Chủ Nhật, 13 tháng 12, 2020

Một số vấn đề đặt ra trong quan hệ dân tộc ở Việt Nam hiện nay

 


Các mối quan hệ dân tộc ở nước ta trong thời gian qua đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc phòng và khối đoàn kết toàn dân tộc.  

Những vấn đề không mới nhưng trong điều kiện mới lại nảy sinh những phức tạp mới:

Chẳng hạn, cũng là vấn đề đất đai vùng dân tộc, nhưng trong bi cảnh mới không phải là tranh chấp địa gii mà là vn đề thị trường giao dịch bất động sản và quyền sở hữu của các chủ thể, nhất là vấn đề mua bán, chuyn nhượng, hợp thức hóa đất công thành đất tư, lấn chiểm, bao chiếm đất đai trái phép;

Vấn đề cố kết và phân ly trong nội bộ một số dân tộc do tác động của việc chuyển đổi từ tín ngưỡng truyền thống sang tôn giáo khác hoặc một số nhóm tộc người đòi chia tách thành tên tộc người riêng từ thành phần tộc người đã được xác định; Một số ít cá nhân đặt quan hệ đồng tộc, thân tộc lên trên ý thức về chủ quyền lãnh thổ quốc gia ở vùng biên cương; Quan hệ lao động và việc làm, nhất là thuê mướn nhân công trong nội bộ tộc người hay giữa các tộc người; quan hệ trao đổi, buôn bán hàng hóa; quan hệ khai thác và sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nhất là đất rừng và vấn đề nguồn nước (sông ngòi) không chỉ trong vùng mà còn trở thành vấn đề xuyên/liên biên giới hiện nay; hôn nhân hỗn hợp tộc người trong nước, liên biên giới và xuyên quốc gia; xây dựng các trung tâm khoa học, tôn giáo, văn hóa, kinh tế, chính trị của các tộc người mang tính xuyên/liên quốc gia.. đang là những vấn đề mới và nhạy cảm.

Bên cạnh đó, mối quan hệ giữa các cộng đồng cùng và khác tộc sẽ ngày càng chịu ảnh hưởng của quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế, quá trình hội nhập quốc tế. Quan hệ tộc người liên vùng, liên quốc gia giữa các cộng đồng tộc người ở các tỉnh biên giới phía Bắc với các đồng tộc ở các tỉnh Tây Nguyên cũng như ở các quốc gia khác sẽ ngày càng mở rộng và tăng cường trên nhiều lĩnh vực khác nhau so với trước đây; một số dân tộc như Hmông, Dao, Hoa, Thái, Khơ Me và nhiều tộc người khác hiện có quan hệ đồng tộc, thân tộc qua biên giới sẽ tiếp tục củng cố và phát triển hơn nữa với tính chất, hình thức mới phức tạp hơn,

Với những vấn đề mới và xu hướng quan hệ đa chiều như thế, chắc chắn quan hệ dân tộc tộc ở nước ta nói chung sẽ chịu sự ảnh hưởng từ nhiều phía, của những yếu tố văn hóa - xã hội, tâm lý, ý thức tự giác bao gồm cả tích cực và tiêu cực. Trong bối cảnh đó, quan hệ dân tộc ở Việt Nam sẽ có những biến đổi. Đó vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với việc củng cố, xây dựng và quản lý các mối quan hệ dân tộc trong bối cảnh Việt Nam tiếp tục sự nghiệp đổi mới đất nước, quá trình toàn cầu hóa và quốc tế hóa đang diễn ra mạnh mẽ.

 

LỊCH SỬ VÀ Ý NGHĨA NGÀY THÀNH LẬP

QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM 22/12

 22/12 không chỉ là Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà đã trở thành Ngày hội Quốc phòng toàn dân, một ngày kỷ niệm đầy ý nghĩa đối với toàn thể nhân dân Việt Nam.

Tên gọi “Quân đội nhân dân” là do Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt với ý nghĩa “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ”.

Tháng 12/1944, lãnh tụ Hồ Chí Minh ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Chỉ thị nhấn mạnh: "Tên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân nghĩa là chính trị quan trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền..., đồng thời nó là khởi điểm của giải phóng quân, nó có thể đi suốt từ Nam chí Bắc...".

Ngày 22/12/1944, tại khu rừng thuộc huyện Nguyên Bình (Cao Bằng), Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân chính thức làm lễ thành lập, gồm 3 tiểu đội với 34 chiến sĩ được lựa chọn từ những chiến sĩ Cao-Bắc-Lạng, do đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp chỉ huy. Đây là đơn vị chủ lực đầu tiên của lực lượng vũ trang cách mạng và là tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân do đồng chí Hoàng Sâm làm đội trưởng, đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm chính trị viên, đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách Kế hoạch-Tình báo, đồng chí Vân Tiên (Lộc Văn Lùng) quản lý. Đội có chi bộ Đảng lãnh đạo.

Chỉ có 34 người, với 34 khẩu súng các loại nhưng đó là những chiến sĩ kiên quyết, dũng cảm trong các đội du kích Cao-Bắc-Lạng, Cứu quốc quân,... là con em các tầng lớp nhân dân bị áp bức, họ có lòng yêu nước, chí căm thù địch rất cao, đã siết chặt họ thành một khối vững chắc, không kẻ thù nào phá vỡ nổi.

Sau lễ thành lập, đội tổ chức một bữa cơm nhạt không rau, không muối để nêu cao tinh thần gian khổ của các chiến sĩ cách mạng, đội tổ chức “đêm du kích” liên hoan với đồng bào địa phương để thắt chặt tình đoàn kết quân dân.

Chấp hành chỉ thị “phải đánh thắng trận đầu”, ngay sau ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân đã mưu trí, táo bạo, bất ngờ đột nhập vào đồn Phai Khắt (17h ngày 25/12/1944) và sáng hôm sau (7h ngày 26/12/1944) đột nhập đồn Nà Ngần, tiêu diệt gọn 2 đồn địch, giết chết 2 tên đồn trưởng, bắt sống toàn bộ binh lính, thu toàn bộ vũ khí, quân trang, quân dụng.

Hai trận đánh đồn Phai Khắt, Nà Ngần thắng lợi đã mở đầu truyền thống đánh tiêu diệt, đánh chắc thắng, đánh thắng trận đầu của quân đội ta suốt hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cho đến ngày thắng lợi hoàn toàn.

Từ ngày thành lập, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân luôn phát triển và trưởng thành. Ngày 22/12/1944 được xác định là Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, đánh dấu sự ra đời của một tổ chức quân sự mới của dân tộc ta. Một quân đội "của dân, do dân, vì dân"; luôn gắn bó máu thịt với dân, luôn luôn được dân tin yêu, đùm bọc.

Năm 1989, theo chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương Đảng và quyết định của Chính phủ, ngày 22/12 hàng năm không chỉ là ngày kỷ niệm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam mà còn là ngày Hội quốc phòng toàn dân.

Từ đó, mỗi năm, cứ đến ngày này, toàn dân Việt Nam lại tổ chức các hoạt động hướng vào chủ đề quốc phòng và quân đội, nhằm tuyên truyền sâu rộng truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc và phẩm chất Bộ đội Cụ Hồ, giáo dục lòng yêu nước, yêu CNXH, động viên mọi công dân chăm lo củng cố quốc phòng, xây dựng quân đội, bảo vệ Tổ quốc.

NHỮNG THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ ĐẢNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 


Chống phá độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là mục tiêu xuyên suốt của các thế lực thù địch, trong đó chúng tập trung quyết liệt vào chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam với những âm mưu, thủ đoạn rất tinh vi và vô cùng nguy hiểm. Việc chỉ rõ những thủ đoạn chống phá Đảng của các thế lực thù địch hiện nay là nhiệm vụ thường xuyên nhưng cấp thiết nhằm nhận diện, nâng cao cảnh giác, chủ động đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn  của các thế lực thù địch, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng và tổ chức của Đảng, nhất là trước thềm Đại hội XIII.

Hiện nay, bọn phản động, thù địch chống phá Đảng ngày càng có hệ thống, tổ chức chặt chẽ, thủ đoạn rất tinh vi, chống phá toàn diện trên nhiều phạm vi, lĩnh vực, không chỉ là tư tưởng lý luận mà còn bao hàm cả các vấn đề thực tiễn mới nảy sinh. Điều này thể hiện trên những vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng. 

Các thế lực thù địch hiểu rất rõ giá trị, vai trò nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam của Đảng và cách mạng Việt Nam của Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Bởi vậy, để chống phá Đảng thì vấn đề hàng đầu mà chúng tập trung là phá vỡ nền tảng tư tưởng của Đảng. Theo đó, chúng ra sức xuyên tạc, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với các luận điệu cho rằng: sự sụp đổ của mô hình CNXH ở Liên Xô và Đông Âu là minh chứng cho Chủ nghĩa Mác-Lênin hiện đã lỗi thời, không còn phù hợp; việc Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định Chủ nghĩa Mác-Lênin là sai lầm... Không chỉ thế, chúng còn tuyệt đối hóa và chia tách, đối lập giữa tư tưởng Hồ Chí Minh với Chủ nghĩa Mác-Lênin; xuyên tạc, bôi nhọ thân thế, sự nghiệp cách mạng của Hồ Chí Minh nhằm hạ bệ uy tín và phủ nhận tư tưởng của Người. Đặc biệt, trước thềm Đại hội XIII của Đảng, chúng khẳng định rằng: “Chủ nghĩa tư bản là đỉnh cao của sự phát triển của xã hội loài người không có gì có thể thay thế, chủ nghĩa tư bản đang tự điều chỉnh và hoàn thiện chứng minh giá trị của họ đối với sự phát triển xã hội”, “nếu Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục kiên định với Mác thì đừng trông chờ gì vào đường lối Đại hội XIII”(!)...

Thứ hai, chúng xuyên tạc, phủ nhận cương lĩnh, đường lối và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. 

Đây là thủ đoạn cũ rích, nhưng chúng luôn coi là một trọng điểm chống phá với những chiêu trò hết sức tinh vi, thâm độc. Chúng xuyên tạc, phủ nhận đường lối chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Đảng. Chúng cố tình lờ đi vấn đề mang tính khách quan trong quy luật phát triển xã hội là giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc, giải phóng con người chỉ thực sự triệt để khi có sự kết hợp chặt chẽ với nhau, điều này đồng nghĩa với mục tiêu độc lập dân tộc phải gắn liền với CNXH. Đặc biệt, sau sự sụp đổ của CNXH ở Liên Xô và Đông Âu, chúng “lý sự” rằng: “Mọi câu hỏi của xã hội đều được tìm thấy ở chủ nghĩa tư bản”(!); Đảng Cộng sản Việt Nam “bảo thủ” với con đường đi lên CNXH là trái quy luật, hoặc “đã phát triển kinh tế thị trường thì đâu còn là CNXH”(!); Việt Nam hiện nay là “đỏ vỏ, xanh lòng”(!)... 

Đối với quân đội, chúng cho rằng “quân đội chỉ trung thành và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân”, “quân đội trung lập, đứng ngoài chính trị”(!)... Bên cạnh đó, chúng còn ra sức tuyên truyền cho luận điệu “có nhiều đảng cạnh tranh mới là dân chủ”, logic của chúng là phải xóa bỏ sự “độc tài, toàn trị” của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp năm 2013 của nước ta. Thực chất là, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ vai trò lãnh đạo và cầm quyền, thực hiện đa nguyên chính trị và chế độ đa đảng đối lập; phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa, hướng lái Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. Đó là hai vấn đề căn cốt để chúng tiến tới xóa bỏ chế độ XHCN ở Việt Nam.

Thứ ba, chống phá công tác cán bộ của Đảng. 

Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng để xuyên tạc là “thanh trừng nội bộ”, là “chuẩn bị ghế nhân sự” cho đại hội Đảng... Không những thế, chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự... hòng hạ bệ uy tín của cán bộ, phá vỡ khối đoàn kết trong Đảng, sự đồng thuận của xã hội, chia rẽ Đảng với nhân dân, nhất là trước thềm Đại hội XIII của Đảng.

Thứ tư, chúng phủ nhận thành tựu phát triển đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. 

Các thế lực thù địch trắng trợn phủ nhận sạch trơn những thành tựu to lớn mà Đảng và quân, dân ta đã đạt được trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là thành tựu qua gần 35 năm đổi mới trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội (dù thực tế những thành tựu của nước ta đã được nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao)... Mục đích của chúng là hòng tạo nên bức tranh bi quan về tình hình Việt Nam, gây mất lòng tin của nhân dân đối với Đảng và chế độ XHCN.

Những hoạt động chống phá trên đều nhằm tác động vào nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân, nhất là với những người thiếu bản lĩnh, nhận thức mơ hồ và những kẻ bất mãn, công thần vì cho rằng mình không được trọng dụng, đãi ngộ... từ đó gây hoài nghi, suy giảm niềm tin vào Đảng, chế độ XHCN, rơi vào “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. (Còn nữa)

 

 

KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC BÙNG NỔ (19/12/1946) -

BƯỚC CHUYỂN LỚN CỦA CÁCH MẠNG VIỆT NAM

 

 

Cuối năm 1946, sau khi có thêm viện binh, thực dân Pháp liên tiếp có những hành động khiêu khích, công khai mưu đồ xâm lược, thiết lập lại nền cai trị thuộc địa đối với nước ta. Tháng 11/1946, chúng ngang nhiên đưa lực lượng chiếm đóng Hải Phòng, Lạng Sơn. Tại Hà Nội, từ đầu tháng 12/1946, quân Pháp liên tục dùng đại bác, súng cối bắn phá vào nhiều khu phố tàn sát dân thường, chiếm một số trụ sở của Chính phủ cách mạng. Đặc biệt, ngày 18 và 19/12/1946, thực dân Pháp liên tiếp gửi tối hậu thư buộc Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải giải tán lực lượng tự vệ, giao quyền kiểm soát Thủ đô cho chúng.

Trước âm mưu, hành động xâm lược của kẻ thù, nhân dân Việt Nam không có con đường nào khác là cầm súng chiến đấu để bảo vệ nền độc lập, tự do vừa giành được. Ngày 18 và 19/12/1946, Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị tại Vạn Phúc (Hà Đông), ra quyết định lịch sử: phát động toàn quốc kháng chiến. Ngay đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ ra lời kêu gọi đồng bào cả nước kháng chiến, khẳng định rõ:

“Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa.

Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!

Hỡi đồng bào!

Chúng ta phải đứng lên! Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. Ai cũng phải ra sức chống thực dân Pháp cứu nước”.

Chấp hành mệnh lệnh của Trung ương Đảng và Bộ Tổng chỉ huy, quân dân ta ở các tỉnh bắc vĩ tuyến 16 có quân Pháp chiếm đóng đồng loạt nổ súng. Chiến sự diễn ra rất quyết liệt, đặc biệt là trong các thành phố lớn. Tại Thủ đô Hà Nội, khoảng 20 giờ ngày 19/12/1946, công nhân nhà máy điện Yên Phụ phá máy, cả thành phố tắt điện. Đó là hiệu lệnh chiến đấu toàn thành, mở đầu kháng chiến toàn quốc. Dù quân ta trang bị vũ khí thô sơ chống lại kẻ địch tinh nhuệ trang bị vũ khí hiện đại, nhưng với tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, chiến sĩ ta có sự hỗ trợ tích cực của nhân dân vẫn ngày đêm kiên cường bám trụ, giành giật với địch từng căn nhà, từng góc phố. Nhiều trận đánh diễn ra quyết liệt tại Bắc Bộ phủ, chợ Đồng Xuân, nhà bưu điện... diệt nhiều địch, gây hoang mang cho kẻ thù.

Cùng với Hà Nội, quân dân các địa phương khắp Bắc, Trung, Nam anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Cả dân tộc chung sức đồng lòng đánh giặc cứu nước với ý chí sục sôi, niềm tin tất thắng. Đến tháng 2/1947, khi địch tăng viện phá vòng vây, lực lượng ta được lệnh rút về hậu phương, cuộc chiến đấu trong các đô thị tạm thời kết thúc để chuyển sang giai đoạn chiến đấu mới.

Trải qua gần hai tháng liên tục chiến đấu, quân dân ta giành thắng lợi quan trọng: thực hiện tiêu hao, tiêu diệt, giam chân địch trong thành phố, làm thất bại kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của thực dân Pháp; tạo điều kiện di chuyển các cơ quan, kho tàng, vật chất (ta đã vận chuyển được gần 40.000 tấn máy móc, nguyên liệu ra vùng căn cứ); tranh thủ thời gian tổ chức cho hàng chục vạn nhân dân tản cư về vùng căn cứ xây dựng thế trận kháng chiến lâu dài.

Hơn 70 năm đã trôi qua, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn về tầm vóc cũng như giá trị lịch sử ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946). Sự kiện đã góp phần khẳng định đường lối chính trị, đường lối quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn, sáng tạo của Đảng Cộng sản Đông Dương trong cuộc đụng đầu lịch sử với thực dân Pháp. Mặt khác, thắng lợi của toàn quốc kháng chiến là thắng lợi đầu tiên trong cuộc trường chinh 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc (1945-1975), tạo cơ sở vững vàng cho ta giành được thành quả cách mạng trong những chặng đường tiếp theo.

Phát huy tinh thần toàn quốc kháng chiến trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay, chúng ta cần thực hiện tốt một số nhiệm vụ trọng tâm: Giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng; tranh thủ thời cơ thuận lợi, khắc phục những khó khăn, thách thức để đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững, tạo tiềm lực to lớn cho đất nước; không ngừng chăm lo củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vững chắc; kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của các thế lực thù địch trong và ngoài nước.

 

NHỮNG THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ ĐẢNG CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH (Tiếp theo bài 1)

 


Trên thực tế, rất khó để tách bạch giữa âm mưu, thủ đoạn, phương thức chống phá của các thế lực thù địch. Bởi chiêu trò của chúng là kết hợp giữa công khai với ngấm ngầm chống phá, thông qua các phương tiện cả truyền thống và hiện đại, đan xen các cách thức, biện pháp với nhiều màu sắc, quy mô, cấp độ, lẫn lộn trắng-đen, thật-giả... rất khó phân biệt, nhận diện.

Có thể khái quát một số đặc điểm chính trong chiêu trò chống phá của các thế lực thù địch như sau:

Thứ nhất, các hoạt động chống phá luôn được các thế lực thù địch chủ động tiến hành trên mọi lĩnh vực, mọi cấp độ, dưới nhiều hình thức. 

Triệt để lợi dụng các phương tiện thông tin đại chúng, mạng xã hội, các thế lực thù địch lập ra các hội nhóm online, tổ chức livestream, hội thảo trực tuyến, đăng tải các bài viết... với nội dung xoay quanh chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước và cố tình vẽ ra các bất cập nảy sinh. Thời điểm tiến hành của chúng luôn gắn với các sự kiện, ngày lễ, các thời điểm chuẩn bị và tổ chức tiến hành đại hội đảng, bầu cử, ban hành luật, nghị định... Cách làm phổ biến của chúng là: Khi các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước (cả với chủ trương ở cấp cơ sở) mới chỉ ở dạng dự thảo thì chúng đưa ra các “kiến nghị” nhằm hướng lái dư luận theo ý đồ của chúng; sau khi ban hành thì chúng kích động biểu tình, phản đối; khi các phần tử vi phạm bị bắt và xử lý theo pháp luật, chúng ra sức tuyên truyền, xuyên tạc và thông qua một số tổ chức, cá nhân để đòi trả tự do cho cái gọi là “tù nhân lương tâm”, đồng thời vu khống Việt Nam đàn áp dân chủ, vi phạm nhân quyền.

Thứ hai, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch diễn ra thường xuyên, liên tục, không ngại bịa đặt, dựng chuyện. 

Thực hiện phương châm “nói nhiều sẽ tin”, các trang mạng, blog cá nhân, các kênh YouTube... liên tục tiến hành các hoạt động chống phá bằng các bài viết, video clip tuyên truyền xuyên tạc với tần suất và cường độ ngày càng lớn, gần như liên tục, bất kể ngày, đêm. Triệt để lợi dụng tâm lý hiếu kỳ của một số người dân, chúng thường xuyên tung ra những thông tin lập lờ giữa đúng và sai, dựng lên những sự kiện không có thật, thậm chí bịa đặt trắng trợn, để gây hoài nghi trong nhân dân. Khi các thông tin chống phá của chúng bị vạch mặt, bóc trần sự thật, chúng lập tức vu cáo ta “độc đoán”, đàn áp tự do báo chí, che giấu thông tin, hoặc tiếp tục bẻ lái, kích động dư luận chống đối, đi ngược lại quan điểm, chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng. Hiện nay, nổi lên là việc một số hội nhóm, tổ chức được sự hỗ trợ của các thế lực, tổ chức phản động nước ngoài, tiến hành các hoạt động xuất bản ấn phẩm báo chí, tài liệu, băng hình đòi xét lại các vấn đề lịch sử, một mặt nhằm “rửa tội” cho bè lũ tay sai, bán nước, một mặt thì dọn đường dư luận để tiếp tục đưa ra luận điệu phủ nhận vai trò to lớn của Đảng Cộng sản Việt Nam trong chiến tranh giải phóng dân tộc cũng như trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và phát triển đất nước hiện nay.

Thứ ba, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch diễn ra tinh vi, đa dạng, nhiều chiều. 

Với sự phát triển mạnh của các mạng xã hội, việc bày tỏ chính kiến với các vấn đề xã hội của nhân dân càng trở nên dễ dàng. Lợi dụng điều đó, để đánh lừa được nhân dân, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt động chống phá toàn diện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: như, chúng ra sức cổ xúy cho cái gọi là “nhận thức đa chiều” hay “nhìn nhận đa chiều” để bới móc, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, cả trong lịch sử và hiện tại. Chúng tận dụng tối đa các phương tiện truyền thông xã hội, các loại hình văn hóa, nghệ thuật, các hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục, đào tạo, các diễn đàn, nhất là triệt để lợi dụng một số văn nghệ sĩ, trí thức bất mãn, có quan điểm chính trị lệch lạc để ngấm ngầm cài cắm, tán phát những quan điểm sai trái, phản động; lợi dụng các hoạt động nhân đạo, từ thiện, tổ chức truyền đạo, lập đạo trái phép để tuyên truyền, lôi kéo những người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa. Bằng mồi nhử kinh tế, thông qua tổ chức các hoạt động “du lịch”, “thăm thân”, “hội nghị đầu tư”, “dự án”... chúng “khéo léo” mua chuộc, lôi kéo đội ngũ cán bộ, hoặc dùng các thủ đoạn ghi âm, ghi hình... để vừa vu khống, nói xấu chế độ, vừa ép buộc cán bộ của ta, từng bước làm họ sa ngã, rơi vào lối sống thực dụng, hưởng thụ, từ đó có lời nói, hành vi đối lập với quan điểm của Đảng.

TRÒ HỀ FREE PHẠM ĐOAN TRANG


Bổn cũ soạn lại, cứ đến dịp tháng 12 nhân ngày quốc tế Nhân quyền, y như rằng những cá nhân, tổ chức phản động ở nước ngoài lại ráo riết ca cẩm bài ca muôn thủa về việc đòi thả tự do cho những phạm nhân mà họ gắn cho cái mác “tù nhân lương tâm”. Do đó, chẳng lạ lẫm gì khi Việt Tân và nhiều đối tượng chống đối, cơ hội chính trị đang lan truyền thông tin Tổ chức phóng viên không biên giới – RSF phát động chiến dịch đòi thả tự do cho Phạm Đoan Trang.
Nhiều năm qua, hoạt động chính tổ chức này nhằm gây phương hại đến an ninh chính trị đối với Việt Nam theo hai hướng chính. Một là, đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật về các vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền. Thứ hai, là hoạt động tài trợ, hậu thuẫn, chống lưng cho số cực đoan, phản động trong nước chống phá. Bằng chứng là nhiều năm qua.
Do đó, ngay sau khi Phạm Đoan Trang bị bắt, lợi dung tuyên bố của RSF, các đài nước ngoài phát bằng tiếng Việt như VOA, RFA, BBC, RFI, Thoibao.de v.v… giở chiêu trò té nước theo mưa, có những bài viết, video phỏng vấn một số đối tượng chống đối để xuyên tạc, vu khống Nhà nước ta đàn áp những người bất đồng chính kiến, vi phạm nhân quyền… với mục đích ủng hộ các tổ chức quốc tế, các chính phủ gây sức ép với Nhà nước Việt Nam thả Phạm Đoan Trang với tên “FreePhamDoanTrang”.
Rõ ràng, đây là một màn kịch rất vụng về của những đối tượng chống đối núp danh dân chủ, nhân quyền. Đáng xấu hổ hơn, màn kịch này lại được thực hiện không ít lần dù chẳng mang lại hiệu quả. Trước đó, các đối tượng cũng không ít lần đưa ra yêu sách đòi thả tự do vô điều kiện cho Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy và một số thành viên khác của cái gọi là “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam”.Đây là một điều không thể chấp nhận, cần phải kiên quyết vạch trần bộ mặt tiêu cực, sai trái để chúng ta nhận diện và lên án kịch liệt những âm mưu, hoạt động phá hoại sự bình yên của đất nước.

BẢN CHẤT CÁI GỌI LÀ “GIẢI THƯỞNG NHÂN QUYỀN LÊ ĐÌNH LƯỢNG”


Vừa qua, trang Fanpage của Tổ chức Việt Tân loan báo “ “tù nhân lương tâm” Phan Kim Khánh đã được trao “Giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng năm 2020”.
Thực chất nó là gì?
Trước hết về cái gọi là “giải thưởng Lê Đình Lượng”: Nó được Việt Tân (tổ chức đã bị Cơ quan chức năng của Việt Nam liệt vào danh sách các tổ chức khủng bố) dựng lên vào năm 2018. Nó mang tên Lê Đình Lượng - một đối tượng phạm tội bị Tòa án nhân dân cấp cao tuyên y án 20 năm tù hồi tháng 10/2018 về tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Với mục tiêu của “giải thưởng” được rêu rao là “nhằm đề cao sự hy sinh và việc làm của những cá nhân hay tổ chức đang miệt mài tranh đấu cho nhân quyền của dân tộc Việt” nhưng khi nhìn vào hồ sơ của những người đã được trao giải thì chỉ là những tên tội phạm. Và Phan Kim Khánh không phải là ngoại lệ.
Phan Kim Khánh (sinh năm 1993, hộ khẩu thường trú tại xã Yên Tập, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ). Từ năm 2015 (khi đang là sinh viên Khoa Quốc tế - Đại học Thái Nguyên), y đã lập và quản trị 2 blog lấy tên là “Báo Tham nhũng” và “Tuần báo Việt Nam”; 3 trang trên mạng xã hội facebook lấy tên là “Báo Tham nhũng”, “Tuần báo Việt Nam” và “Dân chủ TV”; 2 kênh trên mạng xã hội YouTube lấy tên là “Việt Báo TV” và “Việt Nam online”... Trên các trang nói trên, Phan Kim Khánh liên tục đăng phát nhiều thông tin có nội dung bịa đặt, xuyên tạc, chủ yếu được lấy từ các trang mạng phản động ở nước ngoài nhằm chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Phan Kim Khánh đã móc nối với một số đối tượng phản động, phần tử chống đối ở trong và ngoài nước để bàn bạc, trao đổi thông tin và cùng quản trị các trang mạng đó. Ngoài ra, Phan Kim Khánh còn móc nối, tham gia quản trị một số trang mạng của tổ chức khủng bố “Việt Tân” và một số tổ chức phản động ở nước ngoài để hoạt động... Trước các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan An ninh điều tra thu thập được, Phan Kim Khánh đã thừa nhận hành vi phạm tội tiến hành hoạt động chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Căn cứ các quy định của pháp luật, tình tiết giảm nhẹ, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt bị cáo Phan Kim Khánh 6 năm tù giam về tội “Tuyên truyền chống phá Nhà nước CHXHCN Việt Nam” theo quy định tại Điều 88 BLHS.
Với việc trao “giải thưởng Lê Đình Lượng năm 2020” cho Phan Kim Khánh, Việt Tân tiếp tục dựng một vở tuồng rẻ tiền, nhưng không thể lòe bịp, đánh lừa được dư luận./.

NGHIỆP QUẬT LÀ CÓ THẬT


Mấy ngày vừa qua, cộng đồng mạng đang bàn tán sôi nổi về chuyện nhà zân chủ hải ngoại Ngô Kỷ nhiễm Covid - 19 ngay trên đất Mỹ. Tuy nhiên, phần lớn là thái độ hả hê trước số phận đáng thương của một kẻ có thâm niên chống cộng cực đoan.
Chắc nhiều người trong chúng ta đã biết, Ngô Kỷ vốn dĩ không phải là một quân nhân của chế độ Việt Nam cộng hòa mà là một người sống dưới chế độ tay sai Ngụy quyền. Khi còn trẻ với bản tính nhút nhát, sợ chết nên ông ta không tham gia quân đội mà dùng mọi chiêu trò, lấy hết lý do này đến lý do khác để thoái thác, trốn đi lính. Sau năm 1975 sau khi sang Mỹ tị nạn, và Ngô Kỷ trở thành một kẻ “Homeless” thật sự, không nhà, không việc, sống một cuộc sống “xin tiền trợ cấp”. Trong quá trình định cư tại Mỹ do thất nghiệp, chỉ sinh sống nhờ tiền trợ cấp của chính phủ Hoa Kỳ, nhận thấy việc chỉ sống bằng tiền trợ cấp không đủ để "hưởng thụ", để có tiền, Ngô Kỷ đã giả tạo lên hô hào đấu tranh chống chế độ cộng sản như thể ông ta đã từng có mối thâm thù với chế độ.
Trong vai diễn nhà đấu tranh "rân chủ" tên lừa đảo Ngô Kỷ đã lừa phỉnh được không ít cá nhân, tổ chức ở hải ngoại, hệ quả là tiền của những người “nhẹ dạ cả tin” không cánh mà bay vào túi của ông ta. Cứ thế dần rà để kiếm tiền tiêu xài, Ngô Kỷ không ngừng hoạt động chống phá chế độ ta bằng cách vu khống, bịa đặt, tuyên truyền xuyên tạc. Hiện tại, ông ta nổi danh với biệt hiệu vua hề Blosa, chuyên "diễn tuồng" chống cộng cho đám phản động hải ngoại.
Ngay cả thời điểm đất nước ta phải hứng chịu những tác động, ảnh hưởng bệnh dịch Covid - 19 hồi đầu năm nay, thì ở bên kia bán cầu Ngô Kỷ thay vì có những lời động viên hay quyên góp ủng hộ thì ông ta lại như thể không có bất cứ một liên quan gì đến đất mẹ Việt Nam khi tỏ ra là một người thờ ơ, vô cảm với chính đồng bào của mình. Bằng chứng là không ít người đã thấy, Ngô Kỷ tỏ ra đắc ý, vui mừng khi đất nước gặp nạn. Thậm chí, hắn ta còn đăng đàn cười nhạo, mỉa mai công tác phòng chống dịch bệnh của Chính phủ ta, càng táng tận hơn khi hắn buông những lời cạn tàu ráo máng khi mong đồng bào - người Việt Nam chết thật nhiều vì Covid.
Để rồi hôm nay việc Ngô Kỷ bị nhiễm Covid - 19 ở chính "xứ sở thiên đường" mà hắn thần tượng không biết có qua khỏi được hay không thì nhiều người lại lắc đầu, thở dài ngao ngán!
Cái này theo CĐM hay nói vui thì chính là bị “nghiệp quật”. Nếu như Ngô Kỷ không phải là một nhà zân chủ thì có lẽ giờ này đã được Đảng, Nhà nước ta đón về nước điều trị rồi. Nhưng ông ta đã chọn con đường phản bội lại Tổ quốc, quay lưng lại với quê hương, để rồi giờ này nằm thoi thóp nơi “thiên đường”, âu cũng là quả báo mà ông ta đáng phải nhận.

Cảnh giác âm mưu truyền bá tư tưởng khủng bố trên Internet


Trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, không gian mạng đã và đang trở thành vùng lãnh thổ mới có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, an ninh, quốc phòng và đối ngoại của mỗi quốc gia.

Do đặc thù thông tin trên không gian mạng có tốc độ truyền thông tin nhanh chóng, không gian, thời gian rộng mở nên những thông tin trên mạng có khả năng tác động nhanh chóng, mạnh mẽ đến nhận thức của con người ở mọi đối tượng, nhất là trong một thời điểm nhất định có thể tạo làn sóng tích cực hay tiêu cực tác động vào đời sống kinh tế – xã hội và tình hình an ninh, trật tự của một khu vực hay một quốc gia.

Thực tiễn trong những năm qua, các tổ chức khủng bố triệt để lợi dụng các hình thái mạng xã hội để tuyên truyền về chủ nghĩa khủng bố, đồng thời cũng coi đây là phương thức liên lạc an toàn hiệu quả cho các thành viên trên thế giới thực hiện các hành vi khủng bố theo kiểu “sói đơn độc”. Phương thức sử dụng không gian mạng để thực hiện các hoạt động khủng bố đã và đang đặt ra những thách thức không nhỏ về công tác an ninh cho các quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Hình thức khủng bố “sói đơn độc”

Thời gian gần đây, nhiều quốc gia châu Âu đã trở thành mục tiêu của các cuộc tấn công khủng bố đơn lẻ vào những khu vực đông người ở các nước như Anh, Pháp, Bỉ… và gần đây nhất là nước Áo. Các vụ tấn công liên tiếp này đang tạo ra tâm lý bất an khắp châu Âu.

Trên mạng xã hội các nước tràn ngập việc tìm kiếm từ khóa như Satoshi Uematsu (Nhật); Mohamed Lahouaiej Bouhlel (Pháp) Omar Mateen (Mỹ)… đã và đang là những từ khóa gây kinh hãi nhất qua hình thái mạng xã hội. Dù được gọi bằng những từ ngữ khác nhau nhưng tựu chung lại, họ gọi chúng là những “sói đơn độc” hay đơn giản là phương thức khủng bố “sói đơn độc”, một phương thức mới khác xa so với phương thức khủng bố theo nhóm trước đây, gây ra những bất ổn trong xã hội của một quốc gia.

Phương thức khủng bố “sói đơn độc” nguy hiểm vì tính chất đơn lẻ, hành động một mình nên manh mối về âm mưu tấn công của những kẻ khủng bố rất khó bị phát hiện.

Theo các nhà phân tích, có thể số lượng “sói đơn độc” tại châu Âu ngày càng tăng vì sự chênh lệch quá lớn về thu nhập và mức sống khiến nhiều người rơi vào bế tắc. Một nguyên nhân khác là do sự phổ biến của Internet và mạng xã hội đã lan truyền các tư tưởng cực đoan một cách nhanh chóng và mạnh mẽ hơn.

Sự truyền bá tư tưởng khủng bố, cực đoan qua mạng Internet, các web chìm hoặc mạng xã hội mã hóa đầu cuối đang được xem như là công cụ hỗ trợ đắc lực cho các tổ chức khủng bố gieo rắc và kích động tư tưởng cực đoan tới những cá nhân vốn đã mang sẵn sự thù ghét, bất mãn xã hội trong mình. Như trong vụ tấn công tại Anh tháng 6/2017, có đối tượng thậm chí còn chưa bao giờ ra khỏi biên giới nước Anh lại bị cực đoan hóa ngay trong lòng nước Anh.

Thực tế đối mặt với phương thức khủng bố mới “sói đơn độc” đã khiến cho các nước châu Âu bên cạnh việc tăng cường an ninh, theo dõi các đối tượng cực đoan kể cả trên môi trường không gian mạng và đồng thời ban hành các đạo luật mới giúp cho lực lượng an ninh có thể xâm nhập vào tài khoản nghi vấn trên không gian mạng với lí do an ninh trong công cuộc chống khủng bố.

Tuy nhiên, để tiêu diệt và ngăn chặn những phần tử cực đoan hành động như những con “sói đơn độc”, những việc làm này là chưa đủ, lực lượng an ninh các nước châu Âu cần nhiều hơn nữa về sự phối hợp ở cấp liên quốc gia và khu vực, sự đánh giá đúng mức mối liên hệ giữa các mạng lưới khủng bố qua không gian mạng ở bên ngoài biên giới mỗi quốc gia và tội phạm quy mô nhỏ ở trong lòng châu Âu, nhất là trong cộng đồng người nhập cư, nhằm ngăn chặn nguy cơ bị cực đoan hóa trong lòng châu Âu.

Nguy cơ khủng bố “sói đơn độc” đối với Việt Nam

Không gian mạng là hệ thống của những mối quan hệ trên nền tảng internet; Việt Nam là nước có số người dùng Internet trên không gian mạng thuộc tốp đầu trên thế giới. Năm 2019, dân số Việt Nam đạt mốc xấp xỉ 97 triệu dân, với tỷ lệ dân thành thị là 36%.Cùng trong năm, có 64 triệu người sử dụng Internet, tăng đến 28% so với năm 2017; hơn 55 triệu người sử dụng các mạng xã hội (chiếm 57% dân số) và 436 mạng xã hội đang hoạt động, đứng thứ 7 trong 10 nước có số người sử dụng mạng xã hội nhiều nhất thế giới. Cùng với những giá trị tích cực không gian mạng cũng bộc lộ những mặt trái và hệ lụy của nó, không gian mạng “được ví như con dao 2 lưỡi ẩn chứa nhiều vấn đề bất cập và hiểm họa khó lường, nhất là những đối tượng sử dụng không đúng mục đích”.

Trong những năm qua kể từ khi các hình thái mạng xã hội trên không gian mạng xâm nhập và phát triển vào Việt Nam các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị trong và ngoài nước càng gia tăng hoạt động tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước ta.

Thông qua các trung tâm phá hoại tư tưởng, các tổ chức khủng bố lưu vong (như “Việt Tân”, “Quỹ người Thượng”, “Khối 8406”, Ủy ban Cứu người vượt biển”, “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, “Triều đại Việt”) và số đối tượng phản động, chống đối, bất mãn chế độ, cơ hội chính trị trong nước đã tiến hành nhiều phương thức khác nhau, đặc biệt là lợi dụng hình thái mạng xã hội trên không gian mạng để thực hiện các hoạt động truyền bá tư tưởng cực đoan nhằm kích động người dân thực hiện các hành vi như tụ tập đông người gây rối an ninh, trật tự; sử dụng bom xăng tấn công lực lượng chức năng; thậm chí tuyển thành viên để tiến hành các hoạt động khủng bố ở trong nước mà đối tượng đó không cần phải xuất cảnh ra nước ngoài.

Điển hình từ cuối năm 2016, các đối tượng Đào Minh Quân, Phạm Lisa và một số đối tượng phản động trong và ngoài nước là thành viên của tổ chức “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, thông qua mạng xã hội đã lôi kéo nhiều đối tượng không nghề nghiệp, bất mãn chế độ nhưng có chung một điểm là hám lợi thành lập các “nhóm hành động” để tiến hành khủng bố, phá hoại tại Việt Nam.

Trong đó có vụ đặt bom xăng ở sân bay Tân Sơn Nhất năm 2016, vụ ném bom xăng bãi giữ xe vi phạm Công an thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai năm 2017 và gần đây nhất tại trụ sở Công an phường 12, quận Tân Bình năm.

Các vụ khủng bố trên dù chưa gây ra thiệt hại lớn về người nhưng đã đặt ra những thách thức trong công tác đảm bảo an ninh của Việt Nam. Qua quá trình điều tra, xét xử, các đối tượng đều thành khẩn khai nhận trong quá trình sử dụng mạng xã hội đã tiếp xúc liên lạc với những đối tượng khủng bố lưu vong ở nước ngoài và nhận hướng dẫn, chỉ đạo và nhận tiền từ các đối tượng bên ngoài để thực hiện các hành vi khủng bố.

Từ những phân tích nêu trên cho thấy, hoạt động truyền bá tư tưởng khủng bố trong thời gian qua đã được các tổ chức khủng bố lưu vong người Việt ở nước ngoài đẩy mạnh trên không gian mạng. Vì vậy, để phòng ngừa nguy cơ truyền bá tư tưởng khủng bố trên không gian mạng, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục qua các trang tin chính thống và các phương tiện thông tin đại chúng đểngười dân, nhất là những người thường xuyên xử dụng mạng nhận thức đúng đắn, đầy đủ về nguyên nhân, sự nguy hiểm cùng tác hại, ảnh hưởng to lớn do hoạt động khủng bố gây ra không chỉ đối với sống của mình và người thân mà đối với an ninh, an toàn xã hội.

Đồng thời, công khai các địa chỉ trang tin trên mạng xã hội của các tổ chức khủng bố lưu vong và các đối tượng khủng bố người Việt ở nước ngoài để người dân nhìn nhận rõ nét về bản chất, âm mưu, thủ đoạn của chúng để cảnh giác, ngăn chặn./.

Thứ Bảy, 12 tháng 12, 2020

Cơ chế “xin - cho” - một nguồn gốc của thoái hóa, biến chất!

 Một vấn đề nhức nhối chúng ta đã đề cập, phê phán rất nhiều lần và muốn ngăn chặn, xóa bỏ tận gốc nhưng đến nay nó vẫn còn “đất sống”, đó chính là cơ chế “xin - cho” - “con đẻ" của chế độ phong kiến và tàn dư từ thời bao cấp.

CHỐNG THAM NHŨNG KHÔNG PHẢI “ĐẤU ĐÁ NỘI BỘ”!

 Hội nghị toàn quốc tổng kết công tác phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2013 - 2020 được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội và trực tuyến đến hơn 80 điểm cầu trong cả nước. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Trưởng ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã chủ trì và phát biểu chỉ đạo Hội nghị.

NHÌN LẠI NGUYÊN NHÂN SỤP ĐỔ CỦA LIÊN XÔ VÀ BÀI HỌC TRONG ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI SỰ SUY THOÁI VỀ TƯ TƯỞNG CHÍNH TRỊ, ĐẠO ĐỨC, LỐI SỐNG, “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HOÁ” Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

    Sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô đầu những năm 90 của thế kỷ XX là một sự kiện nổi bật, làm thay đổi căn bản cục diện chính trị thế giới, là một tổn thất đặc biệt to lớn của những người cộng sản. Sự kiện đó đã để lại nhiều bài học quý giá cho chúng ta, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ ở nước ta hiện nay.

1. Trong nửa sau của thế kỷ XX, trên thế giới đã hình thành một hệ thống xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, đủ sức kiềm chế mọi hành động đơn phương, hiếu chiến chông phá cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ. Nhờ đó mà hàng trăm dân tộc bị nô dịch, áp bức đã vùng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc, làm suy sụp chủ nghĩa thực dân cũ, làm thất bại chủ nghĩa thực dân mới. Các nước xã hội chủ nghĩa mà đứng đầu là Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, ghi dấu ấn trong lịch sử văn minh nhân loại. Nhưng thật trớ trêu, một số Đảng Cộng sản cầm quyền, trước hết và chủ yếu là Đảng Cộng sản Liên Xô, lại để mất quyền lãnh đạo, làm cho hệ thống xã hội chủ nghĩa hùng mạnh mà hàng trăm triệu người xây dựng nên sụp đổ, tan rã. Cần lưu ý rằng, Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không phải do một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.

Năm 2005, trong Thông điệp Liên bang, Tổng thống Nga V.Putin cho rằng: “Liên Xô tan rã là tai họa chính trị nghiêm trọng nhất của thế kỷ XX. Đối với nhân dân Nga, đó là một bi kịch thực sự”. Một đảng do V.I.Lênin sáng lập. Một đảng từng lãnh đạo giai cấp công nhân Nga lật đổ ách thống trị của Sa hoàng Nga, xây dựng thành công nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên. Một đảng từng lãnh đạo nhân dân chống lại sự can thiệp vũ trang của 14 nước, bảo vệ thắng lợi thành quả cách mạng. Một đảng đã lãnh đạo chiến thắng phát xít Đức trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại và cống hiến to lớn cho thắng lợi của thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Một đảng giành được nhiều thành tựu rực rỡ trong xây dựng chủ nghĩa xã hội... Vì sao Đảng đó lại mất địa vị cầm quyền sau 74 năm? Đó là câu hỏi mà cho đến hôm nay vẫn còn mang ý nghĩa thời sự đối với những người cộng sản trên thế giới.

Đã có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về nguyên nhân Liên Xô tan rã. Nhưng tựu trung lại, các công trình nghiên cứu đều thông nhất cho rằng: sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô là sự kiện chính trị phức tạp do nhiều nguyên nhân tổng hợp gây nên. Bao gồm nhân tố trong và ngoài nước (trong đó có cả “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch), trong và ngoài Đảng, nhân tố lịch sử và hiện thực, nhân tố kinh tế, nhân tố chính trị, nhân tố văn hoá, tư tưởng và cả nhân tố xã hội... Thế nhưng, là rường cột của đất nước và nhân dân Liên Xô, là cốt thép của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, sự thoái hóa và biến chất trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô chính là một nhân tố chủ yếu dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của “toà thành trì” kiên cố, vĩ đại này.

Liên Xô tan rã cơ bản là do những sai lầm nghiêm trọng về chiến lược của Đảng Cộng sản Liên Xô, trước hết là trong công tác cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt cấp chiến lược. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ XX, ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô đã không tỉnh táo và kiên quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử cơ hội, thực dụng trong đội ngũ cán bộ chủ chốt. Năm 1959, lần đầu tiên có 4 cán bộ của Liên Xô sang học ở Mỹ. Sau này hai người trong số đó là A.Yakốplép, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng phụ trách công tác tư tưởng - lý luận và tướng tình báo C.Danilôvích đã trở thành những “điệp viên ảnh hưởng” của CIA, là đạo diễn chính của công cuộc cải tổ làm sụp đổ và tan rã Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết; năm 1975, M.Gorbachev đã tiếp xúc với Matlock là người “phụ trách Đại sứ quán Mỹ ở Mátxcơva”, từ đó trở thành đối tượng mà phương Tây tư bản chủ nghĩa tiếp cận và lợi dụng. M.Gorbachev cũng lũng đoạn đội ngũ cán bộ cao cấp trong Đảng và Nhà nước, tước bỏ dần các khả năng hành động đúng đắn của họ, góp phần đẩy nhanh sự sụp đổ và tan rã của Liên Xô.

Các phần tử cơ hội, thực dụng về kinh tế và chính trị nắm giữ những trọng trách trong ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô đã phản bội lý tưởng xã hội chủ nghĩa và lợi ích dân tộc, phản bội tư tưởng của V.I.Lênin về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là xoá bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, xoá bỏ vai trò lãnh đạo và làm tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô, làm cho lực lượng vũ trang bị “phi chính trị hoá”. Tại Hội nghị đại biếu toàn quốc lần thứ 19 của Đảng Cộng sản Liên Xô (từ ngày 28/6 đến ngày 01/7/1988), M.Gorbachev đã báo cáo về “Tình hình thực hiện nghị quyết Đại hội XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô và nhiệm vụ đi sâu cải tổ”, trong đó đưa ra phương án cải tổ với mục tiêu xây dựng “chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo”. Điều này về thực chất là phủ nhận triệt để chủ nghĩa Mác - Lênin, áp dụng thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện đa đảng qua cái gọi là “phân chia lại quan hệ quyền lực giữa Đảng với Xôviết”, giải tán 23 ban trực thuộc Trung ương Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô với tư cách đảng cầm quyền. Hội nghị này là bước ngoặt cơ bản thay đổi thể chế chính trị của Liên Xô. Trong báo cáo tại Đại hội XXVIII của Đảng Cộng sản Liên Xô (tháng 7/1990), M.Gorbachev công khai bài xích nguyên tắc tập trung dân chủ. Điều lệ Đảng do Đại hội thông qua chính thức xoá bỏ nguyên tắc quan trọng nhất về tổ chức và hoạt động của Đảng. Ngày 24/8/1991, M.Gorbachev tự ý tuyên bố giải tán Ban Chấp hành Trung ương Đảng và từ chức Tổng Bí thư. Ngày 29/8/1991, với tư cách là Tổng thống Liên Xô, M.Gorbachev ra lệnh giải thể các cơ quan chính trị và từ ngày 01/9/1991 chấm dứt các hoạt động của Đảng trong quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hoá”. Ngày 25/12/1991, M.Gorbachev tuyên bố từ chức Tổng thông và bàn giao nút bấm toàn bộ kho vũ khí hạt nhân cho B.Elsin đánh dấu sự sụp đổ và tan rã của Liên Xô.

Sự thoái hoá của Đảng Cộng sản Liên Xô là do các đảng viên, trước hết và chủ yếu là các đảng viên giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt ở cấp cao, chưa đủ độ chín muồi về mặt chính trị, chưa thực sự giác ngộ về giai cấp, về lý tưởng cộng sản. Những suy thoái về đạo đức, lối sống của một số lãnh đạo cấp cao giữ vai trò chủ chốt với những biểu hiện nổi bật: sống ích kỷ, đặt lợi ích của bản thân, gia đình và người thân lên trên lợi ích của Đảng, của nhân dân; cục bộ địa phương, kéo bè kéo cánh đưa những người thân tín với mình, kể cả những người yếu về năng lực, kém về đạo đức, lối sống vào những vị trí lãnh đạo để làm vây cánh, che chắn bảo vệ mình; tham ô, sống xa hoa, nói một đằng làm một nẻo, cá biệt còn tha hoá, suy đồi về đạo đức, lối sống.

Ngoài ra, ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô còn mắc sai lầm nghiêm trọng trong hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, không hợp lòng dân. Cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Liên Xô đã thực hiện chiến lược cải cách kinh tế theo Chương trình kinh tế 500 ngày của Stalin và Chương trình kinh tế mang tên “Cuộc mặc cả vĩ đại” của Yavôlinxki - sản phẩm của sự thoả hiệp giữa các phần tử cơ hội, thực dụng trong cơ quan tham mưu chiến lược của Liên Xô với Trung tâm Harvard của Mỹ, đưa nền kinh tế ngả theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, dẫn tới sự phân hóa xã hội và xung đột xã hội ngày càng sâu sắc, làm gia tăng những khó khăn và sự bức xúc, bất bình, suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Trong khi đó, tầng lớp đặc quyền là các phần tử thoái hoá, biến chất lạm dụng chức vụ mưu lợi riêng trong đội ngũ cán bộ ngày càng lộng hành, làm tổn hại nghiêm trọng đến uy tín của Đảng và Nhà nước, xã hội chủ nghĩa. Hiện tượng độc quyền không chỉ thể hiện ở lĩnh vực phân phối, mà còn trong hoạch định, thực thi các chính sách, bố trí sử dụng cán bộ, uốn cong luật pháp để mưu lợi riêng cho bản thân, cho “nhóm lợi ích” và “tập đoàn lợi ích đặc biệt”, đồng thời né tránh sự kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng và pháp luật Nhà nước. Căn bệnh này trở nên đặc biệt nghiêm trọng dưới thời M.Gorbachev, làm cho bộ máy của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa bị tha hóa, biến chất, làm rạn vỡ quan hệ giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân, khiến đông đảo đảng viên và nhân dân không còn tin Đảng, thờ ơ, lãnh đạm với các nghị quyết, chỉ thị của Đảng...

2. Việc nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô có ý nghĩa rất to lớn đối với các Đảng Cộng sản trên thế giới, nhất là đối với Đảng Cộng sản cầm quyền như Đảng ta. Điều này lại càng đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh chúng ta đang quyết liệt tiến hành đấu tranh đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Qua đó, chúng ta thấy rõ hơn sự nguy hiểm của tình trạng suy thoái trong cán bộ, đảng viên và vai trò, ý nghĩa quan trọng của cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ ở nước ta hiện nay.

Do tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan đã dẫn đến tình trạng hiện nay một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Chính vì vậy, Đảng ta xác định việc ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái này là nhiệm vụ vừa cơ bản, lâu dài, vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn” . Hội nghị Trung ương 4 khoá XII quyết định ban hành Nghị quyết về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Trong đó đã vạch rõ những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” (chỉ rõ 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống; 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ); nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tín; nói trái, làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân... “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc” .

Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Nguyên tắc tập trung dân chủ bị buông lỏng, nguyên tắc tự phê bình và phê bình được thực hiện không nghiêm. Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời... Quản lý cán bộ, đảng viên còn lỏng lẻo. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả. Vai trò của nhân dân trong việc giám sát, phản biện, góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các hình thức khác chưa được phát huy đầy đủ, hiệu quả. Ngoài việc thẳng thắn chỉ rõ những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ và những nguyên nhân, Hội nghị Trung ương 4 khoá XII cũng xác định 4 nhóm giải pháp mang tính toàn diện, bảo đảm thống nhất, khoa học và có mối quan hệ biện chứng trong triển khai thực hiện.

3. Trên tinh thần bài học sâu sắc về sự sụp đổ của Liên Xô, quán triệt quan điểm lãnh đạo của Đảng và nhận thức đúng về tình hình thực tiễn hiện nay, để tiến hành có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII, ngăn chặn, đẩy lùi được tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, theo chúng tôi, cần chú ý làm tốt một số nội dung quan trọng sau:

Một là, quyết tâm, quyết liệt tổ chức quán triệt, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII được đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đánh giá cao và hy vọng lớn. Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện ra sao để đem lại hiệu quả thiết thực trong thực tế cuộc sống nhằm đạt được mục tiêu cao nhất đúng như Nghị quyết đã xác định: Nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

Để làm được điều đó, trước hết, cần nâng cao nhận thức của mỗi cấp ủy, cán bộ, đảng viên: xây dựng Đảng luôn luôn phải đi đôi với chỉnh đốn Đảng. Cần nắm vững những nội dung cơ bản, tư tưởng cốt lõi của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII để tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện một cách có hiệu quả. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII đã chỉ rõ những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, nhấn mạnh tính chất nguy hiểm và hậu quả khôn lường của nó. Cùng với việc cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng Đảng mà Đại hội XII đề ra, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII đã đưa ra 4 nhóm giải pháp để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XI, trong đó tập trung vào việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.

Bên cạnh đó, cũng cần thống nhất nhận thức: đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là cuộc chiến đầy cam go, nhưng chúng ta phải quyết tâm thực hiện cho bằng được, vì nó liên quan đến vận mệnh của Đảng ta và chế độ ta. Quan điểm chỉ đạo của Đảng là kiên quyết, kiên trì thực hiện, khó mấy cũng phải thực hiện, thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lón, tiến hành thường xuyên, liên tục ở các cấp, các ngành, đồng bộ cả ở Trung ương và cơ sở. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình với Đảng, với Tổ quốc để thực hiện Nghị quyết một cách nghiêm túc và có hiệu quả, tránh tình trạng thờ ơ, vô cảm, đứng ngoài cuộc hoặc có tư tưởng chỉ trông chờ, phán xét người khác.

Việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII phải thực hiện đồng bộ với các nghị quyết khác của Trung ương, của Quốc hội và của Chính phủ; đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, ổn định tình hình; tạo niềm tin trong Đảng, trong nhân dân. Cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cấp phải thật sự đoàn kết, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là phải có những giải pháp đủ mạnh, những việc làm cụ thể để làm chuyển biến rõ rệt tình hình; kết hợp hài hoà giữa “xây” và “chống”. Thực hiện Nghị quyết của Đảng cần phải hành động, hành động thiết thực, hiệu quả; tránh nói nhiều làm ít hoặc chỉ nói mà không làm…

Để cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ hiện nay đạt hiệu quả thực chất, phụ thuộc rất lớn vào thái độ, trách nhiệm của tàng cán bộ, đảng viên, mà trước hết là người đứng đầu câp ủy. 

Bởi vậy, trước hết cấp ủy từng cấp, trực tiếp là bí thư cấp ủy phải nắm vững những nội dung trọng tâm, cốt yếu được xác định trong Nghị quyết, mà hàng đầu là 4 nhóm giải pháp, bao gổm: (1) Công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình; (2) Cơ chế chính sách; (3) Kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; (4) Phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội. Đây là cơ sở, điều kiện, căn cứ để cấp ủy các cấp tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế ở từng địa phương, đơn vị. Trên cơ sở nhận thức đúng, nắm vững nội dung và hệ thống giải pháp để cấp ủy các cấp nghiên cứu xây dựng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp và thiết thực. Việc xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII đòi hỏi mỗi câp ủy cần xác định rõ từng nội dung, hình thức, bước đi phù hợp, biết lựa chọn vấn đề trọng tâm, tránh dàn trải. Đánh giá đúng thực tế, nhận diện và chỉ rõ những biểu hiện cụ thể ở từng cán bộ, đảng viên để có các giải pháp khắc phục hiệu quả. Đây là một yêu cầu rất cao, đòi hỏi khả năng tư duy, trình độ và trí tuệ của đội ngũ cấp ủy viên, trực tiếp là bí thư cấp ủy.

Hai là, kịp thời phát hiện, vạch trần mọi âm mưu, luận điệu, hoạt động của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị xuyên tạc, chống phá cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ ta hiện nay.

Cứ đến những ngày kỷ niệm lớn, các sự kiện chính trị - xã hội quan trọng (như Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, bầu cử Quốc hội, Đại hội Đảng, các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương...), các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, những kẻ tự xưng là “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền Việt Nam”, “người yêu nước”, lại đưa lên các trang mạng, blog hoặc dưới dạng “thư ngỏ”... những nội dung mang quan điểm sai trái, độc hại, tiến hành các hoạt động xuyên tạc, chống phá. Thời gian gần đầy, khi chúng ta đã và đang triển khai nhiều hoạt động đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng vào cuộc sống, nhất là trước khi diễn ra Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”... thì các phần tử cơ hội chính trị, các thế lực thù địch cho rằng đó chẳng qua chỉ là những cuộc “đấu đá” nội bộ, “nhóm lợi ích mới cướp (lại) nhóm lợi ích cũ” hoặc chỉ là để “trả thù, triệt hạ tay chân” của người này, người khác... Tất cả những luận điệu xuyên tạc, bóp méo cuộc đấu tranh chống tham nhũng, “lợi ích nhóm” trên các mạng xã hội trong và ngoài nước thời gian qua đều nhằm hạ thấp uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, kích động tâm trạng bất mãn của người dân trước thực trạng xã hội còn có những vấn đề chưa được giải quyết, hòng chuyển hóa xã hội ta sang một hình thức “dân chủ, nhân quyền”, “đa nguyên, đa đảng”…

Sự suy thoái về đạo đức, lối sống có nguồn gốc sâu xa, sự suy thoái còn liên quan đến cơ chế kinh tế thị trường,... Đặc biệt là vấn đề kiểm soát quyền lực là rất quan trọng và phức tạp. Cơ chế kiểm soát quyền lực không chỉ tùy thuộc vào quyết định của Đảng mà còn tùy thuộc vào thể chế của Nhà nước, của Quốc hội, của Chính phủ... 

Chính vì vậy, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ được Đảng ta xác định là một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, phải tiến hành một cách thận trọng, bài bản... Với sự quyết tâm của Đảng, sự đồng tình của nhân dân, chúng ta có quyền tin tưởng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh. Chúng ta không cho phép bất cứ ai được xuyên tạc về những kết quả đã đạt được bằng quyết tâm của Đảng, Nhà nước và toàn thể cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân ta trong cuộc đấu tranh này.

Ba là, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng, quản lý xã hội bằng pháp luật; kiên quyết xử lý ngay những vụ việc đang gây bức xúc dư luận, làm ảnh hưởng đến uy tín chính trị của Đảng.

Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và công khai kết quả kiểm tra, giám sát để góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Cấp ủy các cấp cần chỉ đạo rà soát ngay đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc quyền và xử lý nghiêm những trường hợp có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, không bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, năng lực và hiệu quả công tác thấp, nhất là những trường hợp người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp có nhiều dư luận. Chú trọng nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, quản lý xã hội bằng pháp luật. Bên cạnh đó, xử lý vi phạm cần kết hợp chặt chẽ giữa vận động, giáo dục với xử phạt nghiêm minh. Kết hợp các biện pháp giáo dục, quản lý hành chính, pháp luật với dư luận để điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân. Trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng cần chú trọng kiểm tra ở những nơi có vấn đề nổi cộm qua phản ánh của báo chí và nhân dân; kiểm tra, giám sát tổ chức đảng phải gắn với kiểm tra cá nhân người đứng đầu; xử lý nghiêm minh các tổ chức đảng và đảng viên vi phạm.

Thời gian vừa qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ đã chủ trương tiến hành kiểm tra, thanh tra nhiều lĩnh vực, những dự án có dấu hiệu mờ ám, vi phạm pháp luật, xem xét những cán bộ có dấu hiệu suy thoái về đạo đức lối sống, vi phạm các quy định của Đảng. Đặc biệt đưa ra xét xử một số vụ án lớn về kinh tế được dư luận rất hoan nghênh. Qua đó cho thấy cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, “lợi ích nhóm”, nhằm làm trong sạch Đảng đã được thực hiện bước đầu một cách quyết đoán và được đông đảo cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao.

Trải qua hơn 90 năm phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, với bản lĩnh của một đảng cách mạng, dày dạn kinh nghiệm, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng ta đã lãnh đạo, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của toàn dân tộc, giành được nhiều thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng. Tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là yêu cầu, nhiệm vụ, thử thách to lớn; là điều kiện quan trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là Đảng cách mạng chân chính, xứng đáng với niềm tin yêu và sự mong mỏi của nhân dân./.


Yêu nước ST.