Trước hết cần khẳng định rằng, đất đai thuộc sở
hữu toàn dân không phải là một thuật ngữ lý thuyết, trừu tượng, không có giá trị
thực thi, không phải là sự giáo điều được du nhập từ Liên Xô vào Việt Nam như một
số ý kiến trên các trang mạng, các diễn đàn đã cố ý bóp méo, gây hiểu lầm. Quan
điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân thể hiện đúng bản chất của Nhà nước ta là
Nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Chế độ sở hữu toàn dân về đất
đai lần đầu tiên được ghi nhận trong Hiến pháp năm 1980 dựa trên cơ sở lý luận
về tính tất yếu khách quan của việc xã hội hóa đất đai. Từ đó tới nay, qua một
số lần sửa đổi Hiến pháp và sửa đổi Luật Đất đai, Đảng ta luôn kiên định quan
điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân, giao cho Nhà nước là đại diện chủ sở hữu,
thống nhất quản lý và sử dụng hiệu quả. Quan điểm này được Nhà nước thể chế hóa
trong Hiến pháp và pháp luật qua nhiều thời kỳ. Hiến pháp 2013 và Luật Đất đai
2013 đều quy định rõ vấn đề này.
Cũng có những ý kiến sai trái cho rằng sở hữu
toàn dân về đất đai khiến đất đai trở thành vô chủ, không được sử dụng hiệu quả
và không thể trở thành vốn. Thực tế thì Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản
pháp luật liên quan đã trao cho người sử dụng đất khá nhiều quyền: Sử dụng
(theo quy hoạch của Nhà nước), chuyển nhượng, thế chấp vay vốn, thừa kế, góp vốn...
Về cơ bản, người sử dụng đất ở Việt Nam đã có gần hết quyền của chủ sở hữu cho
phép họ đầu tư, sử dụng đất hiệu quả theo năng lực của họ. Một số hạn chế của
quyền chủ sở hữu mà người sử dụng đất không có là: Không được tùy ý chuyển mục
đích sử dụng đất; hạn điền; thời gian giao đất hữu hạn; phải giao lại đất cho
Nhà nước để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, mục đích công cộng. Tương
ứng với mở rộng quyền cho người sử dụng đất, quyền của cơ quan nhà nước với tư
cách đại diện cho toàn dân thống nhất quản lý đất đai trong cả nước được quy định
trên các mặt sau: Quy định mục đích sử dụng cho từng thửa đất (bằng quy hoạch,
kế hoạch sử dụng đất); thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, công nhận quyền sử
dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng và quy định thời hạn sử dụng đất;
quyết định giá đất; quyết định chính sách điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất
không phải do người sử dụng đất tạo ra. So sánh với luật đất đai của một số nước
duy trì tư hữu về đất đai, quyền của người sử dụng đất của Việt Nam cũng không
có chênh lệch đáng kể. Như vậy, không có sự khác biệt lớn về phương diện tạo
quyền tự chủ cho người sản xuất, kinh doanh sử dụng đất hiệu quả giữa chế độ sở
hữu toàn dân về đất đai của nước ta và chế độ tư hữu đất đai ở một số nước.
Về bản chất, sở hữu toàn dân về đất đai không
phải là nguồn gốc của nạn tham nhũng, tiêu cực và thực tế phức tạp hiện nay về
đất đai. Thực trạng quản lý, sử dụng đất đai đang đặt ra nhiều vấn đề phải giải
quyết bắt nguồn không phải từ bản chất vốn có của sở hữu toàn dân về đất đai,
mà bắt nguồn từ sự yếu kém kéo dài trong việc không hiện thực hóa thiết chế thực
hiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai; bắt nguồn từ hệ lụy yếu kém trong quản
lý đất đai.
Vấn đề gây bức xúc nhất hiện nay ở nước ta là ở
chất lượng, thái độ thực thi Luật Đất đai của cơ quan và công chức nhà nước
chưa tốt, tồn tại quá nhiều trường hợp lạm dụng quyền lực công phục vụ cho mục
tiêu riêng của cá nhân, của gia đình, của nhóm lợi ích. Một số trường hợp cơ
quan nhà nước thu hồi đất của dân không đúng quy định của pháp luật. Sự giàu có
bất thường của không ít đại gia kinh doanh bất động sản ở nước ta thời gian qua
có tác động từ mức chênh lệch giá quá lớn trong các dự án chuyển đổi đất nông
nghiệp thành đất đô thị và giá đất đền bù cho người có quyền sử dụng đất hợp
pháp. Tình trạng quy hoạch bị điều chỉnh tùy tiện, quy hoạch treo, tình trạng đất
thu hồi bị bỏ hoang còn người mất đất lâm vào tình trạng thất nghiệp, khó
khăn... cho thấy quản lý của Nhà nước chưa tương xứng với yêu cầu cần phải có
trong chế độ sở hữu toàn dân.
Sở hữu toàn dân về đất đai tạo điều kiện để Nhà
nước XHCN bảo vệ lợi ích của người dân tốt nhất. Những sai lầm và thiếu sót của
cơ quan nhà nước thời gian qua trong lĩnh vực đất đai không phải là bản chất của
Nhà nước XHCN và có thể sửa chữa được. Vì thế, cần tỉnh táo nhận thức rõ mưu đồ
của kẻ xấu xuyên tạc chính sách đất đai của Đảng, Nhà nước ta hòng kích động,
gây bất ổn môi trường CT-XH của nước ta. Từ đó, các cơ quan, bộ, ngành, đơn vị,
địa phương cần vận động nhân dân tích cực đóng góp ý kiến chất lượng, hiệu quả
cho dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi), kịp thời nhận diện, đấu tranh với các luồng
ý kiến sai trái./.
Trước những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm chống phá Đảng và Nhà nước ta; chúng ta cần bình tĩnh xem xét và xử lý thông tin chuẩn xác, tránh mắc mưu của chúng.
Trả lờiXóa