So với pháp lệnh tín ngưỡng, tôn
giáo và văn bản hướng dẫn thi hành pháp lện, thì nội dung đăng ký sinh hoạt tôn
giáo tập trung có điểm mới, như: chủ thể dược thực hiện quyền sinh hoạt tôn
giáo tập trung giành cho không chỉ tín đồ thuộc tổ chức tôn giáo, người theo
tôn giáo thuộc tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, mà nhóm
người theo tôn giáo nhưng chưa có tổ chức, cũng được thực hiện; đăng ký sinh
hoạt tôn giáo tập trung nhằm đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của tất
cả mọi người được xem là một bước đẻ tiến tới đăng ký hoạt động tôn giáo, công
nhận tổ chức tôn giáo.
Về đăng ký hoạt động tôn giáo: Luật
quy định: để được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, tổ chức phải đáp
ứng đủ các điều kiện, đó là: có giáo lý, giáo luật, lễ nghi; có tôn chỉ, mục
đích, quy chế hoạt động không trái với quy định của pháp luật; tên của tổ chức
không trùng với tên của tổ chức tôn giáo, hoặc tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng
ký hoạt động tôn giáo, tên tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội hoặc
tên danh nhân, anh hùng dân tộc; người đại diện, người lãnh đạo là tổ chức tổ
chức là công dân Việt Nam thường trú tại Việt nam, có năng lực hành vi dân sự
đầy đủ; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh
vực tín ngưỡng, tôn giáo; không có nán tích hoặc không phải là người đang bị
buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; có địa điểm hợp pháp
để đặt trụ sở; nội dung hoạt động tôn giáo không thuộc trường hợp quy định tại
điều 5 vủa Luật.
Sau
khi được cấp chứng nhận đăng ký hoạt dộng tôn giáo, tổ chức được tổ chức các
cuộc lễ tôn giáo, sinh hoạt tôn giáo, giảng đạo, bồi dưỡng giáo lý; bổ nhiệm,
bầu cử, suy cử chức việc, sửa chữa, cải tạo trụ sở; tham gia hoạt động từ
thiện, nhân đạo; tổ chức đại hội thông qua hiến chương.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét