Thứ Tư, 22 tháng 7, 2020


BÀI VIẾT LỰC LƯỢNG 47 THÁNG 7 NĂM 2020

THĂM TƯỢNG ĐÀI BÁC HỒ Ở VLADIVOSTOK

 Nguyễn Văn Hà 
Năm 2019, nhân dịp đoàn công tác của Tàu 016-Quang Trung thăm xã giao và dự Lễ duyệt binh tàu quốc tế kỷ niệm 323 năm Ngày truyền thống Hải quân Liên bang Nga, chúng tôi vinh dự được tới đặt hoa tưởng niệm trước tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh tại TP. Vladivostok.
Thành phố Vladivostok cách thủ đô Moscow khoảng 9.000km, nằm trên bờ Thái Bình Dương, thuộc vùng Viễn Đông của nước Nga. Vladivostok trong tiếng Nga có nghĩa là "Người cai trị phương Đông". Khi đặt tên này, Nga Hoàng không giấu khao khát mở rộng đế chế Âu-Á rộng lớn của mình đồng thời mong muốn thành phố trở thành nơi quan trọng nhất trấn giữ phía Đông đất nước.
Công trình của tình hữu nghị
Trong hành trình bôn ba hơn 30 năm đi tìm đường cứu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không thể không nhắc tới nước Nga vĩ đại. Sau khi đọc được “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa” của Lê-nin và tìm ra con đường cứu nước, cứu dân - con đường cách mạng vô sản, Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh đã quyết tâm đến đất nước của Lê-nin để tìm hiểu sâu hơn về phong trào cộng sản. Từ năm 1923 đến 1938, Hồ Chí Minh đã 3 lần đến nước Nga và có khoảng 6 năm học tập, hoạt động tại đây.
Riêng vùng Viễn Đông xa xôi, Hồ Chí Minh cũng đã 3 lần đặt chân tới vào các năm 1924, 1927 và 1934, khi Người đang trên đường đi thực hiện nhiệm vụ quốc tế cao cả. Để ghi nhớ những dấu ấn về Người, chính quyền và người dân thành phố đã quyết định dựng tượng đài Chủ tịch Hồ Chí Minh trong vườn hoa trên phố trung tâm Borishenko. Tượng cao 2,3m, đúc bằng đồng, là tác phẩm của nhà điêu khắc nổi tiếng Piotr Chegodaev, mô tả cảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng trên bục giảng, hai tay để trên một cuốn sách đặt trang trọng trên bục đá hoa cương
Theo ông Oleg Gumenyuk, Thị trưởng TP. Vladivostok, việc xây dựng tượng đài Bác Hồ là nguyện vọng từ lâu của cộng đồng người Việt Nam tại Viễn Đông và những người bạn Nga luôn mong muốn củng cố và tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị truyền thống giữa hai nước Việt Nam-Nga.
Một sự trùng hợp thú vị, tượng đài Bác Hồ khánh thành tháng 7-2019, đúng vào dịp lần đầu tiên Hải quân Nhân dân Việt Nam cử Tàu 016-Quang Trung vượt hàng ngàn hải lý sang dự Lễ kỷ niệm 323 năm Ngày truyền thống của Hải quân Liên bang Nga. Đoàn công tác đến dâng lẵng hoa tươi thắm lên Người với sự có mặt của Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Liên bang Nga Ngô Đức Mạnh và Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Vladivostok Nguyễn Hoàng Việt cùng những người bạn Nga thân thiện, mến khách.
Khi đoàn công tác của Tàu 016 đến làm lễ, những người dân Nga đang dạo quanh vườn hoa cũng dừng chân hướng về tượng Bác để tỏ lòng tôn kính. Tổng Lãnh sự Nguyễn Hoàng Việt cho biết: Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ cống hiến trọn đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc Việt Nam, mà còn nỗ lực hết mình cho cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì lương tri, phẩm giá con người, vì hoà bình trên thế giới và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chính là người đã đặt nền móng, xây dựng nên mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai dân tộc Việt-Nga.
Hiện nay tại Vladivostok có hàng nghìn người Việt đang học tập, sinh sống và làm việc. Vladivostok cũng là thành phố ký kết hợp tác với thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng. Cô giáo Karon Elena Ivanovna, Trường Đại học Hàng hải quốc gia mang tên Đô đốc Nevelskoy chia sẻ: Trong một thời gian dài được làm việc với những học viên người Việt Nam và cũng được nghe kể nhiều về các lực lượng vũ trang của các bạn, tôi rất ấn tượng với Hải quân Việt Nam. Họ nói tiếng Nga rất tốt và có kiến thức chuyên môn cao. Tôi hy vọng trong trong tương lai sẽ thêm nhiều tàu nữa của Hải quân Việt Nam ghé thăm thành phố của chúng tôi.
Cùng xây đắp cho tương lai
Việt Nam và Nga, từ lâu đã gắn bó với nhau bởi mối tình hữu nghị bền chặt và quan hệ hợp tác tốt đẹp về nhiều mặt. Mối quan hệ đó đã được thử thách qua nhiều thập kỷ và trở thành tài sản quý báu của nhân dân hai nước. Nhân dân Việt Nam hết sức trân trọng và không bao giờ quên sự giúp đỡ to lớn của nhân dân Liên Xô trước đây, Liên bang Nga ngày nay đối với công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, cũng như xây dựng đất nước. Những năm gần đây, tình hình khu vực và thế giới có nhiều biến đổi sâu sắc, nhưng đạo lý “nhân nghĩa, thủy chung, trước sau như một” vẫn luôn là dòng chảy chính trong quan hệ hai nước.
Quan hệ quốc phòng giữa hai nước cũng đang phát triển một cách toàn diện, đi vào chiều sâu, trở thành trụ cột quan trọng trong quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt-Nga. Điều đó được thể hiện qua việc quân đội hai bên thường xuyên trao đổi đoàn các cấp nhằm tăng cường sự tin cậy về chính trị và chia sẻ các vấn đề cùng quan tâm; xây dựng và triển khai nhiều cơ chế hợp tác trong các lĩnh vực đào tạo cán bộ, hợp tác kỹ thuật quân sự, nghiên cứu khoa học... Trong khuôn khổ Năm chéo Việt-Nga 2019, hai nước đã tổ chức hơn 70 sự kiện hợp tác quốc phòng. Việt Nam đã cử 7 đội tuyển tham gia “Đại hội thể thao quân đội 2019", tham dự Hội nghị An ninh Quốc tế Moskva lần thứ VIII năm 2019, Diễn đàn Kỹ thuật Quân sự Army 2019 và nhiều sự kiện đa phương do Bộ Quốc phòng Nga tổ chức.
Hải quân Nga đã có thời gian ở Cam Ranh, để lại ấn tượng tốt đẹp cho người dân và cán bộ, chiến sĩ Hải quân Việt Nam. Tàu Hải quân Nga đã nhiều lần sang thăm Việt Nam, qua đó tăng cường sự hiểu biết và tin cậy giữa hải quân hai nước. Hợp tác hải quân là điểm sáng trong quan hệ quốc phòng Việt-Nga. Trên cơ sở “Bản Ghi nhớ giữa Bộ Quốc phòng hai nước Việt Nam và Liên bang Nga về hợp tác trong lĩnh vực hải quân" ký năm 2012, hai bên đã thiết lập cơ chế Phiên họp Nhóm công tác chung Việt-Nga để định hướng các nội dung hợp tác. Đến nay, hai bên đã tổ chức 6 phiên họp Nhóm công tác chung. Đầu tháng 12-2019, tại Cam Ranh, Khánh Hòa, Hải quân Việt Nam và Hải quân Nga đã luyện chung về tìm kiếm cứu nạn tàu ngầm với sự tham gia của tàu cứu hộ tàu ngầm thuộc Hạm đội Thái Bình Dương Nga Igor Belousov. Qua hoạt động này, Hải quân Việt Nam học hỏi thêm kinh nghiệm trong tổ chức huấn luyện thủy thủ tàu ngầm của mình.
Trong chuyến thăm Việt Nam nhân kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam (22-12-1944 - 22-12-2019), Phó Đô đốc Viktor Nhikolaevich Liina, Phó Tổng Tham mưu trưởng các Lực lượng vũ trang Liên bang Nga đã đến thăm Bộ Tư lệnh Hải quân Nhân dân Việt Nam. Ông đánh giá cao mối quan hệ của quân đội nói chung, hải quân hai nước nói riêng và khẳng định thời gian tới hải quân hai nước tiếp tục thúc đẩy hợp tác hơn nữa trên nhiều mặt.
Năm 2020, Nga và Việt Nam đang hướng tới kỷ niệm 70 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao. Vì thế, sự hợp tác giữa hai nước, dựa trên tình hữu nghị truyền thống và tình cảm chân thành sẽ tiếp tục được củng cố, vun đắp, thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Nga ngày càng phát triển.
Bài, ảnh: Vũ Hưởng - Hải quân Việt Nam
Ảnh 1: Tượng đài Bác Hồ tại Vladivostok
Ảnh 2: Đoàn công tác của Tàu 016-Quang Trung viếng tượng đài Bác Hồ tại Vladivostok







NHẬN DIỆN RÕ NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ CÔNG TÁC NHÂN SỰ TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LẦN THỨ XIII CỦA ĐẢNG
Vũ Huy Tráng

Trong thời gian gần đây trên các trang mạng nước ngoài và một số tài khoản blog, facebook cá nhân... đã chủ ý đăng tải nhiều thông tin xuyên tạc, thất thiệt và cố tình suy diễn về công tác chuẩn bị nhân sự Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta nhiệm kỳ 2021-2026. Không khó để tiếp cận các bài viết trên mạng xã hội nước ngoài tung tin đồn, suy đoán về “nhân sự tứ trụ” sẽ được Đại hội XIII của Đảng tín nhiệm tiến cử, lựa chọn. Có nghĩa, nhân sự cho các chức danh: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội đã được định sẵn một cách thiếu dân chủ, khách quan, vì lợi ích nhóm trong công tác cán bộ. Tác giả của các bài viết nêu trên “lo rằng”, sự “quy hoạch mặc định” ấy sẽ ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, nhất là gây mất đoàn kết trong Đảng, do các phe cánh bày mưu tính kế, hạ bệ lẫn nhau...
Các luận điệu hồ đồ quy chụp rằng, công tác chuẩn bị nhân sự Trung ương bị chi phối quyết định bởi “nhóm lợi ích” từ một bộ phận quan chức Trung ương, ép buộc vận hành theo một kịch bản đã được lên sẵn. Cùng với đó, các bài viết còn chủ ý bôi nhọ danh dự, đời tư và hạ thấp công trạng, đóng góp của các đồng chí lãnh đạo đương chức của Đảng, Nhà nước đối với sự nghiệp cách mạng; cố tình đưa ra các luận cứ cho thấy sự phân chia phe cánh, hình thành các đường dây đối lập trong nội bộ Đảng ở thời điểm trước và trong đại hội đảng.
Chúng ta cần nhận diện đúng đắn rằng: Những thông tin nêu trên là hòng gây nhiễu loạn tình hình nhân sự trong Đảng, cố ý bôi nhọ tình cảm đồng chí, đồng đội trong tập thể lãnh đạo của Đảng; mưu đồ hạ thấp uy tín của cán bộ lãnh đạo đương chức, vừa gây nghi kỵ, mâu thuẫn nội bộ, dẫn đến thiếu thống nhất, đoàn kết. Đây thực chất là một thủ đoạn hết sức nham hiểm, thâm độc. Bởi chính sự đoàn kết trong Đảng, đồng thuận trong xã hội là sức mạnh nội sinh để toàn đảng, toàn dân ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; cũng là bức tường thành vững chắc đập tan mọi âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử. Do vậy, không lấy gì làm khó hiểu khi các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách chống phá sự đoàn kết của Đảng ta.
Hội nghị Trung ương 12, khóa XII diễn ra thành công tốt đẹp, một lần nữa công khai rộng rãi chủ trương về công tác nhân sự Đại hội XIII của Đảng. Theo đó, việc giới thiệu quy hoạch cán bộ chiến lược được Trung ương Đảng, Bộ Chính trị khóa XII nhất quán xuyên suốt phương châm "làm từng bước, làm đến đâu chắc đến đó" với lộ trình cụ thể: Quy hoạch Ban chấp hành Trung ương trước; sau đó làm quy hoạch tập thể Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cuối cùng là quy hoạch các chức danh chủ chốt: Tổng Bí thư, Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, chứ không tiến hành cùng lúc như những nhiệm kỳ trước đây.
Như vậy, đến Hội nghị Trung ương 12, khóa XII, Trung ương chỉ mới xem xét, quyết nghị những vấn đề có tính định hướng lớn trong công tác nhân sự Ban chấp hành Trung ương; thậm chí chưa bàn, quyết nghị đến nhân sự cụ thể giới thiệu dự bầu BCH Trung ương khóa mới, nên chưa thể đưa ra phương án nhân sự cụ thể cho các chức danh lãnh đạo Đảng, Nhà nước như những kẻ hiềm khích đã và đang lớn tiếng rêu rao, suy diễn, bịa đặt. Do vậy phải tỉnh táo nhận diện rõ hơn về âm mưu, thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt của những kẻ hiểm ác; nhận biết quy luật hoạt động chống phá có tính chất chu kỳ của các thế lực thù địch với những chiêu trò đổi trắng, thay đen, không từ bất kể thủ đoạn nào. Và tất nhiên, dã tâm của những kẻ thiếu kiến thức, sự hiểu biết thực tiễn sẽ khiến những luận điệu mà chúng phơi ra dư luận trở thành những chiếc gậy tự đập vào lưng chính mình, đúng như bài học “gậy ông đập lưng ông” mà người xưa đã chỉ dạy, cảnh báo cho những kẻ cố tình đi ngược lại đạo lý, quy luật hiển nhiên.
Thực tế những chủ trương lớn về công tác cán bộ do Trung ương ban hành, hoạch định và trực tiếp lãnh đạo, nhưng việc lựa chọn “hiền tài” được vận hành đồng bộ ở mọi cấp trên cơ sở phát hiện, giới thiệu của cấp ủy, tổ chức đảng từ cấp nhỏ nhất đến cấp đảng bộ trực thuộc Trung ương. Mới đây nhất, trong bài viết định hướng công tác chuẩn bị, tổ chức đại hội đảng các cấp và phát biểu khai mạc, bế mạc Hội nghị Trung ương 12, khóa XII, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng cũng đều thẳng thắn chỉ rõ yêu cầu phải lựa chọn bằng được cán bộ đủ tiêu chuẩn cho Trung ương và phần việc đó thuộc trách nhiệm của toàn Đảng, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Trao quyền lựa chọn, giới thiệu nhân sự Trung ương cho cơ sở và đảng bộ trực thuộc; đồng thời đề cao trách nhiệm, quy trách nhiệm đối với người tiến cử, đề cử cán bộ quy hoạch chiến lược.
Với tinh thần ủy quyền và đặt niềm tin đối với các đảng bộ trực thuộc Trung ương của Ban chấp hành Trung ương đã thật sự mở ra cơ chế và điều kiện thuận lợi nhất để tất cả cấp ủy, tổ chức đảng vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao, thực hiện nghiêm túc quy trình phát hiện, giới thiệu nhân sự quy hoạch ở địa phương, cơ quan, đơn vị theo 4 bước; quy trình rà soát, thẩm tra, phê duyệt quy hoạch ở Trung ương thực hiện theo 5 bước.
Cũng tại các cơ quan, đơn vị, địa phương, hội nghị ban thường vụ, hội nghị cán bộ chủ chốt tỉnh, thành phố đều tiến hành bỏ phiếu giới thiệu nhân sự tham gia Trung ương khóa XIII. Kết quả lấy phiếu được tiến hành đúng quy trình, bảo đảm nguyên tắc với quan điểm đặc biệt coi trọng tiêu chuẩn giới thiệu vào quy hoạch, coi trọng chất lượng, không vì cơ cấu, số lượng mà hạ thấp yêu cầu.
Trung ương trao quyền và gắn trách nhiệm đối với người tiến cử, đề cử giới thiệu cán bộ đã giúp đội ngũ cán bộ chủ chốt ở nhiều cơ quan, đơn vị đề cao trách nhiệm, thực sự nêu gương, kiên quyết chống mọi biểu hiện chạy chức, chạy quyền, chạy quy hoạch; không để có sự can thiệp không đúng nguyên tắc, sai thẩm quyền, thiếu trách nhiệm, trái quy định vào công tác cán bộ, nhất là quy trình giới thiệu quy hoạch cán bộ cấp chiến lược nhiệm kỳ 2021-2026. Điều đó càng khẳng định, những thông tin bịa đặt xoay quanh vấn đề nhân sự đại hội đảng thực chất là những thủ đoạn trá hình của các thế lực thù địch và đối tượng xấu sử dụng internet, mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước, hòng chia rẽ nội bộ trong Đảng và chĩa mũi nhọn công kích vào sự kiện chính trị quan trọng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, chống phá quyết liệt đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng.
VHT.


PHÒNG CHỐNG "DIỄN BIẾN HÒA BÌNH" CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC CHÍNH TRỊ-TƯ TƯỞNG TRONG QUÂN ĐỘI TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI
Nguyễn Hồng Ký

Trước những âm mưu, thủ đoạn "DBHB" của các thế lực thù địch, Quân đội ta luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, không một chút lơi lỏng nhiệm vụ BVTQ, coi trọng QP-AN, làm vô hiệu hóa các âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch hòng "phi chính trị hóa" quân đội, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ  của Tổ quốc; bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và nhân dân; bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc công cuộc đổi mới và lợi ích quốc gia dân tộc.
Các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ và đảng viên trong quân đội đã tích cực nghiên cứu, tổng hợp, phân tích, đánh giá âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, các phần tử chống đối, cơ hội chính trị, đội lốt tôn giáo, tăng cường công tác tư tưởng, đấu tranh vạch trần luận điệu phản động, phản khoa học của các thế lực thù địch, nêu cao tinh thần cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt của chúng.
Cấp ủy, chỉ huy các cấp trong quân đội đã thường xuyên nắm chắc tình hình, chủ động phát hiện mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch; luôn quán triệt cho cán bộ, chiến sỹ hiểu rõ đặc điểm, tính chất của cuộc đấu tranh nhằm bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đường lối, quan điểm, nguyên tắc tổ chức và sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội; đề cao cảnh giác, nhận rõ kẻ thù, phân biệt đúng sai, kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi vu cáo, xuyên tạc, bịa đặt của các thế lực thù địch và quan điểm, tư tưởng sai trái, cơ hội của các thế lực phản động, bất mãn hòng phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.
Đã tổ chức chặt chẽ, nghiêm túc các đợt sinh hoạt chính trị, quán triệt, học tập các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, hoàn thành chương trình, nội dung giáo dục chính trị, giáo dục pháp luật hàng năm cho các đối tượng; đồng thời không ngừng đổi mới nội dung, hình thức, nâng cao giáo dục chính trị tại đơn vị; tổ chức tốt việc nghiên cứu các chuyên đề về âm mưu, thủ đoạn “DBHB” của các thế lực thù địch. Nhờ đó, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên đã nêu cao tinh thần cảnh giác trước mọi âm mưu, thủ đoạn xảo quyệt, thâm độc của các thế lực thù địch, tiến hành nhiều biện pháp đấu tranh phòng chống trên lĩnh vực chính trị, lý luận, văn hóa... Thông qua đó, đã từng bước củng cố nhận thức, quan điểm cho cán bộ, đảng viên và chiến sỹ; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; đồng thời tích cực đấu tranh không khoan nhượng với các quan điểm, tư tưởng phản động, sai trái vạch trần luận điệu phản động, phản khoa học của các thế lực thù địch hòng “phi chính trị hóa quân đội”, bảo vệ nền tảng tư tưởng và đường lối đổi mới, bảo vệ trận địa chính trị, tư tưởng của quân đội.
Đảng bộ Quân đội luôn quan tâm, chú trọng và có những định hướng quan trọng, kiên quyết đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu “phi chính trị hóa” của các thế lực thù địch đối với quân đội. Chủ động phòng ngừa, đấu tranh phê phán những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Đề ra nhiều chủ trương, biện pháp tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy đảng; chăm lo xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng vững mạnh về chính trị làm cơ sở.
Quân đội đã triển khai thực hiện có hiệu quả cuộc vận động xây dựng môi trường văn hóa, nâng cao một bước đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, phong phú cho bộ đội. Tập trung xây dựng, thực hiện tốt mối quan hệ cấp trên - cấp dưới, cán bộ - chiến sỹ, đồng chí-đồng đội, bộ đội với nhân dân, xây dựng người quân nhân theo tiêu chuẩn con người mới XHCN. Chú trọng củng cố, ổn định và nâng cao chất lượng hoạt động của thiết chế văn hóa cơ sở; gắn cuộc vận động “xây dựng môi trường văn hóa” trong quân đội với phong trào “toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; duy trì nền nếp ngày sinh hoạt chính trị văn hóa tinh thần ở cơ sở. Thực hiện đúng, đủ tiêu chuẩn đời sống văn hóa tinh thần cho bộ đội; khai thác có hiệu quả các phương tiện, trang thiết bị và sản phẩm văn hóa, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về đời sống tinh thần của bộ đội. Mọi hoạt động văn hóa của quân đội đều đúng với quy định của trên, luôn bảo đảm trong sạch, lành mạnh, phong phú. Chủ động trong việc đấu tranh chống ảnh hưởng của văn hóa xấu độc, tệ nạn xã hội xâm nhập vào quân đội.
Lãnh đạo, chỉ huy các cấp đã thường xuyên bám sát cơ sở, bám sát cuộc sống, hoạt động của bộ đội. Tiến hành nhiều hình thức, biện pháp tìm hiểu nắm chắc tư tưởng, dư luận của bộ đội và nhân dân trên địa bàn. Nhận định, đánh giá, phân tích định hướng chính trị - tư tưởng, thống nhất nhận thức đúng cho bộ đội theo quan điểm của Đảng và sự chỉ đạo của trên; đồng thời đề ra nhiều chủ trương, biện pháp quản lý chặt chẽ tư tưởng, mở rộng, phát huy dân chủ, giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, cũng như mọi tâm tư, nguyện vọng chính đáng của bộ đội, tạo ra sự đoàn kết, thống nhất cao trong đơn vị, góp phần củng cố và giữ vững an ninh tư tưởng, xây dựng đơn vị tuyệt đối an toàn về chính trị.
Cấp ủy các ấp trong quân đội đã tiến hành công tác giáo dục, quản lý cán bộ chặt chẽ, bao gồm quản lý tư tưởng, quản lý tổ chức, quản lý động cơ hoạt động, quản lý quan hệ xã hội, quản lý kỷ luật… Thực hiện có nền nếp công tác quy hoạch cán bộ; xây dựng và ban hành đồng bộ các chính sách để đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, trọng tâm là đánh giá cán bộ, xây dựng tiêu chuẩn cán bộ theo chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ làm cơ sở cho quy hoạch, quản lý, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng đội ngũ cán bộ. Thực hiện đúng nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý cán bộ, đồng thời đề cao trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và người đứng đầu tổ chức về công tác cán bộ. Đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên thực hiện chức trách, nhiệm vụ...
Cùng với việc giáo dục nâng cao nhận thức, lãnh đạo, chỉ huy các cấp của quân đội đã đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng; chăm lo xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, các tổ chức quần chúng vững mạnh, đơn vị vững mạnh toàn diện; đẩy mạnh cuộc đấu tranh trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, biểu hiện chia rẽ, bè phái, cục bộ, thoái hóa, biến chất, tiến hành đưa ra khỏi Đảng một số cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng. Đồng thời đề ra chương trình, kế hoạch xây dựng quân đội với những mục tiêu sát với tình hình thực tế đơn vị; tập trung xây dựng vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức; gắn chặt công tác xây dựng với bảo vệ chính trị nội bộ; làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên trong quân đội. Các tổ chức đoàn thanh niên, công đoàn, hội phụ nữ... được củng cố và kiện toàn, phương thức hoạt động được đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả.
Công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội được các cấp ủy đảng, chỉ huy trong quân đội xây dựng kế hoạch cụ thể đấu tranh với những phần tử bất mãn, tham nhũng, suy thoái về đạo đức, lối sống, cơ hội và những biểu hiện lệch lạc trái quan điểm, chủ trương của Đảng; kết hợp chặt chẽ nhiệm vụ xây dựng với bảo vệ quân đội trước những âm mưu, thủ đoạn hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, hình thành hệ thống tổ chức và hoạt động bảo vệ an ninh chính trị nội bộ từ Bộ Quốc phòng đến các đơn vị cơ sở.
Nhờ những nội dung và biện pháp trên, mà cán bộ, chiến sỹ trong quân đội đã nâng cao nhận thức, quan điểm, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; tích cực đấu tranh không khoan nhượng với các quan điểm, tư tưởng sai trái, phản động, bảo vệ nền tảng chính trị tư tưởng của Đảng. Quân đội luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, Nhà nước, chế độ, xứng đáng là công cụ bạo lực trung thành, lực lượng chính trị tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân.
  NHK.


Vài lời với anh Mai lẫn và anh A già!

Sau khi thành viên tổ thư ký và lái xe chủ tịch thành phố Hà Nội Nguyễn Đức Chung bị bắt, Nguyễn Khắc Mai  và Nguyễn Quang A lại chém gió trên RFA rằng đây là trò đánh nhau của các phe phái để giành ghế vào Trung ương, rằng đây là cuộc đấu đá nội bộ vì đại hội Đảng sắp đến...
Đúng là các cụ già rồi nên lẩm cẩm, lẫn quá, toàn nói chuyện vĩ mô. Chuyện rất đơn giản, vi phạm pháp luật thì bị bắt, 3 ông con kia chiếm đoạt tài liệu bí mật Nhà nước thì bị bắt thôi, sao các ông ngoằng sang tận Đại hội??
Mà đúng là đầu các ông nhiều đất thật, cái gì cũng gắn cho phe phái với đấu đá nội bộ. Mà toàn trò võ đoán, chẳng có cơ sở chẳng có liên quan gì đến nhau.
Nói gì, phán gì cũng phải dựa trên thực tế khách quan đã, đừng theo thuyết âm mưu. Những gì chưa rõ, thì đừng phán.
Cơ quan điều tra cũng như các cơ quan khác còn đang phải làm rõ nhiều vấn đề khác. Các ông toàn cầm đèn chạy trước ô tô, nguy hiểm lắm!
Khuyên thật. Các ông có tuổi rồi, nghĩ đơn giản đi một chút chứ cứ nghĩ phức tạp là dễ tăng xông ra đi bất thình lình lắm đấy, nhất là trong điều kiện tiết trời nắng nóng này thì coi chừng. Lúc ấy đừng bảo tại số!

TRI ÂN



      Hoà bình, độc lập, tự do, thống nhất để mọi người dân Việt Nam được sống trong hạnh phúc ấm êm, được làm chủ cuộc đời mình, được phát triển tự do, toàn diện; là môi trường, điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, đất nước cất cánh sánh vai cùng cường quốc năm châu mà chúng ta có được ngày hôm nay, đó là thành quả của cả một dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ đã đoàn kết, chung sức đồng lòng, bền gan, quyết chí, kiên cường, bất khuất chiến đấu trong cuộc trường chinh vĩ đại. Một dân tộc "Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ"; "Dù phải đốt cả dãy Trường Sơn cũng kiên quyết giành cho được độc lập"; "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi". Những câu trích dẫn trên khẳng định ý chí sắt đá của Đảng và quyết tâm của cả dân tộc. Độc lập, tự do, hoà bình, thống nhất chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ để đất nước phát triển, nhân dân được ấm no, tự do, hạnh phúc là những giá trị thiêng liêng, vì vậy các thế hệ cha anh đi trước đã không tiếc máu xương, vượt qua hy sinh gian khổ quyết giành cho được. Chiến đấu cho Tổ quốc Việt Nam trường tồn, phát triển còn khẳng định khát vọng yêu chuộng hoà, độc lập, tự do của Đảng, của nhân dân ta; đồng thời, khẳng định niềm kiêu hãnh, tự hào, tự tôn dân tộc, quyết bảo vệ phẩm giá của một quốc gia văn hiến, bất khuất, kiên cường. Sự quên mình, hy sinh của các AHLS cho nền tự do, độc lập đã góp phần làm nên cốt cách văn hoá, ý chí quật cường của người Việt Nam; điểm tựa tinh thần cho dân tộc tự hào tiến lên.
       Cái giá để có hoà bình, độc lập, tự do, Tổ quốc thống nhất là lớn lắm, có được không hề đơn giản. Theo dòng lịch sử từ năm 1945 đến nay, dân tộc ta đã phải trải qua 2 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược cùng bè lũ tay sai để thoát khỏi ách nô dịch của ngoại bang; rồi tiếp đến các cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới ở 2 đầu đất nước, đã có  hơn 2 triệu chiến sĩ cách mạng, bộ đội, dân quân tự vệ, du kích, cùng các thanh niên xung phong, dân công hoả tuyến đã anh dũng hy sinh; khoảng 1 triệu người đã để lại một phần thân thể nơi chiến trường; hàng triệu người dân bị tàn sát bởi bom đạn, chất độc và bị giết chóc bởi sự khủng bố, đàn áp dã man, tàn khốc của kẻ thù. Biết bao gia đình con mất cha, bố mẹ mất con, vợ mất chồng, ông bà mất cháu, anh chị em phải mất nhau mãi mãi. Rất nhiều người lính vĩnh viễn nằm lại nơi góc rừng, bên bờ suối, dòng sông và hoà trong đại dương bao la khi tuổi đời mới mười tám, đôi mươi; những người may mắn trở về mang trên minh thương tật và di chứng suốt đời. Các anh, các chị đã ngã xuống, máu xương đã hoá thân thành sông núi, cho đất nước bình yên, cho Tổ quốc trường tồn.
       Để có thành quả là hoà bình, độc lập, tự do, non sông thống nhất là những cuộc hành trình đầy máu và nước mắt, gian lao mà anh dũng của cả một dân tộc anh hùng. Hành trình thoát khỏi ách nô lệ, ngục tù gần 100 năm dưới ách cai trị của người Tây là chặng đường đi suốt 5 châu, bốn biển tìm đường cứu nước, cứu dân của lãnh tụ Hồ Chí Minh, là cả 15 năm đấu tranh gan góc, không quản ngại gian khổ hy sinh, quyết giành độc lập cho dân tộc để làm nên CM Tháng 8, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (nay là nước CHXHCN Việt Nam); cần đến 9 năm trường kỳ kháng chiến để đi đến làm nên một "Điện Biên chấn động địa cầu" buộc thực dân Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán để ký kết Hiệp định Giơ ne vơ năm 1954, lập lại hoà bình ở Đông Dương, chấm dứt sự đô hộ của người Pháp trên đất nước ta. Ngày nay, hành trình từ Hà Nội vào tp Hồ Chí Minh (Sài Gòn xưa) đi bằng máy bay chỉ hết 2 giờ, bằng tầu hoả 32 giờ, bằng ô tô hết 38 giờ, nhưng để có được hành trình non sông liền một dải, Tổ quốc được thống nhất thì cả dân tộc đã phải chiến đấu với tên đế quốc khổng lồ là Mỹ và bè lũ tay sai nguỵ quân, nguỵ quyền ròng rã suốt 21 năm, bắt đầu từ năm 1954 đến tận 30/4/1975 mới tới được dinh Độc Lập, làm nên Đại thắng mùa Xuân 1975. Thực hiện hành trình khát vọng đó, biết bao nhiêu AHLS đã ngã xuống, máu đào của các thế hệ cha anh nhuộn thắm lá cờ Tổ quốc, viết lên khúc tráng ca về một Việt Nam kiên cường, bất khuất và anh dũng vô song.
       Ngày nay, chiến tranh đã lùi xa nhường chỗ cho hoà bình, tự do hiện hữu và phát triển đất nước, nhưng những đau thương mất mát và di chứng của chiến tranh để lại thì chẳng thể nguôi ngoai. Hằng năm, ngày TBLS 27/7 đã trở thành dịp để toàn dân tưởng nhớ, tri ân và trân trọng máu xương, công lao của các liệt sĩ, thương bệnh binh, bà mẹ Việt Nam anh hùng và những người có công với cách mạng. Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi, quan tâm cả về vật chất lẫn tinh thần với người có công cũng như gia đình và con em của họ cũng chỉ có thể làm vơi nỗi đau, bù lấp phần nào những cống hiến, hy sinh cho giang sơn đất nước.
       Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã từng căn dặn: "Ăn quả nhớ người trồng cây. Trong cuộc tưng bừng vui vẻ hôm nay, chúng ta phải nhớ đến những anh hùng, liệt sĩ của Đảng ta, của dân ta. Máu đào của các liệt sĩ đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước nở hoa độc lập, kết trái tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ để vượt tất cả khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ chuyển lại cho chúng ta".
       Thật xúc động nhân dịp Kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (03/92/1930-03/02/2020) được nghe một cựu chiến binh, người từng vào sinh ra tử trên các chiến trường bộc bạch trên chương trình phát sóng của VTV với những lời tâm huyết trong nước mắt vì nhớ thương đồng bào, đồng đội, đồng chí đã ngã xuống "cho đất nước nở hoa độc lập, kết trái tự do": "Tự do, hoà bình không phải dễ, có được bây giờ cố gắng mà giữ". Phải là những người trong cuộc, trực tiếp chiến đấu, đối mặt với sống chết, nhìn thấy bom rơi máu chảy, chứng kiến đồng bào bị giặc sát hại, nuốt nước mắt chôn cất đồng đội mới thực sự thấy hết ý nghĩa của hoà bình, tự do, độc lập.
       Để hiểu thêm về giá trị của hoà bình, độc lập, tự do, thống nhất những người con đất Việt hãy dành thời gian để một lần đến với nhà từ Côn Đảo, Phú Quốc - địa ngục của trần gian, đến với di tích nhà tù Hoả Lò, khám Chí Hoà hay Bảo tàng Chứng tích chiến tranh, rồi Mỹ Lai, Sơn Mỹ, Điện Bàn và nhiều địa danh khác mới thấy rõ sự man rợ, độc ác, tàn bạo đến tột cùng của những kẻ xâm lược là TD Pháp, ĐQ Mỹ và bè lũ tay sai nguỵ. Đến với Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn, Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Đường 9, Nghĩa trang Ngã ba Đồng Lộc, Nghĩa trang Liệt sĩ Điện Biên, Nghĩa trang Liệt sĩ Vị Xuyên - Hà Giang hay đến với Thành cổ Quang Trị, xuôi dòng Thạch Hãn hay vô vàn các nghĩa trang liệt sĩ trên cả nước, đứng trước hàng ngàn ngôi mộ, lần theo từng hàng tên, tôi tin rằng, mỗi người Việt Nam sẽ nhận ra những gì mình biết về cuộc chiến tranh chính nghĩa của dân tộc còn quá ít ỏi so với sự hy sinh, cống hiến  lớn lao mà lớp lớp cha anh đã nếm trải và ngã xuống cho hoà bình, độc lập, tự do của Tổ quốc, cho cuộc sống không còn kiếp ngựa trâu, nhân dân được hưởng hoà bình, hạnh phúc, làm chủ đời mình. Hãy đến những nơi ấy để thấy tình yêu đất nước được nhân lên, để anh linh các AHLS và hào khí non sông tiếp thêm nguồn năng lượng cho mỗi chúng ta tự nhủ bản thân mình không được phép lãng quên quá khứ, không được phép xoá nhoà lịch sử, càng không được để những hy sinh, công sức của các AHLS và các thế hệ đi trước uổng phí, cần có trách nhiệm sống tốt hơn, kế tục, phát triển thành quả cách mạng sao cho xứng đáng để đất nước Việt Nam hôm nay và mai sau luôn nở hoa.
       Nhắc lại quá khứ, ôn lại lịch sử, tưởng nhớ các AHLS đã ngã xuống cho mảnh đất quê hương không phải là gợi lại nỗi đau thương mà là để cả dân tộc cùng đoàn kết, vững vàng tiếp bước. Bên cạnh đó, còn là góp tiếng nói để ai chưa hiểu sẽ thấu tỏ hơn, chung tay, đồng sức ngăn chặn âm mưu nguỵ sử, lật sử của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị và cũng là để cảnh tỉnh số người có trách nhiệm biên soạn các bộ chính sử của nước nhà không thể xuyên tạc sự thật lịch sử, không được phép dẫm đạp lên xương máu, công sức của ông cha. Các nhà biên soạn bộ chính sử về lịch sử của dân tộc, giai đoạn 1945-1975 không hiểu vì lý do gì, bị sự lôi kéo, dẫn dụ của thế lực nào mà cam tâm đã bỏ, không dùng từ "nguỵ quân", "nguỵ quyền" như cách dùng các từ này từ trước tới nay. Họ nguỵ biện rằng, bỏ các từ "nguỵ" này là thể hiện sự hoà hợp, hoà giải dân tộc, là cách gọi khách quan, xoá bỏ hận thù giữa người Việt với nhau, tạo ra sự đoàn kết nhân ái trong cộng đồng... Thật là cái bẫy ranh ma của những con cáo nhưng hết sức trơ tráo, lộ liễu. Thử hỏi các nhà Sử học đảm nhiệm trọng trách soạn sử quốc gia có thấy khách hay là sự chủ quan cố ý sắp đặt để bẻ cong lịch sử. Thực tế, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ đã xâm lược nước ta, nô dịch dân tộc Việt Nam, để nối dài cánh tay cai trị, áp bức, bóc lột và chém giết, chúng đã dựng lên bộ máy chính quyền bù nhìn và một đội quân tay sai giết thuê, chém mướn. Lũ tay sai này, táng tận lương tâm bán mình cho quỷ dữ, bán nước, hại dân, phản bội lại giang sơn xã tắc, giống nòi để kiếm sống. Chúng đã theo giặc và bán mình cho giặc thì đích thị chúng là giặc. Do đó, cách gọi chính xác, ngắn gọn, dễ hiểu của cái gọi là "Chính phủ Quốc gia" của Bảo Đại, "Chính thể Việt Nam cộng hoà" là "nguỵ quyền" và "Quân đội Quốc gia" của Bảo Đại, "Quân đội Việt Nam Cộng hoà" của Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Dương Văn Minh mới là chân lý khách quan, khoa học, chỉ rõ bản chất phi nghĩa, bù nhìn tay sai, bán nước của chúng. Bỏ từ "nguỵ quyền" thay bằng "Chính quyền Sài Gòn" hay "Chính quyền Việt Nam Cộng hoà", rồi bỏ từ "nguỵ quân" thay bằng "Quân đội Sài Gòn" hay "Quân lực Việt Nam Cộng hoà" chính tiếp tay, đồng loã  cho mưu toan lật sử. Các thế lực thù địch, phản động, những kẻ phản bội, cơ hội chính trị đang mong chờ và tìm mọi cơ hội để thực hiện điều đó. Làm như vậy, họ đã đặt ngang hàng nguỵ quyền với nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nguỵ quân với Quân đội nhân dân Việt Nam, xoá nhoà ranh giới địch - ta, chính - tà, đổi trắng thay đen; dần đi tới không có chiến tranh giải phóng dân tộc, không có chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp và ĐQ Mỹ, chỉ có "nội chiến nồi da xáo thịt". Nếu bỏ từ "nguỵ quân", "nguỵ quyền" và âm mưu "lật sử" như vậy, cả sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc giành hoà bình, độc lập, tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN với sự hy sinh, mất mát vô bờ bến mà các anh hùng liệt sĩ, thương bệnh bình và các thế hệ cha anh đã thực hiện là vô ích, thậm chí có thể bị xuyên tạc là phi nghĩa. Hãy dập tắt đốm lửa tàn với âm mưu lật sử này trước khi nó có thể thiếu cháy cả thành quả cách mạng và tương lai dân tộc. Bác Hồ đã từng nhắc nhở: "Dân ta phải biết sử ta, cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam", những bộ chính sử mà bóp méo sự thật thì thử hỏi thế hệ trẻ, tương lai của đất nước sẽ hiểu sao cho đúng được mà tự hào và có trách nhiệm kế tục? Làm thế là có tội, làm thế là vô ơn và phỉ báng các giá trị của hoà bình, độc lập, tự do, thống nhất. Phải trả lại đúng sự thật lịch sử vẻ vang, hào hùng của dân tộc thì anh linh của AHLS, các thế hệ tiền bối và lớp lớp cha anh đã ngã xuống cho đất nước cây hoà bình, độc lập nở hoa, kết trái tự do, hạnh phúc được thanh thản ngậm cười nơi chín suối.
       Có thể nói, di nguyện của các AHLS và tâm nguyện của các thế hệ cha anh đi trước muốn gửi gắm các thế hệ tiếp nối không phải là để được  tri ân thắp hương, dâng nến, cầu siêu... hay biết ơn những công lao và sự hi sinh, cống hiến của các AHLS, người có công với cách mạng mà còn phải biết trân trọng, giữ gìn, bảo vệ những giá trị bất hủ là hoà bình, độc lập, tự do và thành quả cách mạng cùng chế độ xã hội  đã có được trường tồn; đồng thời, có trách nhiệm đóng góp sức lực, trí tuệ vào công cuộc xây dựng đất nước phát triển cường thịnh về kinh tế, văn minh về văn hoá - xã hội theo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh. Đó mới thực sự là sự tri ân xứng đáng, sự tiếp nhận, kế thừa và phát triển vững chắc sự nghiệp cách mạng mà các AHLS, các thế hệ cha anh đi trước, các bậc tiền bối cách mạng đã chuyển lại cho chúng ta. Bởi, dân tộc Việt Nam đánh giặc, giải phóng quê hương đất nước, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc vì hoà bình, tự do, độc lập thì bây giờ phải giữ bằng được các giá trị ấy cho nhân dân, từ đó mới có môi trường, điều kiện cần thiết cho đất nước phát triển.
       Cũng trong những ngày Tháng 7 này, tôi may mắn được cùng các cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 325/QĐ2 hành quân về các xã vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc còn nhiều khó khăn của tỉnh Bắc Giang để làm công tác dân vận, đồng thời tham gia chương trình: "Quân đội chung sức xây dựng nông thôn mới", "Xoá đói giảm nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau". Một trong những hoạt động trọng tâm mà đơn vị phối hợp với cấp uỷ, chính quyền, đoàn thể và nhân dân địa phương là tổ chức các hoạt động tri ân các AHLS, thương bệnh binh, người có công với cách mạng, Bà mẹ Việt Nam anh hùng; thăm khám chữa bệnh, phát thuốc miễn phí, tặng quà cho nhân dân và các gia đình TBLS, đối tượng chính sách; tuyên truyền về ý nghĩa ngày TBLS 27/7 và các chính sách ưu đãi của Đảng, Nhà nước đối với những người có công, cùng gia đình và con em của họ; sửa chữa, tôn tạo nghĩa trang liệt sĩ và tham gia viếng, thắp nến tri ân AHLS tại các nghĩa trang, đài tưởng niệm trên địa bàn. Với những việc làm thiết thực, hiệu quả, cán bộ chiến sĩ Sư đoàn 325/QĐ2 làm nổi bật hình ảnh cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ" trong lòng nhân dân, tô thắm thêm truyền thống của Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng. Một đội quân từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, kiên cường, anh dũng, bất khuất, không sợ hy sinh, gian khổ trong chiến tranh giải phóng để giành độc lập, tự do, hoà bình cho dân, cho nước và ngày nay, tiếp bước các thế hệ cha anh đi trước và sự nghiệp cách mạng mà các AHLS đã chuyển lại, ra sức xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đó mới là sự tri ân tuyệt vời nhất với những hy sinh, mất mát và công lao vô bờ bến của các AHLS, thương bệnh binh cho dân tộc Việt Nam./.
    ST
                                             

CÓ 8 CÁCH BẢO MẬT AN NINH MẠNG CHO MÁY TÍNH, PC, LAPTOP


có 8 CÁCH BẢO MẬT AN NINH MẠNG CHO MÁY TÍNH, PC, LAPTOP
Trong thời đại bùng nổ kỹ thuật số, An ninh mạng máy tính (Secure Computer Network) luôn là điều cần thiết vì các hacker ngày càng nguy hiểm, phương thức tấn công mạng máy tính ngày càng đa dạng. Làm thế nào để bảo mật máy tính, an ninh mạng cho hệ thống máy tính, hãy cùng nghe các chuyên gia an ninh mạng SecurityBox chia sẻ.

Có 8 cách bảo mật an ninh mạng máy tính như sau:
1. Nâng cấp hệ điều hành
– Hãy nâng cấp hệ điều hành của bạn nếu như hệ điều hành đó đã ra đời từ quá lâu, bên cạnh đó cập nhật những bản update win, driver cho máy tính là sự cần thiết.
– Bạn còn nhớ windows XP chứ ? Ra đời cách đây hơn 1 thập niên, chính xác là 16 năm kể từ ngày 24 tháng 8 năm 2011, nếu bạn vẫn còn đang sử dụng windows XP thì rất có thể máy tính của bạn sẽ bị hacker tấn công đấy. Trên thực tế, các trường học, các doanh nghiệp vẫn còn đang dùng windows XP và tất nhiên việc mất dữ liệu, xem lén chương trình,…. là rất dễ xảy ra nếu tin tặc tấn công
 2. Sử dụng các điểm mạng không dây mã hóa
– Để bảo mật an ninh mạng cho máy tính, laptop xách tay bạn nên sử dụng một hệ thống mạng đã được mật mã hóa. Từ đó, thông tin dữ liệu về mạng sẽ được mã hóa và không ai có thể hack, xâm nhập tài khoản của bạn. Đồng thời, bảo mật tài khoản bằng phương pháp mã hóa cũng là giải pháp đảm bảo an ninh mạng toàn diện cho hệ thống
3. Theo dõi người dùng và thiết bị
- Thiết bị IoT đang là xu hướng tấn công của các hacker
– Việc cài đặt hệ thống thiết bị giám sát và cảnh báo về an ninh mạng trên các thiết bị IoT như di động, laptop..đã và đang được áp dụng ngày càng rộng rãi.
– Giả sử như để đảm bảo an ninh mạng máy tính (PC) và người dùng ở phần login trên trang đăng nhập wordpress. Nếu có ai đó đang cố tình thâm nhập vào tài khoản của bạn, bạn sẽ nhận được thông báo theo dõi.
– Bên cạnh đó việc giám sát tình hình an ninh mạng cho tổ chức, công ty, tổ chức của mình là rất cần thiết
4. Sử dụng WPA2
– Trên thực tế, bảo mật wifi cá nhân bằng cách mã hóa WEP hoàn toàn không tốt chút nào, ngay cả WPA vượt trội cũng dễ dàng xâm nhập nếu sử dụng mật khẩu ngắn.
– Nhiều mạng lưới kinh doanh nhỏ dựa vào các ISP của họ cho dịch vụ DNS (Domain Name System), cho phép bạn truy cập các trang web và các tài nguyên trên internet như smallbusinesscomputing[.]com chứ không phải là địa chỉ IP không rõ ràng. Sử dụng dịch vụ DNS của bên thứ ba chẳng hạn như OpenDNS, hiệu suất web sẽ nhanh hơn và bảo mật hơn
5. Bảo mật máy tính và an ninh mạng cho laptop bằng cách vô hiệu hóa quản trị, điều khiển từ xa:
– Hầu hết tất cả các bộ định tuyến cung cấp tính năng quản trị từ xa cho phép bạn đăng nhập để xem hoặc sửa đổi các thiết lập mạng từ Internet. Để tránh người bên ngoài trái phép truy cập vào hệ thống an ninh mạng máy tính của bạn, bạn nên vô hiệu hóa quản trị từ xa.
6. Sử dụng mật khẩu mạnh
Bảo mật mạng máy tính bằng mật khẩu mạnh là điều tất yếu mà ai cũng phải biết. Thông thường, mật khẩu mạnh đảm bảo yêu cầu này: Mật khẩu phải có ít nhất tám ký tự, với chữ hoa, số và / hoặc ký tự. Hầu hết các trang web đã được bảo mật bằng giao thức https sẽ yêu cầu người dùng đặt mật khẩu như trên. Nhưng lưu ý, bạn đừng để mật khẩu hay tên đăng nhập quá dễ là số điện thoại, tên mình là được.
7. Update những chương trình, phần mềm thường xuyên
– Hãy chắc chắn với SecurityBox rằng các phần mềm, ứng dụng trên máy tính của bạn cần được cập nhật bản update thường xuyên thì mạng máy tính mới bảo mật tốt được.
– Nếu như bạn đã tắt tính năng update hoặc chương trình từ bên thứ 3 không nhắc bạn thì bạn cần thường xuyên kiểm tra bản vá, bản cập nhật theo chu kỳ thời gian.
8. Không sử dụng những phần mềm, ứng dụng, chương trình lạ hoặc không rõ nguồn gốc
– Trong những năm gần đây (kể từ năm 2015) với sự bùng nổ của thiết bị IoT, nhiều máy tính đã bị nhiễm virus, mã độc khi tải các phần mềm về máy.
– Để bảo vệ an ninh mạng máy tính laptop, PC hay nói cách khác là bảo mật máy tính, bạn không nên tải, cài đặt những phần mềm, chương trình không rõ nguồn gốc.



Vì sao Mỹ thay đổi lập trường về Biển Đông?


Theo một số chuyên gia về an ninh châu Á-Thái Bình Dương, Mỹ mới đây từ bỏ chính sách tiêu chuẩn của mình về biển Đông để gần gũi các nước Đông Nam Á hơn, có lợi cho chiến dịch tái tranh cử của Tổng thống Donald Trump…
Trao đổi với Tiền Phong, GS Carlyle Thayer (Đại học New South Wales, Học viện Quốc phòng Úc), cho rằng, với tuyên bố ngày 13/7 của Ngoại trưởng Mỹ Mike Pompeo về lập trường của Mỹ đối với các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc trên biển Đông, Mỹ đã từ bỏ chính sách không chọn phe trong vấn đề tranh chấp chủ quyền. Mỹ chuyển sang hoàn toàn ủng hộ phán quyết của Tòa Trọng tài về vụ Philippines kiện Trung Quốc, tuyên bố rằng, các yêu sách của Trung Quốc đối với các nguồn tài nguyên ngoài khơi “trên hầu hết biển Đông là hoàn toàn phi pháp”.
Giới quan sát cho rằng, phát biểu mạnh mẽ của Ngoại trưởng Mỹ, nhất là việc ủng hộ tuyên bố chủ quyền của các quốc gia Đông Nam Á đối với vùng đặc quyền kinh tế của họ sẽ dẫn tới tác động cân bằng chống lại Trung Quốc. PGS Li Mingjiang (Trường Nghiên cứu quốc tế S. Rajaratnam ở Singapore) cho rằng, lập trường mạnh mẽ của Mỹ có thể giúp thay đổi yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc cũng như ngăn quân đội Trung Quốc thiết lập vị trí thượng phong ở biển Đông.
Tuy nhiên, một chuyên gia khác ở Singapore, ông Eduardo Araral (Trường Chính sách công Lý Quang Diệu) cho rằng, vấn đề chủ quyền đối với các đảo, bãi ngầm ở biển Đông và sự cạnh tranh giành quyền thăm dò, khai thác các nguồn tài nguyên trong lòng biển, đặc biệt dầu khí sẽ không giải quyết được. “Không nước nào sẽ rút lại các tuyên bố chủ quyền của mình”, dù có sự thay đổi chính sách của Mỹ, ông Araral nhận định.
Theo GS Thayer, có hai lý do để Mỹ thay đổi chính sách vào thời điểm hiện nay. Thứ nhất, chính quyền của Tổng thống Donald Trump đang coi chống Trung Quốc là chủ đề chính trong cuộc bầu cử tổng thống vào tháng 11. Trước đó, Mỹ chống Trung Quốc về các chính sách thương mại, sự can thiệp vào vấn đề nội bộ Hong Kong, cách xử lý đại dịch COVID-19. Giờ đây, Mỹ chống Trung Quốc cả về việc nước này bắt nạt, đe dọa các quốc gia ven biển Đông. Thứ hai, Mỹ đã chỉ đích danh việc bắt nạt và hăm dọa của Trung Quốc đối với các quốc gia ven biển, đặc biệt là đối với hoạt động thăm dò, khai thác dầu khí của họ.
Chính quyền Trump đã tăng cường sự hiện diện hải quân và không quân tại biển Đông thông qua việc gia tăng tuần tra tự do hàng hải và các cuộc tuần tra hiện diện khác trong năm nay. Điều này đã được chứng minh bằng việc Mỹ điều hai tàu chiến tới vùng biển Malaysia để chống lại hoạt động của một tàu khảo sát Trung Quốc, và để hai nhóm tác chiến tàu sân bay tập trận.
Theo GS Thayer, tuyên bố ngày 13/7 của Ngoại trưởng Pompeo được thiết kế để tạo lý do pháp lý cho các hành động của Mỹ và để căn chỉnh cho Mỹ gần hơn với Philippines, Việt Nam, Malaysia, Brunei và Indonesia. “Các quốc gia ven biển sẽ phải xác định mức độ hợp tác với Mỹ để đẩy lùi các đội tàu cá, dân quân biển và hải cảnh Trung Quốc hoạt động trong vùng đặc quyền kinh tế của họ. Một số nước có thể lo ngại rằng việc sát cánh với Mỹ sẽ dẫn tới việc Trung Quốc gây sức ép với họ”, ông Thayer nhận định.
Theo giới quan sát, một khi đại dịch toàn cầu COVID-19 được khống chế, kinh tế toàn cầu sẽ hồi phục, các nước Đông Nam Á sẽ lại có mức tăng trưởng kinh tế cao hàng đầu thế giới. “Vì Việt Nam tăng trưởng mạnh hơn nhiều nước khác về kinh tế, mức độ ảnh hưởng về ngoại giao, chính trị của nước này cũng cao hơn. Mỹ sẽ phản ứng bằng cách làm việc chặt chẽ hơn với Việt Nam trong nhiều vấn đề khu vực và toàn cầu hơn”, GS Thayer nhận định.


Ở PHƯƠNG TÂY THÌ KHÔNG CÓ THAM NHŨNG?


Một trong những luận điểm thường được các đối tượng phản động sử dụng, ấy là phương Tây thì không có tham nhũng, do tham nhũng chỉ nảy sinh ở các quốc gia theo thể chế “độc đảng”, như Việt Nam hay Trung Quốc. Rằng sự cạnh tranh giữa các đảng giúp các đảng phái “trong sạch” và “minh bạch” hơn.
Có thể sự thật lại đơn giản như vậy?
Một điều hiển nhiên, nếu hành động ăn trộm được coi là hợp pháp, thì kẻ trộm sẽ không bị coi là kẻ trộm.
Tương tự như vậy, nếu hành vi tham nhũng được hợp pháp hóa, thì sẽ chẳng có tham nhũng nữa, thật dễ dàng!
Những trò “chạy giấy tờ”, “chạy dự án”…của các doanh nghiệp Việt Nam, bị xem là phạm pháp ở Việt Nam, thì khi đặt vào các nước phương Tây, chúng lại được xem như hợp pháp, và quy mô giữa thì không thể so sánh nổi. Ở trời Tây, chúng được gọi với các tên mỹ miều, “Vận động hành lang – Lobby”.
Tham nhũng ở nhiều nước phát triển được thực hiện một cách tinh vi dưới những vỏ bọc hợp pháp với danh nghĩa lobby. Đó là việc gián tiếp đưa hối lộ bằng nhiều hình thức hợp pháp như thông qua việc quyên góp, ủng hộ quỹ cho các chiến dịch của các chính trị gia, các nghị sĩ… Tổ chức minh bạch đã lên tiếng cảnh báo về thực trạng vận động hành lang đã thao túng các quyết sách của giới lãnh đạo châu Âu, dẫn đến tình trạng tham nhũng nghiêm trọng trong giới lãnh đạo. Nhưng khó có thể trừng phạt các hình thức tham nhũng chính sách nếu châu Âu không cải cách luật vận động hành lang, do đây là hoạt động được coi là hợp pháp.
Người ta dùng nhiều lí do để bao bọc cho cái sự lobby này, rằng nó mang lại nhiều lợi ích cho nền dân chủ: Các cá nhân và tổ chức, thông qua lobby, có thể góp phần hợp lý vào các quyết định chính trị vốn dĩ có thể ảnh hưởng tới họ và trong nhiều trường hợp là tới cả xã hội. Còn chính quyền thì nhờ có lobby mà tiếp cận được với các luồng thông tin và quan điểm từ xã hội.
Nhưng nhìn đến tận cùng, cái gì có thể tác động đến các chính trị gia, những người làm luật, những người hành pháp? Còn gì hơn ngoài “danh” và “lợi”? Và ai có thể mang đến nhiều danh và lợi hơn những công ty đa quốc gia, những tập đoàn tài chính tư bản lớn, những nhà thầu quân sự giá trị hàng trăm tỷ đô – la? Nói đến cho cùng, vẫn là tiền tài động nhân tâm, mọi thứ được diễn ra theo ý đồ của những ông trùm tư bản, các quyết sách được viết ra vì phù hợp với lợi ích của giới nhà giàu, và nếu may mắn, một ít lợi ích đó sẽ rơi xuống cho quần chúng nhân dân ở dưới đáy.
Và việc 1 tổ chức, 1 cá nhân có thể làm thay đổi các chính sách bằng cách dùng lợi ích đánh động các chính khách, đó không phải là tham nhũng hay sao? Chỉ khác nhau về tên gọi mà thôi, bản chất sự việc không hề thay đổi. Vậy mà nói ở Tây thì không nham nhũng!
Vì chẳng có vụ tham nhũng nào khi tham nhũng được coi là hợp pháp!

LÀM TRONG SẠCH BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN: Học từ người xưa!

Cách đây hơn một ngàn năm, nhà nước phong kiến triều Lý (1009-1225) đã đề ra những quy định khắt khe và rất cụ thể để ngăn ngừa và trừng trị hành vi tham ô, ăn trộm của công của quan lại. Đối với việc thu thuế, các quan nha, thư lại ở lĩnh vực này cùng với mười phần phải đóng vào kho triều đình, họ được thu riêng một phần gọi là “hoành đầu”. Kẻ nào thu quá số ấy thì bị khép vào tội ăn trộm. Đối với Khố ty thu thuế lụa, nếu “ăn lụa” của dân thì cứ mỗi thước lụa bị phạt 100 trượng; “ăn” một tấm lụa đến trên 10 tấm thì theo số tấm, thêm phối dịch 10 năm.

Triều Lý cũng là nhà nước quân chủ đầu tiên ban hành bộ luật thành văn với tên gọi Hình Thư (năm 1042, dưới thời vua Lý Thái Tông). Bộ luật này hiện không lưu giữ được, tuy nhiên, qua những chiếu chỉ còn lưu lại cho thấy, cùng với các tội về “thập ác”, thì tội tham nhũng được luật pháp đặc biệt quan tâm và có những chế tài nghiêm khắc.

Năm 1042, vua Lý Thái Tông ban chiếu: “Những người thu quá số thuế quy định sẽ bị ghép vào tội ăn trộm. Người dân tố cáo việc đó được miễn dịch 3 năm. Người ở kinh thành mà cáo giác nạn nhũng nhiễu, tham ô thì nhận thưởng bằng hiện vật thu được”. Ngoài hình phạt chính, các quan ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan thì bị phạt 50 quan tiền; từ 10 quan đến 19 quan, bị phạt từ 60 đến 100 quan; của hối lộ một phần trả lại chủ, một phần sung vào kho quỹ triều đình.

