Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

VỮNG BƯỚC DƯỚI NGỌN CỜ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM QUANG VINH!

     Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, mở ra tương lai tươi sáng cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Sự kiện lịch sử trọng đại này là kết quả tất yếu của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở nước ta. Trải qua 96 năm xây dựng và trưởng thành (3/2/1930-3/2/2026), Đảng đã luôn giữ vững vai trò lãnh đạo, là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Với bản lĩnh chính trị vững vàng và sự trung thành tuyệt đối với lợi ích của nhân dân, Đảng đang dẫn dắt dân tộc bước vào một hành trình mới đầy khát vọng: Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam.

Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã xác định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tạo nên bước ngoặt vĩ đại chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước. Chỉ 15 năm sau ngày thành lập, Đảng đã lãnh đạo cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 thành công, đập tan xiềng xích nô lệ và khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tiếp đó, dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, dân tộc ta đã viết nên những bản hùng ca chói lọi: Chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu năm 1954 và Đại thắng mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Sau năm 1975, đất nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội với vô vàn khó khăn do hậu quả chiến tranh và sự bao vây, cấm vận. Trước thực trạng khủng hoảng kinh tế-xã hội trầm trọng, với bản lĩnh của một Đảng cách mạng, Đại hội VI (1986) đã nhìn thẳng vào sự thật, khởi xướng đường lối đổi mới toàn diện. Đây là một bước đột phá về tư duy lý luận, chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Sau gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước thiếu lương thực, chúng ta đã trở thành quốc gia xuất khẩu gạo và nhiều nông sản đứng hàng đầu thế giới, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia. Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh và Việt Nam được quốc tế đánh giá là điểm sáng trong thực hiện các Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Hệ thống chính trị và khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố. Đảng luôn quán triệt quan điểm lấy dân làm gốc, xác định nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới. Việc thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã khơi dậy mạnh mẽ nguồn lực và sự sáng tạo trong nhân dân, tạo nên sự đồng thuận xã hội cao độ.

Trên mặt trận đối ngoại, Đảng đã lãnh đạo thực hiện đường lối độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Từ một quốc gia bị bao vây, cô lập, đến nay, Việt Nam nâng tổng số quốc gia có quan hệ ngoại giao lên 195, thiết lập được mạng lưới quan hệ Đối tác chiến lược, Đối tác toàn diện với hàng chục nước. Trong đó có việc nâng tầm “gắn kết chiến lược” với nước bạn bè truyền thống, thêm 6 Đối tác chiến lược toàn diện, 9 Đối tác chiến lược và 2 Đối tác toàn diện, đưa số quốc gia có quan hệ từ mức Đối tác toàn diện lên 42, bao gồm toàn bộ các nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, các nước G7, hầu hết các nước G20. Việt Nam cũng là thành viên tích cực của hơn 70 tổ chức quốc tế.

Với thành công rực rỡ của Đại hội XIV, dân tộc Việt Nam đang đứng trước vận hội mới để bước vào kỷ nguyên vươn mình. Đây là thời kỳ phát triển bứt phá, hướng tới mục tiêu giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Để hiện thực hóa khát vọng đó, Đảng xác định ch.uyển đ.ổi s.ố là động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất mới và hoàn thiện quan hệ sản xuất. Khoa học-công nghệ và đổi mới sáng tạo được xem là “chìa khóa vàng”, là yếu tố sống còn để vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Đảng đã ban hành Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, tạo hành lang pháp lý để Việt Nam chủ động nắm bắt thành tựu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Song song với phát triển kinh tế, Đảng đặc biệt coi trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với tinh thần không có vùng cấm, không có ngoại lệ đã đạt được nhiều kết quả cụ thể, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân. Đảng kiên định các nguyên tắc xây dựng Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong bối cảnh mới. Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín là nhiệm vụ “then chốt của then chốt”. Đảng yêu cầu mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng, thực hiện tốt các chuẩn mực cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thực sự là những công bộc trung thành của nhân dân.

Chặng đường đã qua là minh chứng sống động cho bản lĩnh, trí tuệ và sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Với một quá trình nỗ lực phấn đấu kiên trì, bền bỉ và sức sáng tạo phi thường của toàn dân tộc, chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về những gì đã đạt được. Trong kỷ nguyên mới, với tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc và ý chí tự lực, tự cường, chúng ta tin tưởng tuyệt đối rằng, dưới sự lãnh đạo của Đảng quang vinh, đất nước sẽ tiếp tục cất cánh, vươn tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu./.

QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - 96 NĂM TIÊN PHONG VÌ TỔ QUỐC VÀ NHÂN DÂN!

     Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kiện trọng đại trong lịch sử cách mạng và lịch sử dân tộc Việt Nam. Chín mươi lăm năm qua, Đảng luôn toàn tâm, toàn ý, tận lực phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, sẵn sàng chấp nhận hy sinh, tổn thất, kiên cường vượt qua mọi thách thức, khó khăn, hun đúc nên “pho lịch sử bằng vàng”, mở ra các kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc. Đó là kỷ nguyên độc lập dân tộc, thống nhất non sông với chiến thắng vang dội trước chủ nghĩa phát-xít, chủ nghĩa thực dân cũ và mới; kỷ nguyên hòa bình, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đây là cơ sở vững chắc, tạo dựng niềm tin to lớn để Đảng ta tiếp tục nâng cao bản lĩnh, trí tuệ, sức chiến đấu, lãnh đạo đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới.

Nhân dịp kỷ niệm 95 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2025), đồng chí GS, TS Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có bài viết quan trọng “Đảng cộng sản Việt Nam - Tiên phong vì Tổ quốc và Nhân dân”. Nhân dịp kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3-2-1930 - 3-2-2026), chúng tôi xin trân trọng giới thiệu lại toàn văn bài viết: 

Đảng kiên cường lãnh đạo dân tộc Việt Nam thực hiện khát vọng độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội

Gần một thế kỷ trước, thế giới lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế trầm trọng. Chủ nghĩa đế quốc gia tăng áp bức, bóc lột khiến cho đời sống nhân dân lao động trên thế giới trở nên cùng cực. Mâu thuẫn giữa các dân tộc thuộc địa với chủ nghĩa thực dân ngày càng gay gắt. Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc diễn ra mạnh mẽ ở các nước thuộc địa, trong đó có nước ta. Tuy nhiên, liên tiếp các phong trào đấu tranh ở trong nước đều bị chính quyền thực dân, phong kiến đàn áp dã man. Trong bối cảnh đó, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của việc vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào thực tiễn Việt Nam, một nước thuộc địa phương Đông lạc hậu, giai cấp công nhân chưa đông; là kết quả của sự kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam; gắn liền với tư tưởng và công lao to lớn của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Đảng ra đời đã chấm dứt cuộc khủng hoảng kéo dài về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách mạng. Từ đây, cách mạng Việt Nam được đặt trong quỹ đạo cuộc cách mạng vô sản, thực hiện chân lý lớn nhất của thời đại là Độc lập dân tộc gắn liền với Chủ nghĩa xã hội, cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, giải phóng con người, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Để thực hiện mục tiêu sống còn là phải xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột của thực dân, phong kiến, trở thành một quốc gia độc lập, tiến lên xây dựng chế độ xã hội mới, ngay từ khi ra đời và liên tiếp trong 15 năm, Đảng đã phát động và tổ chức các phong trào rộng lớn: Phong trào Cách mạng 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô Viết - Nghệ Tĩnh; phong trào dân chủ 1936 - 1939 trên toàn cõi Đông Dương; phong trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945, đỉnh cao là cao trào kháng Nhật, cứu nước, trực tiếp dẫn đến thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 “long trời, lở đất”. Cho dù gặp phải vô vàn hiểm nguy, gian khổ, chịu rất nhiều tổn thất, song với sứ mệnh cao cả trước Tổ quốc và nhân dân, Đảng luôn thể hiện vai trò lãnh đạo không thể thay thế và bản lĩnh chính trị kiên cường, vì nền độc lập, tự do của dân tộc. Với bản lĩnh, trí tuệ và sức chiến đấu vô song, Đảng đã đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi kiếp lầm than, đưa nhân dân lên vị trí làm chủ đất nước, tạo ra những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và mang tính thời đại. Lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, chủ nghĩa Mác - Lênin được vận dụng sáng tạo, đưa đến thành công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc thuộc địa, lật đổ chế độ thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc và đồng thời kiến tạo nền dân chủ mới, lập nên nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là hiện thân của sức mạnh Việt Nam trong thời đại mới mà cốt lõi là sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với sự tham gia của tất cả giai tầng yêu nước. Nhân dân ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta”, đồng thời kết hợp với sức mạnh thời đại, đón bắt được thời cơ lịch sử khi chủ nghĩa phát-xít sụp đổ. Cũng từ đây, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền.

Để bảo vệ độc lập, tự do, thống nhất, xây dựng chế độ mới, trong 30 năm không ngừng nghỉ, Đảng đã dẫn dắt toàn dân tộc vượt qua nhiều tình thế hiểm nghèo, “nghìn cân treo sợi tóc”, đánh thắng các kẻ thù lớn mạnh trên thế giới. Khi vừa giành được độc lập, Đảng lãnh đạo nhân dân vừa chống “giặc đói”, “giặc dốt”, vừa chống “thù trong, giặc ngoài”. Khi cơ hội đàm phán hòa bình không còn nữa thì chủ động tiến hành cuộc kháng chiến trường kỳ, “Chín năm làm một Điện Biên. Nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng”, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đưa đến việc ký Hiệp định Giơ-ne-vơ về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình tại Đông Dương. Khi chủ nghĩa thực dân mới can thiệp, đưa quân đội vào xâm lược hòng chia cắt đất nước ta, Đảng quyết tâm lãnh đạo nhân dân cả nước bền bỉ kháng chiến, tiến hành chiến tranh cách mạng, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, đi tới Đại thắng mùa Xuân năm 1975, thống nhất non sông. Thắng lợi đó “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”.

Kỷ nguyên giành độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội (1930 - 1975) được tạo nên bởi chiến thắng vô cùng hiển hách của nhân dân ta trước chủ nghĩa phát-xít, chủ nghĩa thực dân cũ và chủ nghĩa thực dân mới. Mỗi khi cách mạng đứng trước thách thức nghiêm trọng và tình thế hiểm nghèo, thậm chí chưa có tiền lệ trong lịch sử, phải chịu tổn thất to lớn, thì khi đó sự kiên cường, bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam đã được Đảng phát huy mạnh mẽ, dẫn dắt toàn dân tộc luôn giữ vững tinh thần cách mạng tiến công bằng sức chiến đấu vô song. Cơ đồ to lớn của đất nước được mở ra với nền độc lập, thống nhất được củng cố vững chắc; chủ nghĩa xã hội bước đầu được xây dựng trong điều kiện chiến tranh và làm nhiệm vụ hậu phương lớn vẫn đạt được những thành tựu to lớn, là tiền đề cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.

Đảng lãnh đạo đất nước thực hiện thành công sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đổi mới và hội nhập

Ngay sau khi đất nước vừa được thống nhất, cách mạng Việt Nam phải đối mặt với vô vàn khó khăn, thách thức chưa từng có: Hậu quả chiến tranh rất nặng nề, phải khắc phục lâu dài; chủ quyền biên giới quốc gia bị đe dọa nghiêm trọng, phải kiên quyết bảo vệ, củng cố; các thế lực thù địch bao vây, cấm vận mọi bề, phải kiên trì đấu tranh gỡ bỏ; tư tưởng chủ quan, duy ý chí, nóng vội trong điều hành kinh tế - xã hội, cộng với những hạn chế, khuyết điểm của nền kinh tế bộc lộ ngày càng rõ, cần được đổi mới; khủng hoảng kinh tế - xã hội xuất hiện và ngày càng trầm trọng, phải nỗ lực khắc phục, vượt qua. Đây cũng là thời điểm tình hình thế giới diễn biến ngày càng bất lợi cho cách mạng Việt Nam. Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng toàn diện. Một số đảng cộng sản cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa chủ trương tiến hành công cuộc cải cách, mở cửa, cải tổ. Trước yêu cầu cấp thiết “đổi mới là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, đất nước và chế độ”, Đảng Cộng sản Việt Nam đã thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng, dũng cảm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật và nói rõ sự thật”, kiên trì tổng kết thực tiễn, vững tin ở sức mạnh của nhân dân, quả cảm dứt bỏ tư duy và cách làm không còn phù hợp, vận dụng sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước, quyết tâm khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện, tìm con đường thích hợp đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, giữ vững ổn định và phát triển đất nước. Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 hoạch định đường lối đổi mới, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong tiến trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Khi chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, niềm tin về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bị giảm sút nghiêm trọng. Với tầm cao trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng và sự nhạy bén về thời cuộc, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên định đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở vận dụng sáng tạo học thuyết Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam. Quyết tâm của Đảng thể hiện tại Đại hội VII (năm 1991), khi khẳng định dứt khoát: “Đối với nước ta, không còn con đường nào khác để có độc lập dân tộc thực sự và tự do, hạnh phúc cho nhân dân. Cần nhấn mạnh rằng đây là sự lựa chọn của chính lịch sử, sự lựa chọn đã dứt khoát từ năm 1930 với sự ra đời của Đảng ta”. Công cuộc đổi mới được tiếp tục triển khai với sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Từ đó, Việt Nam đã thu được kết quả đáng khích lệ, tạo nền tảng quan trọng để chuyển sang thời kỳ mới, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sau 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, nền kinh tế được nâng lên trình độ cao hơn, phát triển năng động. Việt Nam đã vươn lên nhóm 40 nền kinh tế hàng đầu thế giới, nhóm 20 nền kinh tế có kim ngạch thương mại lớn nhất thế giới. Quy mô nền kinh tế đất nước đã tăng hàng trăm lần so với năm đầu đổi mới. Không chỉ phá bỏ thế bị bao vây, cô lập, Việt Nam tích cực và chủ động hội nhập quốc tế, có quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, quan hệ Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với tất cả nước lớn và toàn bộ 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, là thành viên tích cực của ASEAN và hơn 70 tổ chức khu vực và quốc tế, có quan hệ với 230 thị trường tại các châu lục, là mắt xích quan trọng trong 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã có hiệu lực gắn kết với các nền kinh tế chủ chốt ở khu vực và toàn cầu. Việt Nam đã vươn lên trở thành biểu tượng hòa bình, ổn định, hiếu khách, điểm đến của nhà đầu tư và khách du lịch, bạn bè quốc tế.

Mục tiêu của Đảng phấn đấu vì hạnh phúc, ấm no của nhân dân đạt những kết quả quan trọng. Các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, y tế... đều có sự phát triển vượt bậc; phát triển văn hóa - xã hội, con người có nhiều tiến bộ; định hình ngày càng rõ nét hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Đất nước ta được Liên hợp quốc và bạn bè quốc tế xem như một điểm sáng về xóa đói, giảm nghèo, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân.

Sức mạnh tổng hợp quốc gia ngày càng được củng cố và tăng cường; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, bảo đảm vai trò quản lý hiệu quả của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ của nhân dân; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi.

Sức mạnh chính trị, tinh thần, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh được củng cố, tăng cường; làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, góp phần quan trọng vào thành công của quá trình xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc; vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định và nâng cao.

Lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được bổ sung, hoàn thiện. Đảng kiên định và không ngừng vận dụng sáng tạo lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; thường xuyên tổng kết thực tiễn, bổ sung, phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam cho phù hợp với thực tiễn phát triển từng thời kỳ. Trên cơ sở đó, Đảng dẫn dắt dân tộc ta vững vàng vượt qua mọi khó khăn, thách thức, không ngừng đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển đất nước hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của đất nước qua 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới thực sự tạo nền tảng, tạo đà cho những bước phát triển nhảy vọt cao hơn của đất nước.

Xuyên suốt tiến trình cách mạng Việt Nam, Đảng ta không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu. Trong mọi hoàn cảnh, Đảng luôn vững tin vào sự đúng đắn, tính khoa học, tinh thần bách chiến bách thắng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tin tưởng vào thắng lợi tất yếu của sự nghiệp cách mạng mà Đảng ta, nhân dân ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn. Dù trải qua nhiều bước thăng trầm, khó khăn, thách thức, Đảng luôn vững tin ở sức mạnh của nhân dân, sẵn sàng đấu tranh gian khổ vì quyền lợi của nhân dân và có phương cách tập hợp, phát huy sức mạnh của nhân dân. Có được bản lĩnh vững vàng còn nhờ Đảng ta không ngừng rèn luyện ý chí cách mạng, luôn củng cố và đổi mới tổ chức, tăng cường khối đoàn kết thống nhất trong Đảng và của toàn dân tộc. Qua các chặng đường cách mạng, Đảng kịp thời và nghiêm túc đúc kết kinh nghiệm đấu tranh, qua đó rèn luyện bản lĩnh và ý chí cách mạng cho đảng viên và quần chúng, tạo sự chủ động trước các tình huống mới, sẵn sàng đối mặt với thách thức mới. Bản lĩnh chính trị vững vàng của Đảng còn biểu hiện và có nguyên nhân từ việc Đảng luôn quan tâm tự đổi mới và chỉnh đốn, nghiêm túc nhìn nhận và kiên quyết đấu tranh với hạn chế trong việc hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối cách mạng; đấu tranh không khoan nhượng với những biểu hiện tiêu cực trong Đảng, thanh lọc khỏi hàng ngũ của Đảng những người không giữ được phẩm chất, đạo đức cách mạng và không còn nhiệt huyết đấu tranh.

Đảng lãnh đạo đất nước vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình, phát triển giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Những thành tựu to lớn đã đạt được trong 96 năm qua bắt nguồn từ con đường cách mạng đúng đắn mà Đảng ta, nhân dân ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn; từ bản lĩnh chính trị và sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng Cộng sản Việt Nam - một Đảng luôn lấy việc phục vụ nhân dân làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu, luôn trung thành tuyệt đối và vô hạn với lợi ích của dân tộc, của nhân dân; từ sức mạnh to lớn của tinh thần yêu nước, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; từ nỗ lực và quyết tâm, ý chí tự lực, tự cường, khát vọng mãnh liệt về độc lập, tự do, hạnh phúc của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam; từ sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu của bạn bè quốc tế, nhân dân thế giới đã dành cho Việt Nam.

Thành quả cách mạng vĩ đại đã đạt được còn từ sự hy sinh của hàng triệu anh hùng, liệt sĩ đã ngã xuống vì độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc Việt Nam và nghĩa vụ quốc tế cao cả; đóng góp to lớn của Nhân dân, những người đã trải bao gian lao trong lao động, sáng tạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, rất đáng trân trọng, tự hào. Đây là nguồn động lực tinh thần to lớn, đồng thời cũng đòi hỏi chúng ta sống và làm việc có trách nhiệm hơn; không được phép tự mãn với thành quả đạt được, càng không được tự cho mình quyền thụ hưởng một cách vô trách nhiệm thành quả từ sự gian lao, hy sinh của bao lớp cha anh đi trước. Chúng ta cần tiếp nối, kế thừa, phát huy, tiếp tục lan tỏa giá trị truyền thống của dân tộc và cách mạng trong bối cảnh mới.

Hiện nay, thế giới đang trong thời kỳ thay đổi có tính thời đại. Môi trường an ninh quốc tế ngày càng căng thẳng, phức tạp; cuộc đấu tranh, cạnh tranh quốc tế gay gắt; lực lượng cánh tả, lực lượng tiến bộ, phong trào xã hội chủ nghĩa tiếp tục phát triển song còn gặp khó khăn; các thế lực thù địch, phản động ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” với nhiều thủ đoạn thâm độc, tinh vi, nguy hiểm. Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sự hình thành nền kinh tế tri thức, xã hội tri thức, yêu cầu chuyển đổi mô hình kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng chất lượng, hiệu quả, có sức cạnh tranh cao… vừa tạo ra thời cơ, thuận lợi, vừa mang đến thách thức to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng gần một thế kỷ qua của Đảng ta đã chỉ ra rằng: Thời cơ không tự đến mà chủ yếu là do ta chuẩn bị sẵn sàng cho thời cơ, nhạy bén đón bắt đúng thời cơ; vượt qua thách thức chính là thời cơ lớn nhất. Bối cảnh thế giới đòi hỏi và tạo ra cơ hội để Việt Nam tiếp tục sự nghiệp đổi mới với khát vọng lớn lao hơn, bước đi vững chắc hơn, tốc độ nhanh hơn, quyết đoán đột phá mạnh mẽ hơn. Đồng thời, kỷ nguyên đổi mới, phát triển và hội nhập đã nâng cao thực lực, vị thế quốc gia và tiếp thêm khát vọng, tạo đà mạnh mẽ cho đất nước. Đây đang là thời điểm hội tụ được giá trị của dân tộc và thời đại, của truyền thống và đương đại, của vật chất và tinh thần; ý Đảng đang hòa quyện với lòng dân trong khát vọng phát triển đất nước hùng cường. Khởi điểm của kỷ nguyên mới đã đến, chậm trễ là đánh mất cơ hội phát triển. Hơn lúc nào hết, cần phát huy cao độ tinh thần “tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc”, lấy đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế trong sáng làm động lực, huy động mạnh mẽ sức dân, gắn kết chặt chẽ ý Đảng với lòng dân làm nền tảng, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên phát triển giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu, không ngừng phấn đấu, đóng góp nhiều hơn nữa vào duy trì hòa bình, ổn định, phát triển ở khu vực và trên thế giới.

Kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng, toàn Đảng, toàn dân tộc Việt Nam đang ra sức phấn đấu, quyết tâm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đến năm 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng và năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, nhân dân có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, được sống trong môi trường an ninh, an toàn, an tâm, không ai bị bỏ lại phía sau. Trước các mốc son có tính bước ngoặt này, cán bộ, đảng viên và nhân dân đang rất trông đợi, kỳ vọng lớn lao vào những quyết sách mới, mạnh mẽ và sáng suốt, mang tính đột phá của Đảng.

Kinh nghiệm lãnh đạo cách mạng gần một thế kỷ qua cũng đã chỉ rõ, chính vào thời điểm then chốt này, hơn lúc nào hết Đảng phải củng cố bản lĩnh, mài sắc trí tuệ, tăng cường sức chiến đấu để đáp ứng với yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng đặt ra. Chúng ta cần tập trung cao độ tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh; không ngừng rèn luyện bản lĩnh chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền của Đảng; kiên quyết, kiên trì phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Đảng lãnh đạo tổ chức thực hiện thật tốt những vấn đề đã và đang đặt ra, đồng thời kiến tạo không gian phát triển mới bằng việc đúc kết và kế thừa tinh hoa truyền thống, đón bắt và phát huy giá trị thời đại và vận hội mới mang tính thời đại; phải xây dựng Đảng vững mạnh và Đảng phải trở thành nhà tổ chức vĩ đại của toàn dân tộc; Đảng là đạo đức, là văn minh, là biểu tượng của trí tuệ và bản lĩnh dân tộc, đi đầu, dẫn dắt toàn dân với tinh thần dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, tiên phong đột phá.

Thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy, mỗi thắng lợi to lớn luôn mở ra một thời kỳ phát triển mới với nhiều thuận lợi, cũng đồng thời đặt ra trọng trách mới, cao hơn đối với toàn Đảng, toàn dân. Để tiếp tục tăng cường bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên vững chắc trong kỷ nguyên mới, đòi hỏi Đảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; dựa chắc vào sức mạnh của nhân dân, phát huy dân chủ, quy tụ cao độ sức mạnh của nhân dân vì mục tiêu mang lại lợi ích, hạnh phúc cho nhân dân; kết hợp và phát huy cao độ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong kỷ nguyên mới; bảo đảm giữ vững độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia trong mọi tình huống. Đồng thời, Đảng phải tăng cường bản lĩnh, ý chí và tinh thần kiên quyết hành động của từng cán bộ, đảng viên ở mỗi vị trí công tác của mình; kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, thiếu niềm tin và khát vọng phát triển,

Kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng cũng là dịp để chúng ta nhìn lại chặng đường gần một thế kỷ của cách mạng Việt Nam, nhìn lại mỗi kỷ nguyên rực rỡ mở ra cho dân tộc Việt Nam ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Niềm tự hào về Đảng quang vinh, dân tộc Việt Nam anh hùng, Bác Hồ vĩ đại luôn tiếp thêm cho mỗi cán bộ, đảng viên chúng ta ý chí lớn lao, sự đồng tâm nhất trí cùng toàn Đảng, toàn dân vững bước thành công trong kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu - Người sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh./.
---------------------------
(1) Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t. 37, tr. 471
(2) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr. 109.


QV-ST!

TÌM HIỂU GIÚP BẠN: ĐƯA SĨ QUAN QUÂN ĐỘI CHÍNH QUY VỀ CÔNG TÁC TẠI BAN CHỈ HUY QUÂN SỰ CẤP XÃ: CHỦ TRƯƠNG ĐÚNG ĐẮN, PHÙ HỢP VỚI THỰC TIỄN!

     Nhiều ý kiến đánh giá chủ trương đưa sĩ quan Quân đội chính quy về công tác tại Ban Chỉ huy Quân sự cấp xã là chủ trương đúng đắn, phù hợp với yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới.

Anh hùng Lao động Hoàng Đức Thảo, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam:

Quốc phòng vững từ cơ sở - Tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển

Việc đưa sĩ quan Quân đội chính quy về công tác tại Ban Chỉ huy Quân sự (CHQS) cấp xã là một chủ trương đúng đắn, không chỉ góp phần củng cố nền quốc phòng toàn dân vững mạnh mà còn tạo môi trường ổn định, thuận lợi cho phát triển khoa học, công nghệ và cộng đồng doanh nghiệp, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững địa phương trong tình hình mới.

Quốc phòng, an ninh vững chắc ngay từ cơ sở là điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp yên tâm đầu tư, nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng khoa học và công nghệ. Sự tham gia của sĩ quan Quân đội chính quy tại cấp xã giúp nâng cao hiệu quả quản lý, dự báo và xử lý các tình huống phát sinh, qua đó giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động đổi mới sáng tạo ở địa phương.

Bên cạnh đó, sĩ quan Quân đội được đào tạo bài bản, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm cao. Khi tham gia công tác tại Ban CHQS cấp xã, đội ngũ này không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng mà còn góp phần lan tỏa phong cách làm việc chuyên nghiệp, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng tại cơ sở. Đây là yếu tố rất quan trọng đối với việc hỗ trợ doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp khoa học và công nghệ, triển khai các dự án tại địa phương.

Trong bối cảnh chu.yển đ.ổi s.ố quốc gia, sự hiện diện của sĩ quan Quân đội tại cấp xã là điều kiện thuận lợi để thúc đẩy ứng dụng khoa học và công nghệ trong quản lý quốc phòng địa phương; phòng, chống thiên tai, cứu hộ cứu nạn, bảo đảm an ninh trật tự. Đây cũng là cơ hội để doanh nghiệp khoa học và công nghệ tham gia cung cấp giải pháp, sản phẩm công nghệ phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế - xã hội.

Tôi đề nghị các cấp, các ngành tiếp tục quan tâm hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm tạo điều kiện thuận lợi để sĩ quan Quân đội công tác lâu dài, ổn định tại cơ sở. Khuyến khích tăng cường phối hợp giữa lực lượng quân sự địa phương với cộng đồng doanh nghiệp khoa học và công nghệ trong ứng dụng công nghệ, chuy.ển đ.ổi s.ố, nâng cao hiệu quả quản lý và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Có cơ chế thí điểm các mô hình ứng dụng khoa học và công nghệ phục vụ nhiệm vụ quốc phòng ở cấp xã, qua đó phát huy tiềm năng trí tuệ và nguồn lực của doanh nghiệp trong nước.

Đại tá La Quang Mão, nguyên Tổng biên tập Báo Quốc phòng Thủ đô:

Bồi dưỡng kiến thức liên ngành cho sĩ quan Quân đội khi về địa phương làm việc

Việc đưa sĩ quan Quân đội chính quy về công tác tại Ban CHQS cấp xã là bước đi phù hợp với yêu cầu xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong tình hình mới. Chủ trương này thể hiện rõ tư duy đổi mới, chủ động, sát thực tiễn của Đảng, Nhà nước và Quân đội trong công tác quân sự, quốc phòng địa phương.

Chủ trương góp phần chuẩn hóa, chính quy hóa lực lượng quân sự địa phương, bởi sĩ quan Quân đội chính quy về cơ sở sẽ trực tiếp kèm cặp, huấn luyện, truyền thụ phương pháp công tác cho lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên, qua đó từng bước khắc phục tình trạng không đồng đều về trình độ, năng lực giữa các địa phương.

Khi sĩ quan Quân đội cùng ăn, cùng ở và làm việc cùng dân, trực tiếp tham gia xây dựng nông thôn mới, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, chăm lo an sinh xã hội…, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ càng được củng cố vững chắc trong lòng nhân dân. Qua đó, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Quân đội và nhân dân.

Ngoài ra, hiện nay các thách thức an ninh phi truyền thống đa chiều, đòi hỏi lực lượng ở cơ sở phải có tư duy tổng hợp, khả năng phối hợp liên ngành và xử lý linh hoạt. Sĩ quan được đào tạo chính quy có lợi thế rõ rệt trong yêu cầu này.

Tôi mong rằng việc bố trí sĩ quan Quân đội về Ban CHQS cấp xã phải thực sự xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ, tránh hình thức, dàn trải. Sĩ quan được lựa chọn cần có năng lực thực tiễn, kỹ năng vận động quần chúng, tinh thần gắn bó lâu dài với cơ sở, không chỉ giỏi chuyên môn quân sự mà còn am hiểu địa bàn, phong tục, tập quán, pháp luật.

Để chủ trương phát huy hiệu quả cao nhất, Nhà nước cần có cơ chế, chính sách phù hợp về nhà ở, điều kiện sinh hoạt, chế độ đãi ngộ và lộ trình phát triển lâu dài cho sĩ quan công tác tại cơ sở. Tăng cường bồi dưỡng kiến thức liên ngành về quản lý nhà nước, pháp luật, dân vận, y tế cộng đồng, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh… để sĩ quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ./.

QV-ST!