Những năm gần đây, các phần tử có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực
đoan ở trong và ngoài nước đã lợi dụng bản Tuyên ngôn về quyền của các dân tộc
bản địa của Liên hợp quốc để vận động các quốc gia phương Tây, các tổ chức quốc
tế công nhận ở Việt Nam có “dân tộc bản địa”. Đồng thời, kích động các dân tộc
thiểu số, đặc biệt là đồng bào Chăm, Khơme và các dân tộc thiểu số Tây Nguyên
đòi quyền tự quyết.
Thực tế đã chứng minh, Ở
Việt Nam không có “dân tộc bản địa. Thuật ngữ “dân tộc bản địa” gắn liền với
các thời kỳ nước ta bị đô hộ, xâm lược. Thời kỳ Pháp thuộc, tên nước Việt Nam
bị xóa trên bản đồ thế giới, bị chia cắt thành ba kỳ trong xứ Đông Dương thuộc
Pháp; thuật ngữ “người bản xứ” (hoặc “người bản địa”) được dùng để chỉ tất cả
các cộng đồng dân tộc Việt Nam (kể cả người Kinh và các dân tộc thiểu số). Khi
ấy, người dân nước ta không phân biệt dân tộc, tôn giáo, giàu hay nghèo, trí
thức hay lao động chân tay đều bị gọi chung bằng tên gọi miệt thị “Annammit”.
Như vậy là, khái niệm “người bản xứ” (hoặc “người bản địa”) chỉ
mới xuất hiện ở Việt Nam từ khi Việt Nam trở thành thuộc địa của chủ nghĩa thực
dân và nó chỉ tồn tại với chế độ đó.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam Dân chủ
Cộng hòa ra đời, người dân Việt Nam làm chủ đất nước của mình, không còn là
“dân bản địa” hay “bản xứ” nữa. Thay vào đó là khái niệm “quyền công dân” - là
quyền của tất cả mọi người Việt Nam, không phân biệt dân tộc thiểu số hay đa
số. Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946, Điều 6 quy
định: “Tất cả công dân Việt Nam đều ngang quyền về mọi phương diện chính trị,
kinh tế, văn hóa”.
Như vậy, có thể thấy rõ, âm mưu của các tổ chức phản động lưu
vong đòi chính phủ Việt Nam công nhận các dân tộc Chăm, Khơme và các dân tộc
thiểu số tại chỗ Tây Nguyên là “dân tộc bản địa”, không xuất phát từ lợi ích
của đồng bào các dân tộc thiểu số, mà xuất phát từ mưu đồ phá hoại khối đại
đoàn kết của các dân tộc, chia cắt sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt
Nam.
Để tăng cường đấu tranh làm thất bại âm mưu lợi dụng vấn đề dân
tộc của các thế lực thù địch, cần thực hiện tốt một số nội dung sau:
Thứ nhất, tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng
đối với công tác dân tộc, tôn giáo. Mỗi cấp ủy đảng, theo chức năng, nhiệm vụ
của mình cần làm tốt công tác lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền và cấp ủy cấp dưới
thực hiện tốt công tác dân tộc, tôn giáo. Đổi mới nội dung, phương thức tuyên
truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về dân tộc, tôn giáo. Đối với cấp xã,
vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, cần linh hoạt các phương thức tuyên truyền
phù hợp với đặc điểm về ngôn ngữ, phong tục, tập quán và điều kiện tự nhiên của
địa phương, của cộng đồng các dân tộc thiểu số(13).
Thứ hai, quan tâm đầu tư, hỗ trợ các dân tộc thiểu số, tổ chức
thực hiện sáng tạo, hiệu quả chính sách dân tộc, phù hợp với thực tiễn của từng
địa phương và từng dân tộc thiểu số. Kiện toàn, củng cố hệ thống chính trị, đặc
biệt là ở cơ sở; làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, sử dụng, bố trí hợp lý cơ
cấu cán bộ dân tộc thiểu số vào các chức danh chủ chốt ở cơ sở; phát huy vai
trò của bí thư chi bộ, trưởng dòng họ, già làng, trưởng bản, người có uy tín;
phân công cán bộ hiểu biết phong tục tập quán đồng bào về công tác ở vùng dân
tộc thiểu số.
Thứ ba, tăng cường công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực
tiễn, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ đấu tranh chống các quan điểm sai trái,
thù địch phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo.
Thứ tư, chủ động, tích cực đấu tranh ngoại giao trong các vấn đề
nhân quyền, dân tộc, tôn giáo. Chủ động lồng ghép các nội dung vận động, đấu
tranh về dân tộc, tôn giáo trong công tác đối ngoại, đặc biệt là trong các hoạt
động ngoại giao quy mô lớn và trong lộ trình thúc đẩy quan hệ ổn định, lâu dài
với các nước, các tổ chức quốc tế.
Thứ năm, tiếp tục thể chế hóa các quy định trong các công ước
quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Cụ thể, trước hết cần tiếp tục xây dựng Nhà
nước pháp quyền XHCN, thúc đẩy cải cách tư pháp, củng cố thể chế, chính sách,
pháp luật về quyền con người phù hợp với các công ước quốc tế về quyền con
người mà Việt Nam là thành viên; bảo đảm sự tham gia của người dân trong quá
trình xây dựng văn bản pháp luật.
Trong giai đoạn hiện nay, việc làm có ý nghĩa quyết định là tăng
cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy truyền thống đoàn
kết, tập trung xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở chính
trị vững mạnh và xây dựng và phát huy vai trò đội ngũ cán bộ dân tộc thiểu số;
sớm thu hẹp khoảng cách chênh lệch về các mặt giữa các dân tộc, các tầng lớp
nhân dân, giữ vững an ninh, quốc phòng ở vùng dân tộc thiểu số, xây dựng khối
đại đoàn kết dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần phát
triển đất nước bền vững theo định hướng XHCN.
Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với cấp ủy, tổ chức đảng, của cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên.
Trả lờiXóa