Thứ Năm, 10 tháng 9, 2020

Cần tỉnh táo trước các thông tin không chính thống về vụ án Đồng Tâm

 

Theo kế hoạch, từ 7/9/2020, Tòa án Nhân dân TP Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án “Giết người” và “Chống người thi hành công vụ” xảy ra tại thôn Hoành (xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội) ngày 9-1-2020. 29 bị cáo của vụ án này đã bị Viện Kiểm sát Nhân dân TP Hà Nội truy tố về tội “Giết người” và tội “Chống người thi hành công vụ”.

Phiên tòa sẽ có 33 luật sư tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị cáo, trong đó có 15 luật sư do bị cáo, gia đình bị cáo mời; 18 luật sư còn lại do tòa án chỉ định bào chữa đối với những bị cáo bị Viện Kiểm sát truy tố về tội “Giết người” (có mức cao nhất của khung hình phạt là 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình), thuộc diện phải có người bào chữa nhưng bị cáo không mời luật sư.

Việc chỉ định luật sư được thực hiện theo quy định tại Điều 76, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (về chỉ định người bào chữa), nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho các bị cáo tại phiên tòa, thể hiện tính nhân đạo của pháp luật tố tụng hình sự nước ta. Trong số 29 bị cáo, có 25 bị cáo bị Viện Kiểm sát Nhân dân TP Hà Nội truy tố về tội “Giết người” theo quy định tại Điều 123, Bộ luật Hình sự; 4 bị cáo bị truy tố về tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại Điều 330, Bộ luật Hình sự.

Đây là vụ án được dư luận xã hội trong và ngoài nước quan tâm, theo dõi do tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội đã gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, làm ba cán bộ, chiến sỹ công an hy sinh. Hơn nữa, vụ án do một nhóm đối tượng lợi dụng danh nghĩa đảng viên lôi kéo, lừa mị người dân tham gia các hoạt động sai phạm. Nguyên nhân trực tiếp là hoạt động chống đối của một số đối tượng trong cái gọi là “Tổ đồng thuận” do ông Lê Đình Kình đứng đầu thành lập, coi thường pháp luật, lợi dụng khiếu nại, tố cáo, đấu tranh chống tham nhũng, tâm lý ham muốn vật chất của một số người dân để tập hợp, lôi kéo những người bất mãn, tiêu cực, kể cả số nghiện hút ma túy, số có tiền án tiền sự tham gia các hoạt động gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.

Ông Lê Đình Kình nguyên Huyện ủy viên, Bí thư Đảng ủy xã, nguyên Trưởng Công an xã Đồng Tâm. Năm 1982, tại Đại hội Đảng bộ xã Đồng Tâm, do không đủ phiếu bầu, không trúng cử Ban Chấp hành Đảng bộ xã, dù đã được bố trí làm thư ký văn phòng UBND xã Đồng Tâm, nhưng ông Kình vẫn nảy sinh tâm lý bất mãn, không mặn mà với công việc. Sau khi nghỉ hưu, ông này thường xuyên lôi kéo, tập hợp một số cán bộ cốt cán của xã Đồng Tâm và con cháu trong dòng họ Lê Đình để kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ nội bộ.

Đầu năm 2013, ông Lê Đình Kình đứng đầu thành lập cái gọi là “Tổ đồng thuận” gồm 19 thành viên. Ngoài ông Lê Đình Kình, còn 5 đối tượng chủ mưu cầm đầu, trong đó 3 đối tượng có quan hệ dòng họ với ông Kình (Lê Đình Công, Lê Đình Chức, Lê Đình Doanh), 40 đối tượng quá khích và số người ủng hộ hoạt động của “Tổ đồng thuận”. Số này chủ yếu là con, cháu ông Kình và người nhà số chủ mưu, cầm đầu, quá khích. “Tổ đồng thuận” tuyên truyền “sẽ được hưởng lợi nếu đòi được đất đồng Sênh, được Nhà nước đền bù hoặc bán với giá là 6 triệu đồng/m2” để lôi kéo những người dân không có quyền lợi, nghĩa vụ trên đất đồng Sênh tham gia các hoạt động gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Trong đó, sự nổi lên của đối tượng cầm đầu, nhất là ông Lê Đình Kình trong bối cảnh dòng họ Lê Đình có ảnh hưởng lớn tại thôn Hoành, có khả năng chi phối, tác động kết quả bầu cử ở cơ sở, là một loại “cường hào địa chủ mới”, hậu quả sự thoái hóa biến chất của một bộ phận cán bộ đảng viên, mượn danh nghĩa đảng viên, lo cho dân để chống lại chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Thực tế vụ án xảy ra tại xã Đồng Tâm để lại nhiều bài học, nhất là trong công tác xây dựng hệ thống chính trị cơ sở vùng nông thôn và việc thực hiện dân chủ ở cơ sở, việc giải quyết dứt điểm từ sớm những mâu thuẫn, bức xúc trong nhân dân, không để các đối tượng có điều kiện lợi dụng kích động chống phá.

Trước diễn biến tình hình tại xã Đồng Tâm, để bảo đảm an ninh, trật tự phục vụ thi công tường rào bảo vệ sân bay Miếu Môn của Bộ Quốc phòng đoạn qua xã Đồng Tâm, căn cứ vào các quy định của pháp luật, trên cơ sở bảo đảm an ninh, an toàn an ninh trật tự và các hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức và nhân dân xã Đồng Tâm, UBND thành phố Hà Nội phê duyệt triển khai các kế hoạch, phương án, xác định 2 khu vực trọng điểm phải bảo đảm tuyệt đối an ninh, an toàn, đó là: Khu vực thi công tường rào sân bay Miếu Môn; Trụ sở cơ quan Đảng, chính quyền, tổ chức chính trị xã hội, trường học, nhà riêng cán bộ, quần chúng nhân dân khu vực xã Đồng Tâm. Khi biết lực lượng chức năng triển khai các tổ công tác tại xã Đồng Tâm, các đối tượng trong “Tổ đồng thuận” đã rất manh động, chúng dùng “bom xăng”, pháo sáng, lựu đạn (ném 3 quả lựu đạn, 1 quả nổ, 2 quả không nổ), tuýp sắt đầu gắn dao nhọn, gạch đá tấn công quyết liệt lực lượng chức năng, sau đó rút về cố thủ tại nhà ông Lê Đình Kình, Lê Đình Chức và nóc nhà Lê Đình Hợi; khi thấy 3 đồng chí Công an bị ngã từ mái nhà trong quá trình tiếp cận nhà Kình, Lê Đình Doanh châm lửa vào chậu xăng đẩy xuống nơi 3 đồng chí Công an bị ngã xuống, tiếp đó Lê Đình Chức liên tiếp đổ 3 - 5 chậu xăng xuống, dẫn đến 3 chiến sĩ Công an hy sinh.

Trước hành vi phạm pháp quả tang và sự ngoan cố của các đối tượng sau nhiều lần phát loa tuyên truyền vận động, lực lượng làm nhiệm vụ đã triển khai các biện pháp trấn áp, ngăn chặn theo quy định của pháp luật; bắt giữ và triệu tập các đối tượng có các hành vi vi phạm pháp luật. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an thành phố Hà Nội đã ra quyết định khởi tố và ngày 5-6-2020 đã kết luận điều tra vụ án “Giết người, chống người thi hành công vụ xảy ra tại xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội”. Những hành vi chống đối là của một nhóm nhỏ đối tượng, đại đa số nhân dân xã Đồng Tâm rất bức xúc và đề nghị chính quyền phải xử lý nghiêm; Các cấp chính quyền đã nhiều lần kiên trì tuyên truyền, vận động, đối thoại nhưng các đối tượng vẫn kiên quyết chống đối, ý đồ “rào làng vũ trang”, tập hợp lực lượng chống đối có tổ chức nguy hiểm.

Đáng nói hơn, khi hành động rào làng vũ trang, giết người, chống người thi hành công vụ lại được các thế lực bên ngoài, các nhà dân chủ hà hơi tiếp sức nhằm gây rối xã hội, chống phá chế độ, xâm phạm an ninh quốc gia, từ đó tạo thêm điểm nóng và nhân rộng “chân rết” phục vụ cho những hành động chống phá Việt Nam thông qua các vấn đề về tự do, chống tham nhũng, luật đất đai và nhân quyền nhưng thực chất chỉ là một món hàng để đem ra làm công cụ đánh lừa dư luận. Mặt khác, cũng cần chú ý đến giọng điệu của một số luật sư do bị cáo, gia đình bị cáo mời nêu ra các vấn đề, mặc dù đã bị tòa từ chối, song nếu không cảnh giác vẫn có thể lầm lẫn cho sự minh bạch và tính pháp lý của phiên tòa. Tiếc rằng, trong chúng ta vẫn còn không ít người nhận thức đơn giản, hạn chế về kiến thức pháp luật hoặc trước những luận điệu và thông tin sai sự thật mà những kẻ cố tình tạo ra nhằm định hướng dư luật.

Ví dụ như, muốn chuyển tội danh giết người sang tội giết người do vượt quá phòng vệ chính đáng; hoặc chuyển tội danh giết người sang tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh. Các luật sự này còn cho rằng, hồ sơ vụ án còn có quá nhiều thiếu sót; vấn đề tham gia tố tục  không triệu tập công an, các cá nhân có liên quan, không tổ chức thực nghiệm hiện trường, đề nghị trả hồ sơ điều tra lại, phiên tòa không có nhân dân tham gia dự; lập luận 3 cán bộ công an chết chưa rõ nguyên nhân…

Sứ mệnh đấu tranh với các âm mưu chống phá của các thế lực thù địch trong và ngoài nước chắc chắn còn dài. Để tạo thêm niềm tin của nhân dân vào sứ mệnh ấy, rất cần những cái đầu tỉnh táo để nhận diện và vạch trần sự thật thông qua luật pháp và đấu tranh quyết liệt, nhận rõ chân tướng để kiên quyết đấu tranh.

THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ - KHÚC TRÁNG CA BẤT TỬ!

 

Thành cổ Quảng Trị - 81 ngày đêm (từ 28/6 đến 16/9/1972) nơi diễn ra cuộc chiến đấu ác liệt giữa một bên là ta quyết giữ từng tấc đất, còn một bên là Mỹ - ngụy dùng uy lực súng đạn phương tiện chiến tranh tối tân hiện đại để quyết chiếm lại Thành Cổ bằng mọi giá.

Chỉ trong 81 ngày đêm với chiến dịch tái chiếm Thành Cổ, số bom đạn mà quân đội Mỹ - Ngụy đã ném xuống tương đương với sức công phá của 7 quả bom nguyên tử mà Mỹ đã ném xuống Hiroshima năm 1945. Những chiến sĩ Thành Cổ đã chiến đấu ngoan cường, tiêu diệt 2 sư đoàn cơ động chiến lược của địch, diệt 26.000 tên, bắt sống 71 tên, đánh thiệt hại nặng 19 tiểu đoàn, phá hỏng 349 xe quân sự trong đó có 200 xe tăng và thiết giáp, bắn rơi 205 máy bay, thu 500 súng các loại. Tại chiến trường vô cùng ác liệt này, hàng ngàn người con ưu tú của Tổ quốc đã ngã xuống đem theo tuổi thanh xuân, đem theo bao ước nguyện hóa thân vào lòng đất. Xương máu của các anh đã hóa thân trong từng tấc đất, ngủ sâu trong lòng đất mẹ Quảng Trị, hòa vào mênh mang sóng nước của dòng Thạch Hãn để thành phù sa bến bãi, thành cỏ cây, thành tiếng gió rì rào:  

"Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ

Đáy sông còn đó bạn tôi nằm

Có tuổi hai mươi thành sóng nước

Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm"

(Trích thơ "Lời người bên sông" – Lê Bá Dương

Năm tháng trôi đi và lịch sử đã bước sang trang mới nhưng những con người ấy vẫn sáng ngời phẩm chất anh hùng cách mạng, nhắc nhở chúng ta về một quãng đường đầy gian khổ, đau thương, lại rất đỗi anh hùng mà Đất nước mình đã đi qua. Chẳng thế mà, nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã phải thốt lên khi viết về Thành Cổ Quảng Trị: “Những người chết đi, không hề muốn được phong anh hùng, hay thấy hoa tươi dâng trước mộ. Không! Họ chết cho một lẽ duy nhất là khát vọng sống, là đằng sau họ cuộc sống đã được thiết kế trở lại trên công bằng và nhân phẩm”.

Dù chiến tranh đã đi qua 1/2 thế kỷ, nhưng vẫn còn đó trên mảnh đất này những nỗi đau rất thật, nỗi đau nằm sâu trong lòng đất mẹ, nỗi đau hằn trên da thịt và ký ức của mỗi con người ở lại.  Cả nước lại quặn lòng hướng về Quảng Trị, mảnh đất miền Trung gió Lào cát trắng với "nghĩa trang trắng mỗi triền cát mặn". Cho đến bây giờ khói vẫn cay mắt người và những giọt nước mắt nhớ thương, cảm phục của những lớp người sau vẫn rơi trước hoa cỏ xanh tươi trên nấm mồ chung sáng tươi sắc sao vàng Tổ Quốc vào mỗi dịp ghé thăm Thành Cổ. Đêm đêm, dòng Thạch Hãn thẳm sâu và lung linh ánh nến, văng vẳng trên sông lời ru xa ngái vỗ về giấc ngủ bình yên cho những người con đã hiến dâng tuổi thanh xuân của mình để bầu trời Quảng Trị trong mỗi sớm mai thực sự hồi sinh màu xanh của niềm tin và hy vọng, để 81 ngày đêm mùa hè đỏ lửa năm 1972 sẽ sáng mãi trong những trang sử sách lưu danh đến muôn đời sau./.


Tổng Bí thư, Chủ tịch nước chủ trì phiên họp Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIII

 

Chiều nay (11/9), tại Trụ sở Trung ương Đảng, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Tiểu ban Văn kiện Đại hội XIII của Đảng đã chủ trì phiên họp của Tiểu ban, cho ý kiến về việc tiếp thu, hoàn chỉnh các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.

Cùng tham dự phiên họp có các Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc; Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân; các Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, lãnh đạo các ban, bộ, ngành, cơ quan Trung ương là thành viên Tiểu ban Văn kiện, tổ biên tập.

Căn cứ ý kiến của Trung ương, trên cơ sở cập nhật tình hình, tiếp thu các ý kiến góp ý của một số tổ chức Đảng và cá nhân, các nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà lý luận, nhà khoa học, nhà quản lý…tổ biên tập đã nghiên cứu, chắt lọc, tiếp tục hoàn thiện các dự thảo văn kiện Đại hội XIII của Đảng, trình Tiểu ban Văn kiện.

Tại phiên họp, các thành viên Tiểu ban Văn kiện đã cho ý kiến về kết cấu, nội dung cốt lõi của dự thảo, về chủ đề của Đại hội XIII, đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội XII, dự báo tình hình, quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2025, 2030, tầm nhìn 2045, các đột phá chiến lược và định hướng nhiệm vụ, giải pháp phát triển các lĩnh vực. Đồng thời, đóng góp ý kiến về một số nội dung, vấn đề cần tiếp tục làm rõ, điều chỉnh, bổ sung.

Kết luận phiên họp, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước hoan nghênh những nỗ lực, cố gắng của Tổ Biên tập, trong thời gian ngắn hoàn thành khối lượng lớn công việc, bổ sung hoàn thiện dự thảo văn kiện, trên cơ sở nghiên cứu, chắt lọc, tiếp thu nhiều ý kiến phong phú trên các lĩnh vực, trên phạm vi cả nước.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ: "Đây chưa phải là văn bản cuối cùng, cần tiếp tục thảo luận, đào sâu suy nghĩ, hoàn thiện dự thảo các văn kiện Đại hội".

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước mong các thành viên Tiểu ban Văn kiện tiếp tục có nhiều ý kiến đóng góp hoàn thiện các dự thảo văn kiện, trình Hội nghị Trung ương sắp tới, rồi công bố để toàn dân đóng góp ý kiến, Quốc hội cho ý kiến… sau đó Ban Chấp hành Trung ương tiếp tục hoàn thiện trước khi trình Đại hội XIII của Đảng.

Văn kiện Đại hội là văn kiện rất quan trọng, không phải là nghị quyết bình thường mà là văn kiện 5 năm mới có một lần, vừa mang tính lý luận, vừa mang tính thực tiễn, tính chính trị, rất cơ bản, còn lưu mãi trong lịch sử. Ý kiến đóng góp sẽ còn nhiều, ý kiến của các nhà khoa học, các nhà lý luận, các tầng lớp nhân dân… làm sao chắt lọc được, tìm ra tiếng nói chung để ra Đại hội biểu quyết thông qua, lúc này mới thành văn kiện chính thức.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đề nghị tổ biên tập nâng cao tinh thần trách nhiệm, nỗ lực, cố gắng, tiếp tục hoàn thiện dự thảo các văn kiện, từng câu, từng chữ, chuẩn xác kỹ lưỡng.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước lưu ý, văn kiện phải mang tầm chiến lược, tính lý luận, tính chính trị rất cao, đồng thời lại phải có tính quần chúng, ai đọc cũng hiểu, học cách của Bác Hồ, càng viết giản dị càng tốt, tránh đưa quá nhiều thuật ngữ; cần chú thích rõ nội hàm, viết dễ hiểu, dễ nhớ, dễ làm, dễ kiểm tra.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nêu rõ: "Chiến lược nhưng mà lại thực hiện được ngay. Lý luận nhưng lại rất thực tiễn. Bác học, tiếp cận những cái mới nhất của thế giới, nhưng mà người dân hiểu được, tránh gây hiểu lầm, gây tranh cãi không cần thiết.

Đặc biệt, báo cáo chính trị là văn kiện trung tâm, tất cả các báo cáo khác không được trái, báo cáo kinh tế, báo cáo xây dựng Đảng phải lấy cái nền, cái cốt, cái cơ bản của báo cáo chính trị làm gốc, không được nói ngược báo cáo chính trị. Rồi cụ thể hóa ra, luật pháp, các chính sách cũng phải theo tinh thần đó, không được trái với quan điểm cơ bản của văn kiện quan trọng này".

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh, phải nghiên cứu rất kỹ, nắm cho chắc, tranh luận, trao đổi trên tinh thần khách quan cầu thị, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhau. Tinh thần chung là vấn đề gì, lý luận nào, chủ trương nào, việc làm nào đã rõ, đã chín, được thực tiễn đã chứng minh là đúng, đã kiểm nghiệm, có sự thống nhất cao sẽ đưa vào báo cáo.

Nếu đang nghiên, đang tranh luận, còn mới, phải hết sức thận trọng. Văn kiện là văn bia, nên phải chuẩn xác từng câu, từng chữ, cách dùng từ, thuật ngữ phải chuẩn, phải đúng mức. Các mục tiêu đến năm 2025, 2030, 2045 là rất quan trọng, cần nói rõ một số nội hàm

 

Không thể chấp nhận sự đòi hỏi phi lý “Quân đội trung lập về chính trị”

 

Đòi hỏi quân đội “trung lập về chính trị” là thủ đoạn nham hiểm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch để chống phá cách mạng Việt Nam. Mục tiêu xuyên suốt của họ là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, trước hết là vô hiệu hóa sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, làm cho Quân đội mất phương hướng và lý tưởng chiến đấu.

Quân đội nhân dân là công cụ chủ yếu bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Sức mạnh chiến đấu của Quân đội, trước hết bắt nguồn từ đường lối đúng đắn của Đảng. Do vậy, nếu làm suy yếu Quân đội, tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng, sẽ làm cho Đảng ta mất chỗ dựa vững chắc, tin cậy và điều đó cũng có nghĩa mở đường cho việc chuyển hóa Việt Nam theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa. Rõ ràng đây là âm mưu, thủ đoạn hết sức thâm độc, nguy hiểm của các thế lực thù địch. Bằng nhiều giọng điệu khác nhau, họ rêu rao quan điểm: Quân đội cần phải “trung lập về chính trị”, Quân đội “không cần sự lãnh đạo của đảng phái nào cả”, Quân đội “không cần trung thành với Đảng Cộng sản”, v.v. Để nhấn mạnh thêm “ý nghĩa” các quan điểm đó, họ bịa đặt rằng: “do phải trung thành với Đảng Cộng sản, nên Quân đội chỉ lo chống “Diễn biến hòa bình”, mà lơ là nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”? Họ “khuyên” hãy “học tập cách thức xây dựng quân đội của các nước tư bản”, v.v.

Đó là những luận điệu sai trái! Nhân dân, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta, ai cũng biết: suốt 75 năm qua, mỗi bước trưởng thành của Quân đội đều gắn liền với vai trò lãnh đạo của Đảng, sự đoàn kết, thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân. Trong kháng chiến, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, Quân đội ta cùng với toàn dân đã lập nên những chiến công hiển hách, đánh bại các đội quân xâm lược nhà nghề, có tiềm lực bậc nhất thế giới. Nhờ đường lối đúng đắn của Đảng, mà dân tộc, quê hương, bà con họ hàng và bản thân gia đình họ thoát khỏi cảnh mất nước, lầm than, vươn lên tự quyết định lấy tương lai tươi sáng của mình. Giờ đây, thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta vẫn ngày đêm vững chắc tay súng, cùng toàn dân giữ vững chủ quyền, biển đảo, vùng trời và môi trường hòa bình, ổn định, xây dựng đời sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc. Dù trong điều kiện, hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta cũng tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; luôn gắn bó mật thiết với Đảng, Nhà nước và nhân dân, quyết tâm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao phó.

Yêu cầu Quân đội “trung lập về chính trị”, thực chất là hòng xóa bỏ bản chất cách mạng, xóa bỏ tất cả những gì tốt đẹp nhất của Quân đội nhân dân được xây đắp trong suốt mấy mươi năm qua, hơn thế, còn đẩy Quân đội đối lập với Đảng và nhân dân; vô hiệu hóa vai trò “Quân đội là chỗ dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa”. Để thực hiện mưu đồ đó, họ tập trung công kích vào những vấn đề cơ bản nhất tạo nên sức mạnh chiến đấu của Quân đội ta, đó là: phủ nhận đường lối lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc mục tiêu, lý tưởng chiến đấu; phá hoại sức mạnh đoàn kết giữa Đảng, Quân đội và nhân dân. Họ ra sức xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng - an ninh; bôi nhọ, nói xấu và đòi xóa bỏ hoạt động công tác đảng, công tác chính trị trong Quân đội. Đồng thời, dựng chuyện, bóp méo một số sự kiện để vu khống, bôi nhọ Đảng và Nhà nước trong quá trình lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước. Dù biết, không gì có thể phá hoại được sức mạnh đoàn kết dân tộc, cũng như không gì có thể xóa bỏ được vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, nhưng đối với họ, chí ít thì cũng gây ra sự hoài nghi đối với Đảng trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ và nhân dân, từ đó tạo sự lơ là, thiếu cảnh giác, để dễ bề lung lạc bản chất cách mạng của Quân đội ta, v.v. Những thủ đoạn đó là vô cùng nguy hiểm, cần hết sức cảnh giác; những đòi hỏi của họ là hết sức phi lý, không thể chấp nhận, cần bác bỏ!

Để tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, cũng tức là làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch đòi “phi chính trị hóa” Quân đội ta, chúng ta cần tiếp tục coi trọng nâng cao chất lượng công tác đảng, công tác chính trị; tập trung xây dựng các tổ chức đảng, nhất là tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh để lãnh đạo đơn vị thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao bản lĩnh chính trị, xây dựng ý chí quyết tâm, rèn luyện và trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng cho mọi quân nhân, tạo sự “miễn dịch” và tăng cường sức “đề kháng” để ngăn chặn mọi sự xâm nhập và phá hoại của các luận điệu thù địch, nhất là luận điệu: quân đội “trung lập về chính trị”. Đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc, Nhà nước và nhân dân; có đủ sức mạnh hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với lời khen ngợi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng

MT.11.9

Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc về lĩnh vực quốc phòng - an ninh của các thế lực thù địch

 Để thực hiện chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, các thế lực thù địch xác định lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lực lượng vũ trang là một trong những mục tiêu trọng yếu cần phải tập trung phá hoại, làm suy yếu. Với tham vọng ngông cuồng và ảo tưởng của họ là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với lĩnh vực quốc phòng - an ninh và lực lượng vũ trang. “Phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang, làm cho lực lượng vũ trang xa rời mục tiêu, lý tưởng, mất phương hướng chính trị, không thực hiện đúng chức năng,... luôn là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch. Do đó, phải kiên quyết đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc về lĩnh vực quốc phòng - an ninh của các thế lực thù địch hiện nay là nhiệm vụ quan trọng, hàng đầu trong chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Những luận điệu xuyên tạc liên quan đến lĩnh vực quốc phòng - an ninh mà các thế lực thù địch tung ra hoàn toàn là những thông tin vu khống, bịa đặt, không đúng sự thật về tình hình quốc phòng - an ninh của đất nước. Đó là những thông tin không có căn cứ khoa học, thực tiễn, hoặc là những thông tin, luận điệu dựa trên những sự kiện quốc phòng - an ninh có thật, đã và đang diễn ra nhưng được lập luận theo lối xảo trá, “đánh lận con đen”, thêu dệt, thổi phồng một cách vụng về, nhằm xuyên tạc bản chất, hướng người nghe, người đọc đến những suy diễn tiêu cực, kích động người tiếp nhận thông tin tiến hành các hoạt động biểu tình, chống phá gây mất trật tự an ninh, an toàn xã hội. Nội dung thông tin và luận điệu xuyên tạc trên lĩnh vực quốc phòng - an ninh hiện nay hết sức đa dạng, với nhiều biểu hiện khác nhau như: “phi chính trị hóa” Quân đội và Công an, phủ nhận nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với lực lượng vũ trang và sự nghiệp quốc phòng, an ninh; tuyên truyền xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng về công tác quốc phòng, an ninh, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân, nhất là “thế trận lòng dân”; xuyên tạc mục đích các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước và Quân đội ta tới các nước và nguyên thủ các nước tới thăm Việt Nam, nhất là chuyến thăm tới các nước lớn; xuyên tạc, bóp méo tình hình khiếu kiện, mất ổn định và cách giải quyết của lãnh đạo, chính quyền ở một số địa phương; tuyên truyền, xuyên tạc vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội và Công an nhằm phủ định vai trò của quốc phòng, an ninh trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Mục đích của những thông tin và luận điệu xuyên tạc đó là làm xấu hình ảnh của Quân đội và Công an trước nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm xói mòn niềm tin của nhân dân vào đường lối lãnh đạo, cách thức giải quyết sự việc liên quan đến quốc phòng - an ninh của Đảng và Nhà nước ta. Đồng thời, truyền bá tư tưởng, đạo đức, lối sống phương Tây vào Quân đội, Công an, làm cho cán bộ, chiến sĩ mơ hồ, lơi lỏng nhiệm vụ, rơi vào lối sống thực dụng, từng bước tác động nhằm làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, xa rời bản chất giai cấp công nhân, và truyền thống tốt đẹp của “Bộ đội Cụ Hồ”. Vì vậy, mỗi công dân Việt Nam và nhất là cán bộ, chiến sỹ lực lượng vũ trang cần hết sức cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc của các thế lực phản động.

PHẢI THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT

 Chúng tôi rất đồng tình với việc cơ quan pháp luật đưa vụ án “Giết người”, “Chống người thi hành công vụ” xảy ra tại thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP. Hà Nội, ra xét xử.

            Qua tìm hiểu, nghiên cứu, trao đổi với những người có kiến thức pháp luật, chúng tôi nhận thấy: Đây là vụ án hình sự nghiêm trọng, lợi dụng những nguyên cớ không có cơ sở, đã được các cơ quan có trách nhiệm kiên trì giải quyết công khai, hợp lý hợp tình, nhưng các bị cáo vẫn cố tình chống đối, tổ chức mua sắm vũ khí như lựu đạn, bom xăng…rồi manh động, có hành vi phạm pháp quả tang, cố ý giết người, chống người thi hành công vụ. Cần phải thấy rõ rằng trong sự việc ngày 9-1-2020, lực lượng thi hành công vụ luôn thực hiện đúng quy định của pháp luật, bình tĩnh, kiên trì thuyết phục các đối tượng dừng hành vi vi phạm pháp luật, nhưng các đối tượng vẫn liều lĩnh, cố tình phạm tội. Nhiều chuyên gia pháp lý, luật sư người nước ngoài, như ông Hoàng Duy Hùng, luật sư người Mỹ gốc Việt đã lên tiếng phải xử lý hình sự nghiêm khắc theo quy định của luật pháp hành vi “Giết người”, “Chống người thi hành công vụ” của các đối tượng ở Đồng Tâm.

            Thật bất bình trước việc các hành vi sai phạm đã rất rõ ràng như vậy, nhiều bị can đã khai nhận hành vi vi phạm pháp luật, tỏ ra ăn năn hối hận, thế mà các thế lực thù địch, chống đối, cơ hội chính trị, một số cơ quan báo chí nước ngoài vẫn cố tình bịa đặt, xuyên tạc sự thật, muốn quốc tế hóa sự việc Đồng Tâm nhằm phá hoại đất nước ta. Đại đa số người dân thôn Hoành, xã Đồng Tâm có ý thức trách nhiệm, chấp hành tốt chính sách pháp luật, chỉ có thiểu số các đối tượng cố tình hoặc bị lôi kéo làm sai, vi phạm pháp luật. Chúng tôi đã nhiều lần đến Đồng Tâm thăm người nhà, thấy tình hình ở đây rất ổn định, nhân dân tích cực lao động sản xuất, xây dựng quê hương, bà con bất bình với hành vi vi phạm pháp luật của các đối tượng…Nhưng vẫn có những kẻ lấy danh nghĩa nhân dân để bịa đặt, xuyên tạc sự thật, thậm chí đến giờ còn cố tình cho rằng tình hình ở Đồng Tâm đang tiếp tục nóng, phức tạp hơn…Vì vậy, chúng ta cần phải cảnh giác và vạch trần, lên án âm mưu, thủ đoạn sai trái đó.

            Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, có trách nhiệm và nghĩa vụ chấp hành nghiêm luật pháp. Vi phạm pháp luật thì phải bị pháp luật xử lý. Pháp luật Việt Nam luôn nghiêm khắc với kẻ cố tình, đầu sỏ, ngoan cố…còn người bị lôi kéo, ăn năn hối cải, thành thật khai báo…thì được xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng để có quyết định thuyết phục, mang tính giáo dục. Dư luận chờ đợi và tin tưởng cơ quan pháp luật sẽ có bản án nghiêm minh và nhân văn trong vụ án “Giết người”, “Chống người thi hành công vụ” trên đây.

NỰC CƯỜI CHO CÁI GỌI LÀ “ÁN BỎ TÚI” VỤ ĐỒNG TÂM CỦA TỔ CHỨC THEO DÕI NHÂN QUYỀN

 Tòa án nhân dân Tp Hà Nội đưa ra xét xử vụ án xảy ra tại xã Đồng Tâm khiến 03 chiến sĩ Công an hi sinh. Mặc dù phiên xét xử kéo dài tới 10 ngày nhưng một số tổ chức nhân quyền bên ngoài đã và đang rêu rao luận điệu chính quyền Việt Nam xét xử kiểu “án bỏ túi”.

           Có thể hiểu nôm na “án bỏ túi” là dạng phiên tòa được sắp xếp, chỉ định án từ trước mà thiếu đi sự dân chủ tranh luận, bảo vệ của các luật sư đối với các bị cáo trong phiên tòa.

           Tổ chức này cho rằng “Các phiên toà không độc lập và kết quả đã được định sẵn bởi đảng cộng sản cầm quyền là thương hiệu của hệ thống được gọi là pháp lý ở Việt Nam”.

           Ở Việt Nam có hệ thống luật pháp được người dân thừa nhận, trong đó có quy trình tố tụng chặt chẽ đảm bảo xét xử vụ án được khách quan, đúng người, đúng tội.

           Không chỉ vụ Đồng Tâm lần này mà hầu hết các vụ án có tính phức tạp, có sự thu hút dư luận cao thì các tổ chức nhân quyền đều thò mũi dùi vào phiên tòa, tự coi mình là “giám sát” phiên tòa, phán xét những vấn đề tiêu cực.

Đây thực sự là cách làm can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Cần thấy rằng các tổ chức theo dõi nhân quyền quốc tế là tổ chức phi chính phủ, không đại diện cho chính phủ, quốc gia nào nhưng lại lên tiếng nhân quyền tại một quốc gia có chủ quyền.

           Trong quá trình xét xử vụ Đồng Tâm, với 29 bị cáo trong vụ án phức tạp này đòi hỏi sự tỉ mỉ, thận trọng với 10 ngày xét xử sẽ trải qua nhiều giai đoạn xét hỏi, tranh tụng với sự tham gia của đoàn luật sư bảo vệ quyền, lợi ích cho bị cáo.

Cho nên những luận điệu về việc “án bỏ túi” ở phiên tòa Đồng Tâm là thiếu cơ sở, thậm chí vu khống nhằm hạ uy tín một phiên tòa đòi lại công bằng cho những người đã khuất.

CẢNH GIÁC VỚI CHIÊU TRÒ "CHÍNH TRỊ HÓA" VỤ ÁN HÌNH SỰ.

 Dịp kỷ niệm cách mạng tháng Tám, tôi về quê và dự gặp mặt hội đồng ngũ. Trong lúc vui, có anh bạn hiện là trưởng thôn hỏi tôi: “Nghe nói sắp mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án "giết người", "chống người thi hành công vụ" xảy ra ở thôn Hoành, xã Đồng Tâm phải không anh?” Tôi chưa kịp đáp thì anh bạn bộc bạch thêm: “Trên mạng gần đây, có tin nói rằng: Người dân thôn Hoành bị cướp đất, thực hư chuyện này thế nào hả anh?”

            Trước câu hỏi có chút hoài nghi của anh bạn, là người biết khá về sự việc này nên tôi đã ngồi đàm đạo cả tiếng đồng hồ xoay quanh chủ đề này.

            Đúng là về sự việc này thực tế thời gian qua bên cạnh những thông tin chính thống, trên tinh thần xây dựng, không ít người vì động cơ cá nhân hoặc bị kẻ xấu lợi dụng đã thông qua mạng xã hội tuyên truyền bóp méo, xuyên tạc bản chất, kích động người dân, gây nhiễu loạn thông tin. Đặc biệt có luận điệu quy chụp cho rằng người dân Đồng Tâm bị chính quyền “đàn áp, cướp đất” và khi bị đẩy đến bước đường cùng thì hành động của cha con ông Lê Đình Kình là hành động “tự vệ chính đáng”.

            Đây là giọng điệu “lập lờ đánh lận con đen” là sai lệch hoàn toàn bản chất vụ việc và cực kỳ nguy hiểm. Hơn lúc nào hết mỗi người chúng ta cần có sự tỉnh táo, sáng suốt để nhìn nhận hiểu đúng bản chất vấn đề để có nhận thức chuẩn mực và hành động đúng. Hành vi vi phạm pháp luật của Lê Đình Kình và các đối tượng là rất rõ ràng.

            Chúng ta cần thống nhất nhận thức, cũng như mọi quốc gia trên thế giới ở Việt Nam đất đai thuộc sở hữu của Nhà nước. Hiến pháp và nhiều văn bản luật đã khẳng định rõ nội dung này. Hơn nữa với phần đất ở xã Đồng Tâm lại là diện tích phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh thì dù dưới bất kỳ hình thức nào người dân tuyệt đối không được xâm phạm đến. Không chỉ có vậy nếu thực sự đặt lợi ích chung, lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết thì mọi người dân, mọi tổ chức phải có trách nhiệm, nghĩa vụ chấp hành khi chính quyền thu hồi đất phục vụ cho nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc.

            Đi vào sự việc cụ thể tại Đồng Tâm, để làm rõ lịch sử đất đai Thanh tra Chính phủ và các cơ quan chức năng đã vào cuộc và khẳng định: Theo quy định Hiến pháp và Luật Đất đai, toàn bộ phần đất sân bay Miếu Môn là đất quốc phòng. Các đơn vị quân đội đứng chân trên địa bàn đã được Thủ tướng Chính phủ và UBND Thành phố Hà Nội giao cho quản lý, sử dụng vào mục đích quốc phòng. Toàn bộ hồ sơ, giấy tờ liên quan đã cho thấy rất rõ hiện trạng phần diện tích như đã nói là đất quốc phòng. Thực tế qua đo đạc của cơ quan chuyên môn cũng cho thấy đất sân bay Miếu Môn không hề có thay đổi về mốc giới, không có việc tăng hay giảm diện tích đất sân bay Miếu Môn và xã Đồng Tâm. Như vậy luận điệu nói rằng đất sân bay Miếu Môn là đất canh tác và yêu cầu phải trả lại cho dân của Lê Đình Kình và đồng bọn là hết sức phi lý. Hành động này càng trở nên sai trái và phức tạp khi cái gọi là “Tổ đồng thuận” và một số phần tử “té nước theo mưa” vu khống rằng: “Chính quyền đàn áp, cướp đất của dân”.... Nhân vụ án Lê Đình Kinh và đồng bọn, một số kẻ chống đối đã trắng trợn lập luận bóp méo, xuyên tạc rằng: Do “bị mất đất”, “bị đàn áp” nên nhân dân thôn Hoành phải “vùng lên” và hành động của họ là hành động “tự vệ chính đáng” chứ không vi phạm pháp luật... Từ kiểu lập luận này họ tuyên truyền kéo vấn đề sang câu chuyện “quyền con người”, về bản chất chế độ XHCN. Thực chất đây là giọng điệu bóp méo, xuyên tạc sự thật gây tâm lý hoài nghi, hoang mang trong dư luận, tạo ra sự bất ổn về tư tưởng trong xã hội. Đây chính là mảnh đất để kẻ xấu lợi dụng, nhắm vào chỉ trích, miệt thị chính quyền, đả phá chế độ.

            Nghe tôi giải thích, anh bạn mới vỡ lẽ: “À ra thế, người dân quê thiếu thông tin chẳng hiểu thực hư thế nào. Như vậy đây là những luận điệu xuyên tạc hết sức nguy hiểu. Để ngày mai họp thôn tôi phải định hướng ngay cho bà con hiểu. Đối với những âm mưu, thủ đoạn nham hiểm mà chúng ta cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, làm thất bại”.

Cần đấu tranh với những luận điệu “trấn áp bắt bớ trước đại hội đảng” là vu khống, bịa đặt

 Thời gian gần đây, trước những vụ việc một số người vi phạm pháp luật như: “Chống người thi hành công vụ”, “vu khống, bịa đặt”... bị cơ quan chức năng ra lệnh bắt, khởi tố thì các thế lực cơ hội, thù địch lại bịa đặt cho rằng việc khởi tố, bắt tạm giam ấy là những cuộc “trấn áp, bắt bớ” nhằm mục đích “dọn sạch môi trường trước đại hội đảng XIII”. Điển hình là công an bắt Trịnh Bá Phương, Cấn Thị Thêu, Trịnh Bá Tư và Nguyễn Thị Tâm. Các bị can đều bị điều tra về tội “làm tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo điều 117 Bộ luật hình sự năm 2015.

Gia đình Trịnh Bá Phương trú tại phường Dương Nội, quận Hà Đông, TP Hà Nội. Trong quá trinhg xây dựng khu đô thị mới thì gia đình Phương nằm trong diện giải tỏa. Xuất phát từ lợi ích cá nhân, Phương đòi hỏi phải đền bù với giá đất cao hơn khung giá bình thường. Đây là một đòi hỏi vô lý, không có cơ sở, nên không được các cơ quan chức năng và chính quyền địa phương chấp nhận. Vì thế sau Phương cùng một số cá nhân tổ chức khiếu kiện thường xuyên. Khi khiếu kiện không được thì quay ra nói xấu chế độ, chống đối chính quyền. Phương lập các trang mạng, đưa những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ chính quyền và những người thực thi công vụ. Và khi vụ việc ở Đồng Tâm xảy ra, trên mạng xã hội, Phương đã tự cho mình như một nhà hoạt động vì Đồng Tâm, đại diện cho “dân oan” và trở thành một “nhà truyền thông chủ lực” cho nhóm chống đối chính quyền và lực lượng chức năng của Đồng Tâm. Trịnh Bá Phương đã đưa lên mạng xã hội các bài viết về sự việc Đồng Tâm nhằm kích động dư luận. Phương rất hiểu việc mình làm là vi phạm pháp luật Việt Nam từ sau vụ việc Đồng Tâm. Vì vậy từ tháng 3-2020, Phương đã chủ động liên hệ và làm thủ tục với văn phòng luật sư để bảo vệ mình nếu trường hợp lâm vào cảnh lao lý.

Trên các trang mạng xã hội, một số người trong và ngoài nước có chính kiến đúng đắn và khách quan đã nói thẳng ra rằng, Trịnh Bá Phương đã có liên lạc với các tổ chức phản động để chống đối Nhà nước Việt Nam, vì vậy khi Phương bị bắt, đã có một số tổ chức, cá nhân đứng ra “vận động gây quỹ” ủng hộ gia đình Phương. Và, họn khẳng định các thế lực phản động đang muốn xây dựng Phương như một “con bài mới”. Các thế lực thù địch đã nhận ra rằng những con bài cũ như Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Đài, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh ... đã hết giá trị lợi dụng,  nên rất cần một kẻ đóng thế khác!

Cũng luận điệu vu khống, bịa đặt ấy, gần đây lợi dụng báo chí Việt Nam đưa tin Bộ Công an đã vào cuộc điều tra nhiều dự án bất động sản ở tỉnh Bình Dương thì một số đối tượng đã xuyên tạc: “Bộ Công an vào cuộc vì tham nhũng hay ... đại hội đảng?”. Chúng tôi cho rắng, những người mượn vụ việc để bịa đặt và hướng dư luận hiểu theo ý đồ xấu độc của họ, họ chắc chắn hiểu rằng việc điều tra chống tham nhũng không phải phát hiện ra là làm ngay được. Để phanh phui ra vụ việc và chỉ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì cơ quan chức năng và người làm công tác  điều tra phải tốn nhiều thời gian và công sức, đây là việc thường gặp đối với các vụ án, nhất là các vụ án về kinh tế, tham nhũng. Hiện nay việc kiểm điểm, tự phê bình và phê bình đã trở thành sinh hoạt chính trị sâu rộng và thường xuyên trong các cơ sở đảng. Thông qua kiểm điểm, tự phê bình và phê bình, soi và chức trách, trách nhiệm cán bộ, đảng viên đã phát hiện những cán bộ, đảng viên có biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Không ít cán bộ, đảng viên đã bị Đảng xử lý kỷ luật với các hình thức khác nhau ...

Vậy mà họ, những thế lực cơ hội, thù địch, những người bất mãn với chế độ ... đã bịa đặt ra rằng Đảng đang lợi dụng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để bắt bớ, trấn áp, khai trừ những đảng viên “không thuộc phe nhóm”, “không nằm trong quy hoạch” của Đảng. Nhóm những người này cho rằng, những đảng viên vi phạm bị xử lý kỷ luật, bị khai trừ khỏi Đảng vừa qua là những người “cùng chung số phận” với những đảng viên có “suy nghĩ cấp tiến”.

Trên trang mạng “Tivi tuần san”, một trang mạng ở hải ngoại sặc mùi phản động, trong bản tin ngày 2-7 đưa tin, cứ đến đại hội thì Đảng Cộng sản Việt Nam lại gia tăng bắt bớ, đàn áp những người đấu tranh. cùng giạng điệu ấy trên mạng “Tiếng dân” ngày 13-7 cũng lu loa lên rắng: “Trước thềm Đại hội XIII của Đảng, một bầu không khí ngột ngạt lan khắp cả nước ...”. Những luận điệu vu khống bịa đặt ấy rõ ràng là không mới lạ, nhưng lại rất thâm độc. Sự vu khống, bịa đặt cứ lặp đi lặp lại từ ngày này sang ngày khác. Vì vậy có những người do không hiểu biết hoặc vô tình đã tiếp tay tuyên truyền những luận điệu vu khống, bịa đặt ấy cho người khác. Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay, phần lớn mỗi người đều có một chiếc điện thoại thông minh cầm tay, đó là phương tiện hữu hiệu nhất mà các thế lực thù địch triệt để lợi dụng. Bởi vậy chúng ta- những người xem, người nghe, người sử dụng điện thoại thông minh, trước hết phải là người sử dụng thông minh. Phải học cách nhận biết được thông tin thật và giả, đúng và si, hết sức thận trọng, cân nhắc trước khi nhấn nút “Like” và “share” đối với các thông tin mà mình cảm thấy chưa tin cậy.

Âm mưu, chiến lược “Diễn biến hoà bình” đối với Việt Nam

         Chủ nghĩa đế quốc cùng các thế lực thù địch luôn coi Việt Nam là một trọng điểm trong chiến lược “Diễn biến hoà bình” chống chủ nghĩa xã hội.

        Từ đầu năm 1950 đến 1975, chủ nghĩa đế quốc dùng hành động quân sự để xâm lược và muốn biến Việt Nam thành thuộc địa vĩnh viễn của chúng nhưng cuối cùng đã bị thất bại hoàn toàn. Sau khi sử dụng những đòn tấn công bằng quân sự để xâm lược Việt Nam không thành công, chúng đã chuyển sang chiến lược mới như “bao vây cấm vận kinh tế”, “cô lập về ngoại giao” kết hợp với “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ nhằm xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

          Lợi dụng thời kì nước ta gặp nhiều khó khăn về kinh tế – xã hội, từ năm 1975 – 1994 do hậu quả của chiến tranh để lại và sự biến động chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, Đông Âu, các thế lực thù địch càng ráo riết đẩy mạnh “diễn biến hoà bình” đối với Việt Nam. Từ năm 1995 đến nay, trước những thắng lợi to lớn của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, thì các thế lực thù địch lại tiếp tục điều chỉnh thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta. Chúng đã tuyên bố xoá bỏ “cấm vận kinh tế” và bình thường hoá quan hệ ngoại giao để chuyển sang thủ đoạn mới, đẩy mạnh hoạt động xâm nhập như: “dính líu”, “ngầm”, “sâu, hiểm” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Mục tiêu nhất quán của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch trong sử dụng chiến lược “diễn biến hoà bình” đối với Việt Nam là thực hiện âm mưu xoá bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xoá bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa, lái nước ta đi theo con đường chủ nghĩa tư bản và lệ thuộc vào chủ nghĩa đế quốc./.

TBQL 17

Thứ Tư, 9 tháng 9, 2020

Danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” không thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận

 

 “Bộ đội Cụ Hồ” là danh hiệu cao quý, rất đỗi thân thương mà nhân dân ta dành tặng cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Nhân dân gọi Quân đội ta là “Bộ đội Cụ Hồ” vì cảm nhận thấy mối quan hệ đặc biệt giữa lãnh tụ Hồ Chí Minh với Quân đội; đồng thời, cũng thể hiện tình cảm yêu mến, niềm tin sắt son đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, một Quân đội từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu. Nhân dân lấy tên vị lãnh tụ kính yêu để đặt cho Quân đội của mình là hiện tượng chưa từng có trên thế giới, nhưng lại là một hiện thực rất độc đáo ở Việt Nam, không thế lực nào có thể xuyên tạc, phủ nhận.

Trải qua hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành, danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” đã trở thành giá trị độc đáo của văn hóa giữ nước Việt Nam, thể hiện sâu sắc bản chất cách mạng của Quân đội ta. Nét đặc trưng, nổi trội của giá trị văn hóa quân sự “Bộ đội Cụ Hồ” được thể hiện tập trung ở: sự tận trung với Đảng, với nước; tận hiếu với dân; sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội; nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua; kẻ thù nào cũng đánh thắng. Giá trị văn hóa quân sự đó không chỉ tỏa sáng trong những năm tháng chiến tranh giải phóng dân tộc, mà còn được cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta tiếp tục gìn giữ, phát huy trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.

Những năm gần đây, với âm mưu thúc đẩy “phi chính trị hóa” Quân đội ta, các thế lực thù địch luôn tìm mọi cách hòng làm lu mờ, phai nhạt, đi đến phủ nhận giá trị văn hóa quân sự độc đáo này. Chúng dùng mọi thủ đoạn để xuyên tạc bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Để thực hiện mục tiêu đó, chúng ra sức phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội; kêu gọi Quân đội đứng ngoài chính trị, v.v. Lợi dụng những khuyết điểm của một vài quân nhân, cơ quan, đơn vị đơn lẻ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; nhất là những khuyết điểm trong quá trình tham gia phát triển kinh tế, quản lý đất quốc phòng, vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật Quân đội,… chúng xuyên tạc rằng: “Bộ đội thời nay, trong bối cảnh kinh tế thị trường không còn là “Bộ đội Cụ Hồ” nữa; không còn tập trung cho nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ chủ quyền, biển, đảo của Tổ quốc; không còn là bộ đội của dân, chiến đấu, hy sinh vì nhân dân”(!), v.v. Bên cạnh đó, chúng còn âm mưu thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, chiến sĩ Quân đội; qua đó, hòng làm phai nhạt mục tiêu, lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta; làm phai nhạt phẩm chất, đạo đức người quân nhân cách mạng. Các thủ đoạn đó thật nham hiểm và đều nhằm mục tiêu làm biến chất Quân đội nhân dân Việt Nam, hạ thấp uy tín của Quân đội ta trong xã hội, xóa bỏ biểu tượng “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân; chia rẽ Quân đội với Đảng, với nhân dân; trên cơ sở đó, vô hiệu hóa vai trò của Quân đội là lực lượng nòng cốt trong sự nghiệp củng cố quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc.

Thực tiễn hoạt động xây dựng, thực hiện các chức năng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong những năm qua như chức năng đội quân chiến đấu, công tác và lao động sản xuất đặc biệt là nhiệm vụ phòng chống dịch Covid 19, phòng chống thiên tai, cứu hộ cứu nạnđã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc nói trên và chứng minh một sự thật hiển nhiên là: Quân đội ta luôn là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy, lực lượng chiến đấu sắc bén của Đảng, Nhà nước và nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục được các thế hệ cán bộ, chiến sĩ giữ gìn, phát huy và tỏa sáng trên mọi hoạt động.    

Danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” là tài sản văn hóa tinh thần vô giá mà nhân dân yêu mến, trao tặng, gửi gắm niềm tin yêu, sự ngưỡng mộ dành riêng cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta. Để làm thất bại âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, phủ nhận của các thế lực thù địch đối với giá trị văn hóa quân sự độc đáo này, cần có sự chung tay, góp sức của toàn Đảng, toàn dân, mà trước hết là vinh dự, trách nhiệm của mỗi quân nhân trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Vấn đề then chốt để giữ vững và làm tỏa sáng giá trị văn hóa “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới là không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với Quân đội; bởi đó là nhân tố quyết định bản chất cách mạng của Quân đội. Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ”, gắn với thực hiện Chỉ thị 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” bằng những nội dung, hình thức, biện pháp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó là hành động thiết thực để Quân đội ta mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”./.

TMT 10.9.20

KHÔNG PHẢI VÌ ĐẠI HỘI MÀ CHÚNG TA LƠ LÀ NHIỆM VỤ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG

“Nhiều lần Tổng Bí thư, Chủ tịch nước quán triệt không phải vì Đại hội mà chúng ta lơ là nhiệm vụ đấu tranh phòng chống tham nhũng”, ông Nguyễn Thái Học - Phó Trưởng Ban Nội chính Trung ương cho biết.

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với quyết tâm cao hơn, hành động mạnh mẽ, quyết liệt hơn, không có vùng cấm, không có ngoại lệ - đây là một trong 5 nhiệm vụ trọng tâm của nhiệm kỳ Đại hội XIII và giai đoạn sắp tới được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh trong bài viết “Chuẩn bị và tiến hành thật tốt Đại hội XIII của Đảng, đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới”.

Thông điệp trên được đông đảo dư luận hoan nghênh ủng hộ cao, bởi từ thực tiễn kết quả của công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí đã tạo sự cảnh tỉnh, răn đe rất lớn, giúp củng cố mạnh mẽ niềm tin của người dân với Đảng, Nhà nước và chế độ.

Theo số liệu thống kê, từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng (năm 2016) đến nay, cấp ủy, Ủy Ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.370 cán bộ, đảng viên do tham nhũng, cố ý làm trái; xử sơ thẩm hơn 5.600 vụ với gần 11.000 bị cáo về các tội tham nhũng, trật tự kinh tế và các tội phạm khác về chức vụ.

Trong bài viết trên, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng một lần nữa khẳng định công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chuyển biến mạnh mẽ, được triển khai quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước đột phá và đạt nhiều kết quả cụ thể, rõ rệt, tích cực.


Nhấn để phóng to ả

“Nhiều lần Tổng Bí thư, Chủ tịch nước quán triệt, trong quá trình tổ chức Đại hội của Đảng sắp tới, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng tiếp tục được quan tâm, tiếp tục được chú trọng và không phải vì Đại hội mà chúng ta lơ là nhiệm vụ đấu tranh phòng, chống tham nhũng”. VTV

 

VAI TRÒ VÀ SỰ ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM VỚI ASEAN

Tháng 7 năm 1995 Việt Nam gia nhập ASEAN, hơn 25 năm qua Việt Nam đã có nhiều đóng góp quan trọng cho sự phát triển lớn mạnh của ASEAN, là một thành viên có trách nhiệm, tích cực, năng động, sáng tạo và nỗ lực hết mình vì sự phát triển của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á. Việc Việt Nam đảm nhiệm cương vị Chủ tịch ASEAN 2020 đúng dịp kỷ niệm 25 năm nước ta gia nhập mái nhà chung ASEAN đây có thể nói là cơ hội đặc biệt để phát huy vai trò, khẳng định vị thế và uy tín ngày càng được nâng cao trên trường quốc tế của nước ta.

Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng xác định mục tiêu, phương hướng phát triển các quyết sách lớn của ASEAN trong nhiều năm qua.  Trong năm 2010 Chủ tịch ASEAN 2010, Việt Nam đề xuất một số sáng kiến và được hiện thực hóa như: Cơ chế hội nghị bộ trưởng quốc phòng mở rộng (ADMM+), thành lập Ủy ban thúc đẩy và bảo vệ quyền phụ nữ và trẻ em ASEAN. Trong hợp tác với các đối tác ASEAN 2010, Việt Nam tạo được đồng thuận về quyết định mở rộng Cấp cao Đông Á để Nga và Mỹ tham gia. Việt Nam luôn là nước có tỷ lệ cao nhất trong việc thực hiện kế hoạch tổng thể về xây dựng cộng đồng ASEAN.

Năm 2019, Việt Nam thúc đẩy việc thông qua, hoàn tất đàm phán Hiệp định thương mại dịch vụ, xây dựng lộ trình cắt giảm hàng rào phi thuế quan và kết thúc đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP). Việt Nam tăng cường đối ngoại giữa ASEAN với các đối tác. Một kết qủa quan trọng là chúng ta cùng các nước thành viên đã xây dựng và thông qua quan điểm về Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, giúp hình thành lập trường chung của ASEAN về vấn đề này, thúc đẩy hợp tác với các nước trên cơ sở phù hợp với các giá trị của ASEAN. Cũng như năm 2019, Việt Nam đã thúc đẩy quan hệ ASEAN với Nhật Bản.

Trong năm 2020, trên cương vị là Chủ tịch ASEAN cùng với các nước thúc đẩy đàm phán xây dựng hoàn thiện Bộ quy tắc ứng xử của các bên trên Biển Đông (COC) với Trung Quốc. Tuy nhiên, ASEAN còn nhiều chia rẽ, bất cập. Thách thức lớn nhất đối với tất cả các chủ tịch ASEAN làm sao hợp tác được các nước ASEAN, đoàn kết, nhất trí, ủng hộ các ưu tiên, trọng tâm mà nước chủ tịch thúc đẩy, đồng thời để tác động của tình hình khu vực và thế giới không làm suy yếu ASEAN.

            Trong bối cảnh đại dịch COVID-19 hoành hành trên khắp thế giới trên cương vị Chủ tịch ASEAN 2020, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị Cao cấp đặc biệt ASEAN và Hội nghị ASEAN + 3 ( Trung quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc) về ứng phó dịch bệnh COVID-19 bằng hình thức trực tuyến. Các nhà lãnh đạo đã đưa ra nhiều sáng kiến, biện pháp thúc đẩy, hợp tác phòng, chống dịch bệnh, đồng thời bảo đảm sự năng động, bền vững của khu vực./.

LM.

Không thể phủ nhận thành tựu 30 năm đổi mới

     Ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng trong sự nghiệp phát triển của nước ta, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Nhìn tổng thể, không những nhân dân ta mà cả bạn bè quốc tế cũng đã thừa nhận rằng, qua 30 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Trong những thành tựu này, điều dễ nhận thấy nhất và cũng là thành tựu lớn nhất là tăng trưởng kinh tế. Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế-xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển. Đời sống của nhân dân ngày một cải thiện. Sự thật này là hiển nhiên, thế nhưng không hiểu vì sao vẫn còn có những thông tin lạc lõng trên mạng xã hội “dự đoán”, “nhận định” rằng, “nền kinh tế Việt Nam sắp sụp đổ”, “kinh tế Việt Nam xám xịt”, “sớm muộn thì Việt Nam cũng sẽ phải rời bỏ con đường phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”...
      Không chỉ các báo cáo của Việt Nam mà báo cáo của nhiều tổ chức quốc tế cũng đánh giá cao thành tựu đổi mới của Việt Nam 30 năm qua trong lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là thành tựu của mấy năm gần đây. Tờ Financial Times của Anh mới đây nhận định: Mặc cho “màn đêm u ám” bủa vây các nền kinh tế mới nổi, Việt Nam vẫn là một trường hợp ngoại lệ khi tiếp tục nằm ở “phía bên kia” của bức tranh. Số liệu của bộ phận nghiên cứu Capital Economics cho thấy, từ năm 2010 đến nay, Việt Nam là một trong những nền kinh tế mới nổi có tốc độ tăng trưởng cao so với mức tăng trưởng trung bình. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cùng với Việt Nam, chỉ có 4 quốc gia châu Âu được hưởng lợi tăng trưởng xuất khẩu nhờ giá dầu giảm, bao gồm: Ru-ma-ni, Cộng hòa Séc, Hung-ga-ry và Ba Lan. Tuy nhiên, trong khi các nền kinh tế Ru-ma-ni, Cộng hòa Séc và Hung-ga-ry không có sự tăng trưởng đáng kể nào về tổng sản phẩm (GDP) từ năm 2008-2014 thì kinh tế Việt Nam đã tăng trưởng tới 40% trong suốt giai đoạn...
       Gần đây, trên một số trang mạng xã hội xuất hiện một số bài phân tích về nợ công và bội chi ngân sách Nhà nước (NSNN) của Việt Nam. Đại đa số các bài viết đều có thiện ý tốt, tiếc rằng cũng có bài đưa các số liệu chưa chính xác và kèm theo đó là các bình luận thiếu căn cứ như: “Việt Nam sắp vỡ nợ”, “nợ công của Việt Nam cao nhất thế giới”…. Chính phủ đã có báo cáo, phân tích cụ thể những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của việc bội chi, nợ công tăng". Như vậy, nợ công của chúng ta đang ở mức mà Quốc hội cho phép và không phải là “cao nhất thế giới”. Để giảm gánh nặng nợ công, giảm bội chi NSNN, Chính phủ dự kiến mức bội chi NSNN bình quân của giai đoạn 2016-2020 tính theo Luật NSNN hiện hành khoảng 4,9% GDP; đồng thời đặt mục tiêu dư nợ công không quá 65% GDP, dư nợ của Chính phủ không quá 55% GDP, dư nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP. Để đạt được định hướng về dư nợ công và bội chi NSNN nêu trên, Chính phủ đã yêu cầu các cấp, các ngành, các địa phương thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp, trong đó quan trọng nhất là tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy kinh tế phát triển ở mức cao hơn giai đoạn 2011-2015, tạo điều kiện tăng thu NSNN, giảm áp lực chi NSNN về an sinh xã hội. Đồng thời, thực hiện cơ cấu lại các khoản nợ công; điều chỉnh chính sách thu; cơ cấu lại chi ngân sách. Trong đó: Đẩy mạnh huy động các khoản vay trung, dài hạn, triển khai có hiệu quả các nghiệp vụ quản lý và xử lý rủi ro đối với danh mục nợ công; ưu tiên bố trí chi trả nợ. Nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản vay của Chính phủ, giảm dần hạn mức cấp bảo lãnh Chính phủ; rà soát, loại bỏ các dự án không hiệu quả; kiểm soát chặt chẽ các khoản bảo lãnh Chính phủ, các khoản nợ của chính quyền địa phương, nợ xây dựng cơ bản của các bộ, cơ quan Trung ương và địa phương; quản lý nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản vay về cho vay lại, để giảm thiểu phát sinh các nghĩa vụ nợ dự phòng của Chính phủ. Tăng cường phát triển thị trường vốn trong nước cả về chiều rộng và chiều sâu nhằm đa dạng hóa kỳ hạn phát hành, trong đó tập trung phát hành trái phiếu chính phủ kỳ hạn dài từ 5 năm trở lên…
       Với những người dân ở Việt Nam, nếu ai đã từng chứng kiến cuộc sống trước thời điểm Đổi mới đất nước thì đều cảm nhận được sự thay đổi diệu kỳ. Từ chỗ thiếu ăn triền miên, Việt Nam đã dư thừa lương thực. Cảnh đường làng ngập ngụa bởi bùn đất ngày nào đã không còn nữa bởi hầu hết các con đường làng bây giờ đã được bổ bê tông, được trải nhựa. Chương trình nông thôn mới đã làm thay đổi bộ mặt nông thôn. Tại các đô thị, những khu nhà “ổ chuột” hiện đã không còn nữa, thay vào đó là những khu đô thị hiện đại, khu chung cư cao cấp. Những con đường cao tốc ngày một vươn dài... Nhiều công trình mới to đẹp, hiện đại đã mọc lên ngày càng nhiều, tô điểm cho đất nước.
       Tuy nhiên, nhìn tổng thể và những vấn đề sâu xa trong nền kinh tế của Việt Nam vẫn còn khá nhiều những hạn chế, bất ổn. Đảng và Nhà nước ta cũng đã nhận ra vấn đề này và đã "bắt mạch, kê đơn" những yếu kém, tồn tại của nền kinh tế Việt Nam. Thế nhưng, thực tế đã chứng tỏ hiển nhiên thành tựu đổi mới của Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế. Với những bình luận, nhận định áp đặt chủ quan, thiếu căn cứ và mang nặng tư tưởng thù địch của một số người về thực trạng nền kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ bị dư luận và người dân Việt Nam bác bỏ.

Chủ động ngăn chặn thông tin xấu độc trên internet

      Bản chất internet là môi trường mở cho phép người sử dụng được tự do cung cấp, tìm kiếm và sử dụng thông tin, tính truyền tải nhanh, diện tham chiếu rộng, thông tin gần như tức thì, dễ tạo hiệu ứng xã hội theo chiều rộng nên rất khó quản lý và kiểm soát. Tính ưu trội của mạng xã hội còn tạo ra khả năng giao lưu, chia sẻ, kết nối cộng đồng rất thuận lợi. Đây là tính năng đặc biệt hấp dẫn đối với giới trẻ của internet. Cho nên, internet được ví như con dao 2 lưỡi chứa nhiều hiểm họa khó lường đối với người sử dụng không đúng mục đích. Thực tế, bên cạnh các thông tin bổ ích, có giá trị đối với xã hội thì còn vô số thông tin, hình ảnh có nội dung xấu độc, trái với truyền thống văn hóa dân tộc cũng được tán phát lên các trang thông tin điện tử (website), blog, mạng xã hội, trên phần phản hồi (comment) của các báo điện tử… Vì vậy, các thế lực thù địch đang triệt để lợi dụng internet và lập nhiều trang facebook để truyền bá những thông tin xấu độc, đăng tải những status trên trang facebook cá nhân với ngôn ngữ, luận điệu đầy tính kích động, phản động, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, phủ nhận thành tựu của công cuộc đổi mới, tìm mọi cách thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” nội bộ ta trên mọi lĩnh vực.
      Thông tin xấu độc tán phát trên internet và mạng xã hội là những thông tin bịa đặt, sai sự thật, bóp méo sự thật, xuyên tạc vấn đề, “đổi trắng, thay đen”, làm lẫn lộn đúng sai, thật giả; hoặc có một phần sự thật nhưng được đưa tin với dụng ý xấu, phân tích và định hướng dư luận bằng luận điệu sai trái, thù địch. Đó là các dạng thông tin có nội dung không phù hợp về chuẩn mực đạo đức, văn hóa, thuần phong mỹ tục như: Kích động đồi trụy, bạo lực, bôi nhọ đời tư, vu khống…; thông tin sai trái, độc hại có tính chất tội phạm tin học như: Lừa đảo trên mạng, đánh cắp thông tin, mật khẩu,tán phát vi-rút…; thông tin sai trái có tính chất chính trị như: Xuyên tạc sự thật lịch sử, phủ nhận Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chống phá đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, bịa đặt, vu cáo, nói xấu các đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước, quân đội, công an và gây chia rẽ đoàn kết nội bộ, đe dọa an ninh quốc gia...
      Tác hại của những thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội do các thế lực “mạng đen” tung ra có tác động tiêu cực đến tình hình tư tưởng, dư luận xã hội, gây nghi ngờ, gieo rắc sự hoang mang, dao động, làm giảm sút lòng tin của một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Hệ lụy của thông tin xấu độc ảnh hưởng rất lớn đến đạo đức, lối sống, nhân cách của cá nhân và cộng đồng xã hội. Nếu đạo đức xã hội bị băng hoại, văn hóa dân tộc bị tầm thường hóa, đánh mất bản sắc, an toàn xã hội bị đổ vỡ, thì sẽ tác động mạnh đến chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng; có nguy cơ dẫn đến mất phương hướng lựa chọn các giá trị, lối sống và niềm tin của một bộ phận không nhỏ trong giới trẻ là đối tượng thường xuyên tiếp cận với facebook.
      Để chủ động ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội, đòi hỏi trước hết mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, chính quyền các cấp cần đẩy mạnh tuyên tuyền, giáo dục để mỗi cán bộ, người dân thấy rõ tính hai mặt của internet và mạng xã hội; nhận diện các thủ đoạn, nội dung thông tin xấu độc, tính chất nguy hại của nó đối với cá nhân và xã hội. Qua đó trang bị kiến thức cần thiết để mỗi người có thể tự sàng lọc, tiếp nhận thông tin hữu ích, chính thống, đồng thời “miễn dịch” với những thông tin xấu độc làm nhiễu loạn môi trường xã hội. Trong quá trình tuyên truyền, giáo dục nâng cao sức đề kháng cho mỗi người trước thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội, cần tiếp tục gắn chặt chẽ với tuyên truyền, thực hiện có hiệu quả Chỉ thị số 46-CT/TW ngày 27-7-2010 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khóa X) về “Chống sự xâm nhập của các sản phẩm văn hóa độc hại gây hủy hoại đạo đức xã hội”; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 của Hội nghị Trung ương 9 (khóa XI) “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.
      Nghị quyết Đại hội XII của Đảng nêu rõ: “Chú trọng công tác quản lý các loại hình thông tin trên internet để định hướng tư tưởng và thẩm mỹ cho nhân dân, nhất là cho thanh niên, thiếu niên”. Trên thực tế, internet đang thể hiện ngày càng rõ nét đặc trưng của một xã hội ảo, song lại phản ánh ngày càng toàn diện mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội hiện tại. Cho nên công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này nói chung và của các cơ quan, đơn vị nói riêng gặp nhiều khó khăn, phức tạp. Để thực hiện tốt quan điểm của Đảng, công tác quản lý các loại hình thông tin trên internet, cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp cần chú trọng nâng cao năng lực bộ máy quản lý; tăng cường đội ngũ chuyên gia về công nghệ thông tin giỏi, đầu tư cơ sở vật chất và trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, bảo đảm triển khai có hiệu quả các biện pháp quản lý cả về hành chính và kỹ thuật.
      Việc chủ động đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội trong từng cơ quan, đơn vị cần có sự phối hợp chặt chẽ của các tổ chức, các lực lượng thực sự “vào cuộc”, trước hết là cấp ủy và người đứng đầu các cơ quan, đơn vị. Phát huy vai trò của các tổ chức quần chúng, các tổ chức chính trị-xã hội tạo thành phong trào mang tính cộng đồng hướng tới một văn hóa internet lành mạnh, sẵn sàng tổ chức đấu tranh trực diện với những thông tin xấu độc trên internet và mạng xã hội.