Thứ Ba, 12 tháng 1, 2021

Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa trong pháp luật của Việt Nam

 


- Quyền về việc làm

Năm 1982 Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa và từ đó đến nay đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia nhằm thực hiện nghĩa vụ quốc tế được quy định trong Công ước này.

+ Điều 35 Hiển pháp năm 2013 quy định:

> Công dân có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc. Nghiêm cấm phân biệt đối x, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu.

 >Bên cạnh quy đinh việc quy định quyền làm việc của người dân, Hiến pháp còn quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc khuyến khích, tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tạo việc làm cho người lao động. Đồng thi cũng chính Nhà nước có nghĩa vụ hàng đầu trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người lao động, người sử dụng lao động và tạo điều kiện xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định.

> Hiến pháp khẳng định: Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi.

+ Bộ luật Lao động năm 2012

> nhấn mạnh trách nhiệm, nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng của người lao động; khuyến khích những thoả thuận bảo đảm cho người lao động có những điều kiện thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật vê lao động; có chính sách để người lao động mua cổ phần, góp vốn phat tríển sản xuât, kinh doanh.

>Nhà nước bảo đảm nguyên tắc bình đẳng giới trong lao động; quy định chế độ lao động và chính sách xã hội nhằm bảo vệ lao động nữ, lao động là người khuyết tật, người lao động cao tuổi, lao động chưa thành niên.

 > Điều 5 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định người lao động có các quyền sau:

a) Làm việc, tự do lựa chọn việc lảm, nghề nghiệp, học nghề, nâng cao ữình độ nghề nghiệp và không bị phân biệt đối xử;

b) Hưởng lương phù hp với trình độ kỹ năng nghề trên cơ sở thoả thuận vi người sử dụng lao động; được bảo hộ lao động, làm việc trong điều kiện bảo đảm về an toàn lao động, vệ sinh lao động; nghi theo chế độ, nghi hằng năm có lương và được hưởng phúc lợi tập thể;

c) Thành lập, gia nhập, hoạt động công đoàn, tổ chức nghề nghiệp và tổ chức khác theo quy định của pháp luật; yêu cầu và tham gia đối thoại với người sử dụng lao động, thực hiện quy ché dân chủ và được tham vấn tại nơi làm việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; tham gia quản lý theo nội quy của người sử dụng lao động;

d) Đơn phương chấm dứt hp đồng lao động theo quy đinh của pháp luật;

đ) Đình công.

> Đ bảo đảm quyền lợi cho người lao động, Nhà nước Việt Nam quy định mức lương tối thiểu tại Điều 91 Bộ luật Lao động:

 Mức lương tối thiểu là mức thấp nhất trả cho ngưi lao động làm công việc giản đơn nhất, trong điều kiện lao động bình thường và phải bảo đảm nhu cầu sống tối thiểu của ngưi lao động và gia đình họ.

> quy định cụ thể mức tiền lương làm thêm giờ, làm việc vào ban đêm. Cụ thể như sau:

1. Người lao động làm thêm giờ được trả lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc đang làm như sau:

a) Vào ngày thường, ít nhất bằng 150%;

b) Vào ngày nghỉ hằng tuần, ít nhất bằng 200%;

c) Vào ngày nghi lễ, ngày nghỉ có hưởng lương, ít nhất bằng 300% chưa kể tiền lương ngày lễ, ngày nghỉ có hưởng lương đối vói ngưòi lao động hường lương ngày.

2. Người lao động làm việc vào ban đêm, thì được trả thêm ít nhất bằng 30% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc của ngày làm việc bình thường.

3. Người lao động làm thêm giờ vào ban đêm thì ngoài việc trả lương theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, người lao động còn được ừả thêm 20% tiền lương tính theo đơn giá tiền lương hoặc tiền lương theo công việc làm vào ban ngày.

Pháp luật Việt Nam cũng có những quy đinh cụ thể về thời gian lao động, thòi gian nghỉ ngơi; lao động là phụ nữ, người chưa thành niên, người cao tuổi, người khuyết tật.

Trong quan hệ lao động, Nhà nước vừa bảo đảm quyền của người lao động đng thời bảo vệ quyn và lợi ích hợp pháp của người sử dụng lao động, tạo cơ sở pháp lý cho việc quản lý lao động .đúng pháp luật, dân chủ, công bằng, văn minh và nâng cao trách nhiệm xã hội. Điều 33 Hỉến pháp, Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Hiến pháp khẳng định trách nhiệm của Nhà nước trong việc khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân, tổ chức khác đầu tư, sản xuất, kinh doanh.

- Quyền tự do kinh doanh

“Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm”.

+Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư được ban hành to cơ sở pháp lý và điều kiện thuận lợi hơn cho việc thực hiện quvền tư do kinh doanh, dỡ bỏ hàng loạt thủ tục rườm rà, bất cập theo cơ chế cũ. Đồng thời, pháp luật liệt kê cụ thể những ngành nghề cấm kinh doanh và các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, ngoài các ngành nghề này ra thì mọi người có quyền tự do kinh doanh.

Trước đây, doanh nghiệp chi được phép hoạt động Hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Luật Doanh nghiệp 2014 quy định việc đăng ký kinh doanh không cẩn ghi ngành nghề, thể hiện rõ việc tự do kinh doanh trong tt cả ngành nghề mà pháp luật không cấm.

Đối với nhà đầu tư nước ngoài, họ có quyền lựa chọn phương thức bảo hộ, giải quyết tranh chấp đầu tư không chỉ qua Tòa án quốc gia mà cả qua cơ chế giải quyết của Trọng tài quốc tế. Bên cạnh đó, Bộ luật hình sự năm 2015 không còn quy định tội kinh doanh trái phép theo đúng tinh thần không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự.

-Quyền sở hữu

+Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Không ai có thể bị hạn chế, bị tước đoạt trái luật quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản. Chủ sở hữu được thực hiện mọi hành vi theo ý chí của mình để nắm giữ, chi phối tài sản của minh nhưng không được trái pháp luật, đạo đức xã hội.

+Hiến pháp năm 2013 khẳng định Nhà nước, pháp luật bảo hộ quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế.

Mọi người có quyên sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Tài sản hợp pháp của cá nhân, tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh được pháp luật bảo hộ và không bị quốc hữu hóa.

Nhà nước chi thực hiện việc trưng mua hoặc trung dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc Vì lợi ích quốc gia, tình ứạng khẩn cấp, phòng, chống thiên tai.ị

+Bộ luật Dân sự năm 2015 đã ghi nhận 03 hình thức sở hữu

>Sở hữu toàn dân (từ Điều 197 đến Điều 204),

>sở hữu riêng (Điều 205 và Điều 206)

>sở hữu chung (từ Điều 207 đến Điều 220).

+Quyền sở hữu được Nhà nước, pháp luật bảo vệ.

> Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền tự bảo vệ, ngăn chặn bất kỳ người nào có hành vi xầm phạm quyền của mình bng những biện pháp không trái vi quy định của pháp luật.

>Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối vi tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Người đang chiếm hữu vật được suy đoán là người có quyền hợp pháp đối với tài sản.

+Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định nguyên tắc chung về thời hiệu xác lập quyền sở hữu do chiếm hữu, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật mà không phân biệt tài sản đó thuộc sở hữu của ai.

-        Quyền có mức sổng thích đáng

+Bảo đảm cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc cho nhân dân không phải dừng lại ở khẩu hiệu, quan điểm, định hướng chung chung mà trờ thành nghĩa vụ của Nhà nước được hiến định tại

+ Điều 3 Hiển pháp:

Nhà nước thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi ngưòi có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Nhằm bảo đảm thực hiện quyền này, trước hết trên lĩnh vực kinh tế,

+Điều 50 Hiến pháp nhấn mạnh:

 Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ với phát triển văn hóa, thưc hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trên lĩnh vực khoa học, công nghệ, nhà nưóc tạo điều kiện đê mọi người tham gia vả được thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động khoa học và công nghệ. Đồng thời, một trong lính vực quan trọng có liên quan trực tiếp đến quyen con người cũng Hiến pháp xác định rõ tại

+ Điều 59 khoản 2 trách nhiệm của Nhà nước trong việc phát triển hệ thống an sinh xã hội. Trên lĩnh vực văn hóa Hiến pháp tạo cơ sờ pháp lý cho mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa.

-        Quyền thành lập và gia nhập công đoàn

+Điều 9 khoản 2 Hiến pháp khẳng định:

 Công đoàn Việt Nam là các tổ chức chính trị-xã hội được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của thành viên, hội viên tổ chức mình; cùng các tổ chức thành viên khác cùa Mặt ừận phối hợp và thống nhất hành động trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Nhà nước có nghĩa vụ bảo dám, hỗ trợ, tạo điều kiện chọ Công đoàn thực hiện chức năng, quyền, trách nhiệm theo quy định của pháp luật.

+ Luật Công đoàn năm 2012 quy định: Người lao động là người Việt Nam làm việc trong cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp có quyền thành lập, gia nhập và hoạt động cồng đoàn.

>Công đoàn cơ sở được tổ chức rộng rãi trong các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chánh ừị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị, doanh nghiệp, các tổ chức khác có sử dụng lao động theo quy đinh của pháp luật về lao động, các cơ quan, tồ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam.

>Công đoàn có nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp, chính đáng của người lao động, tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội; tham gia, phổi họp với cơ quan nhả nước có tham quyền thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách, pháp luật về lao động, công đoàn, cán bộ, công chức, viên chức, bảo hiếm xã hội, bảo him y tế và chế độ, chính sách, pháp luật khác có liên quan đến quyền, nghĩa vụ của người lao động; điều tra . tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,

>Hợp tác quốc tế về công đoàn được thực hiện trên cơ sở bảo đảm nguyên tắc bĩnh đẳng, tôn ừọng độc lập, chủ quyền quôc gia, phù hợp với pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế.

-Quyền được hưởng an sinh xã hội

+Hiến pháp xác định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo bình đẳng về cơ hội để công dân thụ hưởng phúc lợi xã hội, phát triển hệ thống an sinh xã hội. Trong đó, Nhà nước có chính sách trợ giúp người cao tuồi, người khuyết tật, người nghèo và người có hoàn cảnh khó khăn khác.

+Bảo hiểm xã hội là một trong những việc trọng yếu của an sinh xã hội. Chính vì lẽ đó, chính sách, pháp luật về bâo hiểm xã hội được củng cố, phát triển.

>Trước đây, đối tượng bảo hiểm xã hội của nước ta chi bó hẹp trong phạm vi công nhân, viên chức Nhà nước và lực lượng vũ trang, hiện nay chúng ta mới mở rộng bảo hiểm xã hội cho người lao động trong các loại hình doanh nghiệp khác nhau. Không dừng lại ỡ bảo hiểm xã hội, các loại hình bảo hiểm khác cũng được mở rộng vàthực hiện chế độ bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế.

>Điều 186 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định:Người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế băt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và được hưởng các chế độ theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội và pháp luật về bảo hiểm y tế. Đồng thời, Nhà nước có các biện pháp khuyến khích người sử dụng lao động, người lao động thực hiện các hình thức bảo hiểm xã hội khác đối với người lao động.

>Đối với người lao động không thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thì ngoài việc trả lương theo công việc, người sử dụng lao động có ừách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động một khoản tiền cho người lao động tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và tiền nghỉ phép hằng năm theo quy định.

>Ngoài những đối tượng thuộc bảo hiểm bắt buộc, Luật Bảo hiểm y tế năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 quy định những đối tượng cụ thể mà Nhà nước có nghĩa vụ đóng tiền bảo hiểm y tế cho họ, có nghĩa là họ đương nhiên được bảo hiểm y tế

>Cùng với các quy định về bảo hiểm, Chính phủ đã ban hành Nghị định sổ 67/2007/NĐ-CP về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội. Nghị định này mrộng cả phạm vi và mức trợ cấp cho các đối tượng gặp khó khăn trong xã hội. Điều 4 quy định những đối tượng bảo ừợ xã hội thuộc diện được trợ cấp hàng tháng và Điều 6 quy định những đối tượng được trợ giúp đột xuất (một lần) là những người, hộ gia đình gặp khó khăn do hậu quả thiên tai hoặc nhũng lý do bất khả kháng khác gây ra

-Quyền được chăm sóc sức khoẻ

Con người là chủ thể của quyền, có vai trò làm nên lịch sử, quyết định sự thành bại của cá nhân và của các quốc gia dân tộc và cộng đồng nhân loại. Đối với con người, sức khỏe là yếu tố quan trọng hàng đầu. Chính vì lẽ đó con người có quyền được chăm sóc bảo vệ sức khỏe. Theo đó, chăm sóc sức khỏe là nghĩa vụ của Nhà nước đối với mọi người.

+ Hiến pháp Việt Nam năm 2013 xác định:

Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiếm y tê toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khoẻ cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào ở miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khẵn.

Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, chăm sóc sức khỏe người mẹ, trẻ em, thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

>Pháp luật quy định: công dân có quyền được bảo vệ sức khoẻ, nghỉ ngơi, giải ữí, rèn luyện thân thể; được bảo đảm vệ sinh ừong lao động, vệ sinh dinh dưỡng, vệ sinh môi trường sống, được sống trong môi trường trong lành và được phục vụ về chuyên môn y tế.

> Để bảo đảm thực hiện quyền này trong thực tiễn, Điều 3 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân quy đinh rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của Nhà nước:

 Nhà nước chăm lo bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân; đưa công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân vào kế hoạch phát triển kinh té - xã hội và ngân sách Nhà nước; quyết định những chế độ chính sách, biện pháp để bảo vệ và tăng cường sức khoẻ nhân dân. Đồng thời Nhà nước giao cho các cơ quan Nhà nước, các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các đơn. vị vũ trang nhân dân (gọi chung là các tổ chức Nhà nước), các cơ sở sản xuất, kirih doanh của tập thể và tư nhân có trách nhiệm trực tiếp chăm lo, bảo vệ, tăng cường sức khoẻ của những thành, viên trong cơ quan, đơn vị mình và đóng góp tiền của, công sức theo khả năng cho công tác bảo vệ sức khoẻ nhân dân.

>Cùng với việc chăm sóc sức khỏe về y tế, pháp luật còn quy định việc tổ chức nghỉ ngơi và điều dưỡng đối với người lao động:

Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, các ngành, các cấp, các tổ chức Nhà nước, các tổ chức xã hội, tổ chức tập thể có trách nhiệm mở rộng các cơ sở điều dưỡng, nhà nghỉ và câu lạc bộ sức khoẻ.

>Nhằm bảo đảm sức khỏe cho ngưòi lao động, Bộ luật Lao động quy định về tuân thủ pháp luật về an toàn lao động, vệ sinh lao động, bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc. Khi xây dựng mới, mờ rộng hoặc cải tạo các công trình, cơ sở để sản xuất thì chủ đầu tư, người sử dụng lao động phải lập phương án về các biện pháp bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động đối với nơi làm việc của người lao động và môi trường.

>Khi sản xuất, sử dụng, bảo quản, vận chuyển các loại máy, thiết bị, vật tư, năng lượng, điện, hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật, việc thay đổi công nghệ, nhập khẩu công nghệ mới phải được thực hiện theo quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn lao động, vệ sinh lao động hoặc tiêu chuẩn về an toàn lao động, vệ sinh lao động tại nơi làm việc đã công bố, áp dụng.

>Trên cơ sở pháp luật, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 122/QĐ-TTg ngày 10/01/2013 về Phê duyệt Chiến lược quốc gia bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011    - 2020, tm nhìn đen năm 2030.

- Quyền về giáo dục

Thực hiện cam kết quốc tế về bảo đảm quyền được giáo dục, Hiến pháp pháp luật Việt Nam có những quy định cụ thể nhằm bảo đảm quyền này trong thực tiễn.

Điều 61 Hiến pháp khẳng định rõ quan điểm, mục tiêu giáo dục cùa Việt Nam coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí phát ừiển nguồn nhân lực, bồi dượng nhân tài.

Thực hiện mục tiêu trên, Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non

>Hiến pháp, Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991 quy định rõ: giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí. Nhà nước tiến hành từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý

>Điều 10 Luật Giáo dục năm 2005 quy định mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập.

>Tuy quyền giáo dục xét về bản chất là bình đẳng đối với mọi người nhưng để thực hiện quyền này, bên cạnh chính sách, biện pháp chung, Nhà nước có biện pháp riêng tạo đỉều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hoá và học nghề. Đồng thời, Nhà nước có chính sách pháp luật, biện pháp ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài.

>Bảo đảm quyền được giáo dục, Nhà nước chú trọng trong việc giáo dục nghề nghiệp. Điều 6 Luật giáo dục nghề nghiệp 2014 nêu rõ chinh sách ưu tiên của Nhà nước về phát triển giáo dục nghề nghiệp:

-Phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp mở, linh hoạt, đa dạng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế.

-Đầu tư cho giáo dục nghề nghiệp được ưu tiên trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phát triển nhân lực. Ngân sách cho giáo dục nghề nghiệp được ưu tiên trong tồng chi ngân sách nhà nước dành cho giáo dục, đào tạo.

-Ưu tiên đầu tư đồng bộ cho đào tạo nhân lực thuộc các ngành, nghề trọng điểm quốc gia, các ngành, nghề tiếp cận với trình độ tiên tiếri của khu vực, quốc tế’ chú trọng phát triển giáo dục nghề nghiệp ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng ven biển; đầu tư đào tạo các nghề thị trường lao động có nhu cầu nhưng khó thực hiện xã hội hóa.

-Hỗ trợ các đối tượng được hưởng chế độ ưu đãi người có công với cách mạng, quân nhân xuất ngũ, người dân tộc thiểu số, người thuộc hộ nghèo, hộ cận nghèo, người khuyết tật, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, ngư dân đánh bắt xa bờ, lao động nông thôn là người trực tiếp lao động trong các hộ sản xuất nông nghiệp bị thu hồi đất canh tác và các đối tượng chính sách xã hội khác nhằm tạo cơ hội cho họ được học tập để tìm việc làm, tự tạo việc làm, lập thân, lập nghiệp; thực hiện bình đẳng giới trong giáo dục nghề nghiệp.

Cùng với chính sách, biện pháp trên đây, pháp luật còn quy định các đối tượng cụ thể được Nhà nước miễn học phí.

-Quyền về văn hóa

Xác định rõ vai ừò, giá trị của văn hóa, nhận thức văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, Nhà nước chăm lo xây dựng và phát triển văn hóa, bảo đảm quyền về văn hóa của mọi người.

+ Hiến pháp khẳng định: Nhà nước, xã hội chăm lo xây dụng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Nhà nước, xã hội phát triển văn học, nghệ thuật nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần đa dạng và lành mạnh của Nhân dân.

+Nhằm đáp ứng các yêu cầu của pháp luật quốc tế về quyền văn hóa, Hiến pháp ghi nhận: “Mọi người có quỵền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đòi sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa”. “Mọi người có quyền nghiên cứu khoa học và công nghệ, sáng tạo văn học, nghệ thuật và thụ hưởng lợi ích từ các hoạt động đó”.

+Quyền văn hóa là một trong những quyền con người. Tuy vậy, để quyền này được thực thi trong thực tiễn thì đòi hỏi nhng quyền khác cũng phải được bảo đảm, trước hết là quyền về kinh tế, môi trường.

Chính vì lẽ đó, Điều 50 Hiến pháp khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, phát huy nội lực, hội nhập, hợp tác quốc tế, gắn kết chặt chẽ vói phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường”. Như vậy quyền về văn hóa, quyền về kinh tế gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau.

Điều 9 Luật Di sản văn hóa 2009 xác định trách nhiệm của Nhà nước “Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đât nước”.

 Các quyền của nhóm dễ bị tổn thương ở Việt Nam

Quyền của phụ nữ

Việt Nam phê chuẩn Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ năm 1982 và xây dựng, hoàn thiện nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm quyền của phụ nữ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. .

Hiến pháp, pháp luật Việt Nam đều khẳng định mọi người đều binh đẳng trước pháp luật không phân biệt giới tính địa vị, dân tộc...Riêng đối vói phụ nữ, Hiến pháp xác định: Công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt. Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội binh đẳng giới. Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội. Tất cả những hành vi phân biệt đối xử về giới bị nghiêm cấm.

+Luật Đình đẳng giới được ban hành năm 2006 với mục tiêụ là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhaụ cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ, hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển.

+Cũng như nam giới, phụ nữ có quyền tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tự ứng cử và được giới thiệu ứng cử vào cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính tri, tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp. Nam, nữ bình đẳng trong trong cơ hội thăng tiến, đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo.

+Điều 8 khoản 3 Luật Bầu cử đại biểu quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định: số lượng phụ nữ được giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội do ủy ban thường vụ Quốc hội dự kiến trên cơ sở đề nghị của Đoàn chủ tịch Ban chấp hành trung ương Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, bảo đảm có ít nba mươi lăm phần trăm tổng số người trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội là phụ nữ.

+Trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước nói chung, bảo đảm quyền con người nói riêng chúng ta coi phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm nên tạo mọi điều kiện, cơ hội thuận lợi cho mọi người, ừong đó có phụ nữ tham gia phát triển kinh tế, làm giàu chính đáng.

 Luật Bình đẳng giới quy định: Nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý doanh nghiệp, bĩnh đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường và nguồn lao động.

Nhà nước có các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế bao gồm: Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ được ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật; lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư theo quy định của pháp luật.

+Điều 98 khoản 4 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sờ hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng thì phải ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng vào Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tải sản khác gắn liền với đất, trừ trường hợp vợ và chồng có thỏa thuận ghi tên một người.

Trường hợp quyền sử dụng đất hoặc quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc quyền sờ hữu nhà ờ và tài sản khác gắn liền với đất là tài sản chung của vợ và chồng mà Giấy chứng nhận đã cấp chi ghi họ, tên của vợ hoặc chồng thì được cấp đổi sang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất để ghi cả họ, tên vợ và họ, tên chồng nếu có yêu cầu.

+Điều 13 Luật Bình đẳng giới quy định những tiêu chí bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực lao động: Nam, nữ bình đằng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền thưởng, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác; bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh.

+Ngoài những quy định mang tính nguyên tắc chung, pháp luật còn có những quy định cụ thể riêng đối với lao động nữ.

>Nhà nước có chinh sách khuyến khích và giảm thuế cho các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ, có các biện pháp tổ chức nhà trẻ, lp mẫu giáo ở nơi có nhiều lao động nữ.

>Pháp luật cũng đặt ra các yêu cầu đối với người sử dụng lao động trong việc bảo vệ và thực hiện chế độ thai sản, những việc không được sử dụng lao động nữ. Người sử dụng lao động phải có các biện pháp thúc đẩy binh đẳng giới ữong tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, thời giờ làm việc, thòi giờ nghỉ ngơi, tiền lương và các chế độ khác.

+Trong lĩnh vực giáo dục, pháp luật quy định bình đẳng giới trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo; trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ. Người lao động là nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ dạy nghề theo quy định của pháp luật.

+Pháp luật quy định nam, nữ được bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ và trong việc tiếp cận các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế.

+Phụ nữ được bình đẳng với nam giới trong chăm sóc sức khỏe và tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế. Nam, nữ bình đẳng trong lựa chọn, quyết định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

>Điều 44 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân quy định: “Phụ nữ được quyền nạo thai, phá thai theo nguyện vọng, được khám bệnh, chữa bệnh phụ khoa, được theo dõi sức khoẻ ữong thòi kỳ thai nghén, được phục vụ y tế khi sinh con tại các cơ sở y tế”.

> Để phụ nữ được bảo đảm thực hiện quyền này, Bộ Ytế có trách nhiệm củng cố, phát triển mạng lưới chuyên khoa phụ sản và sơ sinh đến tận cơ sở để bảo đảm phục vụ y tế cho phụ nữ. Các hành vi nạo phá thai trái phép bị nghiêm cấm.

>Để bảo vệ sức khỏe cho phụ nữ, pháp luật quy định danh mục các việc làm nặng nhọc, độc. hại mà người sử đụng lao động không được bắt buộc phụ nữ làm.

+Phụ nữ và nam giới bình đẳng với nhau trong việc quyết định kết hôn cũng như ly hôn. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em.

Điều 17 Luật Hôn nhận và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng bình đẳng với nhau, có quyền, nghĩa vụ ngang nhau về mọi mặt trong gia đình, trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiên pháp, Luật này và các luật khác có liên quan”.

Chuẩn mực quốc tế về quyền con người chỉ ra rằng, mọi người trong khi hưởng thụ các quyền của mình đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng và người khác. Như vậy, con người vừa có quyền, vừa có nghĩa vụ. Để bảo vệ quyền hôn nhân và gia đĩnh, ngoài việc quy định quyền của vợ, chồng, pháp luật còn quy định trách nhiệm của vợ chồng: Vợ, chồng bình đằng với nhau vế quyền, nghĩa vụ ữong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động ừong gia đìĩih và lao động có thu nhập.

Quyền của trẻ em

Luật Trẻ em năm 2016 quy định trẻ em là người dưới 16 tuổi. Bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em là trách nhiệm của Nhà nước, xã hội, nhà trường và tất cả mọi người. Điều 37, khoản 1 Hiến pháp khẳng định rõ: “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những hành vi khác vi phạm quyền trẻ em”.

Đẻ bảo đảm quyền trẻ em, Nhà nước định ra cầc nguyên tắc bảo đảm thực hiện quyền trẻ em: Không phân biệt đối xử với trẻ em, bảo đảm lợi ích tốt nhẩt của trẻ em trong các quyết định liên quan đến ừẻ em, tôn trọng, lắng nghe, xem xét, phản hồi ý kiến, nguyện vọng của trẻ em.

Khi xây dựng chính sách, pháp luật tác động đến ữẻ em, pháp luật ỹêu cầu phải xem xét ý kiến của trẻ em và của các cơ quan, tổ chức có liên quan; bảo đảm lồng ghép các mục tiêu, chỉ tiêu về trẻ em ừong quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội quốc gia, ngành và địa phương.

Nhà nước bảo đảm nguồn lực, có giải pháp về nhân lực và bảo đảm điều kiện cho việc thực hiện quyền trẻ em; ưu tiên bố trí người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã và vận động nguồn lực để phát triển mạng lưới cộng tác viên bảo vệ trẻ em tại thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tồ dân phố, khu phố, khóm.

Chương II, Mục 1 Luật Trẻ em quy định 35 quyền cụ thể của trẻ em: Quyền sống, được khai sinh và có quốc tịch; quyền được chăm sóc sức khỏe; Quyen được chăm sóc, nuôi dưỡng; quyền được giáo dục, học tập và phat tnên

Đối với người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống sẽ được tiếp nhận vào các sở bảo trợ xã hội.

về chăm sóc sức khỏe đối với ngườikhuyết tật, Điều 47 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân quy định: Bộ Ytế, Bộ Lao động, thương binh và xã hội, Bộ Giáo dục có trách nhiệm tổ chức chăm sóc và áp dụng các biện pháp phục hồi chức năng cho trẻ em có khuyết tật. Trên tinh thần đó, Luật Người khuyết tậtxác định rõ: “Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được khám bệnh, chữa bệnh và sử dụng các dịch vụ y tế phù hợp.

Về giáo dục, Nhà nước tạo điều kiện để người khuyết tật được học tập phù hợp với nhu càu và khả năng của người khuyết tật.

So với người bình thường, người khuyết tật được nhập học ở độ tuổi cao hơn đối vói giáo dục phổ thông; được ưu tiên trong tuyển sinh; được miễn, giảm một số môn học hoặc nội dung và hoạt động giáo dục mà khả năng của cá nhân không thể đáp ứng; được miễn, giảm học phí, chi phí đào tạo, các khoản đóng góp khác; được xét cấp học bổng, hỗ trợ phương tiện, đồ dùng học tập. Người khuyết tật được cung cấp phương tiện, tài liệu hỗ trợ học tập dành riêng phù hợp với khả năng.

Dạy nghề đổi vởị người khuyết tật Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những ngưòi khác.

Việc làm đổi với người khuyết tật

Đối với người khuyết tật, Nhà nước có biện pháp, chính sách cụ thể ưu đãi họ, trong đó tạo điều kiện để người khuyết tật phục hồi chức năng lao động, cố việc làm và làm việc phù hợp với sức khỏe và đặc điểm của ngưòi khuyết tật. Bên cạnh đó, pháp luật cấm các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân từ chối tuyển dụng người khuyết tật có đủ tiêu chuẩn tuyển dụng vào làm việc hoặc đặt ra tiêu chuẩn tuyển dụng ừái quy định của pháp luật nhằm hạn chế cơ hội làm việc của người khuyết tật.

Về văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch đối với người khuyết tật

Nhà nước hỗ trợ hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch phù đối với người khuyết tật; tạo điều kiện để họ được hưởng thụ văn hóa, thể dục, thể thạo, giải trí và du lịch.

Việc tự do đi lại đối với người khuyết tật đòi hỏi phải có những đặc thù. Chính vì lẽ đó, để tạo điều kiện cho người khuyết tật đi lại được thuận lợi hom, pháp luật quy định: Đen ngày 01 tháng 01 năm 2020, các công trình công cộng: Trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước; nhà ga, bến xe, bến tàu; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở giáo dục, dạy nghề; công ừình văn hóa, thể dục, thể thao phải bảo đảm điều kiện tiếp cận đối vói người khuyết tật.

Đến ngày 01 tháng 01 năm 2025, tất cả nhà chung cư, trụ sở làm việc, cồng trình hạ tầng kỹ thuật công cộng, công ừình hạ tầng xã hội phải bảo đảm điều kiện tiếp cận đối với người khuyết tật, có nghĩa là phải có lối đi sao cho người khuyết tật có thể đi lại được.

Quyền của người cao tuổi

Tiêu chí để xác định người cao tuổi dựa vào độ tuổi của người đó. Điều 2 Luật Người cao tuổi 2009 quy định: Người cao tuổi được quy đinh trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Người cao tuổi có nhiều công lao đóng góp cho gia đình, xã hội, sức khỏe giảm sút rất cần được quan tâm giúp đỡ, chăm sóc đòi sống tỉnh thần, vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản về ăn, mặc, ở, đỉ lại, chăm sóc sức khoẻ và các nhu cầu về vui chơi, giải trí, thông tin, giao tiếp, học tập của người cao tuổi. Hiến pháp khẳng định: Người cao tuổi được Nhà nước, gia đình và xã hội tôn trọng, chăm sóc (Điều 37khoản 3).

Bên cạnh việc khuyến khích,     tạo điều kiện cho người cao tuổi rèn luyện,

sức khoẻ; tham gia học tập, hoạt động văn hoá, tinh thần; sống trong môi trường an toàn và được tôn ữọng về nhắn phẩm, Nhà nước có các biện pháp phát triển ngành ỉão khoa đáp ứng nhu cầu khám bệnh, chữa bệnh cho người cao tuổi đồng thời đào tạo nhân viên chăm sóc người cao tuổi.

Nhằm bảo vệ người cao tuổi, pháp luật quy định những hành vi bị cấm xâm hại đời sống vật chất tinh thần người cao tuổi: ngược đãi, xúc phạm, phân biệt đối xử; cản ừở người cao tuổi thực hiện quyền về tài sản, hôn nhân gia đình và các quyền khác; lợi dụng người cao tuổi để trục lợi, ép buộc người cao tuổi làm trái pháp luật...

*Quyền của nhóm người dễ bị tổn thương khác

-Người nghèo

Người nghèo được coi là đối tượng dễ bị tổn thương cần có sự quan tâm giúp đỡ của Nhà nước và xã hội. Xã hội loài người ngày càng phát triển và nhu cầu của con người ngày càng tăng cao. Theo đó, quy định về chuẩn nghèo cũng không phải cố định mà có sự thay đổi theo các giai đoạn thòi gian khác nhau, ở từng quốc gia khác nhau. Trước đây, để xác định người nghèo, hộ nghèo chỉ dựa trên tiêu chí thu nhập. Ngày nay xác đinh người nghèo, hộ nghèo dựa trên nhiều tiêu chí khác nhau theo cách tính nghèo đa chiều. Người nghèo, hộ nghèo được Nhà nước hỗ trợ trong khám, chữa bệnh, tạo việc làm và các chính sách vê an sinh xã hội. Nhà nước có trách nhiệm thực thi chính sách pháp luật về giảm, tiến tới xóa nghèo.

Đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng núi, nơi có điều kiện phát triển kinh tế, xã hội khó khăn. Chính vì lẽ đó cùng với việc thực hiện chính sách pháp luật bảo đảm cho các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc.Nhà nước còn thực hiện nhiều biện pháp, chính sách phát triển toàn diện và tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước.

Ngựời có công với cách mạng và thân nhân được Nhà nước, xã hội quan tâm chăm sóc, giúp đỡ và tuỳ từng đối tượng được hường các chế độ: Trợ cấp hàng tháng, phụ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần; bảo hiệm y tế; điều dưỡng phục hồi sức khỏe; được ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; được hỗ ữợ để theo học tại cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân đến trình độ đại học

Nhà nước có chính sách hỗ trợ ngựời có công với cách mạng, thân nhân liệt sĩ có khó khăn về nhà ở và huy động sự tham gia của xã hội, gia đĩnh người có công với cách mạng giúp sữa chữa hoặc xây mới nhà ở.

Đối với người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc được hưởng trợ cấp hàng tháng căn cứ vào mức độ suy giảm khả năng lao động theo các mức độ

suy giảm khả năng lao động. Ngoài ra, những người này còn được hưởng các chế độ:Bảo hiểm y tế; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình căn cứ vào tình ừạng bệnh tật của từng người và khả năng của Nhà nước;

Theo quy định của pháp luật người nhiễm HIV/AIDS là người có bệnh cần được cứu chữa. Pháp luật cấm các hành vi kỳ thị, phân biệt đối xử với người nhiễm HIV và thành viên gia đình họ. Người nhiễm HIV/AIDS có các quyền còn người, quyền công dân như những người bình thường khác.

Quan niệm về Quyền Tư pháp độc lập

 


Nhà nước pháp quyền là một biểu hiện của nền dân chủ, giá trị của văn minh nhân loại, một phương thức tổ chức quản lý xã hội đề cao pháp luật, dựa trên pháp luật để tổ chức bộ máy, sử dụng pháp luật để duy trì trật tự xã hội và trật tự công lý trong nhân dân. Do đó, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là xu hướng khách quan, một nhu cầu tất yếu đối với các Nhà nước trên thế giới. Việt Nam chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa để tạo Lập một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Quyền Tư pháp độc lập là một tiêu chí đánh giá Nhà nước pháp quyền bên cạnh các tiêu chí: sự tối thượng của pháp luật, đặc biệt là sự tối thượng của hiến pháp và cơ chế bảo vệ sự tối thượng của pháp luật, hiến pháp – bảo hiến; bảo đảm tính chất chính trị và pháp lý của luật pháp (dân chủ, công bằng, nhân đạo, hiệu lực, khả thi,…)… Trong tổ chức bộ máy Nhà nước, Lập pháp và Hành pháp không có sự phân chia tuyệt đối với nhau và Hành pháp vẫn can thiệp sang lĩnh vực Lập pháp, thậm chí các hoạt động Lập pháp còn là nhu cầu của Hành pháp, do đó ý nghĩa của quyền Tư pháp độc lập là cơ sở cho việc Tòa án xét xử một cách công bằng, bảo vệ hiệu quả quyền con người. Montesquieu cho rằng “không có gì là tự do nếu quyền tư pháp không được tách khỏi quyền Lập pháp và quyền Hành pháp”. Một nền Tư pháp độc lập là nền tảng cho sự thịnh vượng của các nền kinh tế bởi vì chỉ có Tư pháp độc lập công dân mới có thể mong đợi các phán quyết của Tòa án dựa trên sự thật và pháp luật mà không chịu ảnh hưởng bởi bất kỳ tác động bất hợp pháp nào. Đặc biệt, quyền Tư pháp độc lập là phương tiện không thể thiếu để hạn chế chính quyền bằng luật. Vì vậy, quyền Tư pháp độc lập trở tHành một nguyên tắc quan trọng được mọi hiến pháp của các nước dân chủ quy định.

Ở Việt Nam, tại Điều 69 của bản Hiến pháp đầu tiên của nền dân chủ cộng hòa – Hiến pháp năm 1946 đã ghi nhận: “Trong khi xét xử, các viên Thẩm phán chỉ tuân theo pháp luật, các cơ quan khác không được can thiệp”. Hiến pháp năm 1959, nguyên tắc này được quy định ở Điều 100: “Khi xét xử, Toà án nhân dân có quyền độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Hiến pháp năm 1980 ghi nhận ở Điều 131: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Đến Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi bổ sung năm 2001) thì nguyên tắc này được ghi nhận ở Điều 130: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Hiến pháp năm 2013 đã quy định một cách cụ thể hơn so với các bản Hiến pháp trước đây: “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, hội thẩm”. Như vậy, Thẩm phán, Hội thẩm độc lập  xét xử là độc lập trong mọi hoạt động tố tụng kể từ khi thụ lý cho đến khi kết thúc phiên tòa xét xử, chứ không chỉ giới hạn bởi “khi xét xử”. Việc “nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, hội thẩm” cũng là bảo đảm cho nguyên tắc này phải được thực thi trong thực tiễn.

Tầm quan trọng của quyền Tư pháp độc lập cũng đã được ghi nhận trong luật quốc tế. Hiến chương Liên hợp quốc năm 1945 xây dựng các điều kiện để công lý có thể được duy trì (bao hàm về tính độc lập của Tòa án). Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế năm 1948 quy định, mọi người đều có “quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án độc lập và khách quan” (Điều 10). Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 ghi nhận “quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập , không thiên vị và được Lập ra trên cơ sở pháp luật” (khoản 1 Điều 14), “quyền được xét xử ngay mà không bị trì hoãn vô lý” (khoản 3 Điều 14).

Quyền Tư pháp độc lập đòi hỏi sự khách quan và vô tư của người làm công tác xét xử. Thẩm phán phải là người được tự do thẩm định, đánh giá chứng cứ và áp dụng pháp luật mà không bị ảnh hưởng bởi bất cứ một tác động nào. Có hai khía cạnh về tính độc lập tư pháp là độc lập bên ngoài và độc lập bên trong. Độc lập với bên ngoài nghĩa là Tư pháp phải hoàn toàn độc lập với các cá nhân, cơ quan, tổ chức và những tác động khác ảnh hưởng đến tính đúng đắn, khách quan của cá nhân các Thẩm phán. Độc lập bên trong nghĩa là Thẩm phán phải độc lập  với đồng nghiệp xung quanh, các tHành viên Hội đồng xét xử, với cấp trên và ngay cả trước lợi ích cá nhân của bản thân họ. Sự vô tư của Thẩm phán khi xét xử đòi hỏi Thẩm phán có trách nhiệm trước pháp luật và với chính lương tâm của mình. Độc lập  tức là không được tác động đối với việc xét xử của Tòa án, vô tư là yêu cầu Tòa án không bị ảnh hưởng bởi bất cứ tác động nào.

Tuy nhiên, quyền Tư pháp độc lập  không có nghĩa là độc lập  với mọi sự hạn chế, mà là sự độc lập được giới hạn bởi việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán. Đồng thời, chính việc tuân theo pháp luật là cơ sở vững chắc để đảm bảo cho sự độc lập của quyền Tư pháp. Nói cách khác, Tư pháp chỉ được độc lập trong khuôn khổ pháp luật. Độc lập tư pháp và tuân theo pháp luật là hai nội dung không tách rời nhau. Nếu chỉ độc lập mà không tuân theo pháp luật sẽ dẫn đến biệt Lập, tùy tiện. Chỉ tuân theo pháp luật mà không dựa trên quyền Tư pháp độc lập có thể tạo ra sự cứng nhắc, máy móc. Quyền Tư pháp độc lập là điều kiện tiên quyết để Tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ công lý. Quyền tư pháp tuân theo pháp luật điều kiện bắt buộc bảo đảm cho Tòa án thực hiện đúng đắn quyền tư pháp.

Quyền tư pháp và thực hiện quyền tư pháp theo Hiến pháp năm 2013

 


Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng đến quyền tư pháp và tổ chức thực hiện quyền tư pháp thông qua cơ quan tư pháp, hoạt động tư pháp, vì nhà nước hiện đại nào cũng phát sinh nhu cầu phải phán xử, xác định các hành vi, các quyết định của các chủ thể có phù hợp với quy định của pháp luật của nhà nước đó không. Trong cuốn "Tinh thần pháp luật" nổi tiếng của mình, Montesquieu đã viết: “Quyền tư pháp bao gồm xét xử hành vi vi phạm pháp luật để bảo đảm quyền tự do và quyền con người và do đó phải được trao cho một thiết chế riêng rẽ đó là Tòa án.”. Nên cách hiểu chung nhất hiện nay, Quyền tư pháp là một trong những quyền lực nhà nước được giao cho Tòa án thực hiện, bao gồm từ quyền phán quyết đối với các hành vi vi phạm pháp luật, kể cả vi phạm hiến pháp; xử lý các tranh chấp, xung đột về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ xã hội; công nhận giá trị pháp lý đối với các sự kiện, hành vi làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ của cá nhân, cơ quan, tổ chức,…

Ở nước ta, quyền tư pháp cùng với quyền lập pháp và quyền hành pháp tạo thành quyền lực thống nhất của Nhà nước, mục đích thực hiện quyền tư pháp là xử lý mọi hành vi vi phạm pháp luật, giải quyết các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh, bổ sung, thay đổi hoặc chấm dứt từ các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ do Tòa án thực hiện bằng thủ tục tố tụng chặt chẽ, dân chủ, công khai và công bằng, nhằm khôi phục, duy trì trật tự pháp luật, khôi phục quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị xâm phạm, góp phần bảo đảm pháp luật được tôn trọng và chấp hành nghiêm minh. Tại khoản 3 Điều 2 và khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định:“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.”; “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp.”. Trong phạm vi bài viết này, tác giả giới hạn việc nghiên cứu về quyền tư pháp và cơ quan thực thi quyền tư pháp theo tinh thần quy định của Hiến pháp năm 2013, mà theo đó, hiện vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về quyền tư pháp và cơ quan thực hiện quyền tư pháp, bởi ngoài những quy định có liên quan tại Hiến pháp năm 2013, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hiện vẫn chưa ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể về nội dung này.
1. Nhận thức về quyền tư pháp
Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến ở nước ta, quyền tư pháp và cơ quan thực thi quyền tư pháp được quy định rõ. Tuy nhiên, khái niệm về quyền tư pháp thì chưa được định nghĩa hoặc giải thích chính thống từ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được hiểu một cách thống nhất, dẫn đến nhận thức có sự khác nhau về quyền tư pháp. Xoay quanh nội dung này, hiện có các nhóm quan điểm sau:
+ Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng: Quyền tư pháp được hiểu là hoạt động xét xử của Tòa án và những hoạt động của các cơ quan, tổ chức khác trực tiếp liên quan đến hoạt động xét xử của Tòa án, nhằm bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, pháp chế, trật tự pháp luật, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của Nhà nước và xã hội. Nhóm quan điểm này, quyền tư pháp được thực hiện không chỉ bởi cơ quan xét xử (tòa án), mà cả Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra và các cơ quan trợ giúp tư pháp, như: Luật sư, Công chứng, Giám định, Tư vấn pháp luật,…Những người theo quan điểm này, căn cứ vào Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
+ Nhóm quan điểm thứ hai: Quyền tư pháp là quyền mà Nhà nước giao cho các cơ quan có thẩm quyền xem xét, giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, hành chính, kinh doanh, thương mại, lao động,… theo trình tự, thủ tục tố tụng tư pháp, bao gồm các thủ tục tố tụng hình sự, thủ tục tố tụng dân sự, thủ tục tố tụng hành chính,… Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân , Cơ quan thi hành án đều thực hiện quyền tư pháp theo những mức độ khác nhau. Việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án gắn liền với chức năng xét xử và chỉ thực hiện khi và chỉ khi xét xử chứ không bao trùm cả chức năng điều tra, chức năng công tố và chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Hoạt động thực hiện quyền tư pháp của Tòa án nhân dân chỉ xảy ra khi vụ việc được chuyển đến Tòa án xem xét, giải quyết và hoàn toàn độc lập với hoạt động điều tra của cơ quan điều tra, hoạt động thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát. Do vậy, Quyền tư pháp được hiểu là tập hợp những hoạt động cụ thể do cơ quan tư pháp thực hiện trong tố tụng tư pháp, liên quan trực tiếp đến việc giải quyết vụ án, các tranh chấp pháp luật, hướng tới mục đích giải quyết các vụ án, tranh chấp một cách khách quan, đúng đắn và các hoạt động liên quan đến thi hành các phán quyết của Tòa án, mà các hoạt động đó thuộc về cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án và thi hành án.
+ Nhóm quan điểm thứ ba: Quyền tư pháp là lĩnh vực quyền lực Nhà nước được thực hiện thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, quyết định áp dụng pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật. Theo quan điểm này, chủ thể thực hiện quyền tư pháp chỉ là Tòa án và hoạt động tư pháp chỉ là hoạt động xét xử. Nói đến tư pháp là nói đến lĩnh vực hoạt động xét xử của Tòa án và ngược lại. Cùng chung quan điểm này, theo PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, trong sách chuyên khảo “Thể chế Tư pháp trong Nhà nước pháp quyền”, NXB Tư pháp, năm 2004, trang 11, có viết: “Tư pháp là một lĩnh vực quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật
Đồng tình với quan điểm này, nhưng hiểu với phạm vi mở rộng hơn, mức độ sâu sắc hơn, mà theo đó, nội hàm của quyền tư pháp trước hết là quyền xét xử, quyền kiểm tra, đánh giá kết luận về tính hợp pháp và có căn cứ của các quyết định, hành vi tố tụng do các cơ quan tư pháp thực hiện trong suốt quá trình tố tụng và thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Những người ủng hộ quan điểm mở rộng, lập luận theo hướng Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Bằng hoạt động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, tôn trọng những quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng, chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác. Trước yêu cầu bảo đảm tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phải xây dựng cơ chế để Tòa án tham gia kiểm soát việc thực hiện các hoạt động tư pháp. Trong bài viết: “Làm thế nào để Thẩm phán và Tòa án độc lập trong thực thi công lý” của GS. Lê Hồng Hạnh, đăng trên Tạp chí Pháp luật và Phát triển, số 1/2015, có viết: Trong cơ chế phân công quyền lực, quyền tư pháp được hiểu là là quyền của Nhà nước xác định và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật và thực thi công lý thông qua các thể chế phù hợp. Thiết chế này có chức năng cơ bản nhất, nếu không muốn nói là duy nhất, thay mặt xã hội thực thi công lý và nó phải được tổ chức, được giao nhiệm vụ, quyền hạn để thực hiện công việc một cách độc lập tối đa có thể; và công lý phải được thực thi trong mắt nhân dân. Thiết chế thực thi công lý bao gồm các Thẩm phán. Còn PGS.TS Trần Văn Độ, cho rằng: Quyền tư pháp là quyền xét xử, tức quyền áp dụng pháp luật để ra phán quyết về các vi phạm pháp luật và các tranh chấp xảy ra trong xã hội. Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, là cơ quan xét xử duy nhất của Nhà nước thực hiện quyền tư pháp. Vì vậy, xử lý các vi phạm pháp luật bằng các chế tài Nhà nước, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực Nhà nước đều phải thuộc thẩm quyền của Tòa án. Các cơ quan nhà nước khác tham gia vào việc xử lý, giải quyết đó không phải là cơ quan tư pháp, không có chức năng thực hiện quyền tư pháp, mà các cơ quan này chỉ thực hiện các hoạt động tư pháp. Từ đó, mở rộng thẩm quyền của Tòa án trong xét xử, giao cho Tòa án bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật là xu thế tất yếu của nhà nước pháp quyền.
Tuy nhiên, chỉ riêng trong lĩnh vực tố tụng hình sự, BLTTHS năm 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2016) vẫn quy định các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có thẩm quyền ban hành các quyết định có liên quan đến việc hạn chế quyền con người, quyền công dân, trong đó, đặc biệt là các quyền về tự do thân thể, nhà ở, đồ vật, thư tín, bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét nhà ở,…Chẳng hạn, theo quy định tại các điểm a, b khoản 1 Điều 113 BLTTHS năm 2015: Những người sau đây có quyền ra lệnh, quyết định bắt bị can, bị cáo để tạm giam:
a) Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;
b) Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp;
 Tương tự như vậy, theo quy định tại khoản 1 Điều 193 BLTTHS năm 2015, những người có thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 113 Bộ luật này, có quyền ra lệnh khám xét (khám xét người, khám xét chỗ ở, nơi làm việc, địa điểm, phương tiện , thu giữ thư tín, điện tín,…). Trong khi các quyền này có ảnh hưởng lớn đến quyền con người, quyền công dân, thì lại chưa được Quốc hội giao cho Tòa án với tư cách là cơ quan thực hiện quyền tư pháp phán quyết hoặc kiểm tra việc ra phán quyết để bảo vệ quyền con người, quyền cơ bản của công dân!
2. Cơ quan thực hiện quyền tư pháp 
Việc quy định quyền tư pháp phải xuất phát từ nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước theo quy định của Hiến pháp năm 2013, phù hợp với đặc thù về thể chế chính trị, thực tế và truyền thống pháp luật của Việt Nam. Qua nghiên cứu của người viết, xoay quanh nhận thức về quyền tư pháp là hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án và thiết chế bổ trợ tư pháp cho rằng, quyền tư pháp chỉ là hoạt động xét xử của Tòa án có một số điểm chưa hợp lý sau:
Một là, các quan điểm nói trên mới chỉ nói đến chức năng và thẩm quyền xét xử của Tòa án, mà chưa đề cập đến thẩm quyền nhiều mặt khác của cơ quan này, bởi lẽ, ở nhiều quốc gia khác, ngoài hoạt động xét xử, Tòa án còn thực hiện nhiều hoạt động khác, như kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của các quyết định mà cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền giải thích, hướng dẫn, áp dụng pháp luật.
Hai là, nhận thức về quyền tư pháp theo phương diện chủ thể thực thi quyền tư pháp bao gồm cơ quan điều tra, Viện kiểm sát sẽ phân biệt được rõ ràng chức năng hành pháp và chức năng tư pháp. Các cơ quan điều tra, viện kiểm sát về bản chất là cơ quan hành pháp và hoạt động của các cơ quan này sẽ tham gia vào các vụ án hình sự, trong khi đó, các vụ án không phải là hình sự thì theo quy định của pháp luật nghĩa vụ chứng minh thuộc về các đương sự, nên các cơ quan điều tra sẽ không xuất hiện và chức năng thực hiện quyền kiểm sát hoạt động tư pháp của viện kiểm sát lại càng rất mờ nhạt.
Ba là, nếu coi chủ thể thực hiện quyền tư pháp không chỉ là các cơ quan nhà nước mà còn cả các tổ chức bổ trợ tư pháp, thì điều này dẫn đến, quyền tư pháp không còn được hiểu đúng theo nghĩa của một nhánh quyền lực trong quyền lực Nhà nước của bộ máy Nhà nước.
Theo quy định khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm 2013, như trên đã dẫn, việc cụ thể hóa nội hàm về quyền tư pháp, xác định chính danh Tòa là cơ quan thực hiện quyền tư pháp trong văn bản pháp luật là điều rất cần thiết, từ đó mới quy định đúng, đủ, chính xác chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án, tạo cơ sở pháp lý cho Tòa án thực hiện có hiệu quả quyền tư pháp, góp phần xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Qua nghiên cứu, theo quan điểm của người viết, nội hàm của quyền tư pháp được xác định bao gồm các lĩnh vực sau:
Thứ nhất, quyền tư pháp là xét xử và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; áp dụng, kiểm tra, hủy bỏ việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước hạn chế quyền con người, quyền công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định; kiểm tra, kết luận tính hợp pháp và có căn cứ của các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Thứ hai, xử lý vi phạm hành chính; xem xét đề nghị của cơ quan quản lý nhà nước và quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến quyền con người; quyền cơ bản của công dân theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, quyết định, giám sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án;
Thứ tư, trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH;
Thứ năm, quyền kiểm soát việc thực hiện các hoạt động tư pháp. Hiến pháp đã xác định Tòa án là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, thì trong quá trình thực hiện quyền tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử, giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền, các hoạt động của cơ quan, tổ chức tiến hành tố tụng hoặc hỗ trợ cho tòa án trong việc thực hiện quyền tư pháp đều phải chịu sự kiểm soát tư pháp của Tòa án.
Từ những phân tích nội hàm quyền tư pháp nêu trên, theo quan điểm của người viết, quyền tư pháp được hiểu: Quyền tư pháp là quyền lực nhà nước giao cho tòa án thực hiện, bao gồm trước hết là quyền xét xử và giải quyết các việc khác theo quy định của pháp luật; áp dụng, kiểm tra, hoặc hủy bỏ việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế Nhà nước hạn chế quyền con người, quyền công dân; áp dụng các biện pháp xử lý hành chính liên quan đến quyền con người, quyền cơ bản của công dân theo quy định của pháp luật; quyết định, giám sát việc thi hành bản án, quyết định của Tòa án; hướng dẫn thống nhất áp dụng pháp luật; kiểm soát hoạt động tư pháp, hoạt động của cơ quan hành pháp theo cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước và các quyền khác bảo đảm để Tòa án thực thi quyền lực tư pháp theo quy định của pháp luật.
Hoạt động tư pháp là hoạt động của các cơ quan nhà nước bảo vệ pháp luật có trách nhiệm duy trì, bảo vệ công lý và trật tự pháp luật, trong đó, Tòa án với chức năng hiến định là xét xử với vai trò trung tâm và thể hiện rõ nét nhất các đặc tính của quyền tư pháp. Hoạt động điều tra, hoạt động thực hành quyền công tố được thực hiện bởi các cơ quan hành pháp, bởi suy cho cùng Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát về bản chất thuộc cơ quan hành pháp, nên việc sắp xếp các cơ quan này vào hệ thống các cơ quan tư pháp là không hợp lý, hơn nữa, theo khoản 1 Điều 107 Hiến pháp năm 2013: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp”. Kiểm sát hoạt động tư pháp mà thực chất là kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án, là hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước, xuất phát từ nguyên tắc độc lập xét xử. Theo quy định tại khoản 1 Điều 4 Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014: “ Kiểm sát hoạt động tư pháp là hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân để kiểm sát tính hợp pháp của các hành vi, quyết định của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động tư pháp, được thực hiện ngay từ khi tiếp nhận và giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự; trong việc giải quyết vụ án hành chính, vụ việc dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; việc thi hành án, việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động tư pháp; các hoạt động tư pháp khác theo quy định của pháp luật.” Vấn đề đặt ra, kiểm soát quyền lực tư pháp thực hiện như thế nào là hợp lý? Cách giải thích phù hợp với Hiến pháp hiện nay là quyền kiểm soát hoạt động xét xử, được Quốc hội giao cho Viện kiểm sát với vai trò công cụ kiểm soát quyền lực nhà nước nói chung, trong đó có quyền lực tư pháp. Mà nếu như vậy, Viện kiểm sát phải độc lập với hoạt động xét xử, hoạt động tố tụng thì mới có thể kiểm sát hoạt động xét xử, kiểm sát hoạt động tố tụng, nghĩa là Viện kiểm sát phải đứng ngoài tư pháp, không phải là cơ quan tư pháp. Mặt khác, cơ quan điều tra và Viện kiểm sát xuất hiện trong quan hệ tố tụng trong từng lĩnh vực là khác nhau, cụ thể, trong quan hệ tố tụng hình sự thì luôn luôn có sự tham gia của các cơ quan này theo thẩm quyền pháp luật quy định, nhưng với lĩnh vực dân sự, lao động, kinh doanh, thương mại,… Cơ quan điều tra không tham gia, còn Viện kiểm sát chỉ tham gia với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp việc thực hiện chức năng công tố với chức năng kiểm sát hoạt động tư pháp chưa rõ ràng, nghĩa là lúc nào thì Viên kiểm sát thực hiện quyền công tố, khi nào thì Viện kiểm sát thực hiện quyền kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án.
 Cơ quan thi hành án với chức năng nhiệm vụ pháp luật quy định chỉ thi hành các phán quyết của Tòa án, nên mang tính chất hành chính – tư pháp. Do đó, hoạt động thi hành án không thuộc phạm vi của quyền tư pháp và cơ quan thi hành án không phải là cơ quan tư pháp. Ngoài ra, hoạt động của tổ chức luật sư, giám định,… như tên gọi là hoạt động bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, nhưng các hoạt động này được tiến hành bởi các tổ chức, cá nhân bên ngoài, không được giao thực hiện quyền lực nhà nước, nên không coi là hoạt động thực thi quyền tư pháp.
Trong khi đó, Tòa án là chủ thể thực hiện quyền tư pháp một cách “tuyệt đối” nên tham gia trong mọi lĩnh vực để phân xử đưa ra phán quyết bảo đảm sự công bằng, lẽ phải, bảo vệ công lý theo quy định của pháp luật. Trong điều kiện đất nước ta đang xây dựng nền tư pháp phụng sự Nhân dân, gần Nhân dân, đáp ứng những yêu cầu của Nhân dân phải giải quyết nhanh chóng những tranh chấp, sự việc phát sinh để kịp thời bảo vệ quyền, lợi ích của người dân thì mức độ và phạm vi kiểm sát hoạt động xét xử, giải quyết các vụ việc khác của Tòa án cần được cụ thể hóa bằng văn bản pháp luật.
Tóm lại, theo quan điểm của người viết, Tòa án là cơ quan duy nhất thực hiện quyền tư pháp, là cơ quan xét xử duy nhất của Nhà nước, chỉ có Tòa án là cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật bằng chế tài nhà nước, giải quyết các tranh chấp bằng quyền lực nhà nước. Do vậy, khi nói đến quyền tư pháp là nói đến quyền của Tòa án và chỉ là Tòa án; Cơ quan thực hiện quyền tư pháp duy nhất chỉ là Tòa án.

Tư pháp theo nghĩa Hán Việt được hiểu là: “pháp đình y theo pháp luật mà xét định các việc ở trong phạm vi pháp luật[1], theo tiếng Latinh “Tư pháp” – Justitia, theo tiếng Anh – Justition, có nghĩa là “công lý”, “pháp chế”.

Tức là, khi nói đến “Tư pháp” là nói đến công lý, đến việc phân xử và phán xét các tranh chấp theo quy định pháp luật và lẽ công bằng. Về bản chất, “Tư pháp là một lĩnh vực quyền lực nhà nước, được thực hiện thông qua hoạt động phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các Hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật.[2]

Bản chất của Tư pháp hay hoạt động Tư pháp bắt nguồn từ quyền lực đặc biệt đó là quyền Tư pháp. Trong đó, quyền Tư pháp là một nội dung của quyền lực nhà nước, được định danh khi quyền lực nhà nước phân chia thành ba quyền độc lập với nhau, hỗ trợ cho nhau và kiểm soát lẫn nhau, đó là các quyền Lập pháp, quyền Hành pháp và quyền Tư pháp.

Trong lịch sử nhân loại, quyền Tư pháp lần đầu tiên được xuất hiện trong tác phẩm Tinh thần pháp luật của Montesquieu, đã giải thích: Quyền Lập pháp là quyền làm ra luật… sửa đổi hay hủy bỏ luật (đã ban Hành), quyền Hành pháp là quyền quyết định việc hòa hay chiến, gửi đại sứ đi các nước, thiết Lập an ninh, đề phòng xâm lược, còn quyền Tư pháp là quyền trừng trị tội phạm, phân xử tranh chấp giữa các cá nhân[3].

Quan niệm trên cũng được chia sẻ ở nhiều quốc gia và nhiều nhà nghiên cứu luật học trên thế giới và Việt Nam.

Theo định nghĩa của từ điển Black’s Law Dictionary, quyền Tư pháp (judicial power) là “thẩm quyền được trao cho tòa án và các thẩm phán xem xét và quyết định các vụ việc và đưa ra phán quyết có giá trị bắt buộc thi Hành đối với các vụ việc ấy; quyền giải thích và áp dụng pháp luật khi có tranh cãi phát sinh từ việc một điều gì đó có phù hợp hay không phù hợp với pháp luật điều chỉnh việc ấy[4].”

Ở Việt Nam, theo nhiều nhà nghiên cứu, quyền Tư pháp là: “quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, kinh tế, lao động, Hành chính[5]”; “xét xử các Hành vi vi phạm hiến pháp, vi phạm pháp luật từ phía công dân và các cơ quan nhà nước; bảo vệ pháp luật, công lý, tự do của công dân và trật tự an toàn xã hội[6]”; “phân xử và phán xét tính đúng đắn, tính hợp pháp của các Hành vi, các quyết định pháp luật khi có sự tranh chấp về các quyền và lợi ích giữa các chủ thể pháp luật[7].”

Mặc dù còn nhiều quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về quyền Tư pháp, song nhận thức chung về quyền Tư pháp cốt lõi vẫn là quyền xét xử, là việc nhân danh nhà nước giải quyết tranh chấp, giải quyết xung đột xã hội trên cơ sở pháp luật và lẽ công bằng, thông qua xét xử, theo các thủ tục tố tụng luật định. Quyền Tư pháp do đó mà phân biệt với quyền Lập pháp (xây dựng chính sách, tạo Lập ra các quy tắc chung làm khuôn mẫu cho các Hành vi) và quyền Hành pháp (quản lý nhà nước, thực thi pháp luật, tổ chức đời sống theo pháp luật).

Trong suốt quá trình phát triển của lịch sử, khái niệm về Tư pháp và quyền Tư pháp đã có những bước phát triển để theo kịp với yêu cầu tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước, đặc biệt là trong xu thế phát triển dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền trên thế giới. Khái niệm về quyền Tư pháp hiện nay đã không chỉ giới ở chức năng xét xử thuần túy (áp dụng các quy định của pháp luật vào các tranh chấp cụ thể để xác định sự đúng sai, hợp pháp/bất hợp pháp trong Hành vi của con người và xác định biện pháp chế tài tương ứng) mà đã mở rộng thêm nhiều quyền hạn khác bao gồm quyền giải thích pháp luật để phục vụ việc giải quyết vụ việc ấy, hoặc quyền tuyên vi hiến các Hành vi của cơ quan nhà nước và quyền tạo ra án lệ…

Mặt dù nội dung quan niệm về phạm vi quyền Tư pháp ở các quốc gia trên thế giới còn có nhiều điểm khác biệt nhau, tuy nhiên, xu hướng chung của thế giới về quyền Tư pháp là mở rộng phạm vi của quyền Tư pháp không chỉ có chức năng xét xử mà còn có chức năng bảo vệ quyền con người, bảo vệ công lý, lẽ công bằng… Đồng thời, cùng với sự phát triển của nhà nước và pháp luật thì việc xét xử của Tòa án càng mở rộng sang các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Các lĩnh vực tranh chấp khác về quyền lợi và trách nhiệm cũng được chuyển sang cho Tòa án giải quyết.

Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương

 


 “Nguyên tắc” là “những quy định, phép tắc, tiêu chuẩn làm cơ sở, làm chỗ dựa để xem xét, làm việc”2. Như vậy, nguyên tắc theo nghĩa chung nhất là những quy tắc, chuẩn mực định hướng chỉ đạo đối với hoạt động của con người.Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương phải xuất phát trên cơ sở những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt trong Nhà nước pháp quyền; đồng thời chúng cũng phản ánh mối quan hệ giữa các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương. Tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương được đặt trong tổng thể của quá trình vận hành các nguyên tắc chung về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

+ Nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân

+ Nguyên tắc tập trung dân chủ;

+ Nguyên tắc tập trung thống nhất quyền lực nhưng có sự phân công, phân cấp và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong quá trình thực hiện quyền lực nhà nước về mặt lập pháp, hành pháp và tư pháp

+ Nguyên tắc có kế hoạch

+ Nguyên tắc công khai, lắng nghe ý kiến của nhân dân;

+ Nguyên tắc bình đẳng giữa các dân tộc;

+ Nguyên tắc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước

Bên cạnh các nguyên tắc chung đó, chính quyền địa phượng còn được tổ chức và hoạt động trên các nguyên tắc riêng sau đây:

+Hiện đại, minh bạch, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân

Nguyên tắc này được quy đinh tại Điều 5 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

Trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, đặc biệt là nhân loại đã bắt đầu bước vào kỷ nguyên của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, đòi hỏi tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương phải gắn với ứng dụng công nghệ thông tin để nâng cao hiệu quả quản lý và phục vụ nhân dân, phục vụ doanh nghiệp tốt nhất.

Hoạt động của chính quyền địa phương phải được công khai theo quy định của pháp luật, một mặt bảo đảm người dân được tham gia và giám sát hoạt động của chính quyền, mặt khác chính quyền địa phương tổ chức, hoạt động đúng pháp luật và thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của mình.

+Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số

Nguyên tắc này được quy định tại Điêu 5 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015.

 Hội đồng nhân dân được thiêt lập thông qua bầu cử. Mỗi một đại biểu là thành tố bình đẳng về địa vị pháp lý, về quyền và nghĩa vụ, cấu thành nên tập thể Hội đồng nhân dân - là cơ quan đại diện cho người dân do dân bầu.

 Vì vậy, để thực hiện chức năng đại diện cho người dân thì Hội đồng nhân dân làm việc theo chế độ hội nghị và quyết định theo đa số là phù hợp.

Nội dung nguyên tắc này thể hiện dưới các khía cạnh sau:

+ Hoạt động của Hội đồng nhân dân được tiến hành thông qua kỳ họp

Hội đồng nhân dân họp mỗi năm ít nhất hai kỳ. Ngoài ra, Hội đồng nhân dân họp bất thường khi Thường trực Hội đồng nhân dân, Chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân yêu cầu.

+ Việc ban hành nghị quyết, đề án, báo cáo, biên bản của kỳ họp Hội đồng nhân dân được tiến hành thông qua biểu quyết.

Nghị quyêt của Hội đồng nhân dân được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành; riêng nghị quyết về bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.

-Ủy ban nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể ủy ban nhân dân kết hợp với trảch nhiệm của Chủ tịch ủy ban nhân dân

Nguyên tắc này được quy định tại Điều 5 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Nội dung nguyên tăc này thể hiện:

+ Đối với những công việc thuộc thẩm quyền của ủy ban nhân dân phải được bàn bạc tập thể và thống nhất ý kiến để triển khai thực hiện.

+ Bên cạnh trách nhiệm tập thể cần kết hợp với vai trò, trách nhiệm của cá nhân Chủ tịch ủy ban nhân dân.

Chính quyền địa phương có những nhiệm vụ gì


+ Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trên địa bàn địa phương.

+ Quyết định những vấn đề của địa phương trong phạm vi được phân quyền, phân cấp theo quy định của pháp luật.

+ Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan hanh chính nhà nước cấp trên ủy quyền.

+ Kiểm tra, giám sát tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương cấp dưới.

+ Chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan nhà nước cấp trên về kết quả thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn của mình.

+ Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh trên địa bàn. 

Quyền tự do đi lại và cư trú trong pháp luật của Việt nam

 


+ Điều 23 Hiến pháp năm 2013 “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài v nước.”

+Luật Cư trú năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2013) tiếp tục khẳng định

>Công dân có quyền tự do cư trú theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan...

> Quyền tự do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định”.

* Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo

Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, với sự hiện diện của các tôn giáo được truyền vào từ bên ngoài và các tôn giáo được hình thành ừong nước. Có tới 95% dân số Việt Nam có đòi sống tín ngưỡng, tôn giáo trong đó có khoảng 24,3 triệu tín đồ (so vi 20 triệu người năm 2009), gần 83,000 chức sắc trên cả nước có khoảng 27.900 cơ sở thờ tự và 53 trường đào tạo chức sắc tôn giáo. Quyền tự do thực hành tôn giáo, tham gia các sinh hoạt tôn giáo của những người theo tôn giáo được tôn trọng và bảo đảm. Hằng năm có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo hoặc túi ngưỡng cấp quốc gia và địa phương được tổ chức. Nhiều cơ sở thờ tự được cải tạo hoặc xây mới. Hiện nay Việt Nam có 41 tổ chức thuộc tôn giáo đã được nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động1. Chính sách nhất quán của Nhà nước là tôn trọng và tạo mọi điều kiện thuận lợi để mọi người thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.

          Điều 24 Hiến pháp năm 2013, quy định:

 “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đằng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do túi ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng túi ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.

+ Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 đã quy định cụ thể về

>quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người (Điều 6)

>quyền của tổ chức tôn giáo, tôn giáo trực thuộc (Điều 7),

> Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam (Điều 8)

>Nghĩa vụ của tồ chức, cá nhân trong thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo (Điều 9);

> các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo; tổ chức tôn giáo; quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan đến hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo.

+Điều 164 BLHS quy định về tội xâm phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người khác.

* Các quyền tự do, dân chủ khác về dân sự, chính trị

Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định

“Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”.

+ Luật Báo chí năm 2016 quy định cụ thể về quyền tự do báo chí của công dân.

+Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, có hiệu lực từ 1/7/2018 đã quy định cụ thể việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin của công dân.

+Quyền lập hội, hiện nay Chính phủ giao Bộ Nội vụ chủ trì soạn thảo Luật về lập hội. Luật biẻu tình giao BCA chủ trì soạn thảo. Song do còn nhiều ý kiến khác nhau nên Dự thảo Luật đã được trình Quốc hội cho ý kiến tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV, tuy nhiên còn có nhiều ý kiến khác nhau và cần có thêm thời gian nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn nên Chính phủ đồng ý đề nghị Quốc hội cho lùi thời gian thông qua.

* Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân

+Điều 36 Hiến pháp năm 2013 quy định:

 “Nam, nữ có quyền kết hôn, ly hôn. Hôn nhân theo nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau. Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em".

+ Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 xác định

> Nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đinh là hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

> quy định các hành vi bị cấm: tảo hôn, cưõng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn; yêu sách của cải trong kết hôn; cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn, cản trở ly hôn

> Ngoài các quy định trên thì nguyên tắc hôn nhân tự nguyện cũng được quy định rải rác trong các điều, khoản tại những văn bản quy phạm pháp luật khác. Và tự nguyện trong hôn nhân và căn cứ đầu tiên làm nên hạnh phúc gia đình - tế bào của xã hội.

+BLHS (Chương XVII - Các tội xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình),

+BLDS (quy định về quyền kết hôn, quyền bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan hệ dân sự, quyền được hưởng sự chăm sóc giữa các thành viên trong gia đình...),

+Luật Bình đẳng giới, Luật Phòng chống bạo lực gia đình... và các văn bản dưới luật.

 * Quyền tham gia quản lý nhà nước

+Quyền tham gia quản lý nhà nước được quy định từ Điều 27 đến Điều 30 Hiến pháp năm 2013 bao gồm các quyền như: Quyền bầu cử, ứng cử; Quyền tham gia thảo luận, kiến nghị với các cơ quan nhà nước và biểu quyết khỉ nhà nước tổ chức trưng cầu dân ý; Quyền khiếu nại, quyền t cáo và trách nhiệm tiếp công dân của cơ quan nhà nước

+Cụ thể hóa các quyền này Quốc hội đã thông qua Luật Bầu cử năm 2015, Luật Trưng cầu ý dân năm 2015.

Điểm mới trong luật bầu cử 2015 là mở rộng cử tri là người đang bị tạm giữ, tạm giam, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc được ghi tên vào danh sách cử tri để bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi người đó đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

+Bảo đảm quyền khiếu nại, quyền tổ cảo và trách nhiệm tiếp công dân của cơ quan nhà nước Quốc hội dã ban hành Luật Khiếu nại năm 2011, Luật Tố cáo năm 2011, Luật Tiếp công dân năm 2013 là những đạo luật quan trọng quy định cụ thể về quyền khiếu nại, quyền tố cáo và cơ chế thực hiện bảo vệ quyền của công dân, gắn với việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của cơ quan tổ chức, cá nhân có thẩm quyền và trách nhiệm tiếp công dân của các cơ quan nhà nước.