Thứ Hai, 6 tháng 12, 2021

 

Tình cảm của Bác Hồ đối với bộ đội hải quân

Trong quá trình xây dựng, phát triển, chiến đấu và trưởng thành, bộ đội hải quân luôn nhận được sự quan tâm của Bác Hồ kính yêu. Ba lần được vinh dự đón Bác về thăm và Người đã để lại cho cán bộ, chiến sĩ hải quân những tình cảm yêu mến, những lời căn dặn sâu sắc, chan chứa ân tình.

Ba lần được đón Bác về thăm

Ngày 31-3-1959, lần đầu tiên Bác Hồ về thăm bộ đội hải quân. Người đi thăm Trường Huấn luyện bờ bể (tiền thân của Học viện Hải quân ngày nay) và Xưởng 46. Tàu 524 của Đại đội 3 được vinh dự đưa Bác đi thăm và kiểm tra một số đơn vị trên vùng biển Hạ Long. Trên đường đi, Bác đã nói nhiều về việc xây dựng lực lượng hải quân, cũng như công tác giảng dạy của Trường Huấn luyện bờ bể. Người nhấn mạnh: “Thời chống Pháp, ta chưa có lực lượng hải quân, bây giờ các chú được đi học tập ở nước ngoài về để xây dựng và phát triển lực lượng. Muốn xây dựng lực lượng hải quân làm tốt công tác bảo vệ biển, đảo và thềm lục địa, phải nghiên cứu làm sao cho phù hợp với vùng biển Việt Nam”.

 

Bác Hồ thăm bộ đội hải quân ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc (năm 1959).

Bác Hồ thăm bộ đội hải quân ở vùng Đông Bắc của Tổ quốc (năm 1959).


Ngày 16-3-1961, Bác Hồ về thăm bộ đội hải quân lần thứ hai, Người đã nhấn mạnh: “Biển đảo nước ta có vị trí rất quan trọng. Vì vậy, nhiệm vụ của Hải quân trước mắt cũng như lâu dài rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Phải biết tìm cách đánh cho phù hợp với điều kiện con người, địa hình bờ biển nước ta và vũ khí trang bị mình có. Hải quân ta phải học tập kinh nghiệm chiến đấu hiện đại nhưng không được quên truyền thống đánh giặc xa xưa của tổ tiên”. Đó chính là các định hướng chiến lược sáng suốt cho lực lượng hải quân ta và vẫn còn nguyên giá trị cho đến ngày nay. Người chỉ rõ: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp ta phải biết giữ gìn lấy nó”.

Bác về thăm bộ đội hải quân lần thứ ba vào ngày 13-11-1962 tại Đoàn 135 tàu Phóng lôi - Căn cứ Vạn Hoa, tỉnh Quảng Ninh. Bác căn dặn: “Nâng cao cảnh giác, yên tâm xây dựng đơn vị, đoàn kết, kỷ luật tốt là cốt lõi việc nâng cao sức mạnh chiến đấu…”. Và chỉ hai năm sau đó, bằng trang bị vũ khí của mình trong trận đầu thử lửa, bộ đội hải quân đã bắn rơi 8 máy bay chiến đấu hiện đại của Mỹ. Năm 1965, nhân dịp hải quân ta vừa tròn 10 tuổi, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư cho cán bộ và chiến sĩ hải quân, khen ngợi thành tích, đồng thời vạch rõ sự cần thiết xây dựng lực lượng hải quân vững mạnh trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Nỗ lực tạo nên sức mạnh tổng hợp

Trong điều kiện miền Bắc còn nhiều khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương xây dựng hải quân phù hợp với tiềm lực phát triển kinh tế, điều kiện môi trường, chiến trường sông, biển nước ta. Người đồng thời chỉ rõ con đường xây dựng Hải quân Nhân dân Việt Nam phải là con đường nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường. Muốn vậy, “Phải coi trọng công tác lãnh đạo, chỉ huy; chăm lo cải thiện đời sống tinh thần, vật chất, nâng cao chất lượng kỹ thuật tàu. Thường xuyên rèn luyện toàn diện, phấn đấu không ngừng tiến bộ để xây dựng hải quân mau chóng trưởng thành”. Đến thăm những con tàu, đơn vị đảo, Bác Hồ nhắc nhở cán bộ, chiến sĩ hải quân phải không ngừng trau dồi phẩm chất đạo đức cách mạng, lòng yêu quê hương đất nước. Cụ thể là cán bộ, chiến sĩ hải quân phải “yêu đảo như nhà mình, phải chịu khó cải tạo, xây dựng thành những mảnh đất vừa giàu, vừa đẹp, vừa có lợi cho mình, vừa ích cho đất nước”.

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Hải quân Nhân dân Việt Nam đã vừa kế thừa truyền thống đánh giặc của ông cha, vừa tìm cách đánh phù hợp với vũ khí, trang bị và điều kiện cụ thể của nước ta. Hải quân Nhân dân Việt Nam đã nỗ lực phát huy nội lực, huy động nhiều nguồn lực, tạo nên sức mạnh tổng hợp, khôn khéo, kiên quyết, kiên trì bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định trên các vùng biển, đảo; góp phần giữ vững ổn định chính trị để xây dựng và phát triển đất nước. Lực lượng tàu và cán bộ, chiến sĩ hải quân trên các đảo luôn là chỗ dựa vững chắc cho ngư dân lao động, sẵn sàng làm nhiệm vụ tìm kiếm, cứu nạn, chữa bệnh và sửa chữa tàu thuyền ngư dân khi gặp nạn trên biển.

Trong thời gian qua, tình hình Biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp, những tình cảm, lời căn dặn đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn còn nguyên giá trị, là động lực thúc đẩy Quân chủng Hải quân trong sự nghiệp giữ gìn và bảo vệ biển đảo.

Theo Báo Khánh Hòa

QUỐC CA VIỆT NAM THUỘC QUYỀN SỞ HỮU CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM! KHÔNG THỂ THƯƠNG MẠI HOÁ!

Trong trận đấu giữa đội tuyển Việt Nam và đội tuyển Lào tối hôm qua, Truyền hình Việt Nam buộc phải tắt tiếng, không thể nghe các cầu thủ hát. Lý do, nếu mở tiếng là vi phạm bản quyền của BH Media. Chuyện thật như đùa, nghe sao mà chua xót, nghẹn ngào. Xin có đôi lời như sau:


Quốc ca có nghĩa là "Bài hát của Quốc gia", nói chung là một bài hát thể hiện sự ái quốc, khơi gợi và tán dương lịch sử, truyền thống và đấu tranh của nhân dân quốc gia đó, được chính phủ của một đất nước công nhận là bài hát chính thức của quốc gia, hoặc được người dân sử dụng nhiều thành thông lệ. Quốc ca Việt Nam là bài hát Tiến Quân Ca của nhạc sỹ Văn Cao. Bài hát mang theo cả linh hồn dân tộc, hồn thiêng sông núi và cả khí phách của người Việt Nam. Là niềm tự hào dân tộc. Vậy từ bao giờ nó thuộc bản quyền BH Media và tổ chức khác? 


Không lẽ Quốc hồn của dân tộc ta lại bị bán hoặc bị chiếm dụng một cách công khai? Bây giờ cháu con mỗi khi hát lại nơm nớp lo sợ vi phạm bản quyền. Đừng ngụy biện về cái gọi là "các đơn vị sản xuất nền nhạc có quyền giữ bản quyền". Mới đây VTV đã lên tiếng về việc BH Media nhận vơ bản quyền Quốc ca. Vậy từ đó đến nay không ai đứng ra xử lý vấn đề? Không lẽ vì lý do nhạc nền của các công ty thì lời Quốc ca mãi mãi sẽ tắt ngấm mỗi khi cử hành? Chao ôi! Đau xót đến đoạn trường!


Gia đình cố nhạc sĩ Văn Cao đã khẳng định là hiến tặng bài hát cho tổ quốc. Đó cũng chính là ý nguyện của cố nhạc sĩ Văn Cao. Câu hỏi được đặt ra là ai đã bán bản quyền Quốc ca hay ai đã để cho một số tổ chức ngang nhiên chiếm đoạt nó? Đề nghị cơ quan chức năng mà trước hết là Bộ TTTT và Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch hãy trả lời nhân dân Việt Nam câu hỏi này! Đây là sự xúc phạm danh dự của người Việt Nam, xem nhẹ lòng tự tôn dân tộc, coi thường cả bản quyền tác giả. Nếu thật sự ai đó đã bán bản quyền cho BH Media hay Media và một số công ty cố ý chiếm đoạt thì đó là những kẻ bán nước, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật chứ không đơn thuần chỉ là sai sót đơn thuần. Nghe sao mà "đau xót lòng tôi, chết nửa con người". Đề nghị cơ quan chức năng sớm vào cuộc. Trả lời sớm cho nhân dân Việt Nam./.

Yêu nước ST.

TÔN TRỌNG LỊCH SỬ VÀ THƯỢNG TÔN PHÁP LUẬT

 

Công ước Luật Biển năm 1982 cho phép các quốc gia ven biển được hưởng quy chế thềm lục địa để thăm dò và khai thác tài nguyên. Đây là chủ quyền chuyên biệt, không tùy thuộc vào điều kiện phải có sự chiếm hữu, khai phá hay tuyên bố minh thị. Mọi sự tùy tiện chiếm cứ của nước ngoài dù có bằng vũ lực hay không đều bất hợp pháp và vô hiệu lực. Về mặt địa lý, đảo Tri Tôn, quần đảo Hoàng Sa chỉ cách Quảng Ngãi 135 hải lý và đảo Hoàng Sa (Pattle) chỉ cách lục địa Việt Nam 160 hải lý. Vì vậy, quần đảo Hoàng Sa nằm trong thềm lục địa của Việt Nam được quy định bởi Công ước về Luật Biển năm 1982. Về mặt địa chất, các nghiên cứu khoa học đều cho thấy quần đảo Hoàng Sa là một thành phần của Việt Nam. Về địa hình, đáy biển vùng quần đảo Hoàng Sa là một cao nguyên chìm dưới đáy biển nối tiếp liên tục lục địa Việt Nam. Tại quần đảo Trường Sa cũng vậy, về mặt địa chất và địa hình đáy biển các đảo Trường Sa là sự tiếp nối tự nhiên của lục địa Việt Nam từ đất liền ra ngoài biển. Hơn nữa, bãi Tư Chính và đảo Trường Sa (Spratly) chỉ cách đất liền Việt Nam từ 150 đến 200 hải lý, nằm trong thềm lục địa của Việt Nam.

BẰNG CHỨNG LỊCH SỬ

 

Các bằng chứng lịch sử mà Việt Nam đã thu thập được rất phong phú, mặc dù  do hoàn cảnh chiến tranh liên tục nên nhiều thư tịch cổ của Việt Nam đã bị mất mát, thất lạc. Tuy nhiên, những tư liệu còn lại đến nay và chính sử vẫn đủ để khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Một là, các bản đồ Việt Nam thế kỷ XVII đã gọi hai quần đảo bằng cái tên Bãi Cát Vàng và ghi vào địa hạt huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi.

Hai là, nhiều tài liệu cổ của Việt Nam như Toàn Tập Thiên Nam Tứ chí Lộ Đồ Thư (thế kỷ XVII), Phủ Biên Tạp Lục (1776), Đại Nam Thực Lục Tiền Biên và Chính Biên (1844 - 1848), Đại Nam Nhất Thống Chí (1865-1875), các Châu bản nhà Nguyễn (1802-1945)... đều nói về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như là Bãi Cát Vàng vạn dặm trên Biển Đông và việc Nhà nước cử đội Hoàng Sa ra khai thác các quần đảo này.

 Ba là, nhiều sách cổ, bản đồ cổ của nước ngoài cũng thể hiện các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam. Đỉnh cao nhất của việc tuyên bố và xác lập chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là vào năm 1816 khi vua Gia Long sai quân lính ra quần đảo Hoàng Sa cắm cờ Việt Nam và tuyên bố chủ quyền. Cũng cần nói thêm là trong một thời gian khá dài, người Việt Nam luôn coi quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa là một dải đảo dài hàng vạn dặm trên Biển Đông, nên gọi là Vạn Lý Trường Sa, hay Đại Trường Sa, Bãi Cát Vàng... Trên thực tế, các chúa Nguyễn cũng như nhà Nguyễn sau này đều có nhiều hành động liên tục cử người ra cai quản, khai thác các đảo trên cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhà nước phong kiến Việt Nam đã tổ chức các đội Hoàng Sa, Bắc Hải để thực thi quyền chủ quyền và khai thác hai quần đảo. Các thể lệ tuyển chọn người, chế độ khen thưởng, đãi ngộ đối với các đội đều được Nhà nước quy định rõ ràng. Các đội này được duy trì và hoạt động liên tục từ thời chúa Nguyễn (1558-1783) đến nhà Tây Sơn (1786-1802) và nhà Nguyễn. Triều đình Nhà Nguyễn đã cử các tướng Phạm Quang Ảnh (năm 1815), Trương Phúc Sĩ, Phạm Văn Nguyên, Phạm Hữu Nhật (các năm 1834, 1835, 1836) ra Hoàng Sa khảo sát, đo đạc các đảo, khảo sát, vẽ bản đồ, xây miếu, dựng bia.

XÁC LẬP CHỦ QUYỀN

 


Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Việt Nam gồm nhiều đảo đá san hô rất nhỏ ở giữa biển Đông. Hiện hai quần đảo đang là tâm điểm tranh chấp phức tạp giữa một số nước ven biển Đông. Về việc giải quyết tranh chấp chủ quyền đối với lãnh thổ, pháp luật quốc tế đã hình thành nguyên tắc xác lập chủ quyền là nguyên tắc chiếm hữu thật sự và thực hiện quyền lực Nhà nước một cách thật sự, liên tục và hòa bình. Nguyên tắc này đã được các nước và các cơ quan tài phán quốc tế áp dụng để giải quyết nhiều vụ tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ trên thế giới. Áp dụng nguyên tắc nói trên của pháp luật quốc tế vào trường hợp hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, các bằng chứng lịch sử và căn cứ pháp lý đều cho thấy rằng các Nhà nước Việt Nam đã chiếm hữu thật sự hai quần đảo này hàng trăm năm qua. Nói chính xác là các Nhà nước Việt Nam trong lịch sử và cho tới nay đã thực thi chủ quyền ở đây ít ra từ thế kỷ XVII khi hai quần đảo chưa hề thuộc chủ quyền của bất cứ nước nào. Từ đó Việt Nam đã thực hiện việc xác lập và thực thi chủ quyền của mình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách liên tục và hòa bình.

NHỮNG CON NGƯỜI KIẾN TẠO NHIỀU CHIẾN CÔNG THẦM LẶNG

Những cống hiến, hy sinh thầm lặng trong suốt những năm tháng hoạt động dưới vỏ bọc “kẻ thù” đã đưa nhiều chiến sỹ tình báo trở thành huyền thoại có một không hai trong lịch sử quân sự Việt Nam.
Trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, chiến trường không chỉ diễn ra ngoài mặt trận mà còn diễn ra ngay trong lòng địch - nơi những chiến sỹ tình báo xuất sắc nhất của quân đội ta lặng lẽ lập những chiến công.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc Việt Nam ta đã tạo ra “những chiến công lịch sử mà như huyền thoại.” Một trong những “huyền thoại” ấy là câu chuyện về những chiến sỹ tình báo đầy bản lĩnh, trí tuệ đã “chui sâu, bám chắc” trong lòng địch nhằm thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Tình báo là tai mắt của Đảng, của quân đội, trách nhiệm của nó rất quan trọng… Muốn biết địch thì phải có tình báo giỏi. Muốn khỏi địch biết ta, cũng phải có tình báo giỏi...”
Tình yêu Tổ quốc, nỗi mong mỏi đất nước được độc lập tự do, giang sơn thu về một mối đã trở thành động lực, thành niềm tin để những chiến sỹ tình báo - những “vì sao chiến thắng” - thêm vững vàng trong cuộc chiến tàn khốc không tiếng súng giữa lòng địch.
Những cống hiến, hy sinh thầm lặng trong suốt những năm tháng hoạt động dưới vỏ bọc “kẻ thù” đã đưa nhiều chiến sỹ tình báo trở thành huyền thoại có một không hai trong lịch sử quân sự Việt Nam.
Những tên tuổi ấy mãi mãi được Tổ quốc ghi công, được nhân dân ghi nhớ, như Đại tá tình báo Phạm Ngọc Thảo, điệp viên hoàn hảo Phạm Xuân Ẩn, "Ông cố vấn" Vũ Ngọc Nhạ, nữ tình báo vẽ bản đồ bên kia vỹ tuyến 17 Đinh Thị Vân, Thiếu tướng Đặng Trần Đức (bí danh Ba Quốc), Đại tá Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang), nữ tình báo Nguyễn Thị Mỹ Nhung (bí danh Tám Thảo)...

* “Đơn độc” cận kề với trăm mối hiểm nguy: 

Gác lại tình riêng, nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, “bí mật, khôn khéo, cẩn thận, kiên nhẫn,” “dựa vào dân, đi sát địch,” các chiến sỹ tình báo đã xây dựng được những tổ chức bí mật, thậm chí nhiều người đã “chui sâu, bám chắc” thâm nhập vào các cơ quan đầu não địch, hoạt động lâu dài mà không hề bị lộ.
Điển hình như Thiếu tướng Vũ Ngọc Nhạ (bí danh Hai Long) - "Ông cố vấn" cho 3 đời tổng thống ngụy quyền Sài Gòn. Với chức danh “Cố vấn cao cấp,” ông đã khai thác được nhiều tại liệu cơ mật trong Phủ tổng thống.
Ông cũng là người xây dựng cụm tình báo chiến lược nổi tiếng A22, từng làm rúng động chính trường Sài Gòn trong suốt những năm cuối của thập niên 1960.
Với mạng lưới 42 điệp báo viên, hoạt động dưới nhiều chức danh, cấp bậc từ cao tới thấp trong chính quyền ngụy Sài Gòn, ông và đồng đội đã cung cấp nhiều thông tin, tài liệu quan trọng góp phần vào chiến thắng của quân và dân ta trong cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Bằng những hoạt động khéo léo và đầy biến hóa của mình, tranh thủ những yếu tố “tranh tối tranh sáng” đầy bất ổn của chính trường Sài Gòn, Đại tá Phạm Ngọc Thảo, một trong những huyền thoại xuất sắc nhất trong lịch sử quân sự Việt Nam, đã thâm nhập trong quân đội chính quyền Sài Gòn.
Trong thời gian làm tỉnh trưởng Kiến Hòa (Bến Tre), ông đã cung cấp nhiều tin tức, tài liệu mật liên quan đến các cuộc hành quân của địch trong tỉnh và quân khu, thả hơn 2.000 tù chính trị, khôn khéo lái các cuộc hành quân “tảo thanh” của địch vào chỗ không người, bảo toàn lực lượng cách mạng, góp phần vào thắng lợi của phong trào Đồng Khởi Bến Tre.
Dưới danh nghĩa một sỹ quan cao cấp quân đội, có tiếng nói, có ảnh hưởng lớn đối với chính trường Sài Gòn, ông đã tham gia, tổ chức hàng loạt vụ đảo chính làm rung chuyển nền chính trị miền Nam những năm 1964-1965, gây mất ổn định nghiêm trọng chế độ Sài Gòn, tạo điều kiện thuận lợi cho cách mạng miền Nam.
Ông chính là nguyên mẫu để nhà văn Trần Bạch Đằng xây dựng thành công nhân vật điệp viên bản lĩnh, thông minh, gan góc Nguyễn Thành Luân trong bộ phim nổi tiếng “Ván bài lật ngửa.”
Nhờ tạo vỏ bọc bình phong tốt trong cơ quan an ninh và tình báo địch, Thiếu tướng Đặng Trần Đức (bí danh Ba Quốc) được tuyển mộ và làm việc suốt 20 năm tại Phủ đặc ủy trung ương tình báo ngụy.
Nhờ những báo cáo và tài liệu tuyệt mật ông gửi ra, ta đã triệt phá 35 ổ gián điệp địch tung vào các vùng giải phóng ở miền Nam và cả miền Bắc.
Ông cũng là người “gợi ý” cho Nguyễn Cao Kỳ đảo chính lật Nguyễn Văn Thiệu, giải cứu Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, “tài liệu của Bộ Tổng tham mưu, Tổng tham mưu trưởng chưa đọc mà Hà Nội đã đọc rồi."
Vượt qua muôn vàn hiểm nguy, lúc nào cũng trong tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, những chiến sỹ tình báo lặng thầm bám sát địch, theo dõi, điều tra, thu thập, tổng hợp thông tin, phân tích, nhận định và báo cáo về cấp trên.
Họ luôn “đơn độc” cận kề với hàng trăm mối hiểm nguy, có những lúc lên đến cực đỉnh, bởi phải sống và hoạt động ngay giữa một rừng súng đạn hiểm ác ngay giữa trung tâm đầu não của địch.
Để đảm bảo an toàn cho tổ chức, nhiều người trong số họ không dám gặp vợ con, ngay cả người thân cũng không dám nhận. Nhiều chiến sỹ tình báo đã trở thành "đối tượng" nằm trong danh sách hồ sơ đặc biệt và là "con cá bự” mà cơ quan mật vụ của chính quyền Mỹ-ngụy Sài Gòn ráo riết truy lung và treo nhiều thưởng lớn, điển hình như Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Nguyễn Văn Tàu (bí danh Tư Cang) - nguyên Cụm trưởng cụm tình báo H63 (trước năm 1967 là A18), Chính ủy Lữ đoàn 316 đặc công biệt động, mở đường tiến đánh Sài Gòn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Xác định “ra đi là không có ngày trở về,” những chiến sỹ tình báo luôn nguyện hy sinh thân mình để hoàn thành nhiệm vụ. Sau hai cuộc đảo chính bất thành, dù Mặt trận giải phóng yêu cầu rời khỏi Sài Gòn nhưng Phạm Ngọc Thảo vẫn quyết trụ lại để tiến hành cuộc đảo chính cuối cùng. Việc lớn không thành, bị bắt và tra tấn dã man nhưng Phạm Ngọc Thảo vẫn không để lộ tung tích của mình. Cho đến lúc hy sinh, không ai biết ông là một chiến sỹ tình báo cộng sản.

* Cung cấp những thông tin vô cùng giá trị: 

Với vai trò là “tai mắt của Đảng, của Quân đội,” các chiến sỹ tình báo đã cung cấp nhiều thông tin vô cùng giá trị, giúp cho Đảng và Bộ Chính trị đánh giá, dự đoán đúng những chuyển biến tình hình, đưa ra những chỉ đạo chiến lược kịp thời làm nên những chiến thắng lẫy lừng.
Nhờ những thông tin tình báo chính xác, kịp thời, ta đã phát hiện nhiều âm mưu, thủ đoạn của địch, như: kế hoạch chống phá tổng tuyển cử vào năm 1956 trong Hiệp định Geneva, nắm chắc kế hoạch “tố cộng, diệt cộng,” lập ấp chiến lược, âm mưu hất cẳng Pháp xâm lược miền Nam của Mỹ, phục vụ cho sự chỉ đạo kịp thời của Đảng ở miền Nam.
Dưới vỏ bọc “kẻ thù”, nhiều chiến sỹ tình báo đã thu thập được những thông tin có giá trị cao, như chiến lược “chiến tranh đặc biệt,” “chiến tranh cục bộ,” “Việt Nam hóa chiến tranh” của Mỹ-ngụy; các kế hoạch quân sự hàng năm như AB141, AB142, AB143, AB144…; các kế hoạch mùa khô 1965-1966 và 1966-1967; kế hoạch về cuộc hành quân Lam Sơn-719 của địch đánh ra đường 9 Nam Lào, với mục tiêu xóa bỏ đường mòn Hồ Chí Minh, cắt đứt sự chi viện từ miền Bắc vào miền Nam bằng đường bộ; nắm chắc âm mưu, ý đồ của Mỹ dùng không quân, hải quân đánh phá miền Bắc; hoạt động của máy bay chiến lược B52 của Mỹ vào Hà Nội, Hải Phòng cuối năm 1972, phục vụ hiệu quả cho chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” giành thắng lợi…
Với sự khôn khéo, cẩn thận, kiên nhẫn, nhiều chiến sỹ tình báo còn vận động, chuyển hóa được quần chúng, kể cả những người đứng trong hàng ngũ địch phục vụ cho cách mạng.

Bằng các mối quan hệ của mình, nữ tình báo Đinh Thị Vân đã vận động được Đỗ Trọng Quyên - chánh văn phòng, Phó tổng tham mưu trưởng quân đội ngụy - cung cấp nhiều tin tức, tài liệu quan trọng, trong đó có thông tin kịp thời về việc Mỹ sẽ đổ quân vào miền Nam Việt Nam sau khi chiến lược “chiến tranh đặc biệt” thất bại; tài liệu về cuộc hành quân quy mô lớn Junction City của Mỹ, với 40.000 quân đánh vào căn cứ Tây Ninh của Trung ương cục miền Nam năm 1967, giúp ta chủ động đối phó làm thất bại âm mưu của địch.
Bà cũng là người đã vẽ bản đồ phòng ngự của quân đội Sài Gòn ở phía Nam vĩ tuyến 17, trong giai đoạn 1959-1960.

Những thông tin mật, thậm chí là tuyệt mật của các chiến sỹ tình báo cũng giúp ta bảo toàn được lực lượng.
Năm 1969, cụm trưởng tình báo H67 đã cấp tốc chuyển lên cấp trên thông tin địch định dùng máy bay chiến lược B52 hủy diệt căn cứ Trung ương cục miền Nam và Bộ tư lệnh Miền, do ông Nguyễn Văn Lễ (nghị sỹ Quốc hội Sài Gòn - người được vận động làm việc cho tình báo cách mạng) cung cấp.
Nhờ thông tin cơ mật này, căn cứ của ta đã di chuyển kịp thời đến một địa điểm khác, tránh được cuộc tập kích quy mô lớn và nhiều đợt rải thảm liên tục bằng B52 từ 8 giờ tối hôm trước đến 5 giờ sáng hôm sau, tại căn cứ Sóc Mong trong phạm vi 20km2.
Đặc biệt, những thông tin tình báo của Đại tá Nguyễn Văn Minh - văn thư bảo mật của đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng quân đội Sài Gòn - chuyển về đã giúp Đảng và Bộ chỉ huy chiến dịch khẳng định Mỹ không đưa quân trở lại nếu ta đánh lớn vào giải phóng Sài Gòn.
Thông tin này đã giúp Bộ chính trị có thêm cơ sở quyết định mở cuộc Tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 trong thời gian ngắn nhất để giải phóng miền Nam, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giành thắng lợi trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.

Có thể nói, những chiến sỹ tình báo quân sự Việt Nam đã góp phần quan trọng vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, với đỉnh cao là Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.
Họ đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được Đảng, Nhà nước và Quân đội giao phó; đóng góp to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước, viết nên những trang sử hào hùng của ngành Tình báo Quốc phòng Việt Nam.
Tên tuổi và sự nghiệp của họ không chỉ làm hàng triệu người con đất Việt cảm phục, ngưỡng mộ, mà còn làm cho đối phương cũng phải “ngả mũ kính chào”.
-------------
PT-TG.  (Theo TTXVN/Vietnam+)







THỦ TƯỚNG PHẠM MINH CHÍNH MONG MUỐN HÀ LAN HỖ TRỢ VIỆT NAM KẾT NỐI CÁC CẢNG VÀ KHU CÔNG NGHIỆP VỚI CHÂU ÂU.

 Chiều 6-12, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính và Thủ tướng Hà Lan Mark Rutte đã có cuộc điện đàm, trao đổi các biện pháp thúc đẩy hơn nữa quan hệ Đối tác toàn diện Việt Nam - Hà Lan trong thời gian tới.

Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đánh giá cao và cảm ơn sự hỗ trợ của Chính phủ Hà Lan và cộng đồng doanh nghiệp Hà Lan đã hỗ trợ thiết bị vật tư y tế trị giá 40 tỷ VNĐ giúp Việt Nam vượt qua giai đoạn khó khăn do làn sóng dịch Covid-19 lần thứ 4 gây ra; khẳng định Việt Nam luôn coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện với Hà Lan về chính trị-ngoại giao, thương mại-đầu tư, an ninh-quốc phòng, văn hóa, giáo dục nông nghiệp và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Thủ tướng Phạm Minh Chính nhấn mạnh Thủ tướng Mark Rutte là người bạn thân thiết của Việt Nam, đóng góp tích cực trong việc xây dựng nền móng và thúc đẩy quan hệ Việt Nam - Hà Lan phát triển, nhất là từ khi hai nước thiết lập quan hệ đối tác chiến lược trong lĩnh vực thích ứng biến đổi khí hậu và quản lý nước từ năm 2010. 

Thủ tướng đánh giá cao việc Hà Lan là một trong những nước có hệ thống logistics phát triển hàng đầu thế giới; đóng vai trò vừa là thị trường lớn nhất cho hàng xuất khẩu của Việt Nam trong khối EU, vừa là cửa ngõ quan trọng trung chuyển hàng hóa của Việt Nam vào thị trường châu Âu.

Thủ tướng mong muốn Hà Lan hỗ trợ Việt Nam kết nối các cảng và khu công nghiệp với châu Âu, giúp tăng sản lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường này; đồng thời thúc đẩy Nghị viện Hà Lan sớm phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam - EU (EVIPA) nhằm thúc đẩy hoạt động thương mại và đầu tư hai nước tăng trưởng nhanh, mạnh mẽ và bền vững hơn nữa.

Thủ tướng Mark Rutte đánh giá cao những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong thời gian vừa qua nhất là kết quả phòng, chống dịch Covid-19, cho rằng hai nước cần phối hợp chặt chẽ, thúc đẩy các hoạt động đầu tư và thương mại để sớm hồi phục và tăng trưởng trở lại nhanh và mạnh mẽ.

Thủ tướng Hà Lan đánh giá Việt Nam và Hà Lan đều là các quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi biến đổi khí hậu đòi hỏi nỗ lực rất lớn để thúc đẩy các biện pháp và kế hoạch đề ra. Theo đó, hai nhà lãnh đạo nhất trí về các chương trình hợp tác trong thời gian tới sẽ bao gồm: Quy hoạch tổng thể Đồng bằng Sông Cửu Long đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo hướng phát triển bền vững thích ứng với biến đổi khí hậu, Chương trình chuyển đổi nông nghiệp bền vững vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, khắc phục các vấn đề sụt lún, sạt lở bờ sông, xâm thực bờ biển, biến đổi khí hậu và phòng, chống thiên tai liên quan đến tài nguyên nước, thúc đẩy phát triển nền kinh tế tuần hoàn, năng lượng tái tạo phục vụ mục tiêu phát triển bền vững tại mỗi nước.

Hai Thủ tướng đã nhất trí duy trì cơ chế trao đổi thường xuyên cũng như các phương hướng hợp tác trong lĩnh vực cảng biển, giáo dục, du lịch... Thủ tướng Phạm Minh Chính đề nghị phía Hà Lan tăng học bổng cho sinh viên Việt Nam và tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng người Việt Nam sinh sống, học tập, làm việc tại Hà Lan.

Hai Thủ tướng cùng thảo luận về biện pháp tăng cường hợp tác giữa hai nước trong khuôn khổ đối tác chiến lược trong lĩnh vực thích ứng với biến đổi khí hậu và quản lý nước; lĩnh vực nông nghiệp bền vững và an ninh lương thực. Hai bên thống nhất cần tiếp tục tăng cường hợp tác công - tư giữa hai nước, phát huy các chương trình, dự án của các lĩnh vực hợp tác mà hai bên đã đạt được những kết quả khả quan trong thời gian vừa qua, tập trung vào các lĩnh vực có thể tận dụng kinh nghiệm và thế mạnh của Hà Lan, trong khi Việt Nam có nhu cầu.

Hai Thủ tướng tiếp tục trao đổi về việc tăng cường hợp tác giữa Việt Nam - Hà Lan trên các diễn đàn đa phương và khu vực trong đó có vấn đề Biển Đông, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải và hàng không, giải quyết các tranh chấp dựa trên luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982; thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); tiến tới đạt được Bộ quy tắc ứng xử COC thực chất, hiệu quả.

Nhân dịp này, Thủ tướng Phạm Minh Chính trân trọng mời Thủ tướng Hà Lan Mark Rutte thăm lại Việt Nam. Thủ tướng Mark Rutte vui mừng nhận lời và bày tỏ mong muốn sớm được đón Thủ tướng Phạm Minh Chính thăm Hà Lan trong thời gian tới./.
-----------------
PV-TG (Theo TTXVN)




BÀI QUỐC CA BỊ TẮT TIẾNG VÌ BỊ BÁO LỖI VI PHẠM BẢN QUYỀN

  Bài Quốc ca trong trận đấu Việt Nam - Lào bị tắt “vì lí do bản quyền”, người hâm mộ vô cùng bức xúc!

Tối 6/12, trận giao đấu đầu tiên giữa đội tuyển bóng đá Việt Nam và Lào tại giải Vô địch Bóng đá Đông Nam Á AFF cup đã chính thức được diễn ra. Sau khoảng 30 phút trên sân, đội tuyển Việt Nam đã ghi bàn thắng vào lưới đội tuyển Lào do cú lập công của tiền đạo Công Phượng khiến cho người hâm mộ nước nhà vô cùng tự hào.

Tuy nhiên, khoảnh khắc khiến cộng đồng mạng xôn xao hơn cả đó chính là trên một kênh YouTube công chiếu trận đấu Việt Nam - Lào, phân đoạn hát Quốc ca của đội tuyển Việt Nam đã bị tắt tiếng vì lý do bản quyền.

Cụ thể, khi đội tuyển Việt Nam ngân vang ca khúc Quốc ca, trên màn hình kênh YouTube này đã hiện thông tin với nội dung: "Vì lý do bản quyền âm nhạc, chúng tôi buộc lòng phải tắt tiếng ở phần lễ Chào cờ. Sau lễ Chào cờ, tín hiệu âm thanh sẽ trở lại bình thường, mong quý vị khán giả thông cảm".

Ngay sau khi Quốc ca Việt Nam bị tắt tiếng trên kênh YouTube phát sóng trận đấu giữa Việt Nam - Lào, cộng đồng mạng hiện đang tràn vào fanpage của BH Media để lên án. Đa số đều tỏ rõ sự bức xúc khi một ca khúc Quốc ca bị đánh bản quyền vô lý. Thậm chí có người còn khẳng định việc làm này đã làm xấu hình ảnh nước nhà trong mắt bạn bè quốc tế.

Trước đó, sự việc ca khúc Quốc ca của Việt Nam là bị BH Media nắm bản quyền đã dấy lên nhiều bức xúc trong dư luận. Nhiều nghệ sĩ cũng lên tiếng, phản ứng gay gắt khi một sản phẩm trí tuệ cá nhân lại bị một đơn vị khác ngang nhiên thông báo sở hữu bản quyền, báo vi phạm bản quyền một cách vô lý.

Dù đơn vị này đã lên tiếng giải thích sự việc nhưng càng khiến dư luận thêm tranh cãi và khó chấp nhận dù đó là bất kỳ lý do nào./. 

--------------
PT.TG


ĐẢNG VIÊN KHÔNG ĐƯỢC CAN THIỆP VÀO HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA, XÉT XỬ, THI HÀNH ÁN, XÉT ĐẶC XÁ

 Đảng viên không được tham mưu, đề xuất, quyết định giảm trách nhiệm, giảm án, giảm tội, bỏ lọt tội phạm, giảm hình phạt, mức phạt, mức bồi thường vật chất…

 1 trong 5 điểm mới trong Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm là: Đảng viên không được can thiệp vào hoạt động điều tra, xét xử, thi hành án, xét đặc xá. 

Tại Điều 13, Quy định 37 nêu rõ: đảng viên không được “Can thiệp, tác động vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, giải quyết khiếu nại, tố cáo để bao che, tiếp tay cho các hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tác động, ép buộc, mua chuộc tổ chức, cá nhân để giảm trách nhiệm, hình phạt cho người khác”.

Theo Hướng dẫn số 02-HD/UBKTTW (Ủy ban Kiểm tra Trung ương) ban hành ngày 29/11 vừa qua,  Điều 13 được hiểu đầy đủ như sau: 

Đảng viên không được:

1. Thực hiện không nghiêm, không đúng, không đầy đủ các quy định (quy trình, thủ tục, phương pháp nghiệp vụ) để làm thay đổi, sai lệch kết luận, kết quả kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

2. Tham mưu, đề xuất, quyết định giảm trách nhiệm, giảm án, giảm tội, bỏ lọt tội phạm, giảm hình phạt, mức phạt, mức bồi thường vật chất, thời gian thi hành, chấp hành án, xét ân xá… cho người khác không đúng quy định.

3. Thực hiện không nghiêm, không đúng, không đầy đủ các quy định của pháp luật trong việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và các biện pháp ngăn chặn (bắt, tạm giữ, tạm giam, tha…) trong quá trình đấu tranh phòng, chống tội phạm.

4. Thay đổi, kéo dài thời hạn, thời gian kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xử lý vi phạm mà không có lý do chính đáng; sử dụng kết luận, biên bản và các thông tin có liên quan không có trong quy trình, quy định để gây áp lực, vòi vĩnh tổ chức, cá nhân dưới mọi hình thức. Tạm giữ tiền, tài sản không đúng quy định.

5. Chậm giải quyết hoặc không giải quyết đơn thư khiếu nại, tổ cáo, khởi kiện, đơn yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự, tin báo tố giác tội phạm theo quy định của pháp luật; bao che, tiếp tay, dung túng hoặc không xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của mình hoặc không yêu cầu khắc phục hậu quả vi phạm theo quy định của pháp luật.

6. Có hành vi chống đối, cản trở, mua chuộc, trả thù, trù dập, khống chế, vu khống người làm nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Trước đó, khi đề cập đến nội dung tại điều 13 (Quy định 37), Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Viết Thông –  nguyên Tổng Thư ký Hội đồng Lý luận Trung ương cho rằng, thực hiện các nghị quyết đại hội gần đây và các nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị, chúng ta đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Trong những năm qua, đã xuất hiện những cá nhân có hành động tác động đến tổ chức, cá nhân không đúng để giảm các hình phạt. Với tinh thần của các đại hội gần đây, nhất là Đại hội XIII là kiên quyết đấu tranh đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực, nên việc Đảng quy định đảng viên không được làm những việc này là điểm mới, rất cần thiết trong bối cảnh hiện nay./.

------------

PT.TG (st)




Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ: Mối quan hệ Việt Nam-Lào là tài sản vô giá

       Tối 6-12, tại Nhà Quốc hội, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và Phu nhân đã chủ trì chiêu đãi trọng thể chào mừng đồng chí Xaysomphone Phomvihane, Ủy viên Bộ Chính trị Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và Phu nhân cùng Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Lào thăm chính thức Việt Nam từ ngày 6 đến 8-12-2021.

Cùng tham dự có các Ủy viên Bộ Chính trị: Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng; Phó chủ tịch Thường trực Quốc hội Trần Thanh Mẫn; các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, lãnh đạo ban, bộ, ngành. Phía Lào có các thành viên trong Đoàn và một số cán bộ Đại sứ quán Lào tại Việt Nam…

Thay mặt lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nồng nhiệt chào mừng Chủ tịch Quốc hội Xaysomphone Phomvihane cùng Phu nhân và Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội sang thăm chính thức Việt Nam.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ: Mối quan hệ Việt Nam-Lào là tài sản vô giá
Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Xaysomphone Phomvihane chứng kiến buổi lễ.  

Bày tỏ tự hào về mối quan hệ mẫu mực, thủy chung, trong sáng Việt Nam - Lào, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh đây là tài sản vô giá cần được nâng niu, trân trọng và truyền lại cho các thế hệ mai sau. Nhân dân Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc rằng, mỗi thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày nay đều gắn liền với tình đoàn kết, sự ủng hộ, giúp đỡ chí tình của nhân dân Lào anh em. Đảng, Quốc hội, Chính phủ và nhân dân Việt Nam bày tỏ sự cảm ơn chân thành, sâu sắc tới Đảng, Quốc hội, Chính phủ và nhân dân Lào về những tình cảm và sự giúp đỡ quý báu đó.

Chủ tịch Quốc hội khẳng định, trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực đang phát triển hết sức nhanh chóng, phức tạp và khó lường, tình cảm thủy chung, son sắc giữa hai đất nước, hai dân tộc Việt - Lào không bao giờ thay đổi và ngày càng được củng cố, ăn sâu, bám rễ trong mỗi tầng lớp nhân dân như Chủ tịch Kaysone Phomvihane từng nói: “Núi có thể mòn, sông có thể cạn, song tình nghĩa Lào-Việt sẽ mãi mãi vững bền hơn núi, hơn sông”.

Chủ tịch Quốc hội Lào Xaysomphone Phomvihane bày tỏ vui mừng thăm chính thức Việt Nam ngay sau khi được bầu làm Chủ tịch Quốc hội Lào khóa IX. Đồng chí đánh cao giá kết quả cuộc hội đàm với Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ diễn ra sáng 6-12.

Hội đàm diễn ra trong bầu không khí thắm tình hữu nghị, đồng chí, anh em. Hai bên đã cùng trao đổi thẳng thắn, thống nhất nhiều nội dung nhằm tăng cường quan hệ hợp tác giữa hai cơ quan lập pháp hai nước. Trong khuôn khổ chuyến thăm, lãnh đạo Quốc hội hai nước đã tham dự hội thảo trao đổi kinh nghiệm công tác giữa Quốc hội hai nước, trong đó thảo luận, trao đổi những kinh nghiệm trong lĩnh vực lập pháp, giám sát, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước…

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ và Chủ tịch Quốc hội Lào Xaysomphone Phomvihane cùng chúc cho quan hệ hữu nghị vĩ đại, đoàn kết đặc biệt và hợp tác toàn diện giữa hai Đảng, hai Nhà nước và nhân dân hai nước Việt Nam - Lào mãi mãi xanh tươi, đời đời bền vững.

Nhân dịp này, thông qua Chủ tịch Quốc hội Xaysomphone Phomvihane và Đoàn đại biểu cấp cao Quốc hội Lào, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội Đinh Tiến Dũng thay mặt Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố Hà Nội trao tặng 5 tỷ đồng hỗ trợ nhân dân Lào trong công tác phòng, chống dịch Covid-19.

Nguồn: QĐND.

Cảnh giác trước âm mưu “Diễn biến hòa bình" giữa đại dịch

 

Không thể triệt tiêu chủ nghĩa cộng sản bằng vũ lực, vì vậy mà việc chống phá cách mạng Việt Nam được chúng chuyển sang đấu tranh bất bạo động với nhiều thủ đoạn ngày càng thâm độc, nó không nằm ngoài âm mưu “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch thực hiện từ trước đến nay, đó là đẩy mạnh phá hoại từ bên trong, tạo chia rẽ nội bộ, đặc biệt là phá vỡ khối đại đoàn kết dân tộc, sự gắn bó của Nhân dân với Đảng và khi có thời cơ chúng sẽ kích động người dân để tiến hành biểu tình, bạo loạn gây bất ổn chính trị, tạo những cuộc cách mạng đường phố hay còn gọi là cách mạng màu để lật đổ chính quyền. Đại dịch Covid-19 hoành hành ở Việt Nam trong thời gian qua như là một trong những điều kiện để các thế lực thù địch nhen nhóm mưu đồ đen tối, nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” tại Việt Nam.

Đại dịch bùng phát từ tháng 4 đến nay đã gây ra nhiều tổn thất về người, tác động tiêu cực đến việc phát triển kinh tế đất nước, ổn định an sinh xã hội cho người dân. Đảng, Chính phủ đã huy động mọi nguồn lực, phát huy tinh thần đoàn kết dân tộc của các tầng lớp nhân dân, huy động cả hệ thống chính trị vào cuộc với quyết tâm cao nhất để đẩy lùi dịch bệnh. Những nỗ lực đó đã mang lại những thành quả hết sức rõ rệt khi những ngày gần đây số người nhiễm, tử vong đều giảm, số người khỏi bệnh tăng mạnh từng ngày; nhiều địa phương từng là tâm dịch đang dần trở lại trạng thái bình thường mới. Thành quả đó là không thể phủ nhận.

Tuy nhiên, nhìn lại mấy tháng qua, khi đất nước tranh thủ từng giờ để khống chế dịch bệnh, bảo vệ tính mạng của Nhân dân thì trên không gian mạng những thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị có tư tưởng cực đoan hay một số tổ chức truyền thông nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam luôn dõi theo từng diễn biến dịch bệnh ở nước ta, với những luận điệu mang tính kích động, hướng lái dư luận về các quyết sách của Đảng, chính phủ trong phòng chống Covid-19 xuất hiện dày đặc trên diễn đàn của VOA, RFI, Việt Tân, Việt Nam Thời Báo, Tiếng Dân TV… hay của một số đối tượng phản động lưu vong như Nguyễn Văn Đài, Trường Quốc Huy, Thanh Hieu Bui… với hàng loạt chỉ trích cho rằng chính sách chống dịch của Đảng ta là sai lầm, Đảng bỏ mặc người dân trong dịch bệnh, người dân phải gánh chịu do cách chống dịch của Đảng, rồi đến ngăn cản, chặn đường sống của dân khi họ về quê. Để minh họa cho những luận điệu xuyên tạc này là những thông tin, hình ảnh được cắt ghép với mục đích dựng lên một bức tranh về một Việt Nam bất lực, bế tắc trong kiểm soát dịch bệnh. Covid-19 bùng phát tại Việt Nam như một miếng mồi để chúng thêm nếm gia vị phục vụ cho âm mưu “diễn biến hòa bình” mà chúng đã và đang thực hiện. Mục tiêu cuối cùng của chúng là xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, lật đổ chế độ và thay đổi thể chế chính trị của đất nước hiện nay bằng cách gây mâu thuẫn, chia rẽ từ bên trong. Bên cạnh đó chúng luôn tìm cách móc nối với số cán bộ, đảng viên dễ lung lay tư tưởng, đặc biệt là số cơ hội chính trị lôi kéo những người này vào hoạt động chống phá Đảng, kích động, gây chia rẽ, bè phái trong nội bộ, tạo dựng ngọn cờ và lực lượng đối lập.

Không có loại kháng sinh nào hữu hiệu bằng tự đề kháng cho cơ thể, bằng cách ngăn ngừa dịch bệnh từ xa, giải quyết tốt những hạn chế, xử lý nghiêm các cá nhân, cán bộ biến chất, suy thoái là hết sức quan trọng vào lúc này. Dịch bệnh ở nước ta đang được kiểm soát nhanh chống, điều đó khiến niềm tin của Nhân dân vào đường lối chống dịch của Đảng, chính phủ ngày càng to lớn. Và khi Nhân dân có niềm tin thì không dễ bị lôi kéo, mắc