Sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô đầu những năm 90 của thế kỷ XX là một sự kiện nổi bật, làm thay đổi căn bản cục diện chính trị thế giới, là một tổn thất đặc biệt to lớn của những người cộng sản. Sự kiện đó đã để lại nhiều bài học quý giá cho chúng ta, đặc biệt là trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ ở nước ta hiện nay.
1. Trong nửa sau của thế kỷ XX, trên thế giới đã hình thành một hệ thống xã hội chủ nghĩa hùng mạnh, đủ sức kiềm chế mọi hành động đơn phương, hiếu chiến chông phá cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là Mỹ. Nhờ đó mà hàng trăm dân tộc bị nô dịch, áp bức đã vùng lên làm cách mạng giải phóng dân tộc, làm suy sụp chủ nghĩa thực dân cũ, làm thất bại chủ nghĩa thực dân mới. Các nước xã hội chủ nghĩa mà đứng đầu là Liên Xô đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, ghi dấu ấn trong lịch sử văn minh nhân loại. Nhưng thật trớ trêu, một số Đảng Cộng sản cầm quyền, trước hết và chủ yếu là Đảng Cộng sản Liên Xô, lại để mất quyền lãnh đạo, làm cho hệ thống xã hội chủ nghĩa hùng mạnh mà hàng trăm triệu người xây dựng nên sụp đổ, tan rã. Cần lưu ý rằng, Đảng Cộng sản Liên Xô mất quyền lãnh đạo, Liên Xô tan rã mà không phải do một cuộc chiến tranh với chủ nghĩa đế quốc.
Năm 2005, trong Thông điệp Liên bang, Tổng thống Nga V.Putin cho rằng: “Liên Xô tan rã là tai họa chính trị nghiêm trọng nhất của thế kỷ XX. Đối với nhân dân Nga, đó là một bi kịch thực sự”. Một đảng do V.I.Lênin sáng lập. Một đảng từng lãnh đạo giai cấp công nhân Nga lật đổ ách thống trị của Sa hoàng Nga, xây dựng thành công nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên. Một đảng từng lãnh đạo nhân dân chống lại sự can thiệp vũ trang của 14 nước, bảo vệ thắng lợi thành quả cách mạng. Một đảng đã lãnh đạo chiến thắng phát xít Đức trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại và cống hiến to lớn cho thắng lợi của thế giới trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Một đảng giành được nhiều thành tựu rực rỡ trong xây dựng chủ nghĩa xã hội... Vì sao Đảng đó lại mất địa vị cầm quyền sau 74 năm? Đó là câu hỏi mà cho đến hôm nay vẫn còn mang ý nghĩa thời sự đối với những người cộng sản trên thế giới.
Đã có rất nhiều công trình, bài viết nghiên cứu về nguyên nhân Liên Xô tan rã. Nhưng tựu trung lại, các công trình nghiên cứu đều thông nhất cho rằng: sự sụp đổ của Đảng Cộng sản Liên Xô là sự kiện chính trị phức tạp do nhiều nguyên nhân tổng hợp gây nên. Bao gồm nhân tố trong và ngoài nước (trong đó có cả “diễn biến hoà bình” của các thế lực thù địch), trong và ngoài Đảng, nhân tố lịch sử và hiện thực, nhân tố kinh tế, nhân tố chính trị, nhân tố văn hoá, tư tưởng và cả nhân tố xã hội... Thế nhưng, là rường cột của đất nước và nhân dân Liên Xô, là cốt thép của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô, sự thoái hóa và biến chất trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô chính là một nhân tố chủ yếu dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của “toà thành trì” kiên cố, vĩ đại này.
Liên Xô tan rã cơ bản là do những sai lầm nghiêm trọng về chiến lược của Đảng Cộng sản Liên Xô, trước hết là trong công tác cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt cấp chiến lược. Ngay từ những năm 80 của thế kỷ XX, ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô đã không tỉnh táo và kiên quyết đấu tranh loại bỏ những phần tử cơ hội, thực dụng trong đội ngũ cán bộ chủ chốt. Năm 1959, lần đầu tiên có 4 cán bộ của Liên Xô sang học ở Mỹ. Sau này hai người trong số đó là A.Yakốplép, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng phụ trách công tác tư tưởng - lý luận và tướng tình báo C.Danilôvích đã trở thành những “điệp viên ảnh hưởng” của CIA, là đạo diễn chính của công cuộc cải tổ làm sụp đổ và tan rã Liên bang Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xôviết; năm 1975, M.Gorbachev đã tiếp xúc với Matlock là người “phụ trách Đại sứ quán Mỹ ở Mátxcơva”, từ đó trở thành đối tượng mà phương Tây tư bản chủ nghĩa tiếp cận và lợi dụng. M.Gorbachev cũng lũng đoạn đội ngũ cán bộ cao cấp trong Đảng và Nhà nước, tước bỏ dần các khả năng hành động đúng đắn của họ, góp phần đẩy nhanh sự sụp đổ và tan rã của Liên Xô.
Các phần tử cơ hội, thực dụng về kinh tế và chính trị nắm giữ những trọng trách trong ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô đã phản bội lý tưởng xã hội chủ nghĩa và lợi ích dân tộc, phản bội tư tưởng của V.I.Lênin về xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là xoá bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, xoá bỏ vai trò lãnh đạo và làm tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô, làm cho lực lượng vũ trang bị “phi chính trị hoá”. Tại Hội nghị đại biếu toàn quốc lần thứ 19 của Đảng Cộng sản Liên Xô (từ ngày 28/6 đến ngày 01/7/1988), M.Gorbachev đã báo cáo về “Tình hình thực hiện nghị quyết Đại hội XXVII Đảng Cộng sản Liên Xô và nhiệm vụ đi sâu cải tổ”, trong đó đưa ra phương án cải tổ với mục tiêu xây dựng “chủ nghĩa xã hội dân chủ nhân đạo”. Điều này về thực chất là phủ nhận triệt để chủ nghĩa Mác - Lênin, áp dụng thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện đa đảng qua cái gọi là “phân chia lại quan hệ quyền lực giữa Đảng với Xôviết”, giải tán 23 ban trực thuộc Trung ương Đảng, tiến tới xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô với tư cách đảng cầm quyền. Hội nghị này là bước ngoặt cơ bản thay đổi thể chế chính trị của Liên Xô. Trong báo cáo tại Đại hội XXVIII của Đảng Cộng sản Liên Xô (tháng 7/1990), M.Gorbachev công khai bài xích nguyên tắc tập trung dân chủ. Điều lệ Đảng do Đại hội thông qua chính thức xoá bỏ nguyên tắc quan trọng nhất về tổ chức và hoạt động của Đảng. Ngày 24/8/1991, M.Gorbachev tự ý tuyên bố giải tán Ban Chấp hành Trung ương Đảng và từ chức Tổng Bí thư. Ngày 29/8/1991, với tư cách là Tổng thống Liên Xô, M.Gorbachev ra lệnh giải thể các cơ quan chính trị và từ ngày 01/9/1991 chấm dứt các hoạt động của Đảng trong quân đội, làm cho quân đội bị “phi chính trị hoá”. Ngày 25/12/1991, M.Gorbachev tuyên bố từ chức Tổng thông và bàn giao nút bấm toàn bộ kho vũ khí hạt nhân cho B.Elsin đánh dấu sự sụp đổ và tan rã của Liên Xô.
Sự thoái hoá của Đảng Cộng sản Liên Xô là do các đảng viên, trước hết và chủ yếu là các đảng viên giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt ở cấp cao, chưa đủ độ chín muồi về mặt chính trị, chưa thực sự giác ngộ về giai cấp, về lý tưởng cộng sản. Những suy thoái về đạo đức, lối sống của một số lãnh đạo cấp cao giữ vai trò chủ chốt với những biểu hiện nổi bật: sống ích kỷ, đặt lợi ích của bản thân, gia đình và người thân lên trên lợi ích của Đảng, của nhân dân; cục bộ địa phương, kéo bè kéo cánh đưa những người thân tín với mình, kể cả những người yếu về năng lực, kém về đạo đức, lối sống vào những vị trí lãnh đạo để làm vây cánh, che chắn bảo vệ mình; tham ô, sống xa hoa, nói một đằng làm một nẻo, cá biệt còn tha hoá, suy đồi về đạo đức, lối sống.
Ngoài ra, ban lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô còn mắc sai lầm nghiêm trọng trong hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, không hợp lòng dân. Cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Liên Xô đã thực hiện chiến lược cải cách kinh tế theo Chương trình kinh tế 500 ngày của Stalin và Chương trình kinh tế mang tên “Cuộc mặc cả vĩ đại” của Yavôlinxki - sản phẩm của sự thoả hiệp giữa các phần tử cơ hội, thực dụng trong cơ quan tham mưu chiến lược của Liên Xô với Trung tâm Harvard của Mỹ, đưa nền kinh tế ngả theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản, dẫn tới sự phân hóa xã hội và xung đột xã hội ngày càng sâu sắc, làm gia tăng những khó khăn và sự bức xúc, bất bình, suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Trong khi đó, tầng lớp đặc quyền là các phần tử thoái hoá, biến chất lạm dụng chức vụ mưu lợi riêng trong đội ngũ cán bộ ngày càng lộng hành, làm tổn hại nghiêm trọng đến uy tín của Đảng và Nhà nước, xã hội chủ nghĩa. Hiện tượng độc quyền không chỉ thể hiện ở lĩnh vực phân phối, mà còn trong hoạch định, thực thi các chính sách, bố trí sử dụng cán bộ, uốn cong luật pháp để mưu lợi riêng cho bản thân, cho “nhóm lợi ích” và “tập đoàn lợi ích đặc biệt”, đồng thời né tránh sự kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng và pháp luật Nhà nước. Căn bệnh này trở nên đặc biệt nghiêm trọng dưới thời M.Gorbachev, làm cho bộ máy của Đảng và Nhà nước xã hội chủ nghĩa bị tha hóa, biến chất, làm rạn vỡ quan hệ giữa Đảng và Nhà nước với nhân dân, khiến đông đảo đảng viên và nhân dân không còn tin Đảng, thờ ơ, lãnh đạm với các nghị quyết, chỉ thị của Đảng...
2. Việc nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của Liên Xô có ý nghĩa rất to lớn đối với các Đảng Cộng sản trên thế giới, nhất là đối với Đảng Cộng sản cầm quyền như Đảng ta. Điều này lại càng đặc biệt có ý nghĩa trong bối cảnh chúng ta đang quyết liệt tiến hành đấu tranh đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Qua đó, chúng ta thấy rõ hơn sự nguy hiểm của tình trạng suy thoái trong cán bộ, đảng viên và vai trò, ý nghĩa quan trọng của cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ ở nước ta hiện nay.
Do tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan đã dẫn đến tình trạng hiện nay một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Chính vì vậy, Đảng ta xác định việc ngăn chặn và đẩy lùi sự suy thoái này là nhiệm vụ vừa cơ bản, lâu dài, vừa có ý nghĩa cấp bách trước mắt. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhận định: “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi; có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn” . Hội nghị Trung ương 4 khoá XII quyết định ban hành Nghị quyết về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Trong đó đã vạch rõ những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” (chỉ rõ 9 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị; 9 biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống; 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ); nguy hiểm nhất là sự phai nhạt lý tưởng cách mạng, không kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, mơ hồ, dao động, thiếu niềm tín; nói trái, làm trái với quan điểm, đường lối của Đảng; sa sút ý chí chiến đấu, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, phụ họa theo những nhận thức, quan điểm sai trái, lệch lạc; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn bổn phận, chức trách được giao; không thực hiện đúng các nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng; sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi, hám danh, tham nhũng, ham quyền lực; bè phái, cục bộ, mất đoàn kết; quan liêu, xa dân, vô cảm trước khó khăn, bức xúc của nhân dân... “Từ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn tới “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” chỉ là một bước ngắn, thậm chí rất ngắn, nguy hiểm khôn lường, có thể dẫn tới tiếp tay hoặc cấu kết với các thế lực xấu, thù địch, phản bội lại lý tưởng và sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc” .
Sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ do cả nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, bắt nguồn từ việc bản thân cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện; lập trường tư tưởng không vững vàng; sa vào chủ nghĩa cá nhân, quên trách nhiệm, bổn phận trước Đảng, trước nhân dân. Nguyên tắc tập trung dân chủ bị buông lỏng, nguyên tắc tự phê bình và phê bình được thực hiện không nghiêm. Việc nghiên cứu, sửa đổi, ban hành cơ chế, chính sách, pháp luật thích ứng với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa kịp thời... Quản lý cán bộ, đảng viên còn lỏng lẻo. Đánh giá, sử dụng, bố trí cán bộ còn nể nang, cục bộ. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả. Vai trò của nhân dân trong việc giám sát, phản biện, góp ý kiến xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và các hình thức khác chưa được phát huy đầy đủ, hiệu quả. Ngoài việc thẳng thắn chỉ rõ những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ và những nguyên nhân, Hội nghị Trung ương 4 khoá XII cũng xác định 4 nhóm giải pháp mang tính toàn diện, bảo đảm thống nhất, khoa học và có mối quan hệ biện chứng trong triển khai thực hiện.
3. Trên tinh thần bài học sâu sắc về sự sụp đổ của Liên Xô, quán triệt quan điểm lãnh đạo của Đảng và nhận thức đúng về tình hình thực tiễn hiện nay, để tiến hành có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII, ngăn chặn, đẩy lùi được tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ, theo chúng tôi, cần chú ý làm tốt một số nội dung quan trọng sau:
Một là, quyết tâm, quyết liệt tổ chức quán triệt, thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII được đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân đánh giá cao và hy vọng lớn. Vấn đề còn lại là tổ chức thực hiện ra sao để đem lại hiệu quả thiết thực trong thực tế cuộc sống nhằm đạt được mục tiêu cao nhất đúng như Nghị quyết đã xác định: Nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ. Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.
Để làm được điều đó, trước hết, cần nâng cao nhận thức của mỗi cấp ủy, cán bộ, đảng viên: xây dựng Đảng luôn luôn phải đi đôi với chỉnh đốn Đảng. Cần nắm vững những nội dung cơ bản, tư tưởng cốt lõi của Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII để tập trung chỉ đạo, triển khai thực hiện một cách có hiệu quả. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII đã chỉ rõ những biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, nhấn mạnh tính chất nguy hiểm và hậu quả khôn lường của nó. Cùng với việc cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp về xây dựng Đảng mà Đại hội XII đề ra, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII đã đưa ra 4 nhóm giải pháp để tiếp tục thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XI, trong đó tập trung vào việc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ.
Bên cạnh đó, cũng cần thống nhất nhận thức: đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là cuộc chiến đầy cam go, nhưng chúng ta phải quyết tâm thực hiện cho bằng được, vì nó liên quan đến vận mệnh của Đảng ta và chế độ ta. Quan điểm chỉ đạo của Đảng là kiên quyết, kiên trì thực hiện, khó mấy cũng phải thực hiện, thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lón, tiến hành thường xuyên, liên tục ở các cấp, các ngành, đồng bộ cả ở Trung ương và cơ sở. Mỗi cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc trách nhiệm của mình với Đảng, với Tổ quốc để thực hiện Nghị quyết một cách nghiêm túc và có hiệu quả, tránh tình trạng thờ ơ, vô cảm, đứng ngoài cuộc hoặc có tư tưởng chỉ trông chờ, phán xét người khác.
Việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII phải thực hiện đồng bộ với các nghị quyết khác của Trung ương, của Quốc hội và của Chính phủ; đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng - an ninh, mở rộng quan hệ đối ngoại, ổn định tình hình; tạo niềm tin trong Đảng, trong nhân dân. Cấp ủy, tổ chức đảng và người đứng đầu các cấp phải thật sự đoàn kết, nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, nhất là phải có những giải pháp đủ mạnh, những việc làm cụ thể để làm chuyển biến rõ rệt tình hình; kết hợp hài hoà giữa “xây” và “chống”. Thực hiện Nghị quyết của Đảng cần phải hành động, hành động thiết thực, hiệu quả; tránh nói nhiều làm ít hoặc chỉ nói mà không làm…
Để cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ hiện nay đạt hiệu quả thực chất, phụ thuộc rất lớn vào thái độ, trách nhiệm của tàng cán bộ, đảng viên, mà trước hết là người đứng đầu câp ủy.
Bởi vậy, trước hết cấp ủy từng cấp, trực tiếp là bí thư cấp ủy phải nắm vững những nội dung trọng tâm, cốt yếu được xác định trong Nghị quyết, mà hàng đầu là 4 nhóm giải pháp, bao gổm: (1) Công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình; (2) Cơ chế chính sách; (3) Kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; (4) Phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội. Đây là cơ sở, điều kiện, căn cứ để cấp ủy các cấp tổ chức học tập, quán triệt, triển khai thực hiện phù hợp với điều kiện thực tế ở từng địa phương, đơn vị. Trên cơ sở nhận thức đúng, nắm vững nội dung và hệ thống giải pháp để cấp ủy các cấp nghiên cứu xây dựng kế hoạch, chương trình hành động phù hợp và thiết thực. Việc xây dựng chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khoá XII đòi hỏi mỗi câp ủy cần xác định rõ từng nội dung, hình thức, bước đi phù hợp, biết lựa chọn vấn đề trọng tâm, tránh dàn trải. Đánh giá đúng thực tế, nhận diện và chỉ rõ những biểu hiện cụ thể ở từng cán bộ, đảng viên để có các giải pháp khắc phục hiệu quả. Đây là một yêu cầu rất cao, đòi hỏi khả năng tư duy, trình độ và trí tuệ của đội ngũ cấp ủy viên, trực tiếp là bí thư cấp ủy.
Hai là, kịp thời phát hiện, vạch trần mọi âm mưu, luận điệu, hoạt động của các thế lực thù địch, cơ hội chính trị xuyên tạc, chống phá cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ ta hiện nay.
Cứ đến những ngày kỷ niệm lớn, các sự kiện chính trị - xã hội quan trọng (như Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, bầu cử Quốc hội, Đại hội Đảng, các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương...), các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, những kẻ tự xưng là “đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền Việt Nam”, “người yêu nước”, lại đưa lên các trang mạng, blog hoặc dưới dạng “thư ngỏ”... những nội dung mang quan điểm sai trái, độc hại, tiến hành các hoạt động xuyên tạc, chống phá. Thời gian gần đầy, khi chúng ta đã và đang triển khai nhiều hoạt động đưa Nghị quyết Đại hội XII của Đảng vào cuộc sống, nhất là trước khi diễn ra Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII, Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh cuộc đấu tranh chống tham nhũng, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”... thì các phần tử cơ hội chính trị, các thế lực thù địch cho rằng đó chẳng qua chỉ là những cuộc “đấu đá” nội bộ, “nhóm lợi ích mới cướp (lại) nhóm lợi ích cũ” hoặc chỉ là để “trả thù, triệt hạ tay chân” của người này, người khác... Tất cả những luận điệu xuyên tạc, bóp méo cuộc đấu tranh chống tham nhũng, “lợi ích nhóm” trên các mạng xã hội trong và ngoài nước thời gian qua đều nhằm hạ thấp uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam, kích động tâm trạng bất mãn của người dân trước thực trạng xã hội còn có những vấn đề chưa được giải quyết, hòng chuyển hóa xã hội ta sang một hình thức “dân chủ, nhân quyền”, “đa nguyên, đa đảng”…
Sự suy thoái về đạo đức, lối sống có nguồn gốc sâu xa, sự suy thoái còn liên quan đến cơ chế kinh tế thị trường,... Đặc biệt là vấn đề kiểm soát quyền lực là rất quan trọng và phức tạp. Cơ chế kiểm soát quyền lực không chỉ tùy thuộc vào quyết định của Đảng mà còn tùy thuộc vào thể chế của Nhà nước, của Quốc hội, của Chính phủ...
Chính vì vậy, đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ được Đảng ta xác định là một nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, phải tiến hành một cách thận trọng, bài bản... Với sự quyết tâm của Đảng, sự đồng tình của nhân dân, chúng ta có quyền tin tưởng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh. Chúng ta không cho phép bất cứ ai được xuyên tạc về những kết quả đã đạt được bằng quyết tâm của Đảng, Nhà nước và toàn thể cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân ta trong cuộc đấu tranh này.
Ba là, tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong Đảng, quản lý xã hội bằng pháp luật; kiên quyết xử lý ngay những vụ việc đang gây bức xúc dư luận, làm ảnh hưởng đến uy tín chính trị của Đảng.
Các cấp ủy, tổ chức đảng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và công khai kết quả kiểm tra, giám sát để góp phần đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Cấp ủy các cấp cần chỉ đạo rà soát ngay đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý thuộc quyền và xử lý nghiêm những trường hợp có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, không bảo đảm về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình bổ nhiệm, năng lực và hiệu quả công tác thấp, nhất là những trường hợp người nhà, người thân của cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp có nhiều dư luận. Chú trọng nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng; tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong Đảng, quản lý xã hội bằng pháp luật. Bên cạnh đó, xử lý vi phạm cần kết hợp chặt chẽ giữa vận động, giáo dục với xử phạt nghiêm minh. Kết hợp các biện pháp giáo dục, quản lý hành chính, pháp luật với dư luận để điều chỉnh hành vi của mỗi cá nhân. Trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng cần chú trọng kiểm tra ở những nơi có vấn đề nổi cộm qua phản ánh của báo chí và nhân dân; kiểm tra, giám sát tổ chức đảng phải gắn với kiểm tra cá nhân người đứng đầu; xử lý nghiêm minh các tổ chức đảng và đảng viên vi phạm.
Thời gian vừa qua, thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ đã chủ trương tiến hành kiểm tra, thanh tra nhiều lĩnh vực, những dự án có dấu hiệu mờ ám, vi phạm pháp luật, xem xét những cán bộ có dấu hiệu suy thoái về đạo đức lối sống, vi phạm các quy định của Đảng. Đặc biệt đưa ra xét xử một số vụ án lớn về kinh tế được dư luận rất hoan nghênh. Qua đó cho thấy cuộc đấu tranh chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”, “lợi ích nhóm”, nhằm làm trong sạch Đảng đã được thực hiện bước đầu một cách quyết đoán và được đông đảo cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao.
Trải qua hơn 90 năm phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách, với bản lĩnh của một đảng cách mạng, dày dạn kinh nghiệm, luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, Đảng ta đã lãnh đạo, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của toàn dân tộc, giành được nhiều thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp cách mạng. Tiến hành thắng lợi cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong nội bộ là yêu cầu, nhiệm vụ, thử thách to lớn; là điều kiện quan trọng để xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là Đảng cách mạng chân chính, xứng đáng với niềm tin yêu và sự mong mỏi của nhân dân./.
Yêu nước ST.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét