, đơn vị của ông Tính có hơn một tháng để chuẩn bị khẩn trương, nghiêm túc và rất cụ thể. Các buổi truyền đạt quy định trong vùng mới giải phóng, đặc biệt là hướng dẫn sinh hoạt trong thành phố được tiến hành chu đáo, chan hòa tình đồng đội, cùng với đó là không khí phấn khởi, háo hức mong nhanh đến ngày vào Thủ đô.

“Ngày 10/10/1954 ngày lịch sử đã đến. 5 giờ sáng, rời làng Phùng (huyện Đan Phượng), chúng tôi đội ngũ chỉnh tề theo đường 32 tiến về Hà Nội. Qua Cầu Diễn hiện ra trước mặt: Hà Nội một rừng cờ hoa, biểu ngữ, khẩu hiệu, các kiểu chữ rất cầu kỳ, nhiều nhất là: Hồ Chí Minh muôn năm!”, ông Tính hồi tưởng.

Cựu chiến binh Lê Văn Tính nhớ như in hình ảnh sáng mùa thu lịch sử 70 năm trước, đông đảo nhân dân Thủ đô đứng hai bên đường vẫy cờ hoa đón chào hàng quân chỉnh tề diễu qua. “Những ánh mắt ướt lệ, những cánh tay như muốn ôm chặt lấy người thân xa lâu ngày gặp lại. Khó nén nỗi xúc động dâng trào mắt nhòa lệ, nhất là những đồng chí đã chiến đấu 60 ngày đêm trong đội quân “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” giữ Hà Nội, ra đi từ ngày đầu kháng chiến nay trở về”, cựu chiến binh Sư đoàn 308 cho hay.

Khi đoàn quân đi qua các đường phố đến Hồ Gươm, về cửa chợ Đồng Xuân, dù phố phường đang có lệnh giới nghiêm nhưng nhà nào cũng mở cửa, mọi người đứng trong nhà nhìn bộ đội đi qua với nét mặt thân thiện, gần gũi như mong đợi từ lâu.

Buổi chiều ngày 10/10/1954, đoàn quân tiếp quản Thủ đô tập trung ở sân Cột Cờ, đội ngũ chỉnh tề cùng nhân dân dự lễ thượng cờ. 15 giờ cùng ngày, còi Nhà hát thành phố nổi lên một hồi dài, Quốc ca hùng tráng vang lên, cờ Tổ quốc phấp phới bay trên đỉnh cột cờ Hà Nội.

“Sư đoàn trưởng Vương Thừa Vũ đọc thư Hồ Chủ Tịch gửi đồng bào Thủ đô. Lời thư thân mật, tha thiết, trong không khí thiêng liêng, lòng tôi xúc động rưng rưng nước mắt, lời đọc vừa dứt, tiếng hô Hồ Chí Minh muốn năm vang lên, biểu thị tấm lòng kính yêu lãnh tụ của nhân dân Thủ đô”, ông Lê Văn Tính nói.

Ông Tính cho biết, tiến hành quân quản trong một thời gian ngắn, phố phường Thủ đô buôn bán ngày càng nhộn nhịp, sinh hoạt trở lại bình thường. Những ngày đầu đơn vị ông Tính chia tổ 3 người vào từng nhà thăm hỏi, nói chuyện, giải đáp những vướng mắc cho nhân dân, được mọi nhà tiếp đón vui vẻ.

“Thực hiện lời căn dặn của Bác, chúng tôi đã hoàn thành tốt nhiệm vụ Bác giao. Đơn vị được khen thưởng, riêng tôi và một số cán bộ trong trung đoàn được Bác tặng Huy hiệu của Người là một phần thưởng vô cùng quý giá”, cựu chiến binh ông Lê Văn Tính xúc động nói./.

Sức mạnh trong sự đồng thuận của toàn xã hội sẽ làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”:

 

 Một trong những nguyên nhân khiến các thế lực thù địch và đối tượng xấu thường xuyên bịa đặt, vu cáo về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là nhằm bẻ lái luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam theo các tiêu chuẩn phương Tây.

Làm thất bại chiến lược “Diễn biến hòa bình”: Sức mạnh trong sự đồng thuận của toàn xã hội.

Những năm qua, do cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí nên một số cá nhân, tổ chức hoạt động dưới danh nghĩa “người bảo vệ” tự do tôn giáo và nhân quyền thế giới vẫn tung ra những thông tin thiếu khách quan, những nhận định sai trái về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Điển hình là gần đây, 21/8/2024, trên trang Facebook Việt Tân phát tán bài “Lên án nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam” đàn áp tôn giáo”; ngày 29/9/2024 trên trang Facebook Chân Trời mới Meddia tán phát bài “Cha Lê Quốc Thăng rời khỏi uỷ ban công lý và Hoà bình của Hội đồng giáo mục Việt Nam”, nội dung vu cáo chính quyền Việt Nam “đàn áp” các hoạt động của tôn giáo; cổ suý cho hoạt động chống phá chính quyền của Linh mục Lê Quốc Thăng và hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng trong tổ chức “Tin lành Đấng Christ Tây Nguyên”.

Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có cả tôn giáo nội sinh và tôn giáo ngoại nhập và từng được ví như một “bảo tàng” về tín ngưỡng, tôn giáo của thế giới. Theo thống kê cập nhật từ Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và hơn 26,5 triệu tín đồ, chức sắc của các tôn giáo. Tính đến hết năm 2021 đã có 16 tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận, trong đó có Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo...

Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, bảo đảm công bằng, không phân biệt đối xử với các tôn giáo. Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có chính sách dân tộc, tôn giáo tiến bộ; tạo mọi điều kiện cho các loại hình tôn giáo hoạt động theo những quy định của Pháp luật và tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng của nhân dân khuyến khích đồng bào có đạo hay không có đạo đoàn kết cùng chung mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN./.

HÀ NỘI, TRÁI TIM HỒNG CỦA CẢ NƯỚC

 


 Ngày 16/7/1999, Hà Nội là Thủ đô duy nhất trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) trao tặng danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”. Đến nay, sau 25 năm, Thủ đô Hà Nội không chỉ tự hào về danh hiệu đó mà còn về những nỗ lực không ngừng để trở thành một thành phố hòa bình, hội nhập và phát triển nhưng vẫn giữ bản sắc văn hóa của Thủ đô ngàn năm văn hiến.

Trên thế giới, việc sở hữu danh hiệu của UNESCO không chỉ là sự công nhận về giá trị văn hóa, lịch sử và tự nhiên của một địa phương hay quốc gia, mà còn là cấu phần quan trọng hình thành nên thương hiệu mỗi quốc gia, địa phương. Danh hiệu này có sự đóng góp to lớn cho phát triển kinh tế - xã hội thông qua thu hút khách du lịch, chuyển đổi cơ cấu phát triển kinh tế, thúc đẩy mô hình tăng trưởng xanh, bền vững.

Nhận thấy rõ “gánh nặng” trên vai, để xứng đáng với danh hiệu, suốt những năm qua, Hà Nội luôn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ sắp xếp, kiện toàn tổ chức, bộ máy, hệ thống chính trị các cấp, bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Thành phố cũng đã triển khai nhiều dự án về văn hóa, giáo dục truyền thống, bảo vệ môi trường... Nhiều mục tiêu, chương trình, công trình đã được hoàn thành, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần cải thiện đời sống người dân.

Trong 25 năm qua, Thủ đô Hà Nội đã không ngừng phát triển trở nên văn minh và hiện đại hơn, xứng đáng với danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”, đồng thời khẳng định vai trò là trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế của cả nước. Đáng nói, dù đã có sự thay đổi rõ rệt về diện mạo, hiện đại hơn, phát triển hơn nhưng Hà Nội vẫn giữ vững bản sắc văn hóa đặc trưng của một Thủ đô ngàn năm văn hiến. Thành phố vẫn giữ nguyên những giá trị riêng có, đó là kho tàng văn hoá đồ sộ, đó là những thực hành văn hóa, nghệ thuật sáng tạo được tiếp diễn liên tục qua các thế hệ, đó là các hoạt động bảo tồn di sản, phát huy vẻ đẹp của cảnh quan thiên nhiên,… Sự tồn tại của những giá trị riêng vốn có này cho thấy Hà Nội là một thành phố vừa hiện đại, dân tộc, văn hiến nhưng cũng văn minh, từng bước xứng tầm một Thủ đô của một quốc gia với gần trăm triệu dân, có vị thế nhất định trên thế giới.

Đáng mừng, trước niềm phấn khởi và tự hào trước danh hiệu “Thành phố vì hòa bình”, những năm qua người dân Hà Nội đã không ngừng phát huy truyền thống văn hóa đặc sắc của người Hà thành từ bao đời nay: hào hoa, thanh lịch, nghĩa tình, văn minh, tiêu biểu cho văn hoá, lương tri và phẩm giá con người Việt Nam. Đây cũng chính là mục tiêu, động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, là một trong những yếu tố quyết định sự thành công trong quá trình đổi mới của Thủ đô. Theo quan điểm chỉ đạo xuyên suốt của Hà Nội qua các thời kỳ, trong xây dựng văn hóa Thủ đô phải tập trung vào việc xây dựng con người, đề cao vai trò chủ thể sáng tạo và thụ hưởng văn hóa của Nhân dân. Việc xây dựng con người còn là điều kiện để Thủ đô Hà Nội rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa Thủ đô và cũng là điều kiện để Hà Nội hội nhập kinh tế quốc tế

“Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

 Bác Hồ đã căn dặn các chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong trong buổi trò chuyện thân mật ngày 19-9-1954 trước khi đơn vị vào tiếp quản Thủ đô: “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.

Thực hiện lời dạy của Bác và thi hành các thỏa thuận đã ký kết, sáng ngày 10-10-1954, các đơn vị Quân đội nhân dân Việt Nam gồm có bộ binh, pháo binh, cao xạ, cơ giới... từ năm cửa ô, với quân phục chỉnh tề, huy hiệu “Chiến thắng Điện Biên Phủ” lấp lánh trên ngực, lưỡi lê tuốt trần đứng trên các xe ô tô sơn màu xanh rêu, cánh cửa in phù hiệu cờ đỏ sao vàng hùng dũng tiến vào Thủ đô Hà Nội trong niềm vui, phấn khởi chào đón của nhân dân thành phố.

Bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, mặc dù phải đối đầu với tên đầu sỏ của chủ nghĩa đế quốc có lực lượng quân sự hàng đầu thế giới, nhưng dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát huy cao độ chủ nghĩa anh hùng cách mạng, vượt qua mọi khó khăn, gian khổ, hy sinh, anh dũng chiến đấu, mưu trí, sáng tạo, “dám đánh, quyết đánh, biết đánh và biết thắng” đã lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, cùng nhân dân tiến hành thắng lợi cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, đánh bại ý chí xâm lược của đối phương; đánh bại nỗ lực cao nhất của kẻ thù, làm nên Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” trên bầu trời Hà Nội (12-1972); tiến hành Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, viết lên trang sử hào hùng, oanh liệt của thời đại Hồ Chí Minh.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Quân đội nhân dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu, cùng cả nước tiến hành thắng lợi cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, bảo vệ vững chắc chủ quyền lãnh thổ, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng. Bước vào công cuộc đổi mới, phát triển đất nước, Quân đội nhân dân Việt Nam tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta; bảo vệ độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, biên giới và hải đảo của nước Việt Nam thống nhất... Tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội.

Mỗi chiến công, mỗi thành tựu của Quân đội nhân dân Việt Nam là sự kết tinh của nhiều yếu tố. Đó là sự lãnh đạo của Đảng, là thực hiện theo tư tưởng của Bác, là sự đóng góp của nhân dân, sự phấn đấu hy sinh, quên mình, anh dũng, sáng tạo của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ... đã đi vào lịch sử dân tộc như bản hùng ca bất hủ, biểu tượng sáng ngời ý chí chiến đấu vì độc lập, tự do, vì chủ nghĩa xã hội, để lại những kinh nghiệm sâu sắc về tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, về xây dựng lực lượng, phương pháp tiến hành và nghệ thuật quân sự phát huy sức mạnh tổng hợp trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.

Lời căn dặn của Bác không chỉ nói với Đại đoàn Quân Tiên Phong mà còn nói với toàn quân, toàn dân ta, không chỉ nói với thế hệ năm xưa mà còn nói với thế hệ hôm nay và cả với các thế hệ mai sau, như một mệnh lệnh vang vọng ngàn năm, trường tồn cùng với đất nước, với dân tộc Việt Nam: “Dựng nước phải đi đôi với giữ nước”

 

NHẬN DIỆN, PHÊ PHÁN QUAN ĐIỂM CỔ XÚY “XÃ HỘI DÂN SỰ”

 Ý đồ của những đối tượng cổ xúy “xã hội dân sự” cũng không ngoài mục đích làm suy yếu, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), từ đó loại bỏ vị trí, vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và hướng lái đất nước Việt Nam đi theo con đường khác, xa lạ, đối nghịch với con đường cách mạng XHCN.

Âm mưu tinh vi, xảo quyệt

Khái niệm “xã hội dân sự” (civil society) được hiểu là không gian xã hội công cộng nằm ngoài khu vực nhà nước, thị trường và lĩnh vực riêng tư của cá nhân, bao gồm tổng thể các thiết chế và thể chế xã hội độc lập tương đối với nhà nước và hoạt động tự nguyện trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, truyền thông đại chúng, tôn giáo, xã hội...

Tuy nhiên, bản thân “xã hội dân sự” cũng tiềm ẩn những rủi ro, nếu không nhận diện đúng, không quản lý đầy đủ sẽ dễ bị lợi dụng, trở thành công cụ chính trị để cho những phần tử cơ hội, phản động gây ra những bất ổn chính trị. Những kẻ cố tình cổ xúy “xã hội dân sự” thực chất là lợi dụng các hội, nhóm, diễn đàn... để phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây áp dụng vào Việt Nam, từng bước chuẩn bị lực lượng để tiến hành các cuộc “cách mạng màu”, chính trị hóa các tổ chức này trở thành lực lượng đối lập, cạnh tranh trực tiếp với vị thế cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua đó thực hiện mục tiêu lật đổ chế độ XHCN bằng biện pháp “bất bạo động”, “phi vũ trang”.

Ý đồ của những đối tượng cổ xúy “xã hội dân sự” nhằm làm suy yếu, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, từ đó loại bỏ vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam và hướng lái đất nước Việt Nam đi theo con đường khác, xa lạ, đối nghịch với con đường cách mạng XHCN.

Để đạt được mục tiêu này, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ra sức tuyên truyền những luận điệu sai trái, thù địch nhằm phủ định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt phủ định đường lối đổi mới toàn diện đất nước, con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam; đòi đa nguyên, đa đảng; đòi tư nhân hóa hoạt động báo chí, xuất bản... Bên cạnh đó, chúng tích cực tuyên truyền, cường điệu hóa vai trò của các tổ chức “xã hội dân sự” là hiện thân của tự do, dân chủ; xuất bản, lưu hành bất hợp pháp các bài viết, tài liệu công khai cổ vũ, đề cao mô hình “xã hội dân sự” kiểu phương Tây; hô hào và tìm cách tác động áp dụng mô hình này vào xã hội Việt Nam để mở rộng diễn đàn dân chủ, phát huy đa nguyên... từng bước hình thành các “phong trào”, “mặt trận” dân chủ, trở thành lực lượng đối trọng, đối lập với Đảng và Nhà nước ta trong tương lai.

Các thế lực thù địch bên ngoài gia tăng các hoạt động móc nối, liên kết, hậu thuẫn cho những người bất đồng chính kiến trong nước, những người bất mãn trong một bộ phận văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư... hoạt động theo khuynh hướng độc lập, hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” đối lập theo mô hình của phương Tây. Thời gian qua, các tổ chức phản động lưu vong như: “Chính phủ Việt Nam tự do”; “Việt Nam canh tân cách mạng Đảng”; “Đảng nhân dân hành động”; “Đảng dân chủ nhân dân”; “Đảng vì dân”; “Tập hợp dân chủ đa nguyên”; “Hội đồng dân quân cứu quốc”... liên tục chỉ đạo, tài trợ, cung cấp phương tiện cho một số đối tượng chống đối trong nước tiến hành hoạt động chống phá như: Khiếu kiện đông người, vượt cấp, đình công, biểu tình, qua đó tạo thành các điểm nóng về an ninh trật tự rồi tìm cách gây bạo loạn, lật đổ chính quyền.

Ngoài ra, chúng lợi dụng triệt để internet và mạng xã hội để tuyên truyền, liên tục tổ chức các cuộc “phỏng vấn”, “hội thảo”, “hội luận” nhằm vào các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, các phần tử cực đoan, quá khích trong tôn giáo bàn về chủ đề “tổng nổi dậy”, “biểu tình” và “quyền thành lập tổ chức chính trị đối lập”; tập trung tuyên truyền đòi đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, “phi chính hóa” lực lượng vũ trang; kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, tạo tâm lý hoài nghi trong quần chúng nhân dân về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam.

Ở Việt Nam, các thế lực phản động, cơ hội chính trị đã tiếp tay, nuôi dưỡng các tổ chức phi chính phủ bằng những khoản viện trợ, tài trợ để giương cao khẩu hiệu “dân chủ, tự do, nhân quyền”, lợi dụng mâu thuẫn xã hội, kích động, xúi giục, lừa dối và lôi kéo đông đảo người dân tham gia các hoạt động biểu tình, khiếu kiện đông người, tạo ra những điểm nóng chính trị-xã hội. Thực tế thời gian qua, chúng đã thành lập các tổ chức “xã hội dân sự” với tên gọi, khẩu hiệu dễ gây ấn tượng với thị hiếu của từng nhóm xã hội nhất định, như: “Diễn đàn xã hội dân sự”; “hội tù nhân lương tâm”; “hội phụ nữ nhân quyền”; “hội bầu bí tương thân”; “hội nhà báo độc lập”; “hội anh em dân chủ”...

Trước hành động cổ xúy “xã hội dân sự” hiện nay của một số thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, chúng ta cần chủ động nhận diện, đấu tranh, phản bác và làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của chúng.

Các cơ quan chức năng, các cơ quan nghiên cứu kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước có chủ trương, chính sách, biện pháp phù hợp hạn chế đến mức thấp nhất những hệ lụy, ảnh hưởng tiêu cực của “xã hội dân sự” mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng chống phá cách mạng Việt Nam. Đảng, Nhà nước tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm phát huy đầy đủ vai trò của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hiệp hội; thúc đẩy phát triển các tổ chức này phù hợp với luật pháp, điều kiện thực tế của đất nước, phù hợp với cơ chế vận hành của thể chế chính trị, giữ vững bản chất chế độ XHCN.

“Xã hội dân sự” hiện nay là vấn đề chính trị-xã hội phức tạp, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải nhận thức đúng đắn, hành động cẩn trọng, bảo đảm cơ sở chính trị, pháp lý rõ ràng, không để các tổ chức “xã hội dân sự” phát triển một cách tự phát; nâng cao cảnh giác và chủ động phòng ngừa, làm thất bại mọi âm mưu của thế lực thù địch cổ xúy “xã hội dân sự” là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên để bảo đảm sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước./.NB

 

Trao giải cuộc thi viết “70 năm Giải phóng Thủ đô: Ký ức tự hào”.

 Tổng Biên tập Báo Hànộimới Nguyễn Minh Đức nhấn mạnh, thông qua cuộc thi viết “70 năm Giải phóng Thủ đô: Ký ức tự hào”, chúng ta càng thêm yêu Hà Nội để cùng nhau nêu cao tinh thần trách nhiệm, cùng nhau góp sức gìn giữ, phát huy để hào khí Thăng Long - Hà Nội càng thêm lan tỏa, rạng ngời”.

PGS.TS Nguyễn Thế Kỷ, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật Trung ương và nhà báo Hồ Quang Lợi, Phó Chủ tịch Hội Truyền thông số Việt Nam trao giải Nhất cho tác giả.

Chiều 7/10, tại Hà Nội, Báo Hànộimới tổ chức lễ tổng kết và trao giải cuộc thi viết “70 năm Giải phóng Thủ đô: Ký ức tự hào”.

Cuộc thi là một trong những hoạt động thiết thực, đóng góp vào chuỗi hoạt động chung của thành phố chào mừng kỷ niệm 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô.

Đây là dịp tăng cường tuyên truyền, giáo dục về truyền thống lịch sử vẻ vang của Thăng Long - Hà Nội, quảng bá về hình ảnh của Thủ đô Anh hùng…; đồng thời khơi dậy tình yêu, khát vọng và trách nhiệm trong mỗi người Hà Nội cũng như người dân cả nước đối với Thủ đô ngàn năm văn hiến.

Sau hơn 5 tháng kể từ ngày phát động (28/3/2024), đến ngày kết thúc đăng bài (10/9/2024), Ban tổ chức đã nhận được 180 bài, loạt bài dự thi.

Với nhiều cây bút tên tuổi tham dự, 20 tác phẩm xuất sắc được trao giải thưởng, Cuộc thi viết “70 năm Giải phóng Thủ đô: Ký ức tự hào” do Báo Hànộimới tổ chức đã góp phần nhân lên tình yêu Hà Nội, để mỗi người thêm trân quý những giá trị lớn lao của Hà Nội bồi tụ từ nghìn năm lịch sử.

Trong số 180 tác phẩm tham dự cuộc thi, đã có 82 bài, loạt bài chất lượng được đăng tải trên Báo Hànộimới điện tử và ấn phẩm Hànộimới cuối tuần để giới thiệu và lan tỏa tới độc giả. Từ đây, Hội đồng sơ khảo đã chọn 30 tác phẩm xuất sắc vào chung khảo và Hội đồng chung khảo đã thống nhất chọn 20 tác phẩm để trao 1 giải Nhất, 2 giải Nhì, 3 giải Ba và 14 giải Khuyến khích.

Chủ tịch Hội Nhà báo thành phố Hà Nội Tô Quang Phán và Tổng Biên tập Báo Hànộimới Nguyễn Minh Đức trao giải Nhì cho các tác giả. 

Phát biểu tổng kết cuộc thi, nhà báo Nguyễn Minh Đức, Tổng Biên tập Báo Hànộimới, Trưởng ban tổ chức cuộc thi nhấn mạnh, cuộc thi đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình, với tinh thần trách nhiệm “vì tình yêu Hà Nội”… Các tác phẩm dự thi được thể hiện sinh động bằng nhiều hình thức viết, như phóng sự, bút ký, tản văn, bài phản ánh, bài nghiên cứu, tư liệu… Từ đó, người đọc được hòa mình vào những năm tháng hào hùng, sôi động của Hà Nội trước, trong và sau Ngày Giải phóng 10/10/1954.

Tổng Biên tập Báo Hànộimới bày tỏ: “Thông qua cuộc thi, chúng ta càng thêm yêu Hà Nội, càng trân quý những giá trị lớn lao của Hà Nội được bồi tụ từ nghìn năm lịch sử để cùng nhau nêu cao tinh thần trách nhiệm, cùng nhau góp sức gìn giữ, phát huy để hào khí Thăng Long - Hà Nội càng thêm lan tỏa, rạng ngời”.

Tại buổi trao giải, Ban Tổ chức đã trao giải Nhất cho tác phẩm “Hiện thực hóa giấc mơ sông Hồng” của tác giả Đan Nhiễm; 2 giải Nhì cho các tác phẩm “Nỗ lực vì một Hà Nội “đẹp từng centimet”” của tác giả Hoàng Quyên - Hương Trà; tác phẩm “Hà thành, mỗi bước ta đi” của tác giả Giang Nam.

Trao 3 giải Ba cho các tác phẩm “Mãi tự hào về hành trình chiến thắng” của tác giả Phạm Văn Chương; tác phẩm “Chuyện ông bố nhà quê đưa con đi xin lỗi bạn” của tác giả Nguyễn Hồng Thái; tác phẩm “Hà Nội linh thiêng - nơi khơi nguồn sức mạnh dân tộc” của tác giả Văn Ngọc Thủy… Ngoài ra, Ban Tổ chức trao 14 giải Khuyến khích cho các tác giả có tác phẩm xuất sắc./.