Đến triều Lê sơ, Lê Thánh Tông - một vị vua anh minh, tài giỏi, đã xây dựng và thực thi bộ luật Hồng Đức (Quốc triều Hình luật), bao quát nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau mà ngày nay ta gọi là Luật hình sự, Luật dân sự, Luật tố tụng, Luật hôn nhân và gia đình, Luật hành chính...

Bộ luật Hồng Đức có 722 điều, trong đó có trên 40 điều liên quan việc phòng, chống tham nhũng. Ở Điều 1, chương “Vi chế”, ghi rằng: các chức quan lại có số lượng nhất định, nếu tự ý bổ dụng hay tuyển chọn quá hạn định thì cứ thừa 1 người, phạt người đứng đầu cho 60 trượng, “biếm” 2 tư (hạ chức 2 bậc), hoặc bãi chức, thừa 2 người thì xử tội “đồ” (hình phạt lao dịch khổ sai ở nhiều mức độ).

Điều 42, chương “Vi chế” ghi rõ: “Làm trái pháp luật, ăn hối lộ từ 1 đến 9 quan, xử tội “biếm” hoặc bãi chức; từ 10 đến 19 quan, xử tội “đồ”-“lưu” (“lưu” là hình phạt lao dịch khổ sai, bị đầy đi các châu xa…); từ 20 quan trở lên xử “lưu”; từ 50 quan trở lên xử “tử” (là hình phạt nặng nhất, phạt bằng cách chết thắt cổ, chém cổ, xử trảm bêu đầu…)”. “Các quan địa phương sách nhiễu lương dân, mua bán rẻ, đòi biếu xén thì hạ chức hoặc bãi chức… và phải bồi thường gấp đôi trả dân”.

Điều 138 của bộ luật này quy định: Ăn lễ từ 1 đến 9 quan phải phạt 50 quan; từ 10 đến 19 quan phạt từ 60 đến 100 quan; từ 20 quan trở lên phạt tội làm phu. Của hối lộ bỏ vào kho một phần, một phần trả lại chủ”.  Để ngăn chặn việc tư thù, ân oán, lợi dụng chức quyền, thu vén cá nhân, các điều 101, 128, 129, 130 của chương “Vi chế” quy định rõ: “Các quan liêm phóng, xét việc phải đúng sự thật, nếu sơ suất mà sai thì xử “biếm”; nếu vì tư thù ân oán, hoặc ăn hối lộ mà đổi trắng thay đen thì không kể việc lớn hay nhỏ, ăn nhiều hay ăn ít đều xử tội “lưu” (lao dịch khổ sai), tội “tử” (chết) không thể nương tay.

Các quan đi sứ nước ngoài mà chỉ lo việc mua bán thì xử tội “biếm” hay “đồ”, mang vật cấm xử tội “lưu” (lao dịch khổ sai)”. Bộ luật nghiêm khắc này quy định: “Những người quyền quý thế gia và các hoạn quan nội thần không được cầu cạnh nhờ cậy việc quân với các quan tướng hiệu, nếu trái thì quan nhất phẩm, nhị phẩm bị phạt hay biếm, quan tam phẩm, tứ phẩm thì bị cách chức hay bị đồ; quan ngũ phẩm, lục phẩm thì bị đồ hoặc lưu, quan thất phẩm trở xuống thì bị lưu hoặc tử hình. Quan tướng hiệu nhận lời thì bị tội đồ hoặc lưu, nếu không thiệt hại đến việc quân thì được giảm…”

Dưới triều Lê, việc chống tham nhũng được coi trọng, mặt khác, việc chiêu mộ, sử dụng bậc hiền tài, trong sạch được đề cao. Khi quan lại đã tham ô, thì việc định tội không phân biệt giàu nghèo, chức to hay chức nhỏ. Nhờ đó, người tốt có chỗ dựa, được tin dùng; bọn tham quan, kẻ xấu xa khó tìm đất sống; nạn tham nhũng bị đẩy lùi, muôn việc đều hanh thông, tươi tốt.

Luật này còn có một số quy định cần thiết và khá cụ thể như quan lại không được lấy vợ, kết làm thông gia với người ở nơi mình cai quản; không đưa quan lại về quê hương bản quán trị nhậm; không được tậu ruộng vườn, đất đai, nhà cửa tại nơi cai quản; không được đưa người cùng quê làm giúp việc; không cho những người có quan hệ thầy trò, bạn bè làm việc cùng một nơi.

Đến triều Nguyễn, bên cạnh những hạn chế nhất định do hoàn cảnh lịch sử, nhà Nguyễn cũng đạt được những thành tựu khá quan trọng về xây dựng bộ máy và tăng cường kỷ cương phép nước. Nổi bật là việc xây dựng và thực thi bộ luật Gia Long (ban hành năm 1815). Luật Gia Long có 17 quyển quy định riêng về Luật hình đối với tội nhận hối lộ (đút lót) và gần 20 điều khoản quy định cụ thể về vấn đề này.

Trong số 400 điều của bộ luật này, có 79 điều quy định về các tội liên quan đến tham nhũng, và có những điều rất hà khắc. Điều 31 quy định: quan lại nhận hối lộ phải chịu hình phạt thấp nhất 70 trượng, cao nhất là treo cổ. Điều 111 quy định: “Quan lại dùng chức vụ vô cớ bắt trói người và tra khảo họ nơi tư gia (không kể có thương tích hay không thương tích) thì tăng hơn người thường hai bậc tội. Nếu nạn nhân chết, người ấy bị xử treo cổ”.

Điều 392 quy định: “Người nào dùng các thủ đoạn biển thủ, lấy trộm tiền lương, vật tư ở kho, cũng như mạo phá vật liệu đem về nhà. Nếu tang vật lên đến 40 lượng thì bị chém”. Người phụ trách việc xây dựng, không được lợi dụng quyền để mượn vật tư, tiền công dù rất nhỏ, nếu bị phát giác sẽ bị quy tội nặng. Các quan cậy thế hoặc dùng sức ép để buộc người khác cho mình mượn hàng hoá, vật tư, tiền công thì tuỳ theo giá trị hiện vật để xử phạt, nhẹ thì mỗi thứ hàng hoá phạt 100 trượng, bị lưu 3.000 dặm, thu hồi hết tang vật, nếu nặng thì tử hình.

Trong số các vua triều Nguyễn, vua Minh Mạng (1820 - 1840) nổi tiếng nghiêm khắc và kiên quyết trừng trị nạm tham nhũng, bất kể là ai, giữ chức vụ gì, có quan hệ thế nào với nhà vua. Sách Đại Nam thực lục chép lại câu chuyện, năm 1823, viên lại Phủ Nội vụ tên là Lý Hữu Diệm lấy trộm hơn một lạng vàng, bị phát giác. Theo luật quy định thì tội này sẽ bị chém đầu, nhưng xét thấy trước đây Diệm có một số công trạng nên Bộ Hình giảm xuống, bắt đi đày viễn xứ. Tuy nhiên, Minh Mạng không chấp nhận đề nghị của Bộ Hình, Vua ra lệnh chém đầu Diệm trước chợ Đông Ba, cho mọi người thấy mà khiếp hãi để sửa mình.

Một câu chuyện khác, cuối năm 1831, Tư vụ Nội vụ phủ Nguyễn Đức Tuyên ăn bớt nhựa thơm, rồi trộn mật thường vào, hòng che đậy hành vi gian dối. Sự việc bị phát hiện, theo luật hình, người này đương nhiên bị khép tội chết và bị chặt tay treo ở kho. Tuy nhiên, để răn đe nghiêm khắc, vua Minh Mạng ra chỉ dụ “chặt một bàn tay thủ phạm Nguyễn Đức Tuyên đem treo, xóa tên trong sổ làm quan, để lại cho nó cái đầu, khiến nó suốt đời hối hận”.

Cũng theo Đại Nam thực lục, năm 1822, vùng Quảng Đức và Quảng Trị bị thiên tai bão lụt, nhà cửa điêu linh, thóc gạo đắt đỏ và khan hiếm. Trước tình cảnh đó, triều đình cho phát 25.000 hộc thóc để bán và cấp cho dân. Người lính quản lý kho thóc ở Kinh thành là Đặng Văn Khuê phụ trách việc này, nhưng khi trợ cấp đến dân, mỗi hộc thóc lại thiếu một ít. Vụ việc bị phát giác, vua Minh Mạng giao bộ Hình tra xét. Án xong tâu lên, nhà vua liền ra lệnh chém đầu.

Năm 1821, Phó Tổng trấn Gia Định là Huỳnh Công Lý, là nhạc phụ của nhà vua, tham nhũng 30.000 quan tiền, nhà vua gạt tình thâm, ban chỉ dụ tử hình bố vợ. Cùng với các bản án và hình phạt rất nghiêm khắc, các quan tham nhũng ở thời vua này đều bị tịch thu tài sản, đem chặt tay hoặc chém đầu nơi đông người để thị uy, đe nẹt.

Nhìn lại các bộ luật cũng như các văn bản pháp luật của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam trước đây, có thể thấy rõ những quy định khắt khe, thống nhất đối với giới quan lại, nghiêm cấm các hành vi mà quan lại không được làm. Đó là không được tham lam, vơ vét của cải của dân; không được nhận hối lộ, nếu nhận thì tuỳ theo số lượng tiền mà trị tội; không được ẩn lậu khi thu thuế; không được phép lợi dụng việc công để mưu lợi việc riêng; nghiêm cấm vì tình riêng, vì nhận hối lộ mà tiến cử người kém tài, kém đức; các quan xét xử phải giữ lẽ công bằng, không được nhận đút lót mà làm sai, để có người bị oan uổng.

Một trong những biện pháp rất được các triều đại tin dùng đó là luật (hoặc lệ) hồi ty. Theo đó, một viên quan đứng đầu một địa hạt không được phép nhậm chức tại quê hương mình, không được lấy vợ là người sở tại, không được phép có nhà cửa, ruộng vườn, ao đầm trên địa hạt mình cai quản, không được có người cấp phó là đồng hương, và điều quan trọng là các quan lại này đều được dịch chuyển địa hạt cai quản theo một chu trình nhất định.

Năm 1831, vua Minh Mạng cho ban hành Luật hồi tỵ, quy định các việc phải kiêng kỵ, tránh né, buộc bộ các chức sắc trong bộ máy từ triều đình đến nơi thôn dã phải triệt để chấp hành. Luật này quy định, khi sắp xếp, bố trí bộ máy quan lại, phải triệt để tránh (không bố trí) những nơi quê gốc (quê nội), vì ở đó có quan hệ họ tộc gần gũi từng sinh sống nhiều đời sinh sống…; không bố trí ở quê ngoại (bao gồm quê mẹ, quê vợ và cả những nơi trước đây đã từng theo học), dù chỉ ngắn ngày.

Đến đời vua Thiệu Trị, nhà vua bổ sung thêm một số điều của luật xử án trong đó có các quy định ngăn ngừa, loại bỏ các mối quan hệ thân tộc, gia đình, đồng hương, bè cánh, tránh tình trạng bao che, thông đồng để thực hiện những hành vi tham nhũng, hối lộ, trù dập, ức hiếp người tố cáo, làm sai lệch cán cân công lý.

Khi pháp luật được thực thi nghiêm minh, chính tắc, ắt xuất hiện những con người thẳng ngay, khí khái, dù máu chảy đầu rơi cũng kiên quyết gìn giữ cương thường xã tắc. Đó là nhà nho, người thầy mẫu mực “vạn thế sư biểu” Chu Văn An (1292 - 1370) thời Trần. Vì căm giận bọn nịnh thần, tham nhũng, ông đã dâng “Thất trảm sớ” xin Vua chém đầu 7 tên gian thần.

Đó là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585) thời Mạc, đã dâng sớ xin Vua chém đầu 18 tên gian thần, lộng thần. Đó là Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1272 - 1346) với tri thức uyên thâm, luôn giữ khí tiết thanh liêm, chính trực; ông đã nhiều lần vạch mặt bọn tham quan trước Triều đình, can gián Nhà vua trước những việc làm chưa đúng.

Đó là Tiến sỹ Đặng Huy Trứ (1825 - 1874), một vị quan luôn lo lắng đến nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trước triều đình và trước muôn dân. Để phòng tham nhũng, ông viết cuốn “Từ thụ yếu quy” (những nguyên tắc chủ yếu của việc không nhận và có thể nhận), tổng kết từ những việc thật xảy ra trong cuộc sống, chỉ ra những thói hư tật xấu, cám dỗ, lợi dụng trong chốn quan trường. Ông từng nói “Mình thiệt, lợi dân, dân gắn bó/Đẽo dân, mình béo, dân căm hờn/Hờn căm, gắn bó tùy ta cả/Duy chữ “thanh thanh” đối thế nhân”.

LÀM TRONG SẠCH BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN: Một truyện trong chính sử.


Xưa nay, chuyện tham quan lại được nhà vua trọng dụng vốn không hiếm, đó đều là dấu hiệu cho thấy vận nước suy vi, vua quan bất tài, dân chúng lầm than. Tuy vậy, việc tham quan nhận hối lộ dẫn đến việc binh thất bại, nhà vua phải chết lại là chuyện hiếm có.
Theo chính sử ghi lại, năm 1362 vào đời nhà Trần, biên giới phía nam bắt đầu căng thẳng. Đỗ Tử Bình theo lệnh của Trần Dụ Tông đi duyệt bổ quân ở Lâm Bình, Thuận Hóa và đắp thành Hóa Châu.

Năm 1367, Trần Dụ Tông cử Trần Thế Hưng làm Thống quân hành khiển đồng tri, Đỗ Tử Bình làm phó, mang quân đi đánh Chiêm Thành. Tháng 4 âm lịch năm 1368, quân Trần tiến vào Chiêm Động (Quảng Nam). Quân Chiêm đặt phục binh, quân Trần rơi vào chỗ phục kích, bị thua trận. Trần Thế Hưng bị bắt, Đỗ Tử Bình chạy thoát, mang tàn quân chạy về nước.
Năm 1376 thời Trần Duệ Tông, vua Chiêm là Chế Bồng Nga lại mang quân xâm lấn. Duệ Tông sai Đỗ Tử Bình đi đánh. Chế Bồng Nga sợ hãi, xin dâng 10 mâm vàng tạ tội. Nhưng Tử Bình giấu vàng đi, lại tâu về triều rằng vua Chiêm kiêu ngạo không thần phục. Duệ Tông nổi giận, quyết định thân chinh đi đánh.
Tháng giêng năm 1377, quân Trần tiến tới kinh thành Đồ Bàn nước Chiêm. Chế Bồng Nga lập đồn giữ ngoài thành, rồi cho người đến trá hàng, nói với Trần Duệ Tông rằng Chế Bồng Nga đã bỏ thành trốn. Duệ Tông thúc quân tiến vào thành. Quân Chiêm tứ phía phục binh đổ ra đánh. Quân Đại Việt thua to, mười phần chết đến 7, 8 phần. Duệ Tông bị hãm trong vòng vây, bị trúng tên tử trận. Các tướng Đỗ Lễ, Nguyễn Nạp Hòa, Hành khiển Phạm Huyền Linh cũng tử trận.

Đỗ Tử Bình lúc đó lĩnh hậu quân không tới cứu ứng cho Duệ Tông. Lê Quý Ly cũng sợ hãi bỏ chạy. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông sai đem chiếc xe tù đi bắt Tử Bình. Khi Tử Bình về qua phủ Thiên Trường, người ta đua nhau chửi mắng, lấy gạch ngói ném vào xe tù Tử Bình. Thượng hoàng xuống chiếu trị tội nhưng miễn cho tử hình cho ông, chỉ bắt đi làm lính.

Trong trận này, Đỗ Tử Bình trước đã vu cáo vua Chiêm gây ra nam tiến, sau không tới ứng cứu đại quân, được xem là người có trách nhiệm lớn với việc tử trận của vua Trần Duệ Tông.
Không lâu sau, Đỗ Tử Bình lại được phục chức. Tháng 5 năm 1378, Chế Bồng Nga đưa hàng vương Trần Húc về nước, đánh cướp Nghệ An. Tháng 6, quân Chiêm tiến vào cửa Đại Hoàng. Thượng hoàng Trần Nghệ Tông phục chức cho Đỗ Tử Bình, sai ra chống giữ. Tử Bình đánh không lại, quân bị tan vỡ. Chế Bồng Nga tiến vào Thăng Long lần thứ 3, bắt người cướp của rồi rút về.
Có thể thấy, suốt đời chinh chiến của Bình, thắng ít thua nhiều, phạm vào không ít sai lầm lớn nhỏ, nhưng đáng cười là vẫn được vua trọng dụng, sau khi chết còn được đưa vào Văn Miếu, nhận thờ phụng ngang hàng với các bậc danh nho như Chu Văn An, Trương Hán Siêu. Thật đúng là một trò cười không đáng cười!
Về sau, các bậc thân sĩ vì bất mãn với quyết định ấy nên hợp nhau tước bỏ Đỗ Tử Bình ra khỏi Văn Miếu.
Trần Xuân Sinh lý giải những may mắn mà Đỗ Tử Bình có được trong đời làm tướng nhà Trần là do thượng hoàng Trần Nghệ Tông làm mất kỷ cương, mê tối cùng cực, không biết ai là người hay, người gian nữa. Đây cũng là bài học nhãn tiền cho người làm lãnh đạo đời sau, nếu không biết phân biệt ngay gian, dùng kẻ tham quan bất tài thì không những quốc vận suy vi mà vận mệnh bản thân cũng có khi nguy hại, há chẳng phải việc nên tránh hay sao?

ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI LÀ SỰ LỰA CHỌN ĐÚNG ĐẮN CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN TA



Tiếp thu và vận dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam, quá trình lãnh đạo cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta luôn bám sát và thể hiện rõ tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong những văn kiện đầu tiên Đảng ta đã thống nhất tính chất cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc bằng con đường cách mạng vô sản, gắn giải phóng dân tộc với giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động, với toàn thể dân tộc bị nô lệ. Trong Chánh cương vắn tắt năm 1930 của Đảng cũng xác định nhiệm vụ, mục tiêu của cách mạng Việt Nam “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”, tức là đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước ta được hoàn toàn độc lập. Đường lối ấy của cách mạng dân tộc dân chủ Việt Nam là tất yếu đi tới cách mạng XHCN, độc lập dân tộc gắn liền với CNXH.
Trong bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa công bố ngày 2/9/1945, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Và Người khẳng định: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.
Với một đường lối đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển lịch sử dân tộc và xu thế của thời đại, Đảng ta đã dương cao ngọn cờ độc lập và CNXH, tập hợp và lãnh đạo dân tộc Việt Nam, vững vàng chèo lái đưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt bao thác ghềnh, hy sinh trong hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống lại bọn đế quốc thực dân xâm lược để đi đến bến bờ thắng lợi bằng chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ (07/5/1954) và chiến dịch Hồ Chí Minh (30/4/1975), đưa cả nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất và CNXH.
Ngày nay, qua gần 35 năm đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Những thành tựu to lớn đó tiếp tục khẳng định bản chất cách mạng, khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với CNXH mà Đảng ta đã kiên định; khẳng định đường lối đổi mới của Đảng là đúng đắn, sáng tạo. Những thành quả ấy là tiền đề quan trọng, tạo nguồn động lực mạnh mẽ để chúng ta tiếp tục đổi mới, đưa đất nước phát triển.
Trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, như thường lệ, các thế lực thù địch lại ra sức xuyên tạc, phủ nhận tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối cách mạng của Đảng. Song, dù có dùng âm mưu, thủ đoạn và chiêu trò gì đi chăng nữa cũng chúng cũng không thể phủ nhận được bản chất con đường độc lập dân tộc gắn với CNXH. Nhân dân Việt Nam kiên quyết đấu tranh phản bác những giọng điệu lạc lõng hòng bôi xấu lãnh tụ Hồ Chí Minh, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Trong bất luận hoàn cảnh nào,  độc lập dân tộc đi lên CNXH vẫn là nhu cầu sống còn, là sự lựa chọn duy nhất đúng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam.