Thứ Hai, 3 tháng 2, 2025

MÔI TRƯỜNG QUÂN ĐỘI GIÚP CON NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH

 MÔI TRƯỜNG QUÂN ĐỘI GIÚP CON NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH


Với kỷ luật nghiêm minh, tình đồng chí, đồng đội gắn bó là yếu tố quan trọng giúp con người từng bước trưởng thành...


Có một câu danh ngôn rất ý nghĩa: “Khi bạn nghiêm khắc với bản thân, cuộc sống tự nhiên sẽ dễ dàng. Khi bạn dễ dàng với bản thân, cuộc sống tự nhiên sẽ khó khăn”.


Khi được rèn luyện, học tập, sinh hoạt trong một môi trường có tính kỷ luật thì chắc chắn mỗi chúng ta sẽ trưởng thành hơn. 

Mặt khác, nói là “kỷ luật thép” - đó chính là việc chúng ta đang tự bồi dưỡng, tự hoàn thiện bản thân mình; là ý thức, là những hành động tất yếu phải thực hiện và nằm trong khả năng của mỗi chúng ta. Thực tế, hầu hết bộ đội đều thực hiện tốt kỷ luật. Kỷ luật là sức mạnh của quân đội, nhờ có sức mạnh đó mà Quân đội ta đã chiến thắng nhiều kẻ thù; rèn luyện nên những người lính không ngại gian lao, không quản khó khăn, luôn vững vàng tiến lên phía trước.

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 95 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (03/02/1930 - 03/02/2025)

CHÀO MỪNG KỶ NIỆM 95 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (03/02/1930 - 03/02/2025).


⭐️ Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là bước ngoặt vĩ đại của cách mạng Việt Nam. Không những khắc phục được sự không thống nhất về tổ chức mà còn chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối chính trị. Đảng ra đời gánh vác sứ mệnh lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam, phấn đấu vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội. Khi dân tộc có Đảng lãnh đạo đã viết tiếp những trang sử vàng chói lọi, lập nên nhiều chiến công rạng rỡ.


⭐️ Trong 95 năm qua (1930-2025), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước đã đi qua mọi chặng đường gian khổ để bảo vệ và xây dựng vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, đạt được những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử.

DỰNG CÂY NÊU – BÁO HIỆU TẾT VỀ

 DỰNG CÂY NÊU – BÁO HIỆU TẾT VỀ 🌸


Lễ dựng nêu hay còn gọi là lễ Thượng tiêu là nghi thức không thể thiếu trong dịp Tết Nguyên đán tại Việt Nam. Khi cây nêu được dựng lên là báo hiệu ngày Tết chính thức bắt đầu.


Theo quan niệm truyền thống dân gian, việc dựng cây nêu ngày Tết mang ý nghĩa chính là để xua đuổi ma quỷ và những điều bất hạnh của năm cũ, cầu mong một năm mới tốt lành. 


Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, việc dựng nêu và treo các vật phẩm trên ngọn cây có nhiều hình thức khác nhau, tùy theo phong tục và tập quán của từng nơi. Thậm chí việc dựng cây nêu không chỉ có vào ngày Tết mà còn có thể ở một số lễ hội dân gian. Tuy nhiên cây nêu vẫn chủ yếu được dựng lên vào ngày Tết Nguyên đán như một phong tục truyền thống phổ biến ở khắp mọi miền của đất nước.

95 NĂM CÓ ÐẢNG DẪN ĐƯỜNG, ĐẤT NƯỚC ĂM ẮP NHỮNG MÙA HY VỌNG

  95 NĂM CÓ ÐẢNG DẪN ĐƯỜNG, ĐẤT NƯỚC ĂM ẮP NHỮNG MÙA HY VỌNG

 

Suốt 95 năm qua, kể từ khi ra đời vào ngày 3-2-1930, Đảng ta không ngừng hoàn thiện mình, xứng đáng là người cầm lái vĩ đại đưa đất nước đến những bến bờ vinh quang, trên tất cả mặt trận, lĩnh vực. Mùa xuân này, trước thềm kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, chúng ta lại ăm ắp những niềm hy vọng về hiện thực hóa mục tiêu mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn là “xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”.


1. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời thực sự là bước ngoặt vô cùng quan trọng, mang tính quyết định đối với lịch sử cách mạng nước ta, cũng như sự phát triển của đất nước. Những mốc son chói lọi mà đất nước ta giành được dưới sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng trong suốt 95 năm qua là sự khẳng định hùng hồn, đanh thép, thuyết phục đối với toàn thế giới. Có thể chia thành các giai đoạn cụ thể sau, gắn liền với những nhiệm vụ, mục tiêu mà Đảng ta đề ra. 


Thứ nhất, đó là thời kỳ Đảng lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền (1930-1945), kết thúc bằng thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, đưa dân tộc Việt Nam bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội. Ngày 2-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa, một đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc.


Thứ hai, đó là thời kỳ Đảng lãnh đạo đấu tranh giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước (1945-1975). Trong thời kỳ này, Đảng ta không ngừng xây dựng và bảo vệ chính quyền cách mạng, toàn quốc kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (1945-1954); tiến hành công cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc (1954-1975). Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh tàn bạo của đế quốc Mỹ, giành nhiều thắng lợi vẻ vang, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đây là một trong những trang chói lọi nhất của lịch sử dân tộc, là một sự kiện có tầm quốc tế và có tính thời đại sâu sắc.


Thứ ba, thời kỳ tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa trên cả nước, thực hiện công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1975 đến nay. Trong thời kỳ này, có thể chia thành 2 giai đoạn chính. Từ năm 1975-1986, Đảng lãnh đạo nhân dân vừa ra sức khôi phục kinh tế - xã hội vừa chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc và Tây Nam, bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cùng với quân, dân Campuchia chiến thắng chế độ diệt chủng; đồng thời tập trung lãnh đạo xây dựng cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hội, từng bước hình thành cơ cấu kinh tế mới trong cả nước, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân lao động. Trước những thách thức của thời kỳ mới, Đảng ta đã tổng kết thực tiễn, hoạch định đường lối đổi mới... Từ năm 1986 đến nay, trên cơ sở đánh giá tình hình đất nước và qua quá trình tìm tòi, khảo nghiệm, Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đưa ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, trình độ thấp, bị bao vây, cấm vận, nước ta đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình, hội nhập sâu, rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế…


Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng ta đã rút ra nhiều bài học kinh nghiệm vô giá. Điều hết sức quan trọng, Đảng ta luôn chú trọng xây dựng gắn liền với chỉnh đốn, để phát huy những điểm tích cực, những thành tựu đã đạt, đồng thời khắc phục những tồn tại, hạn chế, yếu kém để không bị suy yếu. Đặc biệt, trong 3 khóa liên tiếp gần đây - Đại hội XI, XII và XIII, Đảng ta đều chọn Hội nghị Trung ương 4, hội nghị đầu mỗi khóa để bàn về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Điều đó chứng tỏ mặc dù đã lãnh đạo đất nước đạt được nhiều thành tựu to lớn nhưng Đảng ta không say sưa hãnh diện mà luôn “tự soi, tự sửa”, áp dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn, phù hợp với bối cảnh tình hình trong nước và thế giới. 


Trong bối cảnh tình hình thế giới nhiều biến động khó lường hiện nay, cục diện thế giới thay đổi mạnh mẽ, Việt Nam đứng trước nhiều cơ hội nhưng cũng không ít thách thức. Chiều 25-11-2024, tại buổi trao đổi chuyên đề “Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại, từ nay đến năm 2030 là giai đoạn quan trọng nhất để xác lập trật tự thế giới mới, đây cũng là thời kỳ cơ hội chiến lược quan trọng, giai đoạn nước rút của cách mạng Việt Nam để đạt mục tiêu chiến lược 100 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, tạo tiền đề vững chắc đạt mục tiêu 100 năm thành lập nước. Sự biến chuyển có tính thời đại đem đến thời cơ, thuận lợi mới nhưng cũng xuất hiện nhiều khó khăn, thách thức mới, trong đó thách thức nổi trội hơn. Tuy nhiên, thời cơ, vận hội vẫn có thể xuất hiện giữa những đột biến trong cục diện thế giới. Vấn đề là chúng ta làm sao phải nắm bắt được thời cơ, vận hội đó”.


Sự nắm bắt thời cơ, vận hội đã lập tức được nhìn nhận, thực hiện một cách nhanh chóng, khẩn trương, quyết liệt, với quyết tâm chính trị cao nhất, đó là nội dung nổi bật liên quan đến khơi thông điểm nghẽn, nhất là điểm nghẽn thể chế, để đất nước vươn mình; là cuộc cách mạng quyết liệt đổi mới, cải cách toàn diện bộ máy của hệ thống chính trị: tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả… Những kết quả bước đầu đã có, đầy tích cực, khởi động mau chóng, sâu rộng những thông điệp để đất nước bước vào kỷ nguyên mới một cách khoa học, vững vàng, hiệu quả.


2. Tôi may mắn được thăm, làm việc với một số đảng cộng sản trên thế giới, từ khu vực, châu lục đến toàn cầu. Ở đâu cũng cảm thấy tự hào khi bạn bè thế giới ngưỡng mộ, đánh giá cao sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, kể từ khi thành lập đến nay đã tròn 95 mùa xuân. Trung tuần tháng 11-2023, trong chuyến thăm, làm việc với Đảng Cộng sản Australia tại Sydney, ông Andrew Irving, Tổng Thư ký Đảng Cộng sản Australia đánh giá cao lịch sử quan hệ tốt đẹp với Đảng Cộng sản Việt Nam và mong muốn tìm hiểu về tình hình kinh tế, chính trị của Việt Nam, đặc biệt là về quá trình đổi mới, để làm kinh nghiệm tham khảo nhằm phát triển đường hướng hoạt động của Đảng Cộng sản Australia trong thời gian tới. Ông cũng cho biết, Đảng Cộng sản Australia có ý tưởng muốn cử những thành viên trẻ sang tìm hiểu về Đảng Cộng sản, trau dồi lý luận nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như học hỏi quá trình phát triển của Việt Nam, về chủ nghĩa dân tộc và thời đại... 


Hay trước đó, vào cuối tháng 7-2019, là những buổi làm việc với lãnh đạo Đảng Marxist - Leninist, đảng cộng sản về các vấn đề liên quan đến quá trình thành lập, phát triển của các đảng trong điều kiện hiện nay, phương hướng hoạt động trong thời gian tới. Đại diện các đảng đều đánh giá rất cao những thành tựu Việt Nam đạt được, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Tại những buổi làm việc khác với các đảng cộng sản ở châu Á, châu Phi, châu Âu, những tình cảm, sự ngưỡng mộ chân thành, thán phục dành cho Đảng ta là từ trái tim, là sự ngưỡng mộ bè bạn, thắm tình đồng chí. Đặc biệt ở châu Phi, 2 nước Angola và Mozambique, khi chúng tôi đến, rất nhiều người chúng tôi gặp đều ồ lên vui mừng, chân thành và tha thiết, ngưỡng mộ khi nhắc đến những cụm từ gắn liền với người dân “lục địa đen”, là niềm hứng khởi để họ thoát khỏi ách đô hộ thực dân, đó là những tên người, tên đất, như: “Việt Nam, Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp, Điện Biên Phủ”… Điều đó là một trong những biểu hiện sinh động, là minh chứng rõ nét từ sự nhìn nhận quốc tế về sự thừa nhận “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Đó là nhận xét khách quan, chân xác, chứ không phải những điều chúng ta tự nói hay, nói đẹp về mình.


3. Đảng ta ra đời vào mùa xuân, mùa của hy vọng, của sự đâm chồi nảy lộc. Suốt 95 năm qua, Đảng đã luôn cầu thị, nghiêm khắc, nhanh chóng, kịp thời, quyết liệt xây dựng, chỉnh đốn để không ngừng nhận diện những hạn chế, để mau chóng tìm cách tháo gỡ, ngày càng hoàn thiện, xứng đáng với vai trò lãnh đạo, dẫn dắt đất nước đi tới những bến bờ vinh quang, để dân giàu, nước mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Trước ngưỡng cửa mùa xuân - mùa xuân thứ 95 - Đảng là người cầm lái vĩ đại, không lý do gì mà chúng ta không ăm ắp niềm hy vọng về một tương lai tươi sáng của dân tộc trong kỷ nguyên mới, “kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, kỷ nguyên thịnh vượng dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mọi người dân đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được hỗ trợ phát triển, làm giàu; đóng góp ngày càng nhiều cho hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và thế giới, cho hạnh phúc của nhân loại và văn minh toàn cầu...”, như Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định./.

XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 XÂY DỰNG ĐẢNG TRONG SẠCH, VỮNG MẠNH THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH


Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, xây dựng và rèn luyện Đảng ta. Người đã để lại cho dân tộc ta, Đảng ta một sự nghiệp vẻ vang, một di sản vô giá, đó là tư tưởng Hồ Chí Minh và một tấm gương trong sáng, mẫu mực, trọn đời phấn đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Mối quan tâm lớn nhất, sâu sắc nhất trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của Người là xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền trong sạch, vững mạnh, làm hạt nhân lãnh đạo toàn hệ thống chính trị. Đó là: xây dựng Đảng về chính trị; xây dựng tổ chức cơ sở Đảng; đoàn kết trong Đảng; thực hiện phê bình và tự phê bình trong Đảng; kiểm tra, chỉnh đốn Đảng… Những lời dạy của Người chứa đựng những giá trị sâu sắc, bền vững, tiếp tục định hướng cho công tác xây dựng Đảng.

Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam

 Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc mục tiêu của Đảng Cộng sản Việt Nam 

 

Cứ đến mỗi dịp kỷ niệm Ngày thành lập ĐCSVN, các thế lực thù địch lại đẩy mạnh các hoạt động chống phá với những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận bản chất, mục tiêu, lý tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Mới đây, Hiếu Chân với bài viết “Chiếc bánh vẽ “kỷ nguyên mới” trên trang Viettan  đã trắng trợn quy chụp rằng: “ĐCSVN đẩy người dân ra rìa, thủ tiêu vai trò chủ thể quốc gia của dân, bóp nghẹt tiếng nói của dân, coi dân như “thế lực thù địch”. Đây là những luận điệu rất phi lý, hoàn toàn là sai trái, cố tình phớt lờ không nghe, không thấy mục tiêu phấn đấu cao đẹp của Đảng luôn vì độc lập, tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Mục đích thâm hiểm của những luận điệu này nhằm làm giảm sút niềm tin của Nhân dân đối với Đảng.


Cần khẳng định, mục tiêu, động lực phấn đấu xuyên suốt quá trình lãnh đạo của ĐCSVN là vì hạnh phúc của Nhân dân. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”. Trong Cương lĩnh đầu tiên khi mới được thành lập, Đảng đã xác định, cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam tất yếu đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc gắn liền với tự do, hạnh phúc của Nhân dân; sự nghiệp cách mạng là của Nhân dân dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Đến Cương lĩnh 2011, Đảng ta tiếp tục kiên định khẳng định, tất cả vì lợi ích chân chính của dân tộc và hạnh phúc của Nhân dân. Đặc biệt, mục tiêu, khát vọng vì hạnh phúc của Nhân dân đã được thể hiện ngay dưới quốc hiệu nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đó là “Độc lập – Tự do – Hạnh phúc”.


Xuyên suốt các kỳ đại hội trong thời kỳ đổi mới, Đảng đều kiên định với quyết tâm chiến lược giữ vững nền độc lập cho dân tộc và phấn đấu để đất nước phát triển vì tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Tiếp nối tinh thần của các kỳ đại hội, Đại hội XIII của Đảng đã đề cao khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, đặc biệt coi trọng bảo đảm hạnh phúc của Nhân dân. Theo đó, Đảng xác định đến năm 2025, GDP bình quân đầu người khoảng 4.700 – 5.000 USD; tỷ lệ lao động qua đào tạo là 70%; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%; tỷ lệ nghèo đa chiều duy trì mức giảm 1-1,5% hằng năm; có 10 bác sĩ và 30 giường bệnh/vạn dân; tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 95% dân số; tuổi thọ trung bình đạt khoảng 74,5 tuổi… Đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng: Là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao (GDP bình quân đầu người ước đạt khoảng 7.500 USD/năm). Đến năm 2045, Kỷ niệm 100 năm thành lập nước: Trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Các chỉ tiêu cụ thể này được Đảng xác định không có mục đích nào khác là nhằm đem lại hạnh phúc cho Nhân dân.


Dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN, Nhân dân đã được hưởng tự do, hạnh phúc thực sự trên thực tế. Trong thời kỳ phong kiến và thực dân, đế quốc, Nhân dân ta không có hạnh phúc, bởi không có quyền làm chủ, phải chịu sự áp bức, bóc lột và kiếp sống nô lệ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cách mạng tháng Tám năm 1945 giành được thắng lợi, Nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình. Khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời và nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Nhân dân thực sự được làm chủ, trực tiếp xây dựng nên chính quyền các cấp, bầu ra đại biểu đại diện cho quyền và lợi ích của chính mình, nhà nước là nhà nước của dân, do dân và vì dân.


Đăc biệt, trong sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, mang lại cuộc sống hạnh phúc cho Nhân dân. Hiện nay, Nhân dân Việt Nam không chỉ có cơm ăn, áo mặc, mà còn ăn ngon, mặc đẹp; từ đô thị đến làng quê, đâu đâu cũng khang trang với cuộc sống hạnh phúc. Thu nhập bình quân đầu người không ngừng được cải thiện và Việt Nam đã được vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình trên thế giới. Việt Nam đã được xếp vào nhóm các quốc gia có chỉ số phát triển con người cao trong suốt ba năm gần đây, đứng thứ 107 trên 193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam cũng là quốc gia có chỉ số hạnh phúc được xếp hạng cao trên thế giới. Theo Báo cáo hạnh phúc thế giới 2023 (The World Happiness Report), Việt Nam đứng thứ 4 trong khu vực Đông Nam Á và thứ 65 trên thế giới với điểm số hạnh phúc đạt 5,8. Theo đó, chỉ số hạnh phúc của Việt Nam đã tăng 12 bậc, từ vị trí 77 vào năm 2022, lên vị trí 65 năm 2023. Và trong bảng xếp hạng các quốc gia hạnh phúc của Báo cáo hạnh phúc thế giới 2024, Việt Nam đứng thứ 54, tăng 11 bậc so với năm 2023.


 Hạnh phúc của Nhân dân luôn là mục tiêu phấn đấu của ĐCSVN ngay từ khi thành lập cho đến ngày hôm nay. Vì vậy, dù Hiếu Chân và các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc như thế nào đi chăng nữa, thì mục tiêu vì hạnh phúc Nhân dân của Đảng tiếp tục là sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong tương lai. Theo đó, mỗi người dân cần tỉnh táo, nêu cao cảnh giác và vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

DANH DỰ CỦA NGƯỜI ĐẢNG VIÊN

DANH DỰ CỦA NGƯỜI ĐẢNG VIÊN 


Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, “danh dự” luôn là điều cao quý, thiêng liêng nhất. Danh dự không phải tự nhiên có được, cũng không phải “từ trên trời sa xuống” mà được hình thành từ quá trình tu dưỡng đạo đức cách mạng, tôi rèn qua “lửa đỏ và nước lạnh”. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải giữ cho được tư cách, đạo đức, danh dự của người đảng viên, người cán bộ cách mạng, đồng thời yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ vững “liêm sỉ” và “danh dự” của người cách mạng. Với mỗi người cán bộ, đảng viên, hai từ “danh dự” luôn là điều cao quý, thiêng liêng nhất.


Điều thiêng liêng của người đảng viên


Danh dự là một trong những phẩm chất cao quý của mỗi con người. Đó là nền tảng đạo đức của con người chân chính. Danh dự có ý nghĩa rất lớn thúc đẩy con người làm điều thiện, điều tốt, ngừa điều ác, điều xấu. Người xưa trọng danh dự như mạng sống, thậm chí còn hơn cả mạng sống vì danh dự là điều còn mãi. Đối với người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, liêm sỉ, danh dự lại càng phải được coi trọng hàng đầu.


Theo V.I. Lênin: Lý tưởng đạo đức cao quý nhất của người cộng sản, của đạo đức cộng sản luôn gắn bó với lý tưởng chính trị, là động lực thúc đẩy lý tưởng chính trị trở thành hiện thực cách mạng xã hội chủ nghĩa. Lênin đặc biệt nhấn mạnh: Mỗi cán bộ, đảng viên nếu không tự bôi nhọ đạo đức, thanh danh của mình thì không ai có thể hạ thấp được uy tín của họ.


Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người lãnh đạo phải biết trọng danh dự, giữ liêm sỉ, không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”. Thấm nhuần tư tưởng của Người, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh: Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cần khắc cốt, ghi tâm những lời dạy của Bác, phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực.


Nhìn vào thực tiễn cách mạng của dân tộc ta, đã chứng minh rất rõ điều này, để giữ danh dự, uy tín của Đảng, hàng vạn đảng viên dù phải chịu đòn tra tấn cực hình của kẻ thù, nếm mật nằm gai, đói rét, đau đớn về thể xác, đày đọa về tinh thần nhưng vẫn kiên trung, một lòng với Đảng, với Tổ quốc và dân tộc, cho đến hôm nay, mỗi khi nhắc lại, chúng ta vẫn thầm cảm phục.


Đó là các đảng viên kiên trung trên các con tàu không số, khi bị giặc bắt, moi gan, mổ bụng vẫn đinh ninh “lời thề  sắt son với Đảng” không để con đường bị lộ. Là hình ảnh những chiến sĩ tình báo, bị quân thù cưa chân 4 lần, chặt hết 10 đầu ngón tay, lòng vẫn vững vàng như sắt đá, kiên trung với Đảng.


“Danh dự” ấy đã được khẳng định trong lời tuyên thệ của người đảng viên tại buổi lễ kết nạp Đảng thiêng liêng của mình. Đó là giây phút trang trọng, xúc động, tự hào khi được kết nạp vào Đảng, đó là lời thề trước Đảng về lòng trung thành, phấn đấu theo lý tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng, hoàn thành tốt nhiệm vụ của đảng viên, chấp hành kỷ luật của Đảng, giữ gìn đạo đức, phẩm chất của người cộng sản và góp phần xây dựng Đảng vững mạnh. Đó không chỉ là một câu khẩu hiệu mà chính là lời thề danh dự của người đảng viên.


Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải thực hiện sứ mệnh, trách nhiệm, lòng trung thành của người đảng viên vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Lời thề thiêng liêng, cao quý ấy chính là sức mạnh, động lực giúp các thế hệ cán bộ, đảng viên tiền bối sẵn sàng chịu đựng, chấp nhận gian khổ, hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó, nhân dân tin theo Đảng, sẵn sàng đùm bọc, chở che cho cán bộ, đảng viên, hy sinh cho Đảng, gọi Đảng là “Đảng ta” một cách trìu mến, trân trọng.


Đừng để lời thề danh dự của người đảng viên bị phai nhạt


Trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới hiện nay, phát huy truyền thống vẻ vang của Đảng ta, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã không ngừng tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, đạo đức, về trí tuệ, trình độ lý luận, về năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực tiễn, về bản lĩnh chính trị; tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, giữ trọn niềm tin của nhân dân.


Thế nhưng, có một thực tế không thể phủ nhận rằng, khi đất nước không còn chiến tranh, vậy mà trước những tác động của nền kinh tế thị trường, những níu kéo của danh vọng, quyền lực, hàng loạt quan chức cấp cao đã phải hầu tòa, hàng nghìn đảng viên phải đứng trước vành móng ngựa, họ không còn giữ được phẩm giá của mình, không còn giữ được lời thề thiêng liêng mà họ đã tuyên thệ trong ngày gia nhập Đảng. Cá biệt một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, vi phạm các chuẩn mực đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, lợi ích nhóm, chạy theo lợi ích kinh tế.


Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhiều lần nhấn mạnh: “Ai chả thích của, thích tiền. Nhưng tôi nói, danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”. Đồng thời khẳng định: “Cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng và đất nước ta còn lâu dài, gian khổ, quyết liệt. Chúng ta mới chỉ hạn chế, ngăn ngừa được một bước. Còn tiền, còn chức, còn quyền, nếu không tu dưỡng, rèn luyện thì sẽ khó tránh khỏi cám dỗ… Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực’’.


Để khắc phục những hạn chế đó, đòi hỏi công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải tiếp tục được tiến hành một cách mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa; đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng tự nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, luôn đề cao việc giữ gìn danh dự, lòng tự trọng của chính bản thân mình, để luôn xứng đáng đứng trong hàng ngũ của Đảng, xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của Đảng đã được xây đắp bởi biết bao xương máu, công sức của các thế hệ ông cha.


Trong đó, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt và thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đặc biệt là Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, với các chỉ thị và kết luận của Đảng về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 16-6-2022 về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới, Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9-5-2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới...


Kết hợp giữa giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng với giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Chú trọng công tác phát hiện, xây dựng, biểu dương, khen thưởng và nhân rộng những mô hình điển hình trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, các biểu hiện xa rời quần chúng nhân dân, bệnh thành tích, tham nhũng, lãng phí.


Các cấp ủy, tổ chức Đảng chủ động đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, nhất là nội dung sinh hoạt tư tưởng trong sinh hoạt Đảng; phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình, chú trọng việc bồi dưỡng, nâng cao ý thức, trách nhiệm, giữ vững danh dự, lòng tự trọng và tinh thần nỗ lực, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao của mỗi cán bộ, đảng viên. Triển khai thực hiện có hiệu quả cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đề cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, gương mẫu trong thực hiện các chuẩn mực đạo đức; giữ vững hình ảnh, danh dự, tác phong, lối sống của mỗi cán bộ, đảng viên.


Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức cách mạng, tạo cho mình tấm lá chắn vững chắc trước những sóng gió, dông bão, để họ xứng đáng với niềm tin và kỳ vọng của nhân dân, giữ bằng được cho mình điều thiêng liêng nhất, đó là danh dự. Đúng như lời của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắn gửi tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng vào ngày 15-9-2021: “Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho có ý nghĩa, để không phải xót xa, ân hận vì những việc làm ti tiện, đớn hèn, vô liêm sỉ; tiền bạc lắm làm gì, chết có mang theo được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”.

Việt Nam sẵn sàng vươn lên tầm cao mới

 Việt Nam sẵn sàng vươn lên tầm cao mới 


Những thành tựu mà Việt Nam đạt được dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt Nam trong suốt 95 năm qua đã truyền cảm hứng cho nhiều quốc gia trong và ngoài khu vực - đây là nhận định của Giáo sư G.Devarajan, Tổng Thư ký đảng Khối tiến lên toàn Ấn Ðộ (AIFB) trong cuộc trả lời phỏng vấn TTXVN nhân kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Ðảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2025).


Theo Giáo sư Devarajan, việc Ðảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930 không chỉ là một sự kiện lịch sử có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh đấu tranh giành độc lập của Việt Nam mà còn đánh dấu một bước ngoặt trong sự chuyển biến sâu rộng hơn về chính trị, xã hội của đất nước. Giáo sư nhấn mạnh, trong 95 năm qua, Ðảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định với lý tưởng xã hội chủ nghĩa và kiên cường trước thách thức. Giáo sư cho rằng, thành công nổi bật của Ðảng Cộng sản Việt Nam trong giai đoạn mới thành lập, trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc và sau này chính là khả năng tập hợp và đoàn kết các tầng lớp quần chúng nhân dân.


Theo Giáo sư Devarajan, kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới năm 1986, Việt Nam có những tiến bộ vượt bậc, ngày càng vững bước trên con đường phát triển, hướng tới thịnh vượng. Việt Nam chuyển từ một trong những nước nghèo trở thành một nền kinh tế phát triển nhanh chóng, với thành tựu cải thiện đáng kể về mức sống của người dân, cơ sở hạ tầng và thành tựu phát triển con người. Những năm qua, Việt Nam tiếp tục đạt nhiều thành tựu, bảo đảm ổn định kinh tế-xã hội và phát triển bền vững.


Giáo sư Devarajan nhận định, Việt Nam đang đứng trước ngưỡng cửa của thời kỳ tiến bộ mới và sẵn sàng vươn lên tầm cao mới. Theo Giáo sư, bằng cách tận dụng các thế mạnh cốt lõi, trong đó có những bài học, kinh nghiệm trong quá khứ và các chính sách lấy con người làm trung tâm, Ðảng Cộng sản Việt Nam có thể đưa đất nước hiện thực hóa tầm nhìn về một xã hội thịnh vượng và công bằng. Với nỗ lực đổi mới và hoạch định chiến lược, Việt Nam có thể vượt qua thách thức và nắm bắt cơ hội phía trước, đáp ứng nguyện vọng của người dân và đóng góp vào nỗ lực toàn cầu vì hòa bình, phát triển và công bằng.


Ðảng AIFB luôn đoàn kết và ủng hộ Ðảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam. Tổng Thư ký đảng AIFB tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, Việt Nam sẽ vượt qua mọi trở ngại và đạt được những đỉnh cao phát triển và thịnh vượng./.

Chủ Nhật, 2 tháng 2, 2025

Bản lĩnh Hồ Chí Minh trong việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

 

Quá trình tìm đường cứu nước, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã tìm đến Chủ nghĩa Mác-Lênin và tiếp nhận ở đó hệ thống lý luận về đảng cộng sản. Đồng thời tỏ rõ bản lĩnh của một người có năng lực nhạy bén để tiếp cận Chủ nghĩa Mác-Lênin, nhưng cũng có tư duy độc lập để vận dụng và phát triển sáng tạo chân lý đó vào điều kiện cụ thể của Việt Nam.

Từ ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin

Vào lúc nhiều người trên thế giới còn ngưỡng vọng đến cách mạng tư sản, Nguyễn Ái Quốc đã nhận thấy tính không triệt để của cách mạng tư sản khi nó vẫn còn áp bức giai cấp và áp bức dân tộc. Người đến với Quốc tế III do V.I.Lenin sáng lập đơn giản là bởi Quốc tế III hứa sẽ giúp đỡ các dân tộc thuộc địa, còn Quốc tế II không hề nhắc đến vận mệnh các dân tộc thuộc địa. Ở thời điểm lịch sử có nhiều ngã rẽ và các dân tộc thuộc địa còn bị trói buộc trong vòng tăm tối, nô dịch, việc tìm ra học thuyết Mác-Lênin - học thuyết khoa học nhất trong các học thuyết cách mạng và cách mạng nhất trong các học thuyết khoa học - thể hiện tầm nhìn và sự nhạy cảm chính trị đặc biệt của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Từ sự dứt khoát về nhận thức, Nguyễn Ái Quốc đã có sự dứt khoát về hành động. Tháng 12-1920, tại Đại hội Tours, khi bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc tế III, Nguyễn Ái Quốc đã trở thành người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam và là một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp. Tin và đi theo Chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc đã tiếp nhận ở đó học thuyết về đảng cộng sản. Từ câu nói của V.I.Lenin, rằng “hãy cho chúng tôi một tổ chức những người cách mạng, và chúng tôi sẽ đảo ngược nước Nga lên”, Nguyễn Ái Quốc đã nhận ra sự cần thiết phải thành lập một chính đảng cộng sản ở Việt Nam. Như vậy, so với đường lối cứu nước của các bậc tiền bối, quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về sự cần thiết phải thành lập đảng cộng sản để lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam là hoàn toàn mới mẻ. Đây chính là tiền đề lý luận cho quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

Quá trình chuẩn bị công phu

Nếu K.Marx và F.Engels cho rằng sự ra đời của đảng cộng sản là sự kết hợp giữa chủ nghĩa xã hội khoa học với phong trào công nhân, nếu V.I.Lenin cho rằng đảng cộng sản ra đời là kết quả của sự kết hợp giữa Chủ nghĩa Mác với phong trào công nhân thì Nguyễn Ái Quốc cho rằng trong sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam cần sự xuất hiện của yếu tố thứ ba: Phong trào yêu nước. Nắm vững đặc điểm riêng của dân tộc Việt Nam-một dân tộc có truyền thống yêu nước nồng nàn và có số lượng công nhân ít ỏi, Nguyễn Ái Quốc truyền bá Chủ nghĩa Mác-Lênin không chỉ vào phong trào công nhân mà còn vào phong trào yêu nước với bộ phận rất quan trọng là lực lượng thanh niên, trí thức yêu nước. Nhờ kết hợp nhuần nhuyễn cái phổ biến với cái đặc thù trong quy luật ra đời của Đảng, Nguyễn Ái Quốc đã tạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam truyền thống gắn bó chặt chẽ với dân tộc ngay từ thời khắc sinh thành.

Bản lĩnh chính trị của Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh còn thể hiện ở sự thận trọng hiếm có trong công tác tổ chức. Dù hiểu rằng “phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi” nhưng khi về Quảng Châu (Trung Quốc), Nguyễn Ái Quốc không thành lập ngay Đảng Cộng sản Việt Nam mà lại thành lập tổ chức tiền thân của Đảng là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Trong quan niệm của Người, đảng cộng sản-tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân chỉ có thể ra đời và thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của mình khi phong trào công nhân đã đạt trình độ tự giác; khi đã có đội ngũ cán bộ đảng nhiệt huyết, có kinh nghiệm và gắn bó mật thiết với nhân dân; khi lãnh tụ của Đảng đã có một cương lĩnh chính trị khoa học, phù hợp với hoàn cảnh thực tế. Xét vào thời điểm năm 1925, cả 3 điều kiện trên đều chưa thực sự đầy đủ nên Người đã kiên nhẫn thành lập ra tổ chức mang tính quá độ, vừa tầm với thực tiễn phong trào để qua hoạt động của tổ chức này, các điều kiện thành lập Đảng mau chóng chín muồi.

Cùng với sự chuẩn bị về tổ chức, tác phẩm "Đường Kách mệnh" của Nguyễn Ái Quốc với sự phác thảo con đường giải phóng dân tộc trên nét lớn đã chuẩn bị tiền đề tư tưởng, chính trị cho công tác thành lập Đảng. Vì thế, “có thể xem trong lịch sử cách mạng Việt Nam, cuốn "Đường Kách mệnh" có vai trò như cuốn "Làm gì?" của V.I.Lenin đối với cách mạng Nga...

Nhờ hoạt động tích cực của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tư tưởng cộng sản ngày càng trở nên chiếm ưu thế ở Việt Nam. Đến cuối năm 1929, trong nước cùng lúc tồn tại 3 tổ chức cộng sản. Nguy cơ phân liệt lực lượng và đường lối giữa các tổ chức cộng sản đòi hỏi phải có một lãnh tụ đủ uy tín đứng ra làm nhiệm vụ quy tụ 3 tổ chức cộng sản làm một.

Đến hội nghị thành lập Đảng

Ở thời điểm lịch sử sôi động nhưng cũng không ít phần phức tạp, với tư cách là phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã chủ động tiến hành hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở nước ta tại Hương Cảng-Trung Quốc vào mùa xuân năm 1930. Trong hội nghị mang tính chất đại hội thành lập, tư duy sáng tạo và tinh thần độc lập, tự chủ của Nguyễn Ái Quốc đã bộc lộ hết sức rõ nét.

Thứ nhất, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam chứ không phải là Đảng Cộng sản Đông Dương như chủ trương của Quốc tế Cộng sản: “Là thành lập một đảng cách mạng có tính giai cấp của giai cấp vô sản, nghĩa là một đảng cộng sản có tính chất quần chúng ở Đông Dương. Đảng đó phải chỉ có một và là tổ chức cộng sản duy nhất ở Đông Dương”. Với quan điểm đảng cộng sản trước hết phải thuộc về từng dân tộc, phải được đặt trong phạm vi dân tộc để đường lối của Đảng phù hợp với điều kiện của dân tộc đó, Nguyễn Ái Quốc đã hiện thực hóa quan điểm của V.I.Lenin về quyền dân tộc tự quyết.

Thứ hai, kế thừa truyền thống đoàn kết của dân tộc và với niềm tin mãnh liệt vào lòng yêu nước của những người cách mạng, Nguyễn Ái Quốc đã yêu cầu các đại biểu tham dự hội nghị “bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương”; “định kế hoạch thực hiện việc thống nhất trong nước”. Tức là, dưới sự chỉ đạo của Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời bằng cách hợp nhất trọn vẹn các tổ chức cộng sản dù rằng Quốc tế Cộng sản chủ trương việc thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương phải trải qua quá trình “thanh lọc” để lựa chọn ra những phần tử thực sự ưu tú, thực sự cộng sản nhất trong các nhóm cộng sản. Nếu làm theo chỉ dẫn của Quốc tế Cộng sản thì “có khi không thể cho ra đời được Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930” trong khi sự phân liệt giữa các tổ chức cộng sản đang đặt ra yêu cầu cấp bách là phải nhanh chóng hợp nhất.

Thứ ba, với tinh thần độc lập, tự chủ, Nguyễn Ái Quốc đã soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta-một cương lĩnh giải phóng dân tộc nhuần nhuyễn quan điểm giai cấp, thấm đượm tinh thần dân tộc. Cụ thể là, trên cơ sở thấu hiểu đặc điểm của xã hội thuộc địa, Nguyễn Ái Quốc đã xác định rõ: Trong hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến thì chống đế quốc, giành độc lập dân tộc phải là nhiệm vụ hàng đầu. Quan điểm này có sự khác biệt lớn so với chủ trương “giai cấp đấu tranh giai cấp”, đấu tranh không khoan nhượng và kiên định với giai cấp tư sản, địa chủ của Quốc tế Cộng sản. Bên cạnh đó, cùng với việc khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng Cộng sản Việt Nam theo đúng quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin, Nguyễn Ái Quốc còn khẳng định tính dân tộc sâu sắc của Đảng thông qua cơ sở xã hội rộng rãi cũng như tính đại diện cho lợi ích dân tộc của Đảng. Trong Điều lệ vắn tắt của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1930, Nguyễn Ái Quốc ghi rõ: “Ai tin theo chủ nghĩa cộng sản, chương trình Đảng và Quốc tế Cộng sản, hăng hái tranh đấu và dám hy sinh phục tùng mệnh lệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận Đảng thời được vào Đảng”. Như vậy, điều kiện để trở thành đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là thành phần xuất thân từ giai cấp công nhân mà là sự giác ngộ lý tưởng của giai cấp đó. Những quan điểm sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc đã hóa giải tính cô độc, biệt phái của Đảng Cộng sản Việt Nam cho dù giai cấp công nhân Việt Nam chiếm tỷ lệ rất nhỏ trong xã hội. Điều đó đã giúp Đảng Cộng sản Việt Nam khắc phục căn bệnh ấu trĩ tả khuynh hết sức nguy hiểm mà V.I.Lenin từng cảnh báo trước đó. Dù có lúc quan điểm sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc bị quy kết là hữu khuynh, “là cơ hội chủ nghĩa, chỉ lo đến việc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp đấu tranh” nhưng lịch sử đã chứng minh sự đúng đắn và tầm nhìn vượt trội của Người. Nhờ đó, một thời đại vẻ vang trong lịch sử dân tộc đã được mở ra.

 

Giữ gìn danh dự của người đảng viên

 

Đối với mỗi cán bộ, đảng viên, “danh dự” luôn là điều cao quý, thiêng liêng nhất. Danh dự không phải tự nhiên có được, cũng không phải “từ trên trời sa xuống” mà được hình thành từ quá trình tu dưỡng đạo đức cách mạng, tôi rèn qua “lửa đỏ và nước lạnh”. Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải giữ cho được tư cách, đạo đức, danh dự của người đảng viên, người cán bộ cách mạng, đồng thời yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải giữ vững “liêm sỉ” và “danh dự” của người cách mạng. Với mỗi người cán bộ, đảng viên, hai từ “danh dự” luôn là điều cao quý, thiêng liêng nhất.

Điều thiêng liêng của người đảng viên

Danh dự là một trong những phẩm chất cao quý của mỗi con người. Đó là nền tảng đạo đức của con người chân chính. Danh dự có ý nghĩa rất lớn thúc đẩy con người làm điều thiện, điều tốt, ngừa điều ác, điều xấu. Người xưa trọng danh dự như mạng sống, thậm chí còn hơn cả mạng sống vì danh dự là điều còn mãi. Đối với người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, liêm sỉ, danh dự lại càng phải được coi trọng hàng đầu.

Theo V.I. Lênin: Lý tưởng đạo đức cao quý nhất của người cộng sản, của đạo đức cộng sản luôn gắn bó với lý tưởng chính trị, là động lực thúc đẩy lý tưởng chính trị trở thành hiện thực cách mạng xã hội chủ nghĩa. Lênin đặc biệt nhấn mạnh: Mỗi cán bộ, đảng viên nếu không tự bôi nhọ đạo đức, thanh danh của mình thì không ai có thể hạ thấp được uy tín của họ.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán bộ, đảng viên, đặc biệt là người lãnh đạo phải biết trọng danh dự, giữ liêm sỉ, không phải vì danh vọng của cá nhân, mà vì lợi ích chung của Đảng, của dân tộc, của loài người”. Thấm nhuần tư tưởng của Người, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhiều lần nhấn mạnh: Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý cần khắc cốt, ghi tâm những lời dạy của Bác, phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực.

Nhìn vào thực tiễn cách mạng của dân tộc ta, đã chứng minh rất rõ điều này, để giữ danh dự, uy tín của Đảng, hàng vạn đảng viên dù phải chịu đòn tra tấn cực hình của kẻ thù, nếm mật nằm gai, đói rét, đau đớn về thể xác, đày đọa về tinh thần nhưng vẫn kiên trung, một lòng với Đảng, với Tổ quốc và dân tộc, cho đến hôm nay, mỗi khi nhắc lại, chúng ta vẫn thầm cảm phục.

Đó là các đảng viên kiên trung trên các con tàu không số, khi bị giặc bắt, moi gan, mổ bụng vẫn đinh ninh “lời thề  sắt son với Đảng” không để con đường bị lộ. Là hình ảnh những chiến sĩ tình báo, bị quân thù cưa chân 4 lần, chặt hết 10 đầu ngón tay, lòng vẫn vững vàng như sắt đá, kiên trung với Đảng.

“Danh dự” ấy đã được khẳng định trong lời tuyên thệ của người đảng viên tại buổi lễ kết nạp Đảng thiêng liêng của mình. Đó là giây phút trang trọng, xúc động, tự hào khi được kết nạp vào Đảng, đó là lời thề trước Đảng về lòng trung thành, phấn đấu theo lý tưởng, cương lĩnh, đường lối của Đảng, hoàn thành tốt nhiệm vụ của đảng viên, chấp hành kỷ luật của Đảng, giữ gìn đạo đức, phẩm chất của người cộng sản và góp phần xây dựng Đảng vững mạnh. Đó không chỉ là một câu khẩu hiệu mà chính là lời thề danh dự của người đảng viên.

Khi đã tự nguyện đứng trong hàng ngũ của Đảng, là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam phải thực hiện sứ mệnh, trách nhiệm, lòng trung thành của người đảng viên vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Lời thề thiêng liêng, cao quý ấy chính là sức mạnh, động lực giúp các thế hệ cán bộ, đảng viên tiền bối sẵn sàng chịu đựng, chấp nhận gian khổ, hy sinh vì nền độc lập, tự do của Tổ quốc, vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Nhờ đó, nhân dân tin theo Đảng, sẵn sàng đùm bọc, chở che cho cán bộ, đảng viên, hy sinh cho Đảng, gọi Đảng là “Đảng ta” một cách trìu mến, trân trọng.

Đừng để lời thề danh dự của người đảng viên bị phai nhạt

Trong thời kỳ thực hiện đường lối đổi mới hiện nay, phát huy truyền thống vẻ vang của Đảng ta, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã không ngừng tu dưỡng, rèn luyện về phẩm chất, đạo đức, về trí tuệ, trình độ lý luận, về năng lực lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực tiễn, về bản lĩnh chính trị; tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân, giữ trọn niềm tin của nhân dân.

Thế nhưng, có một thực tế không thể phủ nhận rằng, khi đất nước không còn chiến tranh, vậy mà trước những tác động của nền kinh tế thị trường, những níu kéo của danh vọng, quyền lực, hàng loạt quan chức cấp cao đã phải hầu tòa, hàng nghìn đảng viên phải đứng trước vành móng ngựa, họ không còn giữ được phẩm giá của mình, không còn giữ được lời thề thiêng liêng mà họ đã tuyên thệ trong ngày gia nhập Đảng. Cá biệt một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, vi phạm các chuẩn mực đạo đức, lối sống, chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội, lợi ích nhóm, chạy theo lợi ích kinh tế.

Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng nhiều lần nhấn mạnh: “Ai chả thích của, thích tiền. Nhưng tôi nói, danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”. Đồng thời khẳng định: “Cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng và đất nước ta còn lâu dài, gian khổ, quyết liệt. Chúng ta mới chỉ hạn chế, ngăn ngừa được một bước. Còn tiền, còn chức, còn quyền, nếu không tu dưỡng, rèn luyện thì sẽ khó tránh khỏi cám dỗ… Cán bộ, đảng viên, trước hết là người lãnh đạo phải biết trọng liêm sỉ, giữ danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân có hành vi tham nhũng, tiêu cực’’.

Để khắc phục những hạn chế đó, đòi hỏi công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải tiếp tục được tiến hành một cách mạnh mẽ và quyết liệt hơn nữa; đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên cần không ngừng tự nâng cao ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống, luôn đề cao việc giữ gìn danh dự, lòng tự trọng của chính bản thân mình, để luôn xứng đáng đứng trong hàng ngũ của Đảng, xứng đáng với truyền thống tốt đẹp của dân tộc, của Đảng đã được xây đắp bởi biết bao xương máu, công sức của các thế hệ ông cha.

Trong đó, trước hết, mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt và thực hiện thường xuyên, sâu rộng, có hiệu quả Kết luận số 01-KL/TW, ngày 18-5-2021 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, đặc biệt là Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị, với các chỉ thị và kết luận của Đảng về đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 16-6-2022 về tăng cường củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới, Quy định số 144-QĐ/TW ngày 9-5-2024 về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới...

Kết hợp giữa giữ vững kỷ luật, kỷ cương của Đảng với giáo dục, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên. Chú trọng công tác phát hiện, xây dựng, biểu dương, khen thưởng và nhân rộng những mô hình điển hình trên các lĩnh vực đời sống xã hội. Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, các biểu hiện xa rời quần chúng nhân dân, bệnh thành tích, tham nhũng, lãng phí.

Các cấp ủy, tổ chức Đảng chủ động đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, nhất là nội dung sinh hoạt tư tưởng trong sinh hoạt Đảng; phát huy tinh thần tự phê bình và phê bình, chú trọng việc bồi dưỡng, nâng cao ý thức, trách nhiệm, giữ vững danh dự, lòng tự trọng và tinh thần nỗ lực, quyết tâm thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao của mỗi cán bộ, đảng viên. Triển khai thực hiện có hiệu quả cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ, đảng viên dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung. Đề cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện, gương mẫu trong thực hiện các chuẩn mực đạo đức; giữ vững hình ảnh, danh dự, tác phong, lối sống của mỗi cán bộ, đảng viên.

Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn rèn luyện, bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức cách mạng, tạo cho mình tấm lá chắn vững chắc trước những sóng gió, dông bão, để họ xứng đáng với niềm tin và kỳ vọng của nhân dân, giữ bằng được cho mình điều thiêng liêng nhất, đó là danh dự. Đúng như lời của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhắn gửi tại Hội nghị toàn quốc các cơ quan nội chính triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng vào ngày 15-9-2021: “Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho có ý nghĩa, để không phải xót xa, ân hận vì những việc làm ti tiện, đớn hèn, vô liêm sỉ; tiền bạc lắm làm gì, chết có mang theo được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất”.

 

Đảng viên, quân nhân - tuy hai nhưng là một

 Nhìn vào nhiệm vụ của đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam và tiêu chuẩn, nghĩa vụ của sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, hạ sĩ quan, binh sĩ (gọi chung là quân nhân) công tác trong Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam, chúng ta thấy rất nhiều điểm trùng hợp.

Đối với đảng viên, Điều 2 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam quy định: Thứ nhất, tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước; hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; phục tùng tuyệt đối sự phân công và điều động của Đảng.

Thứ hai, không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ, kiến thức, năng lực công tác, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, có lối sống lành mạnh; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, cục bộ, quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác. Chấp hành quy định của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm.

 Thứ ba, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân; chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân; tích cực tham gia công tác quần chúng, công tác xã hội nơi làm việc và nơi ở; tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thứ tư, tham gia xây dựng, bảo vệ đường lối, chính sách và tổ chức của Đảng; phục tùng kỷ luật, giữ gìn đoàn kết, thống nhất trong Đảng; thường xuyên tự phê bình và phê bình, trung thực với Đảng; làm công tác phát triển đảng viên; sinh hoạt đảng và đóng đảng phí đúng quy định.

Đối chiếu với những nhiệm vụ trên thì ngoài yêu cầu về phẩm chất đạo đức cách mạng như đảng viên, tiêu chuẩn, nghĩa vụ hàng đầu đối với quân nhân trong QĐND Việt Nam còn là: Có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc và nhân dân, với Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có tinh thần cảnh giác cách mạng cao, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Sẵn sàng chiến đấu, hy sinh bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tham gia xây dựng đất nước, bảo vệ tài sản và lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức; bảo vệ tính mạng, tài sản, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân... Sĩ quan còn có nghĩa vụ thường xuyên chăm lo lợi ích vật chất và tinh thần của bộ đội (giống như đảng viên là chăm lo cho nhân dân); gương mẫu chấp hành và vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; tôn trọng và gắn bó mật thiết với nhân dân.

Hội tụ những phẩm chất cao quý ấy và dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng cùng tinh thần “vì nhân dân phục vụ”, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, viết tiếp những trang sử vẻ vang mới của QĐND Việt Nam anh hùng.

 

Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng

 Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập tại Cửu Long, Hương Cảng (Trung Quốc). Sự kiện này là một dấu mốc lớn, đánh dấu bước ngoặt trọng đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách mạng. Từ đây, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng đã kết đoàn thành một khối, vượt qua muôn vàn tình thế khó khăn, hiểm nguy, giành được nhiều thắng lợi vĩ đại.

1. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, ở Việt Nam, nhiều phong trào yêu nước theo các khuynh hướng khác nhau như dân chủ tư sản, phong kiến nổ ra nhưng cuối cùng đều bị thất bại. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thất bại là do thiếu một đường lối cứu nước đúng đắn và giai cấp tiên tiến lãnh đạo.

Trước tình thế đó, Nguyễn Ái Quốc với nhãn quan chính trị sắc bén và lòng yêu nước vô bờ bến đã quyết chí ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Trải qua hành trình đầy gian khổ và hiểm nguy, Người đã tiếp cận ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc Việt Nam: Con đường cách mạng vô sản. Ngay sau đó, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã tích cực, chủ động chuẩn bị về chính trị, tư tưởng, tổ chức và trực tiếp chủ trì hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản ở Đông Dương, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Cương lĩnh chính trị đầu tiên được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng đã xác định những vấn đề cơ bản về chiến lược và sách lược của cách mạng, với mục tiêu là “làm cho nước Nam hoàn toàn độc lập”, tạo tiền đề “để đi tới xã hội cộng sản”.

Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với đường lối cứu nước đúng đắn đã thổi bùng lên ngọn lửa cách mạng đang cháy âm ỉ trong các tầng lớp nhân dân ta. Đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng được mọi giai tầng trong xã hội hưởng ứng, tạo nên sức mạnh to lớn, thúc đẩy cao trào giải phóng dân tộc, dẫn tới thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945, “đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do” [1]. Nhân dân ta từ thân phận nô lệ, đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một trong những thắng lợi vĩ đại nhất, trang sử vẻ vang nhất, chói lọi nhất trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Thắng lợi này gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Hồ Chí Minh: “Lần này là lần đầu tiên trong lịch sử cách mạng của các dân tộc thuộc địa và nửa thuộc địa, một Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo cách mạng thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc” [2].

2. Thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, đại thắng mùa Xuân năm 1975

Ngay sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời chưa được bao lâu, quân đội Pháp đã nổ súng đánh chiếm Nam Bộ, nhằm xâm lược Việt Nam một lần nữa. Trong tình thế phải rút vào hoạt động bí mật, Đảng Cộng sản Đông Dương đã kiên định về nguyên tắc, linh hoạt, mềm dẻo về sách lược, chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, vừa giữ vững được thành quả cách mạng, vừa chuẩn bị mọi mặt cho cuộc kháng chiến lâu dài chống Pháp xâm lược.

Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ, với tinh thần, ý chí quyết tâm: “Thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, trên cơ sở đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính, Đảng đã lãnh đạo quân và dân ta lần lượt đánh bại các kế hoạch chiến tranh của kẻ thù, làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ (21-7-1954), chấp nhận rút quân về nước, công nhận và tôn trọng các quyền cơ bản của nhân dân ba nước Đông Dương. Với thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, “lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới” [3].

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền, mỗi miền có một chế độ chính trị khác nhau. Miền Bắc hòa bình được lập lại, nhưng tại miền Nam, đồng bào ta vẫn rên xiết dưới gót giày của đế quốc Mỹ và tay sai của chúng. Trước tình hình đó, Đảng chủ trương tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng: Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Trong đó, nhiệm vụ thiêng liêng của cả dân tộc trong giai đoạn này là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trải qua 21 năm chiến đấu anh dũng, với tinh thần: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” [4], dưới sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng, quân và dân ta đã đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai, làm nên Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) là thành quả vĩ đại nhất của sự nghiệp giải phóng dân tộc, chấm dứt ách thống trị kéo dài hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân, đế quốc trên đất nước ta; mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc Việt Nam - Kỷ nguyên độc lập, tự do, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Thắng lợi đó “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX” [5].

Sau năm 1975, Đảng tiếp tục lãnh đạo quân và dân ta đánh thắng các cuộc chiến tranh xâm lược ở hai đầu biên giới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; đồng thời, làm tròn nghĩa vụ quốc tế cao cả, giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.

3. Thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế

Sau năm 1975, Đảng lãnh đạo cả nước thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trong mười năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội (1975 - 1985), Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta vượt qua vô vàn khó khăn, thử thách, đạt được những thành tựu quan trọng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, trong hoạch định và thực hiện đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa, có lúc, có nơi đã mắc sai lầm, khuyết điểm chủ quan, duy ý chí. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự trì trệ, khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những năm đầu cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Trước thực tế đó, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (12-1986), với tinh thần: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” [6], Đảng đã nhìn nhận, đánh giá khách quan những thành tựu cũng như hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở tổng kết thực tiễn và đổi mới mạnh mẽ tư duy, nhất là tư duy kinh tế, Đại hội VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Trên cơ sở đường lối đổi mới do Đại hội VI, qua các kỳ đại hội, từ Đại hội VII đến Đại hội XIII, Đảng ta luôn khẳng định tiếp tục đổi mới đồng bộ, toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội với những bước đi, cách làm phù hợp, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa; kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của Đảng. Từ khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng, nước ta đã thoát ra khỏi khủng hoảng, trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình. Tăng trưởng kinh tế luôn ở mức đứng đầu trên thế giới; chính trị - xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được bảo đảm. Hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả, tham gia và có tiếng nói quan trọng trong nhiều tổ chức quốc tế và khu vực.

Sau gần 40 năm Đổi mới toàn diện đất nước, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới. Quy mô, trình độ nền kinh tế được nâng lên. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” [7].

Công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đã đáp ứng được những đòi hỏi bức thiết của tình hình đất nước, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại; có ý nghĩa như một cuộc cách mạng trong thời kỳ mới; khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với thực tiễn đất nước và xu thế phát triển của lịch sử.

Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay là kết quả tổng hợp của nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó nguyên nhân quan trọng và quyết định nhất là có sự lãnh đạo tài tình, sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, một đảng cách mạng hiện thân của bản lĩnh, trí tuệ, “là đạo đức, là văn minh”, luôn đặt lợi ích của nhân dân, của dân tộc lên trên hết, trước hết. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam sẽ tiếp tục được nối dài và phát huy cao độ trong “Kỷ nguyên mới - Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”.