Thứ Tư, 25 tháng 11, 2020

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

Đại hội XII của Đảng (1-2016) khẳng định: Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam, là tài sản tinh thần vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là một trong những nhiệm vụ trọng yếu, quyết định sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Đảng luôn kiên trì lãnh đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng,giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng. 1. Quan điểm của Đảng Ngày 22-10-2018, Bộ Chính trị khoá XII ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Trong đó, Bộ Chính trị nêu rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hoà bình, ổn định để phát triển đất nước; đồng thời, Nghị quyết nhấn mạnh: Bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác có hiệu quả các quan điểm sai trái, thù địch là một nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Thực tế lịch sử cho thấy, không phải đến khi ban hành Nghị quyết 35, mà ngay từ khi Đảng ra đời và trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, xuất phát từ yêu cầu khách quan, Đảng luôn coi trọng công tác bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, bảo vệ cương lĩnh, đường lối của Đảng và bảo vệ nhân dân, đồng thời kiên quyết đấu tranh phản bác, ngăn chặn các quan điểm sai trái, thù địch. Trong thời kỳ lãnh đạo cách mạng giải phóng dân tộc (1930-1945), Đảng hoạt động giữa vòng vây của kẻ thù, nhiều thế lực phản cách mạng tập trung đánh phá quyết liệt, Đảng còn non trẻ nhưng đã thể hiện bản lĩnh của một đảng cách mạng có bản lĩnh chính trị vững vàng. Đảng đã đấu tranh không khoan nhượng với những phần tử theo Trotskyt. Tổng Bí thư Hà Huy Tập (bút danh Thanh Hương) viết tác phẩm Trotskyt và phản cách mạng; Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ viết Tự chỉ trích nhằm đấu tranh phê phán các quan điểm sai trái của phái Trotskyt, tạo sự thống nhất về nhận thức về tư tưởng, chính trị và hành động trong toàn Đảng. Qua cuộc đấu tranh về tư tưởng, Đảng được xây dựng, trưởng thành, giữ vững vai trò lãnh đạo, phát động toàn dân tộc làm nên thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Trong thời kỳ xây dựng CNXH và kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975), Đại hội III (1960) của Đảng đề ra nhiệm vụ lãnh đạo toàn dân tộc tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược (đó là xây dựng CNXH ở miền Bắc và tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước ở miền Nam). Trong bối cảnh chủ nghĩa cơ hội, xét lại ra sức chống lại chủ nghĩa Mác, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kiên quyết và kiên trì đấu tranh để bảo vệ nền tảng tư tưởng chủ nghĩa Mác. Tháng 12-1963, Đảng ban hành Nghị quyết Trung ương 9 “về tình hình thế giới và nhiệm vụ quốc tế của Đảng”. Nghị quyết khẳng định lập trường kiên định của Đảng; kiên quyết đấu tranh bảo vệ sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác - Lênin, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng. Vì vậy, trước những sóng gió cuộc đấu tranh tư tưởng chống lại sự chống phá của các phần tử phản động, cơ hội, Đảng luôn giữ vững đoàn kết, thống nhất về tư tưởng, lý luận, lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh cách mạng XHCN ở miền Bắc, hoàn thành giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước đi lên xây dựng CNXH. Những năm cuối thập kỷ 80, đầu thập kỷ 90 thế kỷ XX, các nước XHCN ở Đông Âu và Liên Xô từng bước rơi vào khủng hoảng và sụp đổ. Tổng thống Nga V.Putin trong “Thông điệp Liên bang năm 2005” gọi đó là “một chấn động chính trị khủng khiếp nhất thế kỷ XX”. Sự đổ vỡ này xảy ra ngay tại Liên Xô - quê hương của Cách mạng Tháng Mười, nơi khai sinh ra nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới, nơi được coi thành trì của CNXH hiện thực, khiến cho các học giả tư sản phương Tây được dịp lên tiếng phê phán, bác bỏ chủ nghĩa Mác -Lênin. Kể từ sau sự kiện gây chấn động lịch sử toàn thế giới đến nay đã gần 30 năm, các thế lực thù địch vẫn luôn ra sức lợi dụng xuyên tạc, công kích và phủ định chủ nghĩa Mác - Lênin. Họ cho rằng sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu là một tất yếu lịch sử vì nó bắt nguồn từ “sự lạc hậu, lỗi thời của bản thân chủ nghĩa Mác - Lênin”; và bởi, “chủ nghĩa xã hội mà Mác nêu ra chỉ là một lý tưởng, một chủ nghĩa xã hội “không tưởng”, không bao giờ thực hiện được”.v.v. Là Đảng cầm quyền, lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thấy những tác động tiêu cực từ sự khủng hoảng của các đảng và các nước XHCN trên thế giới, nên đã chủ động phòng ngừa sự chống phá của các thế lực thù địch; cảnh giác, không sa vào các cuộc “cách mạng màu” mà nhiều đảng, nhiều nước đã rơi vào dẫn đến kết cục thất bại, để mất quyền lãnh đạo. Đảng Cộng sản Việt Nam tích cực tìm đường đổi mới, dựa chắc trên cơ sở nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin, kiên định con đường đi lên CNXH. Sự chủ động và quyết tâm của Đảng được thể hiện rõ trong NQTW 6 khóa VI (29-3-1989) “Về kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và phương hướng, nhiệm vụ ba năm tới”, khi đề ra những nguyên tắc chỉ đạo công cuộc đổi mới, bảo đảm cho đổi mới đúng hướng, đúng mục tiêu và có hiệu quả. Trong Nghị quyết, Đảng khẳng định rõ: tính chất của công cuộc đổi mới ở Việt Nam không phải là thay đổi mục tiêu XHCN mà là làm cho mục tiêu ấy được thực hiện có hiệu quả bằng những quan niệm đúng đắn về CNXH, những hình thức, bước đi và biện pháp thích hợp. Đảng nhấn mạnh: “Chủ nghĩa Mác - Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ đạo toàn bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”. Sự khẳng định này cho thấy bản lĩnh và quyết tâm rất lớn của Đảng trong bảo vệ nền tảng tư tưởng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, dù các thế lực thù địch ra sức chống phá. Tiếp đó, tháng 8-1989, HNTW 7 khóa VI của Đảng ban hành Nghị quyết “Một số vấn đề cấp bách về công tác tư tưởng trước tình hình trong nước và quốc tế hiện nay”. Trung ương Đảng nhận định 6 biểu hiện sai lầm trong cải tổ, cải cách của một số đảng về thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng, dân chủ hóa không giới hạn, hạ thấp sự lãnh đạo của đảng cộng sản, phủ nhận thành tựu của lịch sử, của CNXH. Sự buông lỏng lãnh đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản ở Liên Xô và các nước CNXH ở Đông Âu khiến đảng viên và nhân dân mất niềm tin vào lý tưởng XHCN, vào chế độ mà họ đang xây dựng. Nghị quyết HNTW 7 nhấn mạnh: “Giáo dục trong Đảng và trong nhân dân kiên trì mục tiêu, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, trên cơ sở quán triệt năm nguyên tắc và những chính sách đổi mới của Đảng”. Một trong những điểm nhấn quan trọng về lãnh đạo đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng được thể hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991). Lúc này, mặc dù sự sụp đổ của CNXH ở Đông Âu đang tạo một sức ép lớn trên thế giới, song Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn kiên trì con đường đi lên CNXH. Đảng xác định dứt khoát, Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận của Đảng hướng vào làm sáng tỏ và sâu sắc bản chất cách mạng, khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định tính tất yếu của con đường XHCN; đồng thời kiên quyết đấu tranh chống những luận điệu sai trái, thù địch. Cương lĩnh khẳng định rõ sự kiên trì, quyết tâm của Đảng trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong thời kỳ đổi mới. Căn cứ vào Cương lĩnh, vào yêu cầu thực tiễn và nhiệm vụ cụ thể mỗi giai đoạn cách mạng, Đảng tiếp tục chỉ đạo cụ thể về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Đảng ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TW “Về công tác lý luận trong giai đoạn hiện nay” (tháng 3-1992); Nghị quyết số 09-NQ/TW “Về một số định hướng lớn trong công tác tư tưởng hiện nay” (tháng 2-1995); đặc biệt là Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI (năm 2012) và Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII (năm 2016) về xây dựng Đảng. Trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, Đảng thẳng thắn vạch rõ những âm mưu thâm độc của các lực lượng thù địch khi thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam. chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực phản động đã được nhiều chuyên gia và chính khách phương Tây coi là phương pháp “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”, “cách mạng hòa bình” và gần đây là “cách mạng nhung”, “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố... Trong chiến lược này, hoạt động văn hóa - tư tưởng được coi là “mũi đột phá”, là “cây cầu dẫn vào trận địa”, là lĩnh vực hàng đầu làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra khoảng trống để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào, rồi cuối cùng xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa” (5). Với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, tại HNTW 4 khóa XII, Đảng chỉ rõ, có một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên “nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước” khiến cho các thế lực thù địch có cơ hội chống phá, xuyên tạc nền tảng tư tưởng của Đảng. Đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với cấp ủy, tổ chức đảng, của cả hệ thống chính trị và mọi cán bộ, đảng viên. Nghị quyết số 35-NQ/TW của Bộ Chính trị (ngày 22-10-2018) “Về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” nêu rõ: Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng là bảo vệ Ðảng, bảo vệ Cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Ðảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Ðó là nội dung cơ bản, hệ trọng, sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Ðảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Ðảng, toàn quân, toàn dân, trong đó cơ quan báo chí các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị - xã hội các cấp; của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu.

ASEAN KHÔNG CÒN “NHƯỜNG” TRUNG QUỐC YÊU SÁCH PHI PHÁP Ở BIỂN ĐÔNG

 


 

ASEAN và cả các quốc gia không tuyên bố chủ quyền như Mỹ đã đệ trình lên Liên hợp quốc phản đối yêu sách chủ quyền phi lý quá trình ráo riết quân sự hóa quy mô lớn của Trung Quốc ở Biển Đông.

Trong một tuyên bố thể hiện lập trường được chú ý, Phủ Tổng thống Philippines mới đây nêu rõ, Tổng thống Rodrigo Duterte sẽ không nhường bất kỳ “một tấc đất nào” thuộc lãnh thổ của nước này cho các quốc gia khác. Tuyên bố này của Phủ Tổng thống Philippines đưa ngay sau khi Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Triệu Lập Kiên, một trong những nhà ngoại giao trẻ thuộc lứa “ngoại giao chiến lang” của Trung Quốc, cáo buộc Philippines vi phạm an ninh và chủ quyền của Trung Quốc khi điều máy bay quân sự đến gần quần đảo Trường Sa của Việt Nam (Trung Quốc gọi là quần đảo Nam Sa), đồng thời kêu gọi Philippines “ngừng các hành động khiêu khích bất hợp pháp” trên Biển Đông.

Các thành viên ASEAN cũng như cả hiệp hội càng “lùi”, càng “nhường” Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông thì cường quốc này càng lấn tới, có những hành vi hung hăng, gây hấn và quân sự hóa ráo riết hơn để hiện thực hóa bằng được tham vọng chủ quyền ở Biển Đông. Đó chính là nhân tố thúc đẩy các nước ASEAN thấy rằng không thể “nhường” Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông. Một trong những tín hiệu rõ ràng nhất là một loạt các Công hàm ngoại giao mà các quốc gia liên quan tới tranh chấp ở Biển Đông trong ASEAN và cả các quốc gia không tuyên bố chủ quyền như Mỹ đệ trình lên Liên hợp quốc thời gian qua để phản đối yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc ở Biển Đông. Lập trường mới đối với Trung Quốc trong vấn đề Biển Đông, theo giới chuyên gia, sẽ thúc đẩy các thành viên ASEAN có tiếng nói chung, xây dựng mặt trận thống nhất.

 

Thứ Ba, 24 tháng 11, 2020

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI.

Hiện nay, các thế lực thù địch đang ra sức xuyên tạc, đưa ra những quan điểm sai trái với mưu đồ xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà trọng tâm là xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng. Bài viết phân tích cơ sở lý luận về bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; ý đồ phá hoại của các thế lực thù địch, phản động và tình hình bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng; đề xuất giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới. Ngày 22/10/2018, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới. Nghị quyết nêu rõ: “Bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là bảo vệ Đảng, Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng; bảo vệ nhân dân, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”. Đó là nội dung cơ bản, hệ trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân, trong đó lực lượng tuyên giáo các cấp là nòng cốt; là công việc tự giác, thường xuyên của cả hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là người đứng đầu. Do đó, cần nhận diện rõ nền tảng tư tưởng của Đảng ta đã được quy định trong Điều lệ Đảng: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa trí tuệ của nhân loại, nắm vững quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước để đề ra Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng đúng đắn, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân”. Bên cạnh đó, cần phải nhận diện chính xác những nhóm đối tượng đang ra sức chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay, đó là: Một là, nhóm đối lập về hệ tư tưởng. Đảng ta là hệ tư tưởng vô sản thì những người theo hệ tư tưởng tư sản, kể cả tàn dư phong kiến sẽ quyết liệt chống lại chúng ta. Hai là, các thế lực thù địch về chính trị luôn chống lại chế độ XHCN của chúng ta, với mục đích làm con đường phát triển đất nước của Đảng chệch hướng, thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam. Ba là, những người vốn là đảng viên cộng sản nhưng không chịu rèn luyện, tu dưỡng, học tập, nâng cao tư tưởng, đạo đức cách mạng dẫn tới tha hóa về tư tưởng chính trị, xa rời chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thậm chí là phai nhạt lý tưởng, “tự chuyển hóa, tự diễn biến” trong nội bộ. Nhận diện các nhóm đối tượng nêu trên cho thấy, việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng dù rất khó khăn, phức tạp và lâu dài, nhưng khó khăn và phức tạp đến đâu cũng phải làm để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Sau nhiều thập kỷ thực hiện chính sách thù địch, chống phá không đạt hiệu quả, các thế lực phản động ở trong nước và nước ngoài đang thay đổi phương thức hoạt động. Tuy nhiên, mục tiêu của họ vẫn không thay đổi là nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, “phi chính trị hóa”, vô hiệu hóa quân đội, tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam. Họ tấn công, phủ định, xuyên tạc học thuyết Mác - Lênin, đưa ra các luận điệu cổ vũ cho bạo lực, chiến tranh; phủ định tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò và thành tựu lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, họ còn bôi xấu lãnh đạo Đảng, Nhà nước với nhiều thủ đoạn tinh vi; chống phá chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Phương thức chống phá của họ chủ yếu là sử dụng phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là xuất bản báo chí ở nước ngoài, sản xuất băng, đĩa hình chuyển về trong nước; tài trợ cho một số cơ quan báo chí nước ngoài chuyên chống phá Việt Nam… Họ sử dụng internet và truyền thông xã hội để chống phá; lợi dụng những hạn chế trong quản lý nhà nước để kích động biểu tình trái phép và xuyên tạc đường lối; tổ chức các hội thảo đòi xem xét lại các vấn đề liên quan đến lịch sử… Cách làm của họ âm thầm và lâu dài nhưng tác hại thực sự rất khó lường. Ngang ngược hơn, họ còn đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013, đòi đa đảng; phá bỏ nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, đặc biệt là nguyên tắc tập trung dân chủ; vu cáo Đảng chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền, “độc đoán, đảng trị”; đối lập Đảng với Nhà nước và đối lập Đảng, Nhà nước với nhân dân... Bên cạnh đó, các thế lực thù địch còn lôi kéo, kích động một bộ phận người dân và cả một số cán bộ hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo vào các mục đích sai trái, bất hợp pháp, gây ảnh hưởng tiêu cực đến an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội... Đây cũng là những vấn đề cần được nhận diện đầy đủ để có biện pháp, phương hướng xử lý, đấu tranh phù hợp, hiệu quả. Một số giải pháp bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới: Một là, tiếp tục làm cho toàn Ðảng, toàn dân, toàn quân nhận thức ngày càng đầy đủ, sâu sắc hơn những nội dung cơ bản và giá trị to lớn của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh thật sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của đời sống xã hội; xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục đối với các tầng lớp nhân dân, nhất là thế hệ trẻ, nhằm nâng cao tinh thần, trách nhiệm, khả năng chủ động đấu tranh, phản bác những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch. Hai là, tiếp tục làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn, hoàn thiện hệ thống lý luận về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta trong tình hình mới. Hệ thống hóa, phổ biến những thành tựu lý luận mà Đảng ta đã đạt được trên cơ sở vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc đổi mới. Tiếp tục khẳng định bản chất và mô hình của thể chế chính trị và bộ máy nhà nước đã được xác định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) và Hiến pháp năm 2013. Đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch theo hướng chủ động, có tính thuyết phục cao, hấp dẫn. Khẩn trương thực hiện nghiêm quy hoạch báo chí đã được phê duyệt. Chủ động tăng cường thông tin tích cực đi đôi với ngăn chặn có hiệu quả, xử lý, xóa bỏ thông tin xấu, độc trên internet, mạng xã hội. Ba là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kiên quyết xử lý kịp thời, nghiêm minh các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh, Điều lệ Đảng. Siết chặt kỷ cương, kỷ luật trong Đảng. Các cấp ủy và tổ chức đảng, mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành nghiêm kỷ luật phát ngôn; nghiêm cấm để lộ bí mật của Đảng, Nhà nước, lan truyền những thông tin sai lệch hoặc tán phát những đơn thư có nội dung xấu, xuyên tạc, vu khống, kích động. Nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý và sử dụng internet, mạng xã hội. Trong đó, chú trọng xây dựng, hoàn thiện pháp luật và có các giải pháp kỹ thuật phù hợp với sự phát triển nhanh của internet, mạng xã hội. Phát huy trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, trước hết là người đứng đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch... Bốn là, tập trung đổi mới nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng; hệ thống hoá, phổ biến các thành tựu lý luận trong thời gian qua; nâng cao chất lượng nghiên cứu, học tập nghị quyết để vận dụng vào thực tiễn; đổi mới nội dung, phương thức nâng cao chất lượng và hiệu quả tuyên truyền về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy vai trò của báo chí trong việc tuyên truyền chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; xử lý nghiêm khắc, đúng pháp luật đối với đảng viên, cán bộ vi phạm các quy định, Điều lệ Đảng... Bên cạnh “chống”, cần tăng cường biện pháp “xây”, thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng ở cơ sở; giải quyết có hiệu quả khiếu nại, tố cáo; tổ chức thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng. Các địa phương sớm kiện toàn tổ chức tuyên giáo, xây dựng đội ngũ cán bộ sẵn sàng “phản ứng nhanh” với những thông tin sai trái, thù địch trên không gian mạng. Tích cực, chủ động cung cấp những thông tin chính thống để định hướng dư luận về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước... Năm là, Ban Tuyên giáo các tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên cần đẩy mạnh tuyên truyền Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị về Đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội ĐBTQ lần thứ XIII của Đảng. Tuyên truyền sâu rộng chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Bên cạnh đó, cần đánh giá lại “tâm lý” xã hội hiện nay, trong đó phải phân tích sâu đến từng giai tầng xã hội để đánh giá đúng thực trạng nhận thức, nhu cầu, nguyện vọng của các đối tượng, từ đó có cách thức tổ chức đấu tranh cho phù hợp, đạt hiệu quả cao./.

Phòng chống "diễn biến hòa bình" trong tình hình mới .

Hiện nay, môi trường mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã, đang và sẽ tập trung sử dụng internet, không gian mạng, chủ yếu là mạng xã hội để chống phá cách mạng nước ta, do vậy, việc phòng, chống “diễn biến hòa bình” trong tình hình mới cần nhận diện và lưu ý một số vấn đề. Trong quá trình tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của Đảng luôn diễn ra trong bối cảnh phức tạp, khó khăn. Trong từng thời điểm cụ thể, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng những khó khăn, vướng mắc, những vấn đề mới nảy sinh để tăng cường, quyết liệt chống phá ta bằng hàng loạt các luận điệu, thủ đoạn mới, tinh vi, xảo quyệt. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, khi Đảng và Nhà nước ta chủ động đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng và xã hội, các thế lực thù địch đã tìm mọi cách để bóp méo, bịa đặt với mục đích cản trở sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới; xuyên tạc chủ nghĩa' Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phá hoại Đảng và chế độ, làm tan rã mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Trước yêu cầu nhiệm vụ mới, công tác đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa chính là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phải được triển khai tích cực, thường xuyên và lâu dài. Trong đấu tranh phải kiên quyết, linh hoạt, chủ động, kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, lấy “xây” làm chính. Từ đó, chú trọng một số vấn đề cụ thể là: Một là, cấp ủy, lãnh đạo, quản lý các cấp, các ngành phải không ngừng nâng cao nhận thức trong cuộc đấu tranh này; phải xác định rõ, quá trình tổ chức đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” không phải thực hiện theo kiểu mệnh lệnh, cơ học, bắt ép cộng đồng phải nhận thức, suy nghĩ và hành động trên một khuôn mẫu chủ quan, duy ý chí, mà là quá trình định hướng tiếp nhận thông tin một cách khách quan, có chọn lọc theo tâm lý, nguyện vọng, nhu cầu, lợi ích thụ hưởng thông tin của nhân dân. Trên cơ sở ấy mới có thể quy tụ được lòng người, thống nhất cộng đồng trên cả hai bình diện nhận thức và hành động nhằm loại bỏ cái xấu, thúc đẩy phát triển cái tốt, cái đẹp, tạo sự lan tỏa trong xã hội. Cơ sở quan trọng nhất để tạo nên tư tưởng xã hội tốt chính là người dân được tiếp nhận thông tin nhanh nhất, phản ánh chân thực, khách quan nhất. Từ đó, thống nhất nhận thức làm cơ sở cho thống nhất ý chí và hành động. Hai là, trước những sự kiện chính trị, nhất là các vụ việc phức tạp, nhạy cảm tác động đến tư tưởng của đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân, các cơ quan thông tin, truyền thông cần khai thác thông tin từ cơ quan chức năng chịu trách nhiệm cung cấp, để thông tin, bình luận trung thực, khách quan, thu hút độc giả vào tầm ảnh hưởng của mình, góp phần định hướng, tạo sự thống nhất trong nhận thức, thái độ và phương pháp giải quyết vấn đề. Về bản chất, đó mới chính là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan thông tin, truyền thông trước Đảng và Nhà nước, trước công chúng và lịch sử. Thực tiễn đã chứng minh, trước những vấn đề bức xúc về tư tưởng, dù độ phức tạp của sự việc đến đâu, nếu thực hiện công tác thông tin kịp thời, đúng đắn, làm tốt định hướng thông tin, thì sự việc sẽ được giải quyết một cách ổn thỏa, bức xúc trong xã hội sẽ được giải tỏa, nhất là không còn cơ hội để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng xuyên tạc, bịa đặt chống phá. Ba là, nâng cao trách nhiệm xã hội, trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức nghề nghiệp của đội ngũ những người làm báo. Mọi trách nhiệm trên các phương diện này chỉ có thể được thực hiện khi báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, mang hơi thở chân thực của cuộc sống. Qua đó, thu hút được đông đảo người đọc, người nghe, người xem quan tâm. Bốn là, xây dựng cơ chế, hình thức và nội dung phát ngôn của cơ quan chịu trách nhiệm trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm. Nhân dân có nhu cầu được cung cấp thông tin về quan điểm của Đảng, Nhà nước trong việc giải quyết những vấn đề như vậy. Sự lên tiếng chính thức, kịp thời của cơ quan có trách nhiệm cũng thể hiện rõ trách nhiệm và năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của cấp ủy và chính quyền các cấp, các ngành trước mỗi vấn đề, sự kiện nảy sinh; đồng thời, nếu được thực hiện tốt sẽ là một biện pháp hiệu quả để định hướng dư luận, củng cố niềm tin, tạo sức đề kháng thúc đẩy phát triển và tiến bộ xã hội. Năm là, khắc phục sự yếu kém trong quản lý những nội dung thông tin trên mạng internet phản ánh phiến diện, suy diễn liên quan đến các vụ việc phức tạp, những bài viết thiếu tính chính xác, sai lệch bản chất về những vấn đề văn hóa, chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống. Tăng cường nâng cao chất lượng công tác kiểm soát, định hướng trong việc đưa thông tin chạy theo thị hiếu tầm thường, giật gân, câu khách của một số báo điện tử. (Trích từ tạp chí Tuyên giáo Trung ương)

NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI TRONG BẢO VỆ CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN, TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH

 Cuộc đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh diễn ra trong bối cảnh phức tạp, vừa có thuận lợi, vừa không ít khó khăn.

VỀ THUẬN LỢI

Một là, tăng trưởng kinh tế trong những năm qua đã thể hiện rõ nét những thành tựu đổi mới, nâng cao đáng kể chất lượng đời sống nhân dân. Những thành quả của tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đã khẳng định đường lối xây dựng và phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa là đúng đắn. Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại đã cho thấy, không có con đường nào chỉ có thuận lợi mà không có khó khăn, hay nói cách khác - không bao giờ có con đường chỉ đầy hoa hồng. Chính vì vậy, không thể vì những khó khăn trước mắt mà hoài nghi con đường chân chính - đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, nhân dân Việt Nam đã chọn.

Hai là, chính trị, xã hội ổn định, dân trí ngày càng cao, các quyền tự do, dân chủ ngày càng được thực hành rộng rãi trong xã hội. Những giá trị này hoàn toàn phù hợp với lý tưởng của Mác, với tâm nguyện của Hồ Chí Minh. Coi trọng tự do và dân chủ, quá trình dân chủ hóa trong Đảng và dân chủ hóa trong xã hội chính là thành công của tất cả cán bộ, đảng viên, của mọi người dân Việt Nam. Đây là nền tảng để có được sự ổn định của đất nước, đại đoàn kết dân tộc, là tiền đề để thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Ba là, nhân dân Việt Nam có lòng yêu nước nồng nàn, thiết tha quan tâm đến tình hình đất nước. Khác với một số xã hội người dân có thể lãnh cảm với chính trị, chỉ quan tâm đến cá nhân mà không quan tâm đến cái chung thì ngược lại, ở Việt Nam trên nhiều phương diện, tinh thần trách nhiệm xã hội của người dân rất cao. Người dân không chỉ biết đến quyền lợi, mà còn thấu hiểu trách nhiệm, nghĩa vụ công dân của mình; không chỉ biết đến cá nhân mà còn biết đến cộng đồng, đến cái chung; không chỉ quan tâm đến bản thân mình mà còn quan tâm đến người nghèo, người yếu thế trong xã hội. Điều này hoàn toàn phù hợp với chủ nghĩa nhân đạo của Mác - Lênin và Hồ Chí Minh.

Bốn là, quá trình hội nhập quốc tế mở ra cho Việt Nam nhiều cơ hội mới, biết được nhiều kinh nghiệm quốc tế, học được từ nhiều tấm gương của thế giới, tiếp xúc với các hệ giá trị, các tinh hoa văn hóa nhân loại, qua đó vươn lên để khẳng định vị thế Việt Nam. Việt Nam là một quốc gia đa dạng văn hóa, rộng mở, bao dung, truyền thống này rất thích hợp với yêu cầu hội nhập của xã hội hiện đại. Chủ nghĩa Mác - Lênin ăn sâu bám rễ được ở Việt Nam, hòa quyện với văn hóa Việt Nam chính nhờ tinh thần bao dung này.

NHỮNG KHÓ KHĂN, THÁCH THỨC

Một là, niềm tin của dân đối với Đảng, đối với chế độ có sự giảm sút. Nguyên nhân trực tiếp của thách thức trên chính là tệ nạn nhóm lợi ích, tham nhũng. Đặc biệt là “tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước. Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty... Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ”(1).

Hai là, đã xuất hiện hiện tượng một bộ phận đảng viên, cán bộ và quần chúng nhân dân lơi là, thậm chí coi thường việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Xuất hiện khuynh hướng đề cao, tuyệt đối hóa tăng trưởng kinh tế, ít chú ý đến củng cố nền tảng tư tưởng. Tính chiến đấu về mặt tư tưởng chưa được đề cao. Xuất hiện tâm lý ngại đấu tranh trên phương diện tư tưởng, lý luận. Một số người coi thường lý luận, chỉ quan tâm đến thực tiễn mà không hiểu rằng lý luận và thực tiễn gắn bó chặt chẽ với nhau không thể tách rời.

Ba là, sự tấn công của các thế lực thù địch và phản động ngày càng tinh vi hơn. Trước đây, các thế lực thù địch và phản động thường xuyên tạc, phủ nhận trực tiếp nền tảng tư tưởng của Đảng, hoặc tấn công cá nhân, bôi nhọ đời tư các nhà kinh điển và các lãnh tụ thì trong thời gian qua, bên cạnh các phương thức cũ, chúng tấn công về mặt lý luận ngày càng nhiều hơn. Ngày càng có nhiều bài viết dài, sâu, đứng trên lập trường, cách tiếp cận phương Tây, trái ngược với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra, ở một mức độ tinh vi hơn, nhiều lý thuyết được dịch, truyền bá vào Việt Nam nhằm pha loãng hoặc nhằm dần thay thế cho hệ tư tưởng chính thống.

Một số kẻ cơ hội chính trị hết lời ca ngợi chủ nghĩa xã hội dân chủ và chủ nghĩa dân chủ xã hội, cho rằng chủ nghĩa xã hội không nhất thiết phải đạt được thông qua đấu tranh giai cấp và cách mạng vô sản. Một số người đã phản bác khái niệm nhà nước xã hội chủ nghĩa, phản đối chuyên chính vô sản; phê phán những luận điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, như chủ nghĩa duy vật lịch sử, lý luận giá trị thặng dư,... Một số khác lại cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin là một hệ thống chưa hoàn chỉnh, các lý luận về mặt triết học, kinh tế, chính trị, xã hội còn nhiều điểm lạc hậu. Tất cả mưu toan thâm hiểm và tinh vi đó của các thế lực thù địch và phản động cần phải bị bóc trần và đấu tranh ngăn chặn.

NHỮNG GIẢI PHÁP CƠ BẢN ĐỂ BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRONG BỐI CẢNH MỚI

Một là, dùng thực tiễn để bảo vệ lý luận, lấy thành tựu đổi mới, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống người dân làm chỗ dựa vững chắc cho tư tưởng.

Bản chất của chủ nghĩa Mác - Lênin chính là thực tiễn như Mác đã từng nói “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”(2). Không một lý thuyết nào có thể đứng vững nếu lý thuyết đó không giúp làm thay đổi thực tiễn theo chiều hướng tốt đẹp hơn. Cũng như vậy, với tư cách là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động, trong điều kiện mới của đất nước, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng ngày càng được khẳng định bằng chính thực tiễn sinh động của Việt Nam.

Hai là, tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, học tập, giáo dục và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là một thứ tín ngưỡng hay giáo điều cứng nhắc, mà là một học thuyết mang tính mở, sáng tạo, gắn liền với sự phát triển của thực tiễn, hay nói cách khác, là thế giới quan và phương pháp luận khoa học. Muốn bảo vệ một cách đúng nghĩa nhất phải thực sự sử dụng vũ khí tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phải phát huy sức mạnh thế giới quan và phương pháp luận của nền tảng tư tưởng trong hoạt động thực tiễn, nghĩa là phải có ích cho việc phát hiện vấn đề, giải quyết vấn đề của thực tiễn Việt Nam. Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phải được nuôi dưỡng, bổ sung và phát triển bằng thực tiễn cuộc sống. Học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chính là để vận dụng vào chỉ đạo hoạt động thực tiễn. Nói cách khác, thực tiễn hằng ngày chính là nguồn sống của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, do đó, tách rời thực tiễn đất nước khỏi nền tảng tư tưởng vừa khiến chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở nên giáo điều, vừa làm chậm quá trình phát triển bền vững của đất nước.

Ba là, phê phán nền tảng tư tưởng của thế lực thù địch và phản động.

Nhiều nhà tư tưởng phương Tây, từ các góc độ của mình đã tập trung phê phán chủ nghĩa Mác - Lênin trên nhiều khía cạnh khác nhau.

Bên cạnh việc thảo luận học thuật, chống lại các luận điệu sai trái, thù địch, việc chống lại các nền tảng tư tưởng của các luận điệu sai trái đó, đấu tranh với các hệ tư tưởng thấm đẫm trong các trào lưu chính trị cũng là một việc làm hết sức quan trọng. Để bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chúng ta cần quan tâm và đấu tranh với các hình thức cực đoan của các loại chủ nghĩa khác, như chủ nghĩa tự do mới, chủ nghĩa dân tộc dân túy, chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa đế quốc,... Cụ thể, chủ nghĩa tự do mới phản đối sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế, cực đoan hóa vai trò của thị trường tự do, quá thiên về chủ nghĩa cá nhân; chủ nghĩa dân tộc dân túy cực đoan hoá chủ nghĩa dân tộc, đe dọa đến hòa bình và thịnh vượng chung…

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vốn được đúc kết từ tinh hoa trí tuệ dân tộc và nhân loại, vì vậy phải được sử dụng để đối thoại với các trào lưu tư tưởng tiến bộ hiện nay, để hấp thụ, chuyển hóa và sử dụng những giá trị hợp lý phục vụ cho dân tộc và cộng đồng.

Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh không tách rời kho tàng trí tuệ nhân loại, không quay lưng với thế giới, không “một mình một kiểu”. Chủ nghĩa Mác - Lênin không xa lạ với những giá trị của thế giới phương Tây đương đại, như tôn trọng nhân phẩm, tôn trọng tự do, bình đẳng, dân chủ, bác ái, bao dung,... vì những giá trị này cũng chính là những giá trị cốt lõi của chủ nghĩa Mác - Lênin.

Chúng ta không nên chỉ tập trung vào những điểm khác biệt của chủ nghĩa Mác - Lênin so với các học thuyết khác mà còn phải nhìn thấy những điểm tương đồng, dù cho cách tiếp cận có thể khác nhau. Có như vậy, chúng ta mới có thể xuất phát từ cao độ của chủ nghĩa Mác - Lênin để lý giải các học thuyết khác, phê phán và tiếp thu các học thuyết ấy nhằm làm phong phú thêm cho hệ tư tưởng mácxít và giải quyết tốt hơn những vấn đề do thực tiễn đặt ra./.

Nguồn: Tuyên giáo.


Giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng trước âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch

 Trong mọi điều kiện, hoàn cảnh, lúc thuận lợi cũng như lúc khó khăn, thử thách, Đảng ta luôn thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, trí tuệ, đạo đức, văn minh của một Đảng cách mạng chân chính, thực sự xứng đáng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của Nhân dân.

GIẢI PHÁP GÓP PHẦN LÀM THẤT BẠI ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN “DIỄN BIẾN HOÀ BÌNH” TRÊN MẶT TRẬN CHÍNH TRỊ, TƯ TƯỞNG, VĂN HOÁ

 Trên mặt trận chính trị, tư tưởng, văn hoá, chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó cần tập trung làm tốt những giải pháp cơ bản sau:

Tiếp tục đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn để làm sáng tỏ nnhững vấn đề căn bản cả lý luận và thực tiễn đang đặt ra trên con đường đi lên CNXH ở nước ta, làm cho chủ nghĩa Mác - Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh ngày càng thấm sâu vào các tầng lớp nhân dân, thực sự giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần của toàn xã hội. Tích cực đổi mới công tác giáo dục chính trị - tư tưởng, nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, để mọi người nhận thức rõ những âm mưu, thủ đoạn thâm độc trong chiến lược “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch, nhất là trên lĩnh vực tư tưởng, chính trị, văn hoá, từ đó tạo niềm tin, sức đề kháng cho toàn đảng, toàn dân trước các chiêu bài đấu tranh của địch trên tất cả các lĩnh vực

Đất quốc phòng không phục vụ mục đích kinh tế đơn thuần

 

Quốc hội khóa XIV đã thông qua Nghị quyết về thí điểm một số chính sách để tháo gỡ vướng mắc, tồn đọng trong quản lý, sử dụng đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng kinh tế với tỷ lệ tán thành rất cao.

 LỜI BÁC DẠY: YÊU NƯỚC PHẢI LÀM TỐT TUYÊN TRUYỀN

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Mỗi người yêu nước đều phải làm tuyên truyền. Mỗi cử chỉ, mỗi hành động của chúng ta có thể là một công tác tuyên truyền”.
Công tác tuyên truyền là một bộ phận của công tác tư tưởng, có vị trí hết sức quan trọng trong hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, truyền tải các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng, các sự kiện, những vấn đề mới, vấn đề cấp bách trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ đây, mang lại thế giới quan, nhân sinh quan, lý tưởng sống, nhãn quan chính trị; từng bước vun đắp niềm tin, tình cảm cách mạng cho cộng đồng, hướng dẫn thống nhất hành động cho mọi người.
Để công tác tuyên truyền có hiệu quả cao, sức lan tỏa rộng. Trước hết, cần ở mỗi người tính tự giác cao, tinh thần học hỏi lớn, biết phát huy vai trò làm chủ, tích cực, tự giác, sáng tạo. Bên cạnh đó, phải biết khích lệ, động viên, cổ vũ quần chúng nhân dân làm tuyên truyền. Trong đó, lực lượng nòng cốt là cán bộ, đảng viên. Có như vậy, công tác tuyên truyền mới thực sự là công cụ sắc bén trong đấu tranh, phản bác có hiệu quả trước mọi luận điệu, âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Sẵn sàng đập tan chiến lược “diễn biến hòa bình”, kìm hãm hiệu quả sự suy thoái “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.
Muốn công tác tuyên truyền có sức lan tỏa lớn phải có cách làm hay, nội dung, hình thức phong phú. Trong đó, yếu tố con người là chủ đạo. Do vậy, người làm tuyên truyền phải có bản lĩnh chính trị, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng; luôn nói, viết và làm việc mẫu mực, tiêu biểu cả về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực công tác thì công tác tuyên truyền mới đạt được mục đích, yêu cầu đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Một trăm bài diễn thuyết hay không bằng một tấm gương sống” và “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.

Một số giải pháp định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội trước thềm Đại hội XIII của Đảng

 

Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị trọng đại, có ý nghĩa lớn lao đối với sự phát triển vững bền của đất nước nên thu hút sự quan tâm, kỳ vọng, niềm tin của cả hệ thống chính trị, của đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân.

Càng đến gần Đại hội, sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt này càng là dịp mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội thi nhau lợi dụng, tăng cường các hoạt động vu khống, xuyên tạc, bịa đặt, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam trên mạng xã hội. Nhận rõ vai trò quan trọng của dư luận xã hội, các thế lực thù địch tranh thủ mạng xã hội, kết nối internet, sử dụng lực lượng, phương tiện trong và ngoài nước để thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, tạo sự chống đối từ nội bộ Đảng, làm mất niềm tin, hoài nghi lẫn nhau dẫn đến mất đoàn kết mà tự diễn biến, tự tan vỡ. Họ cố tình đưa nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc, đặc biệt là về công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội. Lợi dụng vào một số hạn chế, yếu kém trong quá trình lãnh đạo, quản lý đất nước, chúng ra sức thổi phồng, bóp méo sự thật, bịa đặt, nhằm phủ nhận những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trong sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, v.v. Vì thế, định hướng tư tưởng cho cán bộ, chiến sĩ trở nên quan trọng hơn bao giờ hết, tạo sự thống nhất về nhận thức, thái độ và hành động của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Để đạt được điều đó, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp cơ bản sau:


Thứ nhất, thường xuyên cung cấp thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời, đúng quan điểm, đường lối của Đảng và sát với tình hình thực tiễn của Quân đội. Đây là biện pháp quan trọng hàng đầu, nên lãnh đạo, chỉ huy các cấp cần nắm chắc cơ sở khoa học của quá trình hình thành và phát triển dư luận; gắn sát với tình hình thực tiễn để xác định nội dung, biện pháp tiến hành sát hợp, mang lại hiệu quả cao. Trong đó, coi trọng việc cung cấp đầy đủ thông tin, tri thức, luận cứ khoa học có tác dụng định hướng, dẫn dắt nhận thức cho quân nhân; thấy rõ Đại hội XIII của Đảng là sự kiện chính trị trọng đại của đất nước; để Đại hội thành công là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị. Quá trình cung cấp thông tin cần chú ý đến đặc điểm đối tượng quân nhân (độ tuổi, giới tính, tâm thế, điều kiện tiếp nhận (ở đâu, lúc nào, phương tiện kỹ thuật vật chất đảm bảo); nguồn thông tin chính thống, thông tin xấu độc, sai trái, v.v.

Thứ hai, tăng cường giáo dục chính trị, lãnh đạo tư tưởng, nâng cao trình độ nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ. Thực hiện tốt biện pháp này là cơ sở quan trọng bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ có kiến thức sâu rộng, lập luận khoa học, giúp họ có khả năng phân biệt đúng - sai, nhận xét, đánh giá khách quan, chính xác về các sự kiện, hiện tượng xảy ra trong thực tiễn, từ đó nhanh chóng đi đến thống nhất về nhận thức và tư tưởng, hình thành dư luận tích cực. Đồng thời, thông qua giáo dục mà bồi dưỡng trình độ chính trị, tư tưởng, kinh nghiệm, vốn sống cho cán bộ, chiến sĩ hình thành bản lĩnh chính trị trong xem xét và ứng xử phù hợp với các vấn đề nảy sinh ngoài xã hội.

Thứ ba, phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ các cấp trong định hướng và điều khiển dư luận. Sự  hình  thành và  phát  triển dư  luận  tập  thể  quân nhân đều tuân theo quy luật khách quan với sự tham gia chi phối của các nhân tố chủ quan. Do vậy, việc phát huy vai trò của nhân tố con người, tích cực hóa một số nhân tố trong tập thể là rất cần thiết, nhất là vai trò của cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, các tổ chức đảng, tổ chức quần chúng, các nhóm và thủ lĩnh không chính thức mang tư tưởng tích cực. Để phát huy tốt vai trò của lực lượng này, cấp ủy, chỉ huy các cấp cần tập trung bồi dưỡng những phẩm chất năng lực cần thiết, tạo dựng uy tín, biết cách tác động đối với quân nhân để hình thành dư luận tích cực, khắc phục tin đồn thất thiệt, thực sự xứng đáng là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò chủ đạo trong định hướng điều khiển dư luận tập thể quân nhân.

Thứ tư, nâng cao khả năng “miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ kết hợp với đấu tranh phản bác các quan điểm, tư tưởng sai trái, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Nâng cao khả năng “miễn dịch” cho cán bộ, chiến sĩ trước những tin đồn thất thiệt về các sự kiện, hiện tượng xảy ra trong thực tiễn là việc làm hết sức cần thiết, nhất là trong tiến trình diễn ra đại hội đảng bộ các cấp, tiến tới Đại hội XIII của Đảng. Lợi dụng sự kiện quan trọng này, các thế lực thù địch tăng cường chống phá ta một cách toàn diện, với những âm mưu, thủ đoạn hết sức tinh vi, xảo quyệt, như: nhào nặn thông tin, bóp méo sự thật, dựng chuyện, đẩy mạnh chiến dịch “tâm công”, đánh vào tâm lý, lan truyền tin đồn thất thiệt, tạo dư luận tiêu cực,... làm cho một số cán bộ, chiến sĩ nhận thức lệch lạc về chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, nhiệm vụ của Quân đội, công tác xây dựng Đảng.

Thực hiện tốt những nội dung cơ bản trên, sẽ giúp cho cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân có cách nhìn tổng quan về thực trạng đời sống xã hội hiện nay và là điều kiện quan trọng để lãnh đạo, chỉ huy các cấp kịp thời có những biện pháp hữu hiệu trong định hướng tư tưởng bộ đội, nhất là khi Đại hội XIII của Đảng đang đến gần./.

 

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH LỢI DỤNG CÁC VẤN ĐỀ TÔN GIÁO CHỐNG PHÁ CÁCH MẠNG VIỆT NAM

ÂM MƯU: Vấn đề tôn giáo là một trong những lĩnh vực trọng yếu mà các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá cách mạng, cùng với việc lợi dụng trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng nhằm chuyển hóa xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam: xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với toàn xã hội, thực hiện âm mưu “Không đánh mà thắng”. Để thực hiện âm mưu chủ đạo này, chúng lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo nhằm các mục tiêu cụ thể sau: - Phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc: + Chia rẽ dân tộc đa số với dân tộc thiểu số, và giữa những dân tộc thiểu số với nhau. + Chia rẽ đồng bào theo tôn giáo và không theo tôn giáo, giữa các đồng bào theo các tôn giáo khác nhau. - Kích động quần chúng: + Kích động các dân tộc thiểu số , tín đồ chức sắc các tôn giáo chống lại chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước. + Đối lập các dân tộc, các tôn giáo với sự lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. + Vô hiệu hóa sự quản lí của nhà nước đối với các lĩnh vực đời sống xã hội, gây mất ổn định chính trị-xã hội, nhất là vùng dân tộc, tôn giáo. + Coi tôn giáo là lực lượng đối trọng với Đảng, nhà nước ta, nên chúng thường xuyên hậu thuẫn, hỗ trợ về vật chất, tinh thần để các phần tử chống đối trong các dân tộc, tôn giáo chống đối Đảng và nhà nước, chuyển hóa chế độ chính trị Việt Nam. Tạo dựng tổ chức: Chúng tạo dựng các tổ chức phản động trong các dân tộc thiểu số, các tôn giáo như Giáo hội phật giáo Việt Nam thống nhất, Hội thánh tin lành Đề Ga, Nhà nước Đề Ga độc lập, Mặt trận giải phóng Khơme Crôm, Mặt trận Chămpa để tiếp tục chống phá cách mạng Việt Nam. THỦ ĐOẠN: Thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo thống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch rất thâm độc, tinh vi, xảo trá, đê tiện dễ làm cho người ta tin và làm theo. Chúng thường sử dụng chiêu bài “nhân quyền”, “dân chủ”, “tự do”; những vấn đề lịch sử để lại; những đặc điểm văn hóa, tâm lí của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo; những khó khăn trong đời sống vật chất, tinh thần của các dân tộc , các tôn giáo; những thiếu sót trong thực hiện chính sách kinh tế - xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước để chống phá cách mạng Việt Nam. - Chúng tìm mọi cách xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chính sách của Đảng, Nhà nước ta,mà trực tiếp là quan điểm, chính sách dân tộc , tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta. Chúng lợi dụng những thiếu sót, sai lầm trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo để gây mâu thuẫn, tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. - Chúng lợi dụng những vấn đề dân tộc, tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi, dân tộc cực đoan, li khai; kích động, chia rẽ quan hệ lương – giáo và giữa các tôn giáo khác nhau hòng làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc. - Chúng tập trung phá hoại các cơ sỏ kinh tế xã hội; mua chuộc, lôi kéo, ép buộc đồng bào các dân tộc, tôn giáo chống đối chính quyền, vượt biên trái phép, gây mất ổn định chính trị - xã hội, bạo loạn, tạo các điểm nóng để vu khống Việt Nam đàn áp các dân tộc, tôn giáo vi phạm dân chủ, nhân quyền để cô lập, làm suy yếu cách mạng Việt Nam. - Chúng tìm mọi cách để xây dựng, nuôi dưỡng các tổ chức phản động người Việt Nam ở nước ngoài; tập hợp, tài trợ, chỉ đạo lực lượng phản động trong các dân tộc, các tôn giáo ở trong nước hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam như: truyền đạo trái phép để “tôn giáo hóa” các vùng dân tộc , lôi kéo, tranh giành đồng bào dân tộc, gây đối trọng với Đảng, chính quyền. Điển hình là các vụ bạo loạn ở Tây Nguyên năm 2001, 2004, việc truyền đạo Tin Lành trái phép vào các vùng dân tộc thiểu số Tây Bắc, Tây Nguyên. GIẢI PHÁP PHÒNG CHỐNG Để vô hiệu hóa sự lợi dụng vấn đề dân tộc , tôn giáo ở Việt Nam của các thế lực thù địch thì giải pháp chung cơ bản nhất là thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế - xã hội, mà trực tiếp là vấn đề dân tộc, tôn giáo, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân các dân tộc, các tôn giáo, củng cố xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, theo mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Vậy nên, hiện nay ta cần tập trung vào năm giải pháp cơ bản sau: Một là,Tuyên truyền, quán triệt quan điểm, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước; về âm mưu, thủ đoạn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của thế lực thù địch cho toàn dân. Đây là giải pháp đầu tiên, rất quan trọng. Chỉ trên cơ sở nâng cao nhận thức, tư tưởng của cả hệ thống chính trị, của toàn dân mà trực tiếp là của đồng bào các dân tộc, tôn giáo về các nội dung trên, thì chúng ta mới thực hiện tốt chính sách dân tộc, tôn giáo, vô hiệu hoá được sự lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo của các thế lực thù địch. Hai là,Tăng cường xây dựng củng cố khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vững ổn định chính trị – xã hội. Đây là một trong những giải pháp quan trong nhằm nâng cao nội lực, tạo nên sức đề kháng trước mọi âm mưu thủ đoạn nham hiểm của kẻ thù. Cần tuân thủ những vấn đề có tính nguyên tắc trong xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc theo tư tưởng Hồ Chí Minh: Xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc phải dựa trên nền tảng khối liên minh công – nông – trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực hiện đại đoàn kết phải rộng rãi, lâu dài. Mở rộng, đa dạng hoá các hình thức tập hợp nhân dân, nâng cao vai trò của mặt trận và các đoàn thể nhân dân. Kiên quyết đấu tranh loại trừ nguy cơ phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc. Ba là,Chăm lo nâng cao đồi sống vật chất tinh thần của đồng bào các dân tộc, các tôn giáo. Đây cũng là một trong những giải pháp quan trọng, có ý nghĩa nền tảng để vô hiệu hoá sự lợi dụng của kẻ thù. Khi đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao, đồng bào sẽ đoàn kết, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước, thực hiện tốt quyền lợi, nghĩa vụ công dân thì không kẻ thù nào có thể lợi dụng vấn đề dâc tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng Việt Nam. Bốn là,Phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị; của những người có uy tín trong các dân tộc, tôn giáo tham gia vào phòng chống lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo chống phá cách mạng Việt Nam của các thế lực thù địch. Tích cực xây dựng hệ thống chính trị ở các vùng dân tộc, vùng tôn giáo. Thực hiện chính sách ưu tiên trong đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng đội ngũ cán bộ, cả cán bộ lãnh đạo quản lí và cán bộ chuyên môn kỹ thuật, giáo viên là người dân tộc thiểu số, người có tôn giáo. Bởi đây là đội ngũ cán bộ sở tại có rất nhiều lợi thế trong thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo. Đổi mới công tác dân vận vùng dân tộc, tôn giáo theo phương châm: chân thành, tích cực, thận trọng, kiên trì, vững chắc; sử dụng nhiều phương pháp phù hợp với đặc thù từng dân tộc, từng tôn giáo. Năm là,Chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng làm thất bại mọi âm mưu thủ đoạn lợi dụng tôn giáo chống phá cách mạng của các thế lực thù địch; kịp thời giải quyết tốt các điểm nóng. Cần thường xuyên vạch trần bộ mặt phản động của kẻ thù để nhân dân nhận rõ và không bị lừa bịp. Đồng thời, vận động, bảo vệ đồng bào các dân tộc, tôn giáo đề đồng bào tự vạch mặt bọn xấu cùng những thủ đoạn xảo trá của chúng. Phát huy vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng trong cuộc đấu tranh này./.

Lạt tẩy thông tin xuyên tạc công tác nhân sự của Đại hội Đảng lần thứ XIII



Thực tế dù công tác chuẩn bị tốt đến đâu, kết quả tích cực thế nào, dù quy trình công tác chuẩn bị nói chung và công tác nhân sự rà rất rõ ràng, từng bước bài bản, nhưng cứ trước mỗi kỳ đại hội Đảng, nhất là Đại hội toàn quốc thì số đối tượng xấu lại tập trung phát tán nhiều thông tin xuyên tạc các công việc chuẩn bị Đại hội, nhất là vấn đề nhân sự. Chúng phát tán trên mạng xã hội các phương án “tự sắp xếp” nhân sự cấp cao (cứ như được Đảng CSVN giao cho việc đó); cùng với việc nói xấu người này người kia nhất là người trong diện quy hoạch, ứng cử lãnh đạo cấp cao với các kiểu bịa đặt nào là “tranh giành quyền lực”, “phe nọ nhóm kia” để câu view, tung hỏa mù chống phá Đại hội Đảng.

TƯ TƯỞNG KHOAN DUNG TRONG VĂN HÓA QUÂN SỰ VIỆT NAM

 

1. Chỉ tiến hành chiến tranh khi kẻ thù buộc ta phải thực hiện

Trong lịch sử, các triều đại phong kiến Việt Nam đều có giải pháp ngoại giao khôn khéo, mềm dẻo, linh hoạt nhằm giữ hòa hiếu, tránh nạn binh đao, khói lửa; khi có nguy cơ chiến tranh, luôn tìm mọi cách hóa giải, ngăn chặn, đẩy lùi và chỉ tiến hành chiến tranh khi không còn lựa chọn nào khác.

Trong 30 năm chiến tranh cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta đã có những quyết sách sắc sảo, đúng đắn, nhằm phân hóa kẻ thù, trì hoãn, hóa giải chiến tranh; đồng thời, tích cực chuẩn bị mọi mặt cho đất nước sẵn sàng đối phó khi kẻ thù cố tình gây chiến. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, nước Việt Nam non trẻ đứng trước nguy cơ bị thực dân Pháp xâm lược, chúng ta đã ký Hiệp định sơ bộ Việt - Pháp, đấu tranh tại Hội nghị Fontainebleau và sau là Tạm ước Việt - Pháp đều nhằm mục đích trì hoãn, hóa giải không để chiến tranh xảy ra, có điều kiện củng cố đất nước. Khi thiện chí đó không được đáp ứng, buộc chúng ta phải tiến hành chiến tranh. Điều đó được thể hiện rõ trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Hỡi đồng bào toàn quốc, chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”!

2. Thắng bằng phương pháp thay vì thắng bằng vũ khí, trang bị

Kiên trì và phát huy cao độ đường lối chiến tranh nhân dân. Tiến hành chiến tranh nhân dân đã trở thành truyền thống, nét văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam. Nhờ kiên trì đường lối chiến tranh nhân dân, lòng yêu nước cùng tinh thần cố kết cộng đồng dân tộc được phát huy cao độ; đồng thời, khẳng định rõ vai trò của nhân dân “toàn dân vi binh”, “chúng chí thành thành”, “cử quốc nghênh địch”; khơi dậy ý chí quật cường của dân tộc “Đầu tôi chưa rơi xuống đất, xin bệ hạ đừng lo”. “Trước hết hãy chém đầu thần, rồi sau hãy hàng”, “Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”. Điều đó còn được thể hiện, đánh để giữ cội nguồn, bản sắc văn hóa Việt Nam: “Đánh cho để dài tóc/ Đánh cho để đen răng/ Đánh cho nó chích luân bất phản/ Đánh cho nó phiến giáp bất hoàn/ Đánh cho sử tri nam quốc anh hùng chi hữu chủ”. Trong thời đại Hồ Chí Minh, “Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”. Kiên trì đường lối quốc phòng toàn dân, chiến tranh nhân dân là quan điểm cơ bản của Đảng, là tư tưởng cốt lõi của chiến lược quốc phòng, quân sự thời kỳ mới và là sự phát huy cao độ văn hóa quân sự Việt Nam.

Đánh bằng mưu kế, thắng bằng thế thời: đánh giặc bằng nghệ thuật quân sự độc đáo là văn hóa quân sự và về một mặt nào đó cũng thể hiện tư tưởng khoan dung của văn hóa quân sự Việt Nam. Truyền thống đánh giặc bằng nghệ thuật quân sự độc đáo tập trung ở nghệ thuật “lấy nhỏ thắng lớn, lấy ít địch nhiều”, “thế trận xuất kỳ lấy yếu chống mạnh, dùng quân mai phục lấy ít địch nhiều”, “lấy đoản binh, chế trường trận”, lấy đoản chế trường là việc thường làm của binh pháp Việt Nam. 

Luôn đề cao tính nhân văn trong các hoạt động quân sự: Quan điểm cơ bản của dân tộc Việt Nam trong chiến tranh là tiết kiệm binh lực, hạn chế thương vong, đưa địch vào thế sa lầy, suy yếu và thất bại. Khi địch đã đầu hàng hoặc bị bắt, đều được đối xử khoan hồng, được bảo vệ an toàn về tính mạng, tôn trọng về nhân phẩm, kể cả tù binh, hàng binh là người nước ngoài. Thời Trần, Trần Nhật Duật còn tổ chức được đội quân người Tống trong quân ngũ của mình để chống xâm lược. Khi kẻ địch bị bao vây, có nguy cơ bị tiêu diệt, “thể lòng trời ta mở đường hiếu sinh”, thậm chí còn cấp cho lương thảo, phương tiện để về nước, vậy nên mặc dù ra đến biển vẫn còn “hồn bay phách lạc”, về đến nước vẫn còn “tim đập, chân run”. Ngay cả với kẻ thù không đội trời chung, Hồ Chí Minh vẫn khẳng định: “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, “vừa đánh, vừa đàm”, tạo điều kiện cho đối phương kết thúc cuộc chiến trong danh dự. Đó là phương châm chỉ đạo chiến tranh, đồng thời thể hiện tư tưởng nhân văn sâu sắc, vượt lên trên giá trị văn hóa thông thường, đỉnh cao giá trị văn hóa quân sự của mọi thời đại.

Kết hợp tác chiến với các hình thức đấu tranh khác: dân tộc Việt Nam luôn lấy tư tưởng “không đánh mà thắng” làm thượng sách để giữ nước; kết hợp đấu tranh quân sự với đấu tranh chính trị và ngoại giao tạo nên sức mạnh tổng hợp để chiến thắng kẻ thù làm phương châm chỉ đạo chiến tranh. Thời Lê, dân tộc ta hết sức coi trọng giảng hòa với giặc để chuẩn bị tác chiến, “bên ngoài giả thác hòa thân” để “bên trong lo rèn chiến cụ”, “quyên tiền, mộ lính, giết voi khao quân”; khi vây thành thì kiên quyết tiêu diệt quân viện, triệt đường lương thảo, thực hiện “Ngã mưu phạt nhi tâm công, bất chiến tự khuất”8 buộc quân địch phải đầu hàng và rút quân về nước. Trong chiến tranh giải phóng, ta đã hết sức coi trọng đấu tranh chính trị, tích cực tiến hành công tác binh vận, địch vận, đánh vào lòng người, lôi kéo những người lầm đường, lạc lối về với chính nghĩa, hạn chế đổ máu. Thực hiện nghệ thuật vừa đánh, vừa đàm, mà nổi bật là Hiệp định Genève (1954) và Hiệp định Paris (1973), đó chính là sự phát triển đỉnh cao nghệ thuật ngoại giao chiến tranh, hỗ trợ đắc lực cho tác chiến trên chiến trường. Trong chiến tranh, luôn phân biệt rõ kẻ địch với nhân dân nước đối phương, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phân hóa kẻ thù giành lợi thế kết thúc chiến tranh trong điều kiện có lợi nhất, hạn chế thương vong, tránh cho đất nước không bị tàn phá nặng nề.

3. Khép lại quá khứ, hướng tới tương lai

Đây là nét đẹp, thể hiện rõ tính nhân văn, tư tưởng khoan dung trong văn hóa quân sự Việt Nam. Sau các cuộc chiến tranh, thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, Việt Nam luôn đối xử nhân đạo với những người lầm đường, lạc lối, nhân cách của họ được tôn trọng và tạo điều kiện để họ hòa nhập với cộng đồng, làm ăn sinh sống. 

Tư tưởng khoan dung trong văn hóa quân sự là nét đặc sắc, truyền thống, nội dung hết sức quan trọng trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc. Do vậy, chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát triển tư tưởng này trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Hải Đăng st

 

CHỐNG CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC TRƯỚC THỀM ĐẠI HỘI ĐẢNG



Lời Bác dạy ngày này năm xưa!

 

        “Mỗi người yêu nước đều phải làm tuyên truyền. Mỗi cử chỉ, mỗi hành động của chúng ta có thể là một công tác tuyên truyền”. Đây là khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong bài viết “Tuyên truyền”, đăng Báo Nhân dân, số 273, ngày 25 tháng 11 năm 1954, với bút danh “C.B”.

Công tác tuyên truyền là một bộ phận của công tác tư tưởng, có vị trí hết sức quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng, cũng như công tác xây dựng Đảng, nhằm phổ biến, truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng, các sự kiện thời sự lớn của đất nước và quốc tế, những vấn đề mới đặt ra trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Qua công tác tuyên truyền, góp phần xây dựng thế giới quan, nhân sinh quan, lý tưởng sống, nhận thức chính trị, niềm tin, tình cảm cách mạng, hướng dẫn hành động, phát huy vai trò làm chủ, tính tích cực, tự giác, sáng tạo, động viên, cổ vũ, khích lệ cán bộ, đảng viên và quần chúng ra sức thi đua thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong mỗi thời kỳ cách mạng… Đồng thời, công tác tuyên truyền còn là công cụ sắc bén trong đấu tranh, phản bác có hiệu quả trước mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, chống phá cách mạng Việt Nam và tham gia phê phán các quan điểm sai trái, lệch lạc, tiêu cực nảy sinh trong cán bộ, đảng viên và quần chúng. Đặc biệt là trước thềm Đại Hội XIII của Đảng ta.

Công tác tuyên truyền là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; trong đó đội ngũ cán bộ, đảng viên, đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên giữ vai trò nòng cốt; song điều quan trọng nhất ở mỗi cán bộ tuyên truyền là phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất đạo đức cách mạng trong sáng; luôn nói, viết, làm đúng chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; chấp hành nghiêm quy chế, quy định về cung cấp thông tin, phát ngôn; tiêu biểu về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và năng lực công tác thì công tác tuyên truyền mới đạt được mục đích, yêu cầu đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Một trăm bài diễn thuyết hay không bằng một tấm gương sống” và “Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”.

Thấm nhuần, học tập và làm theo lời Bác Hồ dạy, công tác tuyên truyền của Đảng trong Quân đội ta thường xuyên được cấp ủy, tổ chức đảng, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy, cơ quan chính trị các cấp trong Quân đội quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện nghiêm túc, với nhiều hình thức, phương pháp, cách làm sáng tạo, góp phần nâng cao nhận thức, xây dựng niềm tin, niềm vinh dự, tự hào về truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng, về danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” và phát huy cao độ bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, ý thức, trách nhiệm, trí tuệ, tài năng, sức sáng tạo to lớn của cán bộ, chiến sĩ toàn quân, cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới./.

                                                                                                    VHT.

 

Chiến tranh không phải trò đùa! Hãy trân trọng, gìn giữ cuộc sống bình yên của bản thân, gia đình, quê hương và đất nước!

Video clip về xung đột ở Ác-mê-ni-a và A-déc-bai-dan gửi tới những ai còn mơ hồ, mất cảnh giác tin theo các luận điệu sai trái, thù địch, mưu đồ làm cho đất nước bất ổn, xung đột, chiến tranh của các thế lực phản động. 





Thứ Hai, 23 tháng 11, 2020


"Thép đã tôi trong lửa đỏ, nước lạnh, lúc đó thép không hề biết sợ"








Khởi nghĩa Nam Kỳ thể hiện sức mạnh quật khởi của nhân dân

 

Ngày 23-11, Thành ủy, HĐND, UBND, Ủy ban MTTQ Việt Nam TP Hồ Chí Minh tổ chức Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày Nam Kỳ khởi nghĩa (23-11-1940 / 23-11-2020).

Việt Nam tham gia lực lượng "mũ nồi xanh" - hoàn thiện luật pháp cho một chủ trương đúng

 

Có lẽ đã từ rất lâu mới có một nghị quyết của Quốc hội được thông qua với tỷ lệ tuyệt đối, 100% đại biểu có mặt tham gia biểu quyết (455/455 đại biểu). Đó chính là Nghị quyết về tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc (GGHB LHQ), được Quốc hội khóa XIV thông qua tại Kỳ họp thứ mười vừa qua.

Đảng luôn lắng nghe dân để có “văn bia muôn đời sau”

 

Việc lấy ý kiến góp ý của nhân dân vào các dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng được tiến hành thời gian qua là nhằm tập hợp, phát huy trí tuệ, quyền làm chủ của người dân trong tham gia hoạch định đường lối, chủ trương lãnh đạo, quyết sách quan trọng của Đảng đối với đất nước và sự nghiệp cách mạng; góp phần nâng cao chất lượng dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng.

Lật tẩy những chiêu trò chống phá Đảng của các thế lực thù địch

 

Chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch, trong đó chúng tập trung cao nhất vào chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam với những âm mưu, thủ đoạn rất tinh vi, xảo quyệt và vô cùng nguy hiểm.

Dấu ấn nổi bật từ công tác lãnh đạo, chỉ đạo

 

Thời gian qua, Đại hội Đảng bộ (ĐHĐB) các cấp, nhiệm kỳ 2020-2025 thực sự là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, lan tỏa trên phạm vi cả nước.

Cần nâng cao cảnh giác trước các hoạt động lợi dụng vấn đề “xã hội dân sự” chống phá đất nước trước thềm Đại hội XIII của Đảng.

 

Thời gian gần đây, một số đối tượng cơ hội chính trị lợi dụng việc Đảng ta tiến hành lấy ý kiến đóng góp vào Dự thảo các Văn kiện phục vụ Đại hội XIII để đưa ra nhiều quan điểm, ý kiến trái chiều, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc.

Trong đó, các đối tượng tích cực cổ súy, ca ngợi, hình tượng hóa vấn đề “xã hội dân sự”, yêu cầu Đảng ta phải có cơ chế khuyến khích “xã hội dân sự” phát triển, coi đây là một chiêu bài để hiện thực hóa chiến lược “diễn biến hòa bình” tại Việt Nam.

Thực tiễn cách mạng tại Liên Xô, Đông Âu và nhiều nước trên thế giới cũng như tại chính Việt Nam cho thấy các thế lực thù địch, chống đối đã sử dụng chiêu bài “xã hội dân sự” để tiến hành các hoạt động chống phá, tấn công nhằm làm thay đổi tình hình chính trị của quốc gia. Thủ đoạn chống phá dưới chiêu bài “xã hội dân sự” đã tạo ra những hệ quả vô cùng nghiêm trọng, là nguồn gốc thai nghén ra các cuộc “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”, bạo loạn lật đổ chính quyền tại không ít nơi.

Khái niệm “xã hội dân sự” (Civil Society) có nguồn gốc từ phương Tây. Một cách đơn giản, “xã hội dân sự” được hiểu là những hoạt động tập thể tự nguyện, được hình thành và vận hành trong không gian công cộng và tư nhân; tồn tại độc lập, dưới hình thức các tổ chức và thiết chế tự quản, nằm ngoài vùng ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố nhà nước, yếu tố thị trường và ngoài khu vực gia đình. Tại Việt Nam, các tổ chức “xã hội dân sự” đang tồn tại dưới nhiều hình thức như: tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, nhân đạo, từ thiện, hữu nghị; các tổ chức cộng đồng theo dòng tộc, sở thích; các tổ chức dịch vụ công không phải do Nhà nước lập ra… Các tổ chức này hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự bảo đảm kinh phí, phi lợi nhuận, tuân thủ các quy định của pháp luật và tích cực phối hợp hoạt động với Nhà nước.

Tuy nhiên, với mưu đồ chống phá Việt Nam, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, các thế lực thù địch, chống đối, cơ hội chính trị đang bóp méo, biến tướng vấn đề về “xã hội dân sự”, coi việc hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” là bước đầu để tập hợp lực lượng, thai nghén, sản sinh ra các tổ chức chính trị đối lập với Đảng Cộng sản ngay trong lòng đất nước.

Điều này chúng ta có thể dễ dàng thấy được hoạt động của nhiều hội, nhóm núp bóng “xã hội dân sự” do các cá nhân, tổ chức chống đối, cơ hội chính trị ở trong và ngoài nước thành lập, điều hành, như: “Hội anh em dân chủ”, “Hội bầu bí tương thân”, “Hội nhà báo độc lập”, “Tổ chức xã hội dân sự”, “Viet Liberty” (Việt Nam Tự do), “Nhà xuất bản tự do”, “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”…

Đặc biệt, các đối tượng chống đối không chỉ đơn thuần thành lập các hội, nhóm dưới bóng “xã hội dân sự” trong lòng Việt Nam, hoạt động một cách độc lập, riêng rẽ, mà đã có sự móc nối, câu kết chặt chẽ với nhiều tổ chức quốc tế thường xuyên có hoạt động chống phá Việt Nam như RSF (Phóng viên không biên giới), AI (Ân xá quốc tế), VOICE (Sáng kiến thể hiện lương tâm người Việt hải ngoại)…

Dưới vỏ bọc “xã hội dân sự”, các đối tượng thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” tại Việt Nam; hình thành các hội nhóm, tổ chức để tập hợp lực lượng, tiến hành huấn luyện, đào tạo các phương thức hoạt động; tạo dựng lực lượng chống đối trong lòng đất nước, tiến đến các cuộc bạo loạn lật đổ theo hướng “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”.

Cần phải nhấn mạnh, “dân chủ” chỉ là vỏ bọc để các đối tượng đưa ra nhằm đánh lừa nhận thức của người dân. Mục tiêu của việc thúc đẩy cái gọi là “xã hội dân sự” tại Việt Nam là tạo ra con đường để hình thành các tổ chức, lực lượng chính trị đối lập với Đảng Cộng sản một cách công khai, hợp pháp. Từ đó, các đối tượng đưa Việt Nam đi vào con đường đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản với Nhà nước và xã hội.

Khi tiến hành chống phá dưới chiêu bài “xã hội dân sự”, trước nhất các đối tượng ra sức cổ súy tính ưu việt, sự dân chủ của “xã hội dân sự” để đánh lừa nhận thức của người dân, cũng như hạ bệ vai trò của hệ thống chính quyền. Thời gian vừa qua, trước tình hình mưa lũ diễn ra tại miền Trung, cùng với lực lượng Công an, Quân đội và các cơ quan chức năng, có thể thấy nhiều cá nhân, tổ chức thiện nguyện đã tích cực tiến hành các hoạt động giúp đỡ, cứu trợ, khắc phục hậu quả mà thiên tai đã gây ra cho đồng bào bị ảnh hưởng.

Tuy nhiên, bất chấp việc các cơ quan chức năng đang vào cuộc một cách mạnh mẽ và quyết liệt, một số đối tượng lại phủ nhận sạch trơn vai trò của hệ thống chính quyền. Không ít đối tượng lợi dụng việc làm từ thiện của một số cá nhân, tổ chức trong xã hội để so sánh, đổ lỗi cho chính quyền.

Các đối tượng này cố tình hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, Nhà nước và hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị; rêu rao luận điệu cho rằng các tổ chức “xã hội dân sự” hoạt động ưu việt và hiệu quả hơn nhiều so với các cơ quan công quyền. Từ đó, các đối tượng kích động sự hoài nghi, thiếu niềm tin vào Đảng trong một bộ phận quần chúng. Đặc biệt, không ít cá nhân, tổ chức chống đối, cơ hội chính trị cũng triệt để tận dụng vấn đề làm từ thiện trên để đánh bóng tên tuổi.

Đồng thời, các đối tượng tập trung tung ra luận điệu đòi tuyệt đối hóa sự “độc lập” của các tổ chức “xã hội dân sự”, đòi thúc đẩy thoát ly sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với hoạt động của các tổ chức “xã hội dân sự”. Với lý do “bảo vệ sự dân chủ”, các đối tượng cho rằng cần có sự tách bạch một cách tuyệt đối giữa “công” và “tư”, giữa nhà nước và xã hội dân sự. Thậm chí, các đối tượng này còn đưa ra quan điểm cho rằng, các tổ chức “xã hội dân sự” chỉ cần hoạt động theo tôn chỉ, mục đích, thỏa thuận của những người lập ra nó mà không cần tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình tiến hành chống phá, các tổ chức chống đối núp bóng “xã hội dân sự” không chỉ hoạt động đơn lẻ, cá biệt, mà có sự câu kết, móc nối với các cá nhân, tổ chức phản động, chống đối ngoài nước để cùng tiến hành công kích dưới hình thức “nội công, ngoại kích”. Các thế lực thù địch, chống đối, phản động ở nước ngoài trở thành chỗ dựa về tinh thần, nguồn viện trợ về vật chất cho các tổ chức trong nước.

Ngoài ra, các thế lực này dưới nhiều thủ đoạn khác nhau cũng tiến hành gây sức ép, đòi chúng ta thay đổi đường lối, chính sách, pháp luật, tạo điều kiện, nền tảng thuận lợi cho các cá nhân, tổ chức chống đối trong nước hoạt động. Dưới sự chống lưng giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân ở nước ngoài, các hội, nhóm trong nước trực tiếp tiến hành các hoạt động chống phá, tấn công chính quyền, trở thành nơi tập hợp những thành phần bất hảo, hình thành lực lượng đối lập, sẵn sàng tiến đến bạo loạn lật đổ theo hình thức “cách mạng màu”, “cách mạng đường phố”.

Thông qua hình thức “xã hội dân sự”, lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do đóng góp ý kiến, các đối tượng thúc đẩy tư tưởng “nhân quyền cao hơn chủ quyền”, hướng lái người dân hình thành tâm lý chống đối, phản kháng với chính quyền. Dưới danh nghĩa phản biện xã hội, đóng góp ý kiến, không ít đối tượng đã biến nó thành một diễn đàn để công khai các luận điệu xuyên tạc, công kích, chống phá chính quyền, đòi đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng.

Chúng ta không kỳ thị, không ngăn cản việc người dân lập hội, tham gia các tổ chức “xã hội dân sự”. Điều 25, Hiến pháp 2013 đã quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Tuy nhiên, tất cả các hội nhóm, đoàn thể đều phải tuân thủ nghiêm các quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Mọi hoạt động núp bóng thành lập “xã hội dân sự” để sản sinh ra các hội, nhóm chống đối đều là vi phạm, cần phải chấn chỉnh, loại bỏ./.

ST.