Thứ Hai, 19 tháng 1, 2026

GIỮ THẾ CÂN BẰNG CHIẾN LƯỢC TRONG ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG!

BÀI 2: TRỤ CỘT ĐỐI NGOẠI VÀ BẢN LĨNH, THẾ TRẬN ĐẤU TRANH 
(Tiếp theo và hết)

     Đối ngoại quốc phòng (ĐNQP) là trụ cột quan trọng trong đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta. Để thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng, giữ vững thế cân bằng chiến lược trong môi trường cạnh tranh quốc tế gay gắt, bên cạnh các sách lược, giải pháp “xây”, chúng ta phải chủ động, bản lĩnh trên mặt trận “chống”, với tinh thần lấy “xây” để “chống”...

Bảo vệ chính nghĩa trước “bão” thông tin xuyên tạc

Những ngày đầu năm 2026, trước thềm Đại hội XIV của Đảng, không gian mạng xuất hiện nhiều thông tin xuyên tạc liên quan đến hoạt động quân sự và chính sách quốc phòng của Việt Nam. Một số phương tiện truyền thông phát tiếng Việt ở hải ngoại và tài khoản mạng xã hội của các tổ chức phản động đã lan truyền nhiều bài viết, video clip, sản phẩm truyền thông do AI tạo ra... có nội dung kích động xung đột vũ trang, xuyên tạc tình hình Quân đội ta, bôi nhọ lãnh đạo chủ chốt của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng; xuyên tạc mối quan hệ giữa Quân đội và Công an... Chúng lấy thông tin, hình ảnh liên quan đến cuộc đột kích của quân đội Mỹ vào Venezuela, sử dụng công nghệ AI tạo ra vô số sản phẩm truyền thông có nội dung xấu độc để xuyên tạc tình hình trong nước, phá hoại Đại hội XIV của Đảng. Một số đối tượng phản động nhân cơ hội này đã lộng ngôn quy chụp, võ đoán, hạ bệ, bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ; đặt Quân đội nhân dân Việt Nam trong mối quan hệ so sánh, đối sánh với quân đội các nước và lớn tiếng “dạy dỗ”, “khuyên răn” chúng ta phải thay đổi tư duy quân sự, hợp tác với ai, mua vũ khí ở đâu... Chúng xuyên tạc, phủ nhận việc lựa chọn chính nghĩa trong quan hệ quốc tế của Việt Nam và cho rằng, “chính nghĩa” chỉ thuộc về kẻ mạnh; muốn chọn “chính nghĩa” thì phải dựa hẳn vào cường quốc phương Tây...

Với những người có kiến thức và bản lĩnh chính trị, không khó để nhận ra chiêu trò thao túng tâm lý, dẫn dắt cảm xúc công chúng trên mặt trận chiến tranh thông tin, chiến tranh nhận thức của các thế lực thù địch. Tuy nhiên, trong môi trường xã hội mặt bằng dân trí không đồng đều, chiêu trò chống phá tinh vi nêu trên thực sự rất nguy hại. Nó làm ô nhiễm môi trường văn hóa không gian mạng, tác động tiêu cực đến nhận thức, tình cảm, tâm lý của đời sống xã hội, đặc biệt là khi chúng chọn "điểm rơi" của chiến dịch truyền thông chống phá vào Đại hội XIV của Đảng và tình hình biến động tại Venezuela... Chính vì vậy, giữ thế cân bằng chiến lược trong ĐNQP chính là sự cụ thể hóa đường lối đối ngoại của Đảng trong quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc phòng giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với các đối tác. Bên cạnh đó, với trách nhiệm, bổn phận của những chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng văn hóa, chúng ta phải đấu tranh mạnh mẽ, vạch trần âm mưu, đẩy lùi thủ đoạn của các thế lực thù địch trên không gian mạng.  

Mục tiêu của ĐNQP đã được Quân ủy Trung ương xác định rõ tại Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030 là: Giữ được thế cân bằng chiến lược để góp phần tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Nhiệm kỳ 2020-2025, chúng ta đã tăng cường xác lập, củng cố thì nhiệm kỳ 2025-2030 và giai đoạn tiếp theo, chúng ta phải giữ vững và tăng cường tiềm lực, sức mạnh, vị thế. Đó vừa là mục tiêu, yêu cầu mang tính cấp bách, vừa là định hướng chiến lược có ý nghĩa lâu dài.

Cần thấy rõ rằng, trong quan hệ quốc tế, “chính nghĩa” không phải là khái niệm trừu tượng hay cảm tính. Chính nghĩa được xác lập trên những giá trị phổ quát đã được cộng đồng quốc tế thừa nhận, trước hết là Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, các nguyên tắc cơ bản như tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; không can thiệp vào công việc nội bộ; giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình; hợp tác bình đẳng, cùng có lợi... Sự thắng thế ở những lĩnh vực nào đó, đối với nước lớn, không phải là sự thắng thế của chính nghĩa nếu như nó đi ngược lại khát vọng hòa bình của nhân loại, mà nó đơn thuần chỉ là sự thắng thế trong cạnh tranh lợi ích. Đối với Việt Nam, chính nghĩa gắn chặt với những giá trị được hun đúc từ lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước: Khát vọng hòa bình, tinh thần nhân văn, ý chí độc lập, tự chủ và quyền tự quyết của dân tộc. Bởi vậy, khi chúng ta chọn chính nghĩa trong quan hệ quốc tế, trước hết là chọn con đường phù hợp với lợi ích căn bản, lâu dài của quốc gia-dân tộc; phù hợp với xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển của thời đại, đôi bên cùng có lợi. Đó là căn cứ để chúng ta đập tan những luận điệu xuyên tạc, bóp méo chính nghĩa.

Kiên định chính sách quốc phòng “4 không”

Đường lối đối ngoại của Đảng và công tác ĐNQP đã được cụ thể hóa trong chính sách quốc phòng “4 không” của Việt Nam. Đây cũng chính là nguyên tắc căn bản để giữ thế cân bằng chiến lược. “Không tham gia liên minh quân sự” là để tránh bị ràng buộc vào các cam kết đối đầu. “Không liên kết với nước này để chống nước khác” là nhằm khẳng định lập trường hòa bình, tự vệ. “Không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác” là để bảo vệ chủ quyền và không gian chiến lược. “Không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế” thể hiện rõ bản chất hòa bình của chính sách quốc phòng Việt Nam. “4 không” có mối quan hệ biện chứng, thống nhất để tạo thế và giữ vững thế cân bằng chiến lược trong ĐNQP. Cán bộ, chiến sĩ toàn quân, nhất là các cơ quan chiến lược; các đơn vị, địa phương trực tiếp tham gia hoặc liên quan đến công tác ĐNQP phải thấm nhuần điều này để cụ thể hóa bằng các chương trình, kế hoạch hành động trong từng nhiệm vụ cụ thể.

Chúng ta cũng cần tuyên truyền mạnh mẽ, sâu rộng để nhân dân và bạn bè quốc tế hiểu rõ, chính sách quốc phòng “4 không” không phải là cách Việt Nam chọn “đứng ngoài” các thách thức an ninh khu vực và quốc tế như các luận điệu xuyên tạc, quy chụp. Ngược lại, đó là nền tảng để Việt Nam chủ động, tự tin mở rộng hợp tác quốc phòng với các nước trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, vì lợi ích chung. Trong một thế giới đầy cạnh tranh, sự minh bạch và nhất quán ấy chính là yếu tố tạo dựng niềm tin, uy tín và vị thế bền vững. Chúng ta chủ trương đẩy mạnh hợp tác quốc phòng song phương và đa phương, coi đây là một trong những công cụ quan trọng để xây dựng lòng tin, ngăn ngừa xung đột và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Hợp tác quốc phòng của Việt Nam luôn được đặt trong khuôn khổ nguyên tắc rõ ràng, hợp tác nhưng không lệ thuộc; mở rộng nhưng không đánh đổi chủ quyền, lợi ích cốt lõi; tham gia tích cực nhưng không bị cuốn theo các toan tính đối đầu. Chính sự kiên định này giúp Việt Nam duy trì được thế cân bằng trong quan hệ với các đối tác, nhất là với các nước lớn, trong khi vẫn tranh thủ được nguồn lực, kinh nghiệm và sự ủng hộ quốc tế cần thiết.

Năm 2025 ghi dấu nhiều hoạt động ĐNQP nổi bật, thể hiện rõ sự kết hợp hài hòa giữa xây dựng lực lượng và mở rộng hợp tác quốc tế. Các đoàn cấp cao Quân đội Việt Nam tiếp tục trao đổi, tiếp xúc song phương và đa phương với nhiều đối tác nhằm tăng cường hiểu biết, xây dựng lòng tin, chia sẻ quan điểm, giải pháp giải quyết các vấn đề an ninh khu vực và toàn cầu. Một điểm nhấn đáng chú ý là sự gắn kết giữa hoạt động ĐNQP với đời sống chính trị-xã hội của đất nước. Lễ kỷ niệm 50 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước (30-4-1975 / 30-4-2025) và 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2-9 là những dấu mốc có ý nghĩa lịch sử sâu sắc, là thông điệp mạnh mẽ về sức mạnh, bản lĩnh và ý chí hòa bình của dân tộc Việt Nam, khẳng định vị thế, sức mạnh cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại của Quân đội nhân dân Việt Nam. 

Cùng với đó, các hoạt động trưng bày, giới thiệu thành tựu công nghiệp quốc phòng (CNQP), các sản phẩm lưỡng dụng, các giải pháp khoa học-công nghệ quốc phòng được tổ chức quy mô, chuyên nghiệp đã thu hút sự quan tâm của đông đảo bạn bè quốc tế. Thông qua những hoạt động này, Việt Nam đã gửi thông điệp hợp tác quốc phòng đến các đối tác song phương và đa phương. Việt Nam phát triển CNQP tự chủ, tự lực, tự cường để bảo vệ Tổ quốc, đồng thời đóng góp vào hòa bình, ổn định chung. Đây cũng chính là những căn cứ để phản bác các quan điểm thù địch, xuyên tạc, cho rằng Việt Nam đang “răn đe quân sự” trong khu vực và châu lục. Những thành tựu CNQP mang thương hiệu Việt Nam trong diễu binh, diễu hành và các triển lãm chính là thực tiễn sinh động tác động trực tiếp tới nhận thức xã hội. Qua đó để thấy rõ hơn mối liên hệ giữa sức mạnh quân sự, ổn định chính trị và môi trường hòa bình cho phát triển; củng cố lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội. Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030 cũng đã xác định ĐNQP trong giai đoạn mới cần tập trung hơn nữa vào việc nâng cao chất lượng tham mưu chiến lược, dự báo sớm các nguy cơ, không để bị động, bất ngờ; vừa kiên định nguyên tắc, vừa nâng cao năng lực thích ứng. Toàn quân tiếp tục quán triệt sâu sắc đường lối đối ngoại của Đảng và công tác ĐNQP thông qua sự chỉ đạo khái quát, cụ thể về “Hai kiên định”, “Hai đẩy mạnh”, “Hai ngăn ngừa” mà Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương đã chỉ rõ tại Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, nhiệm kỳ 2025-2030./.
Môi trường ST.

GIỮ THẾ CÂN BẰNG CHIẾN LƯỢC TRONG ĐỐI NGOẠI QUỐC PHÒNG!

BÀI 1: THẾ GIỚI BIẾN ĐỘNG VÀ THÁCH THỨC CÂN BẰNG CHIẾN LƯỢC!

     Chiến dịch đột kích của quân đội Mỹ vào Venezuela, bắt giữ Tổng thống Maduro vào rạng sáng 3-1-2026 khiến bức tranh địa chính trị toàn cầu vốn đã nóng bỏng, càng gia tăng các yếu tố rủi ro. Thế giới đương đại tiếp tục chuyển động phức tạp, khó lường.

Môi trường hòa bình, hợp tác, phát triển đang chịu sức ép lớn từ cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc. Trong bối cảnh đó, chúng ta càng phải kiên định mục tiêu, tăng cường các giải pháp giữ vững thế cân bằng chiến lược...

Đánh giá khách quan, tỉnh táo nhận diện

Nhìn vào bức tranh địa chính trị thế giới trong năm 2025 và những ngày đầu năm 2026, chúng ta thấy, trật tự quốc tế đang tiếp tục chịu ảnh hưởng rất lớn từ cạnh tranh lợi ích chiến lược giữa các nước lớn. Sự đan xen giữa hợp tác và xung đột, giữa kiềm chế và đối đầu, giữa phụ thuộc và tự chủ... đã và đang tạo ra hình thái vừa mở vừa đóng, vừa hợp tác vừa đấu tranh... trong quan hệ quốc tế.

Cuộc tấn công của Mỹ vào Venezuela là chiến dịch đột kích “chớp nhoáng”, nhưng hệ lụy thì sẽ còn vô cùng phức tạp. Nó cho thấy, xung đột vũ trang không những không giảm mà còn diễn biến nguy hiểm, tinh vi hơn. Nhiều điểm nóng chiến lược tiếp tục âm ỉ, tiềm ẩn nguy cơ bùng phát thành xung đột lớn. Ở một bình diện khác, cạnh tranh giữa các nước lớn đang chuyển từ mức độ cạnh tranh có kiểm soát sang cạnh tranh chiến lược đa lĩnh vực. Không chỉ về quân sự hay địa chính trị, đó còn là cạnh tranh về công nghệ lõi, chuỗi cung ứng, năng lượng, lương thực, không gian mạng, trí tuệ nhân tạo... Những cuộc chiến này có tác động sâu rộng, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống kinh tế-xã hội của các quốc gia, làm gia tăng rủi ro đối với an ninh con người và an ninh phát triển. Xu hướng quân sự hóa quan hệ quốc tế có dấu hiệu gia tăng ở nhiều khu vực. Những diễn biến này đã tạo sức ép rất lớn đối với các quốc gia không tham gia vào vòng xoáy đối đầu, nhất là các quốc gia đang phát triển, vừa và nhỏ.

Trong bài phát biểu chỉ đạo Đại hội Đảng bộ Quân đội nhiệm kỳ 2025-2030, Tổng Bí thư Tô Lâm, Bí thư Quân ủy Trung ương đã chỉ rõ, tình hình thế giới đặt ra những yêu cầu mới cao hơn đối với nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, đòi hỏi chúng ta phải có những quyết sách chiến lược, thích ứng với tình hình mới. Tổng Bí thư lưu ý, phải đẩy mạnh hợp tác quốc phòng trên cả bình diện song phương và đa phương; xử lý hài hòa, mềm dẻo trong quan hệ, hợp tác quốc phòng với các nước. Môi trường cạnh tranh chiến lược ngày càng diễn ra gay gắt. Việc lôi kéo, tập hợp lực lượng trở thành một trong những phương thức phổ biến của các nước lớn nhằm gia tăng ảnh hưởng và củng cố vị thế.

Đối với các nước vừa và nhỏ, đây là một thách thức mang tính thời đại. Chỉ một bước đi thiếu thận trọng, một lựa chọn thiếu cân nhắc vì lợi ích trước mắt, cũng có thể dẫn tới nguy cơ lệ thuộc, đánh mất không gian chiến lược, thậm chí bị cuốn vào những cuộc đối đầu không mong muốn. Lịch sử thế giới đương đại đã chứng minh, không ít quốc gia phải trả giá đắt khi để mình trở thành “bàn đạp”, “quân cờ” trong cuộc chơi của các nước lớn, dẫn đến bị sa lầy trong xung đột, hậu họa khôn lường.

Thực tế đó cũng chính là mảnh đất để các thế lực thù địch lợi dụng khai thác, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” bằng chiêu bài chiến tranh nhận thức, chiến tranh thông tin. Chúng ta thấy rõ, trong quan hệ quốc tế hiện nay, cùng với những thách thức hữu hình từ các biện pháp kinh tế, quân sự, ngoại giao... là những thách thức vô hình thông qua mạng lưới thông tin, thao túng dư luận, can thiệp “mềm” vào công việc nội bộ. Những luận điệu xuyên tạc đường lối đối ngoại, kích động mâu thuẫn, thổi phồng nguy cơ chiến tranh, cổ xúy chạy đua vũ trang... được tung ra với tần suất dày đặc trên không gian mạng. Mục tiêu của chúng là gây nhiễu loạn nhận thức, làm suy giảm niềm tin, tạo ra sự dao động trong hoạch định và thực thi chính sách của các quốc gia.

Trong môi trường đó, Việt Nam luôn bị ảnh hưởng từ những tác động đa chiều của tình hình thế giới. Với vị thế, uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao; với mạng lưới quan hệ đối ngoại rộng mở, trong đó có nhiều đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện; Việt Nam vừa đứng trước những cơ hội quan trọng để tranh thủ nguồn lực bên ngoài phục vụ phát triển, vừa phải đối mặt với những thách thức trong giữ vững độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia-dân tộc. Đại hội Đảng bộ Quân đội nhiệm kỳ 2025-2030 đã đánh giá tình hình một cách khách quan: Phía trước chúng ta là một chân trời rộng mở, tràn đầy cơ hội và thách thức. Làm sao để đất nước có môi trường hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế-xã hội nhanh, bền vững; để cuộc sống người dân thực sự tự do-ấm no-hạnh phúc? Quân đội ta được Đảng, Nhà nước xác định là lực lượng chủ công thực hiện các nhiệm vụ nêu trên. Chính vì vậy, đứng trước những biến động phức tạp, khó lường của tình hình thế giới, chúng ta tuyệt đối không hoang mang, dao động. Chúng ta cần đánh giá tình hình một cách khách quan, tỉnh táo nhận diện những âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, tạo lá chắn tư tưởng vững chắc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững thế cân bằng chiến lược trong đối ngoại và đối ngoại quốc phòng.

Bài học thực hành và tầm nhìn chiến lược

Tại Hội nghị tổng kết công tác ngành ngoại giao năm 2025 do Bộ Ngoại giao tổ chức ngày 29-12-2025, Thủ tướng Phạm Minh Chính đã nhấn mạnh 3 bài học quan trọng nhằm thực hiện thắng lợi đường lối đối ngoại của Đảng, đó là: Phải kiên trì đường lối độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; cương quyết nhưng mềm dẻo, bảo vệ lợi ích của quốc gia-dân tộc nhưng cũng rất linh hoạt trong triển khai để đạt được mục đích; nắm chắc, nắm sâu tình hình; tham mưu phản ứng kịp thời, linh hoạt, phù hợp, hiệu quả...

Nhìn lại nhiệm kỳ 2020-2025, chúng ta tự hào với những thành tựu ngoại giao và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng trong hoạt động đối ngoại. Trên trường quốc tế, Việt Nam ngày càng nhận được sự quan tâm của các đối tác chiến lược. Nhiều nước lớn mong muốn tăng cường hợp tác với nước ta. Vị thế quốc gia được khẳng định từ bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược trong xử lý quan hệ đối ngoại và đối ngoại quốc phòng. Trong môi trường cạnh tranh lợi ích gay gắt giữa các nước lớn, chúng ta đã giữ được thế cân bằng chiến lược, chủ động, tỉnh táo, linh hoạt trong hợp tác quốc tế trên cơ sở kiên định lợi ích cốt lõi và chính nghĩa. Đó cũng chính là chiến lược, sách lược “dĩ bất biến, ứng vạn biến” để chúng ta bảo đảm “trong ấm ngoài êm”, “nội yên ngoại tĩnh”, tạo môi trường ổn định đưa đất nước vững bước vào kỷ nguyên mới.

Thực tiễn cho thấy, việc Việt Nam tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, hợp tác tìm kiếm cứu nạn, cứu trợ thảm họa, ứng phó với các thách thức an ninh phi truyền thống... trong những năm qua đã góp phần nâng cao năng lực, sức mạnh, uy tín của Quân đội nhân dân Việt Nam. Hợp tác quốc phòng đã góp phần lan tỏa hình ảnh đất nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Những luận điệu kích động tâm lý chọn phe, cổ xúy chạy đua vũ trang, gieo rắc hoài nghi về đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng ta... đều là những kiểu ngụy biện nhằm mưu đồ phá hoại. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong lĩnh vực đối ngoại quốc phòng, vì thế, không chỉ là nhiệm vụ của các lực lượng trên mặt trận tư tưởng văn hóa, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ LLVT và công dân yêu nước./.
Ảnh: Lực lượng Mỹ áp giải vợ chồng Tổng thống Venezuela Nicolas Maduro đến tòa án ngày 5-1.
(còn nữa)
Môi trường ST.

HIỂM HỌA... RỈ TAI!

     Rỉ tai là một hành động giao tiếp, thể hiện sự thân mật, kín đáo giữa người nói và người nghe. Trong sinh hoạt đời thường thì việc rỉ tai nhau là bình thường. Tuy nhiên, với việc công, nhất là những việc liên quan đến pháp luật, chính trị, thì rỉ tai lại là hiểm họa nếu nội dung trao đổi trái pháp luật và đạo đức, không đúng quy định của Đảng, Nhà nước, cơ quan, tổ chức. Thực tế cho thấy, đây là tình trạng rất đáng báo động, một trong các biểu hiện của suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; nguyên nhân gây “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và mất đoàn kết nội bộ.

Những năm qua đã có rất nhiều chuyện rỉ tai gây hậu quả nghiêm trọng, thậm chí đặc biệt nghiêm trọng. Trong đó, phổ biến nhất là tình trạng rỉ tai bàn những việc phi pháp, như: Muốn được việc thì phải "bôi trơn", phải gặp, phải chạy chỗ này, chỗ kia; cấp trên rỉ tai cấp dưới phải tạo ra “cơ chế ngầm” để “làm luật” nhằm vụ lợi (như vụ một số cán bộ Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế đặt ra “cơ chế ngầm” mỗi hồ sơ của doanh nghiệp phải nộp vài triệu đồng mới được ký duyệt; rồi “cơ chế ngầm” trong ngành đăng kiểm phương tiện vận tải đã và đang bị xử lý, là những ví dụ điển hình).

Hiện tượng cấp trên rỉ tai cấp dưới (trực tiếp hoặc thông qua phu nhân, trợ lý, lái xe...) để chỉ đạo làm sai, không đúng quy định... cũng không phải hiếm. Trong đó, phổ biến nhất là rỉ tai yêu cầu quan tâm tuyển dụng, cất nhắc, bổ nhiệm những người thân quen, cánh hẩu và yêu cầu “tạo điều kiện” cho công ty “sân sau” trúng thầu. Hầu hết cấp dưới buộc phải nghe lời cấp trên rỉ tai, từ đó dẫn đến làm sai, vi phạm pháp luật, nội bộ cơ quan mất đoàn kết, gây dư luận xấu; những người tốt và doanh nghiệp làm ăn đàng hoàng bị mất cơ hội thì chán nản, phát sinh tư tưởng, hành vi tiêu cực...

Rỉ tai truyền đạt những thông tin xấu độc, suy diễn không đúng sự thật do các đối tượng bất mãn, phản động đăng trên mạng xã hội cũng là thực trạng rất đáng báo động vì nó diễn ra thường xuyên và phổ biến, ở nhiều đối tượng, gây tâm lý hoang mang, dao động, ngờ vực, dễ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.

Hằng ngày, chúng ta thường thấy ở các quán nước, bên bàn trà, thậm chí ngay trong các cuộc họp vẫn có người rỉ tai nhau về những thông tin xuyên tạc, suy diễn, dùng “thuyết âm mưu” tung lên mạng xã hội chuyện “thâm cung bí sử”, đấu đá, sắp xếp nhân sự lãnh đạo cấp cao... Dù những “tin bẩn” này không có cơ sở nào chứng minh, do đối tượng xấu tung ra nhằm thực hiện mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta, nhưng nó lại lan rất nhanh qua hình thức rỉ tai, gây nguy hại khôn lường: Phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy yếu “thế trận lòng dân”, khiến những người thiếu hiểu biết hoặc bản lĩnh không vững vàng dễ bị lừa gạt, từ đó mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước, đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Rỉ tai về những việc nội bộ của từng cơ quan, tổ chức cũng diễn ra khá phổ biến và đó là nguyên nhân hàng đầu gây mất đoàn kết, thậm chí còn hình thành những phe nhóm ngầm “chơi xấu”, đấu đá nhau. Không ít cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức biết cấp trên hoặc đồng nghiệp có sai lầm, khuyết điểm nhưng không thẳng thắn, chân thành góp ý riêng hoặc có ý kiến trong giao ban, sinh hoạt cơ quan, mà chỉ rỉ tai nhau, xì xào bàn tán; nhiều thông tin không đúng, chỉ là nghe nói hoặc tự suy diễn, đồn thổi cũng được lan tỏa thông qua... rỉ tai. Hệ lụy là không ít cán bộ, nhân viên tốt bị hiểu sai, bị mất uy tín, mất phiếu tín nhiệm; một số người chưa tốt lại được đánh giá cao; cán bộ có sai lầm, khuyết điểm không được thẳng thắn góp ý, phê bình mà toàn được nịnh khen nên ngày càng trượt ngã, vi phạm nghiêm trọng...

Còn rất nhiều chuyện rỉ tai gây nguy hại cho từng cơ quan, tổ chức nói riêng và cho Đảng, Nhà nước nói chung mà chúng ta cần thẳng thắn nhìn nhận và kiên quyết đấu tranh, phê phán.

Về phương diện tổ chức, Đảng ta đã chỉ rõ những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ, cần phải đấu tranh loại trừ; đồng thời đã ban hành quy định về những điều đảng viên không được làm. Trong đó, nghiêm cấm tuyên truyền, tán phát thông tin, tài liệu dưới mọi hình thức để truyền bá những thông tin, quan điểm trái với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác...

Về phương diện đạo đức, việc rỉ tai bàn những việc sai trái là không đàng hoàng và trong nhiều trường hợp còn thể hiện sự vụ lợi, cơ hội, thậm chí hèn hạ, nhất là khi phe nhóm, cánh hẩu bàn nhau làm những việc gây hại cho tổ chức và người khác.

Về phương diện pháp lý thì rỉ tai không phải hành vi vi phạm, nhưng nếu nội dung trao đổi trái pháp luật, gây hậu quả xấu và đủ các yếu tố cấu thành tội phạm thì sẽ bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Để phòng, chống rỉ tai tiêu cực, mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức cần nâng cao bản lĩnh chính trị, giữ vững nguyên tắc sinh hoạt Đảng và tuân thủ pháp luật, nội quy của tổ chức, nói và làm theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời đấu tranh, phản biện thẳng thắn, công khai, đúng nơi, đúng chỗ. Mỗi tổ chức cần phát huy dân chủ, công khai, minh bạch trong công tác lãnh đạo, quản lý; kịp thời chấn chỉnh, xử lý nghiêm các trường hợp rỉ tai những nội dung trái pháp luật và quy định của tổ chức, lợi dụng rỉ tai để thao túng, trục lợi, gây mất đoàn kết nội bộ./.
Môi trường ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG - PHỤC VỤ ĐẠI BIỂU DỰ ĐẠI HỘI TUYỆT ĐỐI KHÔNG ĐỂ XẢY RA SƠ SUẤT, DÙ LÀ NHỎ NHẤT!

     Chiều 19-1, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã kiểm tra công tác chuẩn bị nơi ăn, nghỉ của các đại biểu dự Đại hội XIV của Đảng tại Khách sạn Quân đội (Hà Nội).

Tại đây, Đại tướng Phan Văn Giang trực tiếp kiểm tra các điều kiện bảo đảm phục vụ đại biểu, từ khu vực ăn uống, sinh hoạt chung đến hệ thống phòng nghỉ.

Đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng yêu cầu các cơ quan, đơn vị liên quan tiếp tục rà soát kỹ lưỡng từng khâu, bảo đảm chu đáo, an toàn, thuận tiện, tạo điều kiện tốt nhất để các đại biểu yên tâm nghỉ ngơi, giữ gìn sức khỏe trong suốt thời gian tham dự Đại hội.
Đại tướng Phan Văn Giang đã thăm hỏi, động viên các đại biểu khách mời dự Đại hội đang lưu trú tại khách sạn; nắm tình hình sinh hoạt, ăn ở, nhu cầu chính đáng của đại biểu để kịp thời chỉ đạo điều chỉnh, bổ sung những nội dung còn cần hoàn thiện.
Cùng với kiểm tra điều kiện cơ sở vật chất, Đại tướng Phan Văn Giang cũng kiểm tra công tác tổ chức trực, làm việc của các lực lượng phục vụ tại khách sạn.

Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu các lực lượng duy trì nghiêm chế độ trực, phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận, xử lý linh hoạt, kịp thời các tình huống phát sinh, tuyệt đối không để xảy ra sơ suất dù là nhỏ nhất.

Chiều cùng ngày, Đại tướng Phan Văn Giang đến kiểm tra trụ sở làm việc của Trung tâm Lưu trữ Bộ Quốc phòng. Tại đây, đồng chí Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã kiểm tra thực tế nơi làm việc của cán bộ, nhân viên; nghe báo cáo về phương án bố trí, sắp xếp không gian làm việc, điều kiện cơ sở vật chất.
Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu Trung tâm tiếp tục rà soát, hoàn thiện phương án bố trí, sắp xếp nơi làm việc theo hướng khoa học, gọn gàng, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; chú trọng bảo đảm an toàn tuyệt đối cho hệ thống tài liệu lưu trữ.

Đại tướng Phan Văn Giang cũng lưu ý, trong bối cảnh toàn quân đang tập trung cao độ cho công tác phục vụ Đại hội XIV của Đảng, mỗi cơ quan, đơn vị cần phát huy tinh thần trách nhiệm cao nhất, chủ động chuẩn bị chu đáo các mặt công tác được giao, góp phần vào thành công chung của Đại hội./.


QV-ST!

ÔNG CHA TA ĐÁNH GIẶC: DANH DỰ MỚI LÀ ĐIỀU THIÊNG LIÊNG NHẤT!

     Đồng chí Lê Đức Thọ trả lời phỏng vấn của nữ phóng viên hãng thông tấn Mỹ UPI Synvana Foa ngày 15/3/1985, về việc từ chối giải thưởng Nobel:

“Bây giờ tôi nói về Giải thưởng Nobel. Chúng tôi biết, Giải thưởng Nobel là một giải thưởng lớn với thế giới. Từ xưa đến nay có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nhưng tại sao tôi không nhận? Tôi không phải có khó khăn như bà nói đâu. Chỉ một điều rằng ai là người đấu tranh cho hòa bình? Bà biết rằng đây là giải thưởng Nobel cho hòa bình.

Mỹ tiến hành xâm lược đất nước tôi 20 năm. Người chống Mỹ và làm cho Mỹ thất bại, giành độc lập đưa hòa bình cho đất nước và cho cả khu vực này là chúng tôi. Người đem lại hòa bình là chúng tôi chứ không phải người Mỹ.

Trong thư gửi Ủy ban Giải Nobel, tôi đã phân tích kỹ Mỹ tiến hành chiến tranh như thế nào? Nhưng Ủy ban Giải đã đặt ngang bằng kẻ xâm lược và người bị xâm lược, giữa kẻ gây chiến tranh và người tạo hòa bình. Coi chúng tôi cũng như Mỹ. Điều đó là sai lầm và tôi không thể chấp nhận như vậy. Vì vậy tôi đã không nhận Giải thưởng Nobel!”.

Tuyệt vời, chúng ta không thể tự hạ thấp mình để đứng ngang hàng với bọn đồ tể!
Ảnh trên tờ Time: “người duy nhất không nhận Nobel Hòa bình”.
Yêu nước ST.

Chủ Nhật, 18 tháng 1, 2026

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG TIẾN HÀNH PHIÊN HỌP TRÙ BỊ

    Sáng 19-1, tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiến hành phiên họp trù bị. Tổng Bí thư Tô Lâm dự phiên trù bị.

Cùng dự phiên trù bị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Chủ tịch nước Lương Cường, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, Thường trực Ban Bí thư Trần Cẩm Tú.

Tham dự phiên trù bị có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Trung ương Đảng và các đại biểu dự Đại hội.

Đại hội diễn ra từ ngày 19-1 đến 25-1-2026 với phương châm “Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”.

Chủ đề của đại hội là “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030; tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”.

Tham dự Đại hội có 1.586 đại biểu, đại diện cho hơn 5,6 triệu đảng viên trong toàn Đảng.

Thay mặt các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn điều hành phiên họp trù bị.

Tại phiên trù bị, toàn thể Đại hội dành một phút mặc niệm tưởng nhớ đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã từ trần trong nhiệm kỳ Đại hội XIII.

Tiếp đó, Đại hội biểu quyết tán thành, nhất trí cao thông qua Chương trình phiên họp trù bị; Quy chế làm việc; Chương trình làm việc và Quy chế bầu cử tại Đại hội.

Đại hội đã bầu Đoàn Chủ tịch gồm 16 đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, bầu Đoàn Thư ký gồm 5 đồng chí và Ban Thẩm tra tư cách đại biểu dự Đại hội gồm 13 đồng chí.

Đại hội đã biểu quyết tán thành, nhất trí cao thông qua Báo cáo thẩm tra tư cách đại biểu Đại hội XIV của Đảng do Ban Thẩm tra tư cách đại biểu trình. Theo đó, tất cả 1.586 đại biểu được triệu tập dự Đại hội đều đủ tư cách đại biểu Đại hội.

Chiều cùng ngày, các đại biểu sẽ nghiên cứu tài liệu./.




QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: NĂM QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CỦA BỘ CHÍNH TRỊ VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ NHÀ NƯỚC!

     Tại Nghị quyết số 79-NQ/TW, Bộ Chính trị khẳng định: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hoá và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh. Kinh tế nhà nước bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh; tiếp cận công bằng, công khai, minh bạch các nguồn lực, thị trường và cơ hội phát triển; cùng với các thành phần kinh tế trong nước, xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường, bảo đảm an ninh kinh tế, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả…/.
Yêu nước ST.

TRUYỀN THỐNG VÀ LẼ SỐNG “BỘ ĐỘI CỤ HỒ”!

1. Giá trị của truyền thống và dấu hiệu đặc trưng

Truyền thống là những giá trị tốt đẹp đã được hun đúc qua thời gian, được nhiều thế hệ gìn giữ, kế thừa và phát triển, trở thành “nếp nghĩ đẹp, nếp làm tốt”, có giá trị bền vững của một cộng đồng, hàm chứa tính văn hóa nhân văn, nhân đạo. Truyền thống không nằm trên giá sách hay trong lời hô hào suông; nó sống động và biểu hiện cụ thể trong tầm nhìn, thái độ, cách ứng xử và hoạt động sống hằng ngày, nhất là phương cách con người đối diện và vượt qua khó khăn, lựa chọn lẽ phải và tôn trọng chân lý.

Có thể nhận diện truyền thống qua một số dấu hiệu đặc trưng sau:

Thứ nhất, truyền thống có tính lịch sử - kế thừa, được tạo nên từ thực tiễn đấu tranh, lao động, cống hiến lâu dài.

Thứ hai, truyền thống mang tính ổn định nhưng không bất biến: cốt lõi được giữ vững, cách thể hiện thì luôn đổi mới cho phù hợp thời đại.

Thứ ba, truyền thống có sức lan tỏa và cảm hóa, khiến con người tự nguyện noi theo chứ không cần mệnh lệnh. Thứ tư, truyền thống luôn gắn với chuẩn mực đạo đức và giá trị nhân văn, soi đường cho hành động đúng - sai, nên - không nên. Với Quân đội nhân dân Việt Nam, truyền thống chính là “kim chỉ nam” cho hành động để cán bộ, chiến sĩ đứng vững trước mọi thử thách.

2. Truyền thống của Quân đội ta chính là truyền thống của “Bộ đội Cụ Hồ”

Lịch sử gần 81 năm xây dựng, chiến đấu, chiến thắng, phát triển và trưởng thành của Quân đội ta khẳng định: Truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam chính là truyền thống của “Bộ đội Cụ Hồ”. Đây không phải chỉ là cách nói hình tượng cho vui, có ý nghĩa động viên nhau, mà còn là sự hun đúc, kết tinh giá trị của lịch sử, tư tưởng và thực tiễn sống động. Nhận định này cho thấy:

Thứ nhất, nguồn gốc ra đời của Quân đội ta gắn liền với tư tưởng và sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quân đội ta sinh ra từ nhân dân, luôn vì nhân dân phục vụ, do Đảng và Bác Hồ sáng lập, giáo dục, rèn luyện. Ngay từ ngày đầu thành lập, Bác Hồ đã xác định rõ: Quân đội không chỉ biết đánh giặc, mà còn phải làm công tác dân vận, giúp dân, học dân, kính trọng dân. Vì vậy, phẩm chất người quân nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam, từ gốc rễ, đã mang dấu ấn tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; trọn ven tấm lòng vì Tổ quốc phụng sự, vì nhân dân phục vụ.

Thứ hai, truyền thống chiến đấu anh dũng, quyết thắng quyết thắng của Quân đội ta là sự cụ thể hóa sinh động lời dạy của Bác Hồ. Đó là từ chân lý “không có gì quý hơn độc lập, tự do” đến tinh thần “dù hy sinh đến đâu cũng quyết giành cho được độc lập”, truyền thống ấy đã trở thành sức mạnh tinh thần giúp người lính vượt qua bom đạn, đói rét, thiếu thốn, hiểm nguy. Ở đâu khó, ở đó có bộ đội; khi Tổ quốc cần, bộ đội sẵn sàng. Đó chính là “chất lính Hồ Chí Minh” thấm trong truyền thống quân đội anh hùng.
Thứ ba, mối quan hệ máu thịt quân - dân là dấu hiệu nhận diện rõ nhất của “Bộ đội Cụ Hồ”. Nếu hỏi người dân nhớ gì về bộ đội, câu trả lời thường rất đời: giúp dân gặt lúa, bắc cầu, chống bão lũ, chữa bệnh, dạy chữ; cùng ăn, cùng ở, cùng làm với dân. Người lính đi qua làng không chỉ để lại dấu chân, mà còn để lại niềm tin. Truyền thống ấy không phải khẩu hiệu treo tường mà là thói quen hành động: “việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm”, “đi dân nhớ, ở dân thương”. Chính mối quan hệ “cá nước” ấy làm nên tên gọi trìu mến “Bộ đội Cụ Hồ”.

Thứ tư, truyền thống kỷ luật tự giác, nghiêm minh, đạo đức trong sáng của Quân đội phản ánh phong cách sống của Bác Hồ. Kỷ luật không chỉ là mệnh lệnh, mà còn là tự trọng; tiết kiệm không phải vì nghèo, mà vì trân quý công sức, mồ hôi và nước mắt của nhân dân. Người lính “Bộ đội Cụ Hồ” giữ mình mực thước, từ lời nói đến việc làm, từ trên giảng đường, thao trường, bãi tập đến ngoài đời thường, nhất là khi quan hệ với nhân dân đúng như 12 điều kỷ luật của quân nhân. Ở đâu cũng giữ được phẩm chất ấy thì ở đó truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” được tiếp nối, phát huy, tỏa sáng mãi mãi.

Thứ năm, truyền thống đổi mới, học tập và sáng tạo trong Quân đội cũng bắt nguồn từ tinh thần Hồ Chí Minh. Bác luôn nhắc “học để làm việc, làm người, làm cán bộ”. Quân đội ta hôm nay hiện đại hóa vũ khí, nâng cao trí tuệ, làm chủ khoa học, công nghệ, nhưng không xa rời mục tiêu phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hiện đại mà vẫn nhân văn, mạnh mà vẫn nghĩa tình. Đó chính là truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời đại mới.

3. Lẽ sống của cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta là phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”

Nếu truyền thống là “gia tài tinh thần” thì lẽ sống là cách mỗi người lính sử dụng gia tài ấy trong cuộc đời mình. Lẽ sống của “Bộ đội Cụ Hồ” không phải điều gì cao siêu, mà gói gọn trong sáu chữ: phát huy - cống hiến - xứng danh.

Phát huy truyền thống không có nghĩa là kể mãi chuyện xưa để động viên nhau bằng lời nói, mà là biến giá trị đã có thành hành động cách mạng, tạo ra giá trị mới. Cũng như trước đây, người lính hôm nay không chỉ giỏi bắn súng, hành quân, mà còn phải giỏi công nghệ, ngoại ngữ, quản lý với kỹ năng “mềm” nhằm ứng phó hiệu quả trước mọi thách thức an ninh phi truyền thống. Phát huy truyền thống chính là làm cho hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” vẫn tỏa sáng trong doanh trại thông minh, trên không gian mạng, trong những nhiệm vụ gìn giữ hòa bình hay cứu trợ nhân đạo.

Cống hiến tài năng là thước đo của lẽ sống cao đẹp. Mỗi người lính “Bộ đội Cụ Hồ” có một “sở trường”: người giỏi kỹ thuật, người giỏi huấn luyện, người giỏi nghiên cứu, người khéo dân vận, song có chung mục đích là một lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Khi tài năng được đặt đúng chỗ và dùng vì mục tiêu, lý tưởng, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” sẽ được bồi đắp bằng trí tuệ và mồ hôi của thế hệ mới. Cống hiến không ồn ào, không phô trương, nhưng bền bỉ và hiệu quả.

Xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” là đích đến của mọi nỗ lực phấn đấu. Xứng danh trong chiến đấu, trong lao động, trong đời sống thường ngày. Đó là khi người lính bước ra xã hội vẫn giữ được ánh mắt ngay thẳng, lời nói chân thành, việc làm tử tế “đi dân nhớ, ở dân thương”. Khi ấy, danh xưng “Bộ đội Cụ Hồ” không cần giới thiệu dài dòng, chỉ cần nhìn cách sống, phong cách và nụ cười quân nhân là đủ hiểu.

Truyền thống tạo nên bản sắc, lẽ sống làm nên giá trị. Với “Bộ đội Cụ Hồ”, hai điều ấy hòa vào nhau làm một: sống để tiếp nối truyền thống và bằng chính lẽ sống đẹp đẽ của mình, làm cho truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ” ngày càng rạng rỡ, tỏa sáng.

Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ” hoàn toàn không mâu thuẫn, mà trái lại thống nhất biện chứng, bổ sung và nâng đỡ lẫn nhau với mục tiêu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Truyền thống là gốc rễ tinh thần, còn hiện đại hóa là điều kiện vật chất và phương thức tổ chức; thiếu một trong hai, Quân đội khó có thể phát triển bền vững.

Quân đội cách mạng cần bản lĩnh chính trị vững vàng, mục tiêu chiến đấu rõ ràng. Đó chính là nội dung cốt lõi của truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”. Quân đội chính quy đòi hỏi kỷ luật nghiêm minh, tác phong chuẩn mực. Đây là sự tiếp nối trực tiếp phong cách sống và làm việc mẫu mực mà Bác Hồ đã nêu gương. Quân đội tinh nhuệ, hiện đại cần trí tuệ, khoa học, công nghệ và tài năng con người; mà muốn phát huy được những yếu tố ấy, trước hết phải có động cơ trong sáng, ý thức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, tức là phải có nền tảng đạo đức và lý tưởng của “Bộ đội Cụ Hồ”.

Nói cách khác, truyền thống định hướng cho hiện đại, còn hiện đại làm giàu cho truyền thống. Khi người lính “Bộ đội Cụ Hồ” làm chủ vũ khí công nghệ cao mà vẫn giữ trọn phẩm chất vì dân, vì nước; khi doanh trại thông minh vẫn thấm đẫm nghĩa tình quân - dân; khi kỷ luật thép đi liền với nhân văn sâu sắc. Đó chính là biểu hiện sinh động của sự hòa quyện giữa truyền thống và hiện đại. Chính mối quan hệ mật thiết, hài hòa ấy tạo nên sức mạnh tổng hợp, làm cho Quân đội ta vừa mạnh về sức chiến đấu, vừa bền vững về giá trị, mãi xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” - Bộ đội của dân./.


Yêu nước ST.

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: THIẾU TƯỚNG LÊ QUẢNG BA - NGƯỜI DẪN ĐƯỜNG ĐƯA LÃNH TỤ NGUYỄN AI QUỐC VỀ PÁC BÓ, CAO BẰNG TRỰC TIẾP LÃNH ĐẠO PHONG TRÀO CÁCH MẠNG VIỆT NAM!

     Đồng chí Lê Quảng Ba (sinh năm 1915), tên thật là Đàm Văn Mông, dân tộc Tày, quê ở xóm Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng (nay là xã Trường Hà). Năm 1941, đồng chí Lê Quảng Ba là người đã bảo vệ và dẫn đường đưa lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước qua Pác Bó, Cao Bằng để lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đồng chí từng đảm nhiệm nhiều trọng trách: Khu trưởng Khu Hà Nội năm 1946 (nay là Tư lệnh Quân khu Thủ đô), Tư lệnh Chiến dịch Thập Vạn Đại Sơn (1949) giúp Hồng quân Trung Quốc tiêu diệt quân Quốc dân Đản,; Đại đoàn trưởng đầu tiên Đại đoàn 316, Tư lệnh Quân khu Việt Bắc…

Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng, Lê Quảng Ba sớm tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1935. Năm 1940, lần đầu tiên đồng chí được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc ở Tịnh Tây (Trung Quốc). Trong hồi ký “Bác Hồ về nước”, đồng chí Lê Quảng Ba đã kể lại câu chuyện gặp gỡ “Ông cụ cách mạng”: …“Lúc này, bộ phận lãnh đạo của Đảng ta ở nước ngoài, trong đó có đồng chí Nguyễn Ái Quốc - đang chuyển cơ quan về gần biên giới tìm cách về nước... Đêm hôm đó, có người đến tìm chúng tôi (sau mới biết là anh Đặng Văn Cáp và anh Hoàng Văn Hoan). Anh Hoan bảo: Ông Cụ cho gọi các anh trở lại ngay để nhận chỉ thị mới…!

Chúng tôi vừa đi vừa chạy. Gà gáy lần thứ ba thì mới đến Chợ Mới. Chúng tôi được gặp một ông cụ râu đen, trán rộng, hiền từ. Cụ hỏi kế hoạch về nước và tìm hiểu những điều chúng tôi đang lo lắng. Cụ nói đại ý: Quốc dân Đảng Trung Hoa chuẩn bị “Hoa quân nhập Việt” cần sự giúp đỡ của Việt Nam, chúng đang cần lấy lòng ta. Trương Bội Công lúc này không dám giết người cách mạng Việt Nam đâu. Các đồng chí có trách nhiệm lãnh đạo tổ chức cho tất cả 43 người về nước hết, không được để sót một ai (43 anh em của mình được huấn luyện trong lớp quân sự của Trương Bội Công do chúng tôi làm trợ giáo). 

Anh Hoàng Sâm cùng về với ông Cụ sau. Tôi (tức Lê Quảng Ba) có trách nhiệm đưa 41 người về trước… được lệnh dừng chân lại ở làng Nặm Quang và Ngàm Tẩy tuyên truyền và vận động quần chúng. Gần 1 tháng sau, Bác về tới Nặm Quang. Tại đây, chúng tôi được dự lớp huấn luyện chính trị do Bác đặt chương trình và trực tiếp chỉ đạo. Các đồng chí: Phùng Chí Kiên, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp biên soạn chương trình và trực tiếp giảng dạy.

Như vậy, có thể nhận định rằng đồng chí Lê Quảng Ba đã thực hiện xuất sắc kế sách của Người, đưa các thanh niên Cao Bằng đang lánh nạn ở Tịnh Tây, Trung Quốc về làng Nặm Quang gần biên giới Việt - Trung, cách Pác Bó khoảng hơn 10 km, dự lớp huấn luyện cách mạng do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và các đồng chí: Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Phùng Chí Kiên… trực tiếp giảng dạy. Đây chính là lớp huấn luyện Việt Minh đầu tiên của nước ta, lớp huấn luyện kết thúc vào những ngày cuối năm Canh Thìn (26/1/1941). Lớp học ngắn ngày nhưng mỗi học viên đều cảm thấy lớn lên, trưởng thành và có hướng đi rõ ràng. Những học viên này chính là các nhân tố cốt cán trong phong trào cách mạng ở Cao Bằng. 

Sau lớp học, đồng chí Văn và đồng chí Đồng trở lại Tịnh Tây. Còn các đồng chí: Phùng Chí Kiên, Thế An, Đặng Văn Cáp, Hoàng Văn Lộc và Lê Quảng Ba theo Bác từ Nặm Quang (Tịnh Tây) về nước, hôm đó là ngày 28/1/1941. Đồng chí Lê Quảng Ba dẫn Bác theo đường mòn về Cao Bằng. Bác cầm một cây gậy nhỏ nhưng chỉ khi xuống dốc Bác mới chống, chân Bác bước nhanh nhẹn như một thanh niên.

Đồng chí Lê Quảng Ba dự định đưa Bác về ở tại nhà của gia đình ông Máy Lì, là cơ sở cách mạng của ta. Tuy nhiên, Bác ở tại nhà ông Máy Lì khoảng gần 10 ngày, để đảm bảo an toàn và không muốn phiền gia đình ông Máy Lì, Bác đề nghị với đồng chí Lê Quảng Ba “Ta nhiều người, nên ở trong núi tiện hơn”. Không thuyết phục được đoàn ở lại nhà mình, cuối cùng ông Máy Lì dẫn đoàn đi về phía hang núi, đó là hang Cốc Bó. Sau khi xem xét địa hình xung quanh hang, Bác quyết định rời nhà ông Máy Lì chuyển đến ở và làm việc tại hang Cốc Bó. Với vai trò của người dẫn đường, đồng chí Lê Quảng Ba đã sắp xếp nơi ăn ở, đảm bảo an toàn cho Bác và đoàn thể tại Pác Bó - Cao Bằng, cũng như góp phần thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng tại đây.

Tháng 11/1941, tại Pác Bó, theo chỉ đạo của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, đội vũ trang đầu tiên ở Pác Bó (Đội du kích Pác Bó) được thành lập tại Pài Co Nhản (Pác Bó, Trường Hà) gồm 12 đồng chí, do đồng chí Lê Quảng Ba làm Đội trưởng. Đội có nhiệm vụ bảo vệ cơ quan, bảo vệ cán bộ; làm giao thông liên lạc đặc biệt; vũ trang tuyên truyền trong quần chúng; huấn luyện cho các đội tự vệ chiến đấu ở địa phương; làm nòng cốt cho việc xây dựng lực lượng vũ trang và nửa vũ trang sau này. Những câu khẩu lệnh đầu tiên và những động tác cơ bản của Quân đội ta bắt đầu hình thành từ đây và phiên âm từ Hán Việt ra tiếng Việt, được đồng chí Lê Quảng Ba huấn luyện thực hành thuần thục, tạo tiền đề cho việc xây dựng điều lệnh đội ngũ sau này.

Cuối năm 1944 - 1945, đồng chí Lê Quảng Ba là Ủy viên Quân sự và Phái viên kỳ bộ Việt Minh ở Cao - Bắc - Lạng. Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, đồng chí được giao nhiều trọng trách ở những địa bàn phức tạp như: Phó Khu trưởng Khu 1, Khu trưởng Khu Hà Nội, Khu trưởng Khu 12, Phó Chỉ huy trưởng Mặt trận 2 (Đông Bắc), Chỉ huy trưởng Mặt trận Duyên Hải - Đông Bắc và Thập Vạn Đại Sơn. Khi thành lập các đại đoàn quân, đồng chí Lê Quảng Ba là một trong những đại đoàn trưởng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam (Đại đoàn trưởng Đại đoàn 316), Tư lệnh Quân khu Việt Bắc.

Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhấn mạnh nhiệm vụ của Đại đoàn 316 là phải tiêu diệt các cứ điểm A1, C1 và C2. Đồng chí Lê Quảng Ba thay mặt cấp ủy, chỉ huy Đại đoàn 316 đề xuất phương án hạ cứ điểm đồi A1 bằng quả bộc phá.

Ngay khi được giao nhiệm vụ, đồng chí Lê Quảng Ba tìm gặp đồng bào địa phương để tìm hiểu cái gọi là “hầm ngầm” trên đồi A1. Giữa tháng 4/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng Chiến dịch đã dành thời gian nghe Đại đoàn trưởng 316 Lê Quảng Ba báo cáo về “chiếc hầm kiên cố trên đỉnh A1” và đề đạt phương án đào hầm vào thẳng “ruột” điểm cao A1, đưa một lượng bộc phá lớn vào để công phá cứ điểm quan trọng này.

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 6/5/1954, đồi A1 phát ra tiếng nổ, khói phụt lên cao và tạo ra cảm giác như động đất nhẹ trong vài giây. Quân ta đã tiêu diệt cứ điểm cuối cùng, hoàn thành nhiệm vụ. Sau nhiều trận chiến đấu anh dũng, tài thao lược quân sự mẫn tiệp của Bộ Chỉ huy Chiến dịch và chỉ huy các cánh quân, chiến dịch toàn thắng.

Đồng chí Lê Quảng Ba được thụ phong quân hàm Thiếu tướng năm 1958, là tướng lĩnh người Tày đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam. Năm 1960, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, đồng chí Lê Quảng Ba được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ông được cử làm Trưởng Ban Dân tộc Trung ương, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Chính phủ…, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa III, đại biểu Quốc hội khóa II, III, IV, V, VI. 

Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, dù ở cương vị nào, mặc dù hoàn cảnh khó khăn, gian khổ ra sao “Ông cũng tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng, tận trung với nước, tận hiếu với dân”. Đồng chí luôn trăn trở với quê hương cội nguồn cách mạng và các vấn đề dân tộc miền núi “Miền núi phải được xây dựng mạnh về quốc phòng. Các phương hướng, nhiệm vụ kinh tế, chính trị đều nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp cho yêu cầu củng cố về quốc phòng”.

Đồng chí Lê Quảng Ba qua đời năm 1988, hưởng thọ 73 tuổi. Trong Điếu văn truy điệu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khẳng định: “Đồng chí Lê Quảng Ba là cuộc đời liên tục chiến đấu gian khổ, hy sinh vì độc lập, tự do… Đồng chí là một trong những cán bộ được Bác Hồ rèn luyện, giáo dục và tin yêu, được Đảng và Nhà nước giao nhiều nhiệm vụ quan trọng, được đồng bào các dân tộc cả nước quý mến”. 

Ghi nhận những cống hiến của người tướng lĩnh dân tộc Tày với sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc, đồng chí được Đảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh, Huân chương Chiến thắng hạng nhất… và nhiều phần thưởng cao quý khác. Để tri ân công lao của người con ưu tú, cũng như góp phần giáo dục thế hệ trẻ về truyền thống cách mạng của dân tộc, tại xã Sóc Hà (cũ) - quê hương nơi sinh thành có ngôi trường được vinh dự mang tên đồng chí (Trường THCS Lê Quảng Ba). Đây chính là minh chứng của truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, giáo dục tinh thần cách mạng, lòng yêu nước cho các thế hệ người Việt Nam nói chung và thế hệ trẻ tỉnh Cao Bằng nói riêng.

Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của đồng chí Lê Quảng Ba gắn với những dấu son của lịch sử, một vị tướng tài ba của Quân đội nhân dân Việt Nam, là biểu tượng cao đẹp về sự trung thành, tận tụy, hết lòng với Đảng, cách mạng và nhân dân. Tên tuổi của đồng chí mãi là niềm tự hào của nhân dân các dân tộc Cao Bằng; là thế hệ tướng lĩnh xuất sắc của Quân đội ta, thể hiện ý chí kiên trung, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân./.


Yêu nước ST.

XỬ LÝ NGHIÊM THEO PHÁP LUẬT ĐỐI TƯỢNG CHỐNG PHÁ, XUYÊN TẠC TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG!

     Cục Bảo vệ an ninh Quân đội (Cơ quan An ninh điều tra Bộ Quốc Phòng) vừa phối hợp với Viện Kiểm sát Quân sự Trung ương ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với Vũ Tuấn Anh, sinh năm 1974, trú tại số 117/5 đường Minh Phụng, phường Bình Tây, TP. Hồ Chí Minh về tội “Lợi dụng các quyền tự do, dân chủ, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo quy định tại Khoản 2, Điều 331 Bộ luật Hình sự.

Theo tài liệu điều tra, từ năm 2024 đến nay, đối tượng Vũ Tuấn Anh đã thiết lập và quản lý nhiều tài khoản mạng xã hội cá nhân với tên “Tuấn Ban Mê”, để đăng tải, chia sẻ các nội dung xuyên tạc, bịa đặt, nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Bộ Quốc phòng, với mưu đồ làm suy giảm lòng tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 14. Các bài viết và tài liệu đối tượng phát tán thu hút nhiều lượt theo dõi, chia sẻ và bình luận tiêu cực. 

Cục Bảo vệ an ninh Quân đội đã phối hợp với các cơ quan chức năng truy tìm , nhanh chóng nhận diện, bắt giữ đối tượng và niêm phong toàn bộ thiết bị điện tử dùng để phát tán thông tin xấu độc. Vụ việc là lời cảnh tỉnh đanh thép. Pháp luật luôn tôn trọng quyền tự do ngôn luận, nhưng tuyệt đối không cho phép bất cứ cá nhân nào lợi dụng quyền đó để xâm phạm an ninh quốc gia./.


Môi trường ST.

RÁC PHẨM NBCT CỦA ẤU PHƯƠNG - BẢO NINH DƯ ÂM VÀ TÁC HẠI ĐỐI VỚI XÃ HỘI NHẤT LÀ THẾ HỆ TRẺ!

     Kiến nghị về việc làm sai trái đưa nội dung "Nỗi buồn chiến tranh" vào sách giáo khoa phổ thông và nội dung các môn học xã hội khác của cô giáo ở Huế. Mong được anh chị em sẻ chia.

THA THIẾT XIN KIẾN NGHỊ VỚI CHÍNH PHỦ
Kính thưa Chính Phủ!
Hẳn ai cũng biết rằng, con đường Đảng và Nhân dân Việt Nam 🇻🇳 đang đi là SỰ LỰA CHỌN DUY NHẤT ĐÚNG của Chủ Tịch Hồ Chí Minh vĩ đại!

Con đường ấy, Bác đã đánh đổi cả Tuổi Thanh Xuân và sinh mạng. Ba mươi năm bôn ba hải ngoại, Bác đã đi qua hơn 12 nước, từ năm 1911- 1941, học 12 thứ tiếng để viết sách báo kêu gọi đấu tranh vì tự do con người. Bác phải vào tù ra tội, bị tra tấn, gông cùm xiềng xích, bị đói khát, bệnh tật. Bác đã hy sinh cả tình riêng, gia đình quyết ra đi tìm cho được con đường cứu Dân, cứu Nước. Cho đến khi từ giã cõi đời, ngực áo vẫn không có một tấm Huân chương!

Khi tìm được LUẬN CƯƠNG LÊ NIN, Bác đã khóc: "Nước mắt Người rơi trên chữ Lê nin/Bác reo lên như nói cùng Dân tộc/Cơm áo là đây, hạnh phúc đây rồi/Hình của Đảng lồng trong hình của nước/Phút khóc đầu tiên là phút Bác Hồ cười" (Chế Lan Viên - dòng Văn học Cách mạng )...

Và rồi! Ta đã có Đất nước Việt Nam 🇻🇳. Ta đã có con đường đi lên Chủ nghĩa xã hội, mà Đảng ta đã KIÊN ĐỊNH từ khai sinh lập nước cho đến bây giờ.

Ta TỰ HÀO VỀ Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ một Đảng duy nhất đã lãnh đạo Nhân dân đồng lòng, đồng tâm, đồng chí vượt qua bao chông gai lửa đạn, vượt qua bất cứ thử thách nào, kể cả sự chống phá của nhiều kẻ thù trong chiến tranh và thời bình để giữ vững TRỌN VẸN ĐẤT NƯỚC hôm nay. Ngay cả khi, HÒN ĐÁ TẢNG Liên Xô sụp đổ, Đảng ta vẫn không lay chuyển.

Nhưng! Thời vận đã khác. Manh nha "Diễn biến Hòa Bình", "Tự chuyển hóa tưởng" đã mấy thập kỷ. Nay, càng có nguy cơ chui sâu, leo cao, lan rộng trong Đảng, trong Cán bộ, trong Nhân dân và trắng trợn hơn, công khai hơn.

Trên Mặt trận Kinh tế, Công nghiệp, Xây dựng, Du lịch, An sinh xã hội,... chúng ta phát huy, và phát triển rất nhanh, đạt nhiều thành tựu ĐÁNG NỂ.

Nhưng! Chúng ta cần phải dám nhìn thẳng, dám nhìn đúng sự thật tình hình hiện tại là: Đảng, Chính Phủ, Công An, Quân Đội còn CHỦ QUAN, MẤT CẢNH GIÁC với giặc nội xâm.

So với giặc NGOẠI XÂM, ta dễ dàng phát hiện hướng đi và phương án đánh của chúng để đối phó. Còn giặc NỘI XÂM, nó tinh vi, lắt léo lần lượt CHIẾM VỊ TRÍ TRỌNG YẾU trên mặt trận Tư tưởng, Văn hóa, Giáo dục và đã khoét sâu hơn 30 năm nay. Chúng đã lợi dụng kẽ hở trong quản lý để VIẾT LẠI LỊCH SỬ, đem ĐỘC HẠI vào trang sách học trò một cách không thương tiếc!

Vụ việc tái lôi ra vinh danh lại cuốn "Nỗi buồn chiến tranh", một cuốn sách có nội dung phản bội Tổ Quốc, phản bội Nhân dân, xuyên tạc bôi nhọ Quân đội Nhân dân Việt Nam (...). Vụ việc BGD đã ngang nhiên đưa nhóm 72 vào làm Tổng Chủ biên SGK cải cách 2018. Công khai viết lại Môn Lịch sử. Công khai BỎ gần hết DÒNG VĂN HỌC CHỦ LƯU CÁCH MẠNG. Công khai xếp Môn Lịch sử làm môn tự chọn, giảm số tiết chỉ còn 1,5 tiết (...). Công khai đưa những đoạn trích đồi trụy vào sách giáo khoa lớp 9 và 12. Chúng đã TÍCH HỢP CHỒNG CHÉO vào cả những câu, chữ, ngữ liệu cho học sinh 3 cấp.
Thiết nghĩ! Biên soạn SGK PHỔ THÔNG, chỉ cần chọn đội ngũ GV dạy giỏi cấp Tỉnh, cấp Quốc gia, Chuyên viên giỏi các Sở giáo dục. Không cần GsTs với học hàm học vị quá cao không sát đối tượng tiếp nhận (Sgk lớp 1: Chưa học xong bảng chữ cái đã bắt các cháu vừa học vừa ghép vần, ghép chữ, viết đoạn văn. Đây là cách học PHẢN KHOA HỌC. Nguyên tắc: dạy thuộc lòng bảng Chữ cái, dạy Vần, ghép Chữ, ghép câu - Học kỳ I. Học kỳ 2 mới viết Đoạn Văn.
Cách dạy HIỆN HÀNH tạo áp lực cho các cháu vừa thoát khỏi vòng tay mẹ, chỉ khóc mỗi khi về nhà, mất ăn mất ngủ, mất tính hồn nhiên của các cháu).

XIN ĐƯỢC NÊU KIẾN NGHỊ

1. LOẠI BỎ HOÀN TOÀN SGK cải cách 2018. Bởi những nhà biên soạn thuộc nhóm 72 đã tích hợp chồng chéo tư tưởng phản động vào các môn học. Tôi tha thiết xin Chính Phủ đừng tiếc tiền! "Một lần không chín, chín lần không nên"- Dân gian ta đã đúc kết ngàn đời rồi.

2. Chương trình Phổ thông là NHỮNG ĐƯỜNG TRÒN ĐỒNG TÂM. Mỗi cấp, tùy độ tuổi và nhận thức, để phát triển Đường tròn sau to hơn, rộng hơn Đường tròn trước (của lớp dưới). Do đó, BGD KHÔNG ĐƯỢC CẮT XÉN làm mất tính logic về thời gian và không gian của các SỰ KIỆN LỊCH SỬ.

3. MÔN NGỮ VĂN:
-- Trả lại dòng chủ lưu Văn học Cách mạng cho Sgk Phổ thông.
-- Đưa các tác phẩm nói về Truyền thống yêu nước, từ Dựng nước đến Giữ nước như trước đây (như sgk 2001 trở về trước).
-- Đưa Văn Thơ Hồ Chí Minh trở lại đầy đủ cho chương trình từ cấp Tiểu Học, THCS, THPT. Lựa chọn những Tác phẩm phù hợp với lứa tuổi, nhận thức của HS để dạy và học. Đó cũng là cách TRI ÂN Bác.
-- Trả lại cho Sgk Tiểu học 5 Điều Bác Hồ dạy. Câu ngạn ngữ.
"Tiên học lễ, hậu học văn" Quy định bắt buộc treo ở các Trường Phổ Thông.
-- Đưa những bài thơ viết gọn Lịch sử nước nhà của Chủ tịch Hồ Chí Minh vào Môn SỬ lớp 5, giúp các cháu dễ học, dễ nhớ. Những gì Bác Hồ đã đúc kết, đã viết thành Thơ - Văn là Lịch sử ĐÚNG ĐẮN NHẤT, không được lược bớt, không được thay đổi.

4. MÔN LỊCH SỬ:
Lịch sử là SỰ THẬT KHÁCH QUAN của từng giai đoạn có thời gian cụ thể. Không thể thay đổi.
-- Cấp Tiểu Học (Lớp 5) được học SƠ LƯỢC các giai đoạn Lịch sử. 
Cấp THCS được học cụ thể một số giai đoạn. 
Cấp THPT được học sâu hơn toàn bộ về lịch sử Việt Nam.
-- Môn Lịch sử: phải được học chính khóa như trước đây, và là môn học BẮT BUỘC. Phải được luân phiên Thi Tốt nghiệp THPT hàng năm như trước đây. Lòng yêu nước và ý chí giữ nước của HS được bắt đầu nuôi dưỡng từ Môn Lịch sử.
-- Phải có Chương trình ngoại khóa, đố vui để học, tạo hứng thú cho HS đối với môn học này.
*Lịch sử Thế giới chỉ học khái quát.

5. MÔN ĐỊA LÝ: HS được tiếp cận với:
-- Cương vực, lãnh thổ.
-- Địa hình, địa giới hành chính. Vùng miền
-- Dân số
-- Dân tộc
-- Sông ngòi, Biển, Rừng
-- Những tác động của Thiên nhiên đối với con người.
* Môn ĐỊA LÝ phải được học BẮT BUỘC. Nuôi dưỡng tình yêu Quê hương Đất nước và ý thức bảo vệ BIÊN GIỚI, LÃNH THỔ.
• Địa lý Thế giới chỉ học khái quát.

6. MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN:
-- Đây là môn học BẮT BUỘC, giúp HS hiểu biết về những QUY ĐỊNH của PHÁP LUẬT; Các tổ chức Nhà nước ; Quyền và Trách nhiệm, Nghĩa vụ của Công dân đối với Đất nước.
-- Tùy độ tuổi và nhận thức để đưa ra Chương trình phù hợp. Đối với HS Tiểu Học chỉ dạy Luật Giao thông; Các quy định, Nội quy Trường học; Năm điều Bác Hồ dạy; Nề nếp gia đình.

** BỐN MÔN: Ngữ Văn (Trong đó có Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn); Lịch Sử; Địa Lý; Công Dân -- Đây là 04 MÔN HỌC BẮT BUỘC. Có thời lượng vừa học Chính khóa vừa Ngoại khóa giúp các em khắc sâu kiến thức, vui để học có hiệu quả.

NỀN TẢNG tư tưởng, ý thức, tư duy logic của HS được hun đúc, xây đắp từ tuổi ấu thơ đến trưởng thành là CĂN CƠ cho việc hình thành nhân cách, đạo đức Cách mạng chân chính. Những kiến thức được trang bị, biến thành tri thức, thành phẩm chất tốt đẹp ở mỗi con người sẽ góp phần làm nên một xã hội Văn minh và Phát triển.

Vì vậy! SÁCH GIÁO KHOA đảm bảo chất lượng TỐT sẽ đóng vai trò làm TRỤC XƯƠNG SỐNG trong việc đào tạo nhân lực vừa Hồng, vừa Chuyên cho Đất nước, đáp ứng yêu cầu Công việc trong thời đại mới, VỪA KIẾN TẠO, VỪA BẢO VỆ VỮNG CHẮC TỔ QUỐC VIỆT NAM 🇻🇳 XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, XỨNG TẦM VỚI CÁC CƯỜNG QUỐC NĂM CHÂU NHƯ SINH THỜI BÁC HỒ HẰNG MONG ƯỚC!
P/S: Những môn thuộc Khoa Học Tự Nhiên chỉ thay đổi phương pháp dạy - học.
Kính cảm ơn Chính Phủ!
Ảnh: Cô giáo Kim Cúc.
Môi trường ST.

Thứ Bảy, 17 tháng 1, 2026

ĐỪNG CÓ CÁI “THẺ NHÀ BÁO” MÀ PHÁT NGÔN PHỦ NHẬN LỊCH SỬ HÀO HÙNG CỦA DÂN TỘC!

Gửi anh Tiểu Vũ! 
Nghe nói anh nhận mình là nhà báo, tôi cũng ko rõ anh Tiểu Vũ có từng đc học và có học lịch sử hay chưa? Và bằng cách thần kỳ nào mà anh tốt nghiệp và có được thẻ nhà báo nữa. Nhưng nếu đã từng đi qua một nền giáo dục phổ thông tối thiểu của người Việt Nam, thì thật khó tin rằng anh có thể phát biểu một cách hời hợt và vô cảm thậm chí khuyết tật tư duy,: tầm nhìn như vậy về chiến tranh, về ký ức dân tộc, và về những con người đã sống, đã chết và để đất nước này có được hai chữ “HOÀ BÌNH - ĐỘC LẬP - TỰ DO” như ngày hôm nay.

Anh dường như đã quên, hoặc cố tình quên rằng lịch sử chiến tranh của Việt Nam không kết thúc vào năm 1975.

Anh nói rằng “đất nước đã hoà bình độc lập 50 năm rồi, nên những người sinh giai đoạn 1955 -1960 không có “đánh đấm” gì để mà nhắc tới chiến tranh”, là một cách nhìn vừa thiển cận, vừa xúc phạm ký ức lịch sử của cả một thế hệ.

Những người sinh ra trong giai đoạn đó lớn lên đúng vào thời kỳ ác liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Họ là lớp người trưởng thành trong bom đạn, nhiều người chưa kịp sống trọn tuổi trẻ đã phải ra chiến trường. Nhưng ngay cả khi chiến tranh chống Mỹ kết thúc, đất nước này chưa từng có một nền hoà bình trọn vẹn, dài lâu như anh tưởng.

Bởi lịch sử Việt Nam không dừng lại ở mốc 30/4/1975.

Chỉ bốn năm sau, năm 1979, Việt Nam bước vào cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, một cuộc chiến khốc liệt, kéo dài nhiều năm, với những mặt trận mà đến hôm nay vẫn còn nhức nhối trong ký ức dân tộc. Trong đó, mặt trận Vị Xuyên (Hà Giang) là một trong những chiến trường ác liệt nhất.

Từ năm 1984 đến 1989, Vị Xuyên trở thành “lò vôi thế kỷ”. Hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ đã ngã xuống chỉ để giữ từng điểm cao mang những con số khô khốc: 468, 685, 772… Có những đơn vị thương vong tới 70 - 80%. Có những người lính ra đi không để lại tên, hài cốt còn nằm lại trong lòng núi đá cho đến tận hôm nay.

Những người sinh năm 1955 - 1960 khi ấy đang ở độ tuổi sung sức nhất của đời người. Họ không “đánh đấm bằng mồm”, mà trực tiếp cầm súng, trực tiếp nằm trong chiến hào, trực tiếp đối diện cái chết, trong một cuộc chiến mà suốt nhiều năm sau đó không được nhắc tới một cách đầy đủ và công bằng.

Chiến tranh đối với họ không phải “câu chuyện để kể cho vui”, mà là ký ức không thể quên, và cũng không có quyền quên.

Ngay từ khi sinh ra, những đứa trẻ Việt Nam đã được nuôi dưỡng bằng ký ức đó, không phải bằng thù hận, mà bằng lòng biết ơn và tự hào. Trong lời ru của bà, của mẹ, chiến tranh và đất nước đã hiện diện rất tự nhiên:

“À ơi
Muốn coi lên núi mà coi
Coi bà Triệu tướng cưỡi voi đánh cồng”.

Hay:

“Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng”

Những câu ca dao ấy không chỉ nói về gian khó, mà nói về tinh thần cộng đồng, về sự hy sinh, về lý do vì sao người Việt Nam không thể coi chiến tranh như một câu chuyện phiếm.

Lịch sử Việt Nam không phải lịch sử của những dân tộc chưa từng bị xâm lược. Đó là lịch sử của một dân tộc nhỏ bé nhưng liên tục phải đứng lên để tồn tại. Vì thế, chiến tranh trong ký ức Việt Nam không phải là sự hiếu chiến, mà là tự vệ, là sinh tồn, là giữ lấy quyền làm người trên mảnh đất của mình.

Việc nhắc lại chiến tranh không phải để khoe khoang hay để “đánh đấm bằng mồm”, mà để nhắc rằng hoà bình hôm nay không tự nhiên mà có. Nó được đổi bằng xương máu, bằng tuổi trẻ, bằng những thế hệ không kịp sống trọn đời người.

Nếu coi việc nhắc đến chiến tranh là “ra rả”, thì có lẽ vấn đề không nằm ở những người từng đi qua chiến tranh, mà nằm ở sự đứt gãy ký ức lịch sử của một bộ phận người hôm nay, những người hưởng thụ hoà bình nhưng lại coi thường cái giá của nó.

Và cuối cùng, câu hỏi đặt ra là: anh Tiểu Vũ có thực sự đc thẩm thấu mạch văn hoá - lịch sử của dân tộc này hay chưa ? Bởi với bất kỳ người Việt Nam nào, thì ký ức chiến tranh không phải là thứ để chế giễu, càng không phải là thứ để phủi tay cho xong. Đó là phần máu thịt của lịch sử, và cũng là nền móng của hoà bình hôm nay.

Hoà bình không bắt đầu từ sự lãng quên. Hoà bình bắt đầu từ sự hiểu biết và tôn trọng quá khứ. 

Nhớ cho kỹ nhé anh Vũ nếu là con người thì cần phải biết:
"SỐNG VÌ MỒ MẢ - KHÔNG AI SỐNG BẰNG CẢ BÁT CƠM".

Chỉ YÊU CẦU anh không được dùng thứ ngôn từ của người làm báo mà lại hành xử như kẻ tung cảm xúc, dẫn dắt đám đông, lấy sự lãng quên làm lập luận. Vì khi anh nhận mình là nhà báo thì ắt khác với những kẻ thiếu trí tuệ, vô năng về nhận thức.

Chiến tranh không phải trò đùa để mỉa mai, ký ức dân tộc không phải công cụ để câu like câu view qua câu chữ. 
Ai coi thường lịch sử thì có thể được vài tràng vỗ tay rẻ tiền, nhưng không bao giờ có tư cách đứng chung hàng với những người LÀM NGHỀ TỬ TẾ.
Lịch sử ở đó. Máu xương ở đó.
Vấn đề chỉ là: anh có đủ kiến thức và bản lĩnh để đối diện hay không mà thôi! 
Thân ái!

Môi trường ST.

VỀ QUAN ĐIỂM CHO RẰNG VUA GIA LONG LÀ NGƯỜI “CÓ CÔNG” VỚI LỊCH SỬ DÂN TỘC!

     Trong những năm gần đây, xuất hiện ý kiến cho rằng vua Gia Long là người có công lớn trong lịch sử Việt Nam vì đã thống nhất đất nước sau thời kỳ phân tranh. Tuy nhiên, quan điểm này không phù hợp với lập trường sử học cách mạng và trái ngược rõ ràng với nhận định nhất quán của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh cũng như của Đảng Cộng sản Việt Nam qua nhiều thời kỳ.

Nguyễn Ái Quốc đã nhiều lần khẳng định: việc Gia Long giành được ngai vàng không gắn với sự nghiệp độc lập dân tộc mà gắn liền với việc cầu viện và dựa dẫm vào thế lực thực dân phương Tây. Trong các tác phẩm viết từ năm 1919 đến 1944, Người chỉ rõ rằng Gia Long vì mục tiêu cá nhân đã “rước Tây vào nhà”, mở đầu cho quá trình xâm nhập, can thiệp và cuối cùng là xâm lược của thực dân Pháp. Việc thống nhất đất nước bằng con đường đó không thể được xem là công lao đối với dân tộc, bởi nó đặt nền móng cho thảm họa mất nước kéo dài gần một thế kỷ.

Trong diễn ca Lịch sử nước ta (1942), Nguyễn Ái Quốc phê phán Gia Long bằng những hình ảnh dân gian quen thuộc như “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi giày mả tổ”, phản ánh cách nhìn của nhân dân và của sử học cách mạng đối với hành vi cầu ngoại viện. Đồng thời, Người cũng chỉ rõ sự nối tiếp trách nhiệm lịch sử của triều Nguyễn, đặc biệt dưới thời Tự Đức, khi các hiệp ước đầu hàng và nhượng đất cho Pháp lần lượt được ký kết từ năm 1862, dẫn đến việc mất toàn bộ Nam Kỳ, rồi Trung Kỳ và Bắc Kỳ.
Quan điểm ấy không phải là sự phủ nhận toàn bộ vương triều Nguyễn một cách giản đơn. Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh luôn đánh giá lịch sử một cách phân minh: phê phán nghiêm khắc những vua quan đầu hàng, bán nước, nhưng đồng thời ghi nhận và biểu dương tinh thần yêu nước, chống Pháp của các vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân. Điều này cho thấy tiêu chí đánh giá của Người không phải là dòng họ hay vương triều, mà là lập trường đối với độc lập dân tộc và lợi ích của nhân dân.

Sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, các văn kiện quan trọng của Đảng qua các thời kỳ đều thống nhất khẳng định: triều đình nhà Nguyễn, đặc biệt là giai đoạn từ Gia Long đến Tự Đức và Bảo Đại, đã từng bước lệ thuộc, đầu hàng và làm tay sai cho thực dân Pháp. Việc đề cao Gia Long như một “người có công” vì thống nhất đất nước, trong khi bỏ qua hoặc làm nhẹ hành vi cầu viện ngoại bang và hậu quả lịch sử nghiêm trọng của nó, là cách tiếp cận phiến diện, tách rời vấn đề thống nhất lãnh thổ khỏi yêu cầu tối thượng là độc lập dân tộc.

Nhiều nhà sử học cách mạng uy tín như Trần Văn Giàu, Văn Tạo đã khẳng định rõ: sự thống nhất đất nước của phong trào Tây Sơn gắn liền với độc lập và chủ quyền dân tộc, còn sự thống nhất của Gia Long là sự thống nhất lệ thuộc, trả giá bằng chủ quyền và toàn vẹn quốc gia. Hai sự kiện này không thể đánh đồng và càng không thể dùng kết quả hình thức để biện minh cho bản chất chính trị - lịch sử của quá trình.

Vì vậy, việc một số người hiện nay cố gắng “xét lại”, tôn vinh Gia Long như một nhân vật có công lớn với dân tộc là đi ngược lại quan điểm sử học của Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam và của truyền thống yêu nước Việt Nam. Nếu quan điểm này được đưa vào sách giáo khoa hay quốc sử mà không được phản biện nghiêm túc, sẽ gây ra sự nhiễu loạn nhận thức lịch sử, đặc biệt đối với thế hệ trẻ.

Lịch sử cần được nhìn nhận khách quan, nhưng khách quan không đồng nghĩa với trung tính vô nguyên tắc. Trong sử học Việt Nam hiện đại, tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá nhân vật lịch sử vẫn phải là thái độ đối với độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia và lợi ích của nhân dân. Theo tiêu chuẩn đó, Gia Long không thể được xem là người “có công” đối với dân tộc Việt Nam./.
Môi trường ST.

CÂU CHUYỆN QUỐC TẾ: THẢM HOẠ CHIẾN DỊCH ĐỘT KÍCH IRAN NĂM 1980 CỦA HOA KỲ - VẪN CÒN “NÓNG HỔI” ĐẾN NGÀY NAY!

     Đám me Mẽo, giặc sử, con cháu ba sọc đang ra sức tung hô chiến dịch đột kích Caracas của đặc nhiệm Mỹ. Chúng dốt nát nên không biết rằng Trump đã phải đặt cược cả sự nghiệp vào vụ này và thực sự lo thất bại đến mất ăn mất ngủ. Sau đó mới có thể thở hắt ra mà tuyên bố “chiến dịch thành công nhất kể từ thế chiến 2 đến nay”!

Bởi, ngoài thất bại của vụ tập kích Sơn Tây năm 1970 hòng giải cứu tù binh phi công Mỹ. Thì đặc nhiệm Hoa Kỳ cũng từng thảm bại trong chiến dịch đột kích Tehran năm 1980 hòng giải cứu con tin ở ĐSQ. Cụ thể: 

CHIẾN DỊCH "GIƯƠNG VUỐT”: 

Năm 1978, Cách mạng Hồi giáo đã diễn ra ở Iran, dẫn đến sự sụp đổ của Triều đại Pahlavi. Bản thân Shah Mohammed Reza Pahlavi đã di cư cùng gia đình sang Hoa Kỳ, quốc gia mà hắn ta có mối quan hệ chư hầu, lệ thuộc.

Tuy nhiên, đại sứ quán Mỹ vẫn còn tại Tehran, và nhân viên của chúng đã bị bắt làm con tin (66 người). Chính phủ Iran mới yêu cầu Mỹ dẫn độ Pahlavi để đổi lấy những con tin. Carter, người đang trước thềm bầu cử tổng thống, không muốn từ bỏ Shah. Tuy nhiên, những con tin cần được giải phóng, nếu không sẽ không thể nói về việc tái tranh cử. Carter không muốn bắt đầu một cuộc chiến, nhưng việc giải phóng những con tin theo con đường ngoại giao là không thể.

Trong khi đó, bẩn thỉu “như người Mỹ” - George Bush Sr đã tiến hành những cuộc đàm phán bí mật với Iran để họ từ chối bàn giao con tin TRƯỚC KHI BẦU CỬ TỔNG THỐNG ở Mỹ. Đây là một trong hàng loạt các nước cờ để khiến Carter mất điểm, và tổng thống mới được bầu (Bush đã tranh và trúng cử) sẽ thực hiện một "hành động tốt đẹp" với việc đàm phán thả người sau đó. Đổi lại, Iran được hứa sẽ nhận được sự hỗ trợ về vũ khí trong trường hợp xảy ra xung đột với Iraq, bối cảnh mối quan hệ với nước này đang vô cùng căng thẳng.

Trở lại với Carter. Tình hình của ông ta không mấy tốt đẹp. Về mặt ngoại giao, những con tin không thể được giải phóng. Bắt đầu một cuộc chiến là không thể. Và sau đó, một kế hoạch giải phóng những con tin đã được đề xuất. Chiến dịch đặc biệt của lực lượng "Delta", dự kiến sẽ xâm lược nước này, cho hạ cánh một đội biệt kích, chiếm giữ một sân bay, cứu những con tin, vận chuyển họ bằng máy bay trực thăng đến sân bay nắm giữ và sơ tán bằng máy bay từ sân bay đó. Một kế hoạch tuyệt vời, phải không nào? Trên lý thuyết, chắc chắn rồi...

Tuy nhiên, mọi thứ đã sai ngay từ đầu. Do sự chuẩn bị không đầy đủ của "Delta" và những vấn đề với thiết bị, một trong tám máy bay trực thăng bay trong nhiệm vụ đã rơi xuống nước ngay sau khi vừa cất cánh từ tàu sân bay. Một máy bay khác bị mất trong cơn bão cát. Chỉ có sáu máy bay trực thăng đến được căn cứ tạm thời đầu tiên (một sân bay bị bỏ hoang của Anh) trong sa mạc.

Địa điểm hạ cánh được chọn hóa ra nằm, trái ngược với những lời bảo đảm của tình báo, bên cạnh một con đường cao tốc nhộn nhịp, khiến cho chiến dịch này bị lộ ngay từ đầu. "Delta" đã chặn một chiếc xe buýt liên thành phố chở theo hành khách, và những tay súng đặc nhiệm đã bắn nổ tung một chiếc xe bơm nhiên liệu của Iran đi qua khu vực của đường băng.

Trên một trong những máy bay trực thăng đến căn cứ, có những vấn đề về hệ thống thủy lực. Trong quá trình tiếp nhiên liệu, một trong những máy bay trực thăng đã đâm vào một chiếc máy bay tiếp nhiên liệu, và trong vụ hỏa hoạn sau đó, tám tên đặc nhiệm đã bỏ mạng và cả hai chiếc máy bay đều bị thiêu rụi, dẫn tới quyết định phải hủy bỏ chiến dịch và rời khỏi Iran ngay sau đó.
Thất bại này buộc Jimmy Carter phải rút khỏi cuộc bầu cử tổng thống. Ông ta hiểu rằng một sự sỉ nhục như vậy đã khiến ông mất đi sự nghiệp chính trị của mình.

Đây chính xác là những gì Donald Trump lo ngại. Mặc dù trong trường hợp Venezuela, đội hình “Delta" đã được chuẩn bị tốt hơn rất nhiều so với 46 năm trước và nhiều khả năng có "tay trong" làm nội gián./.
Môi trường ST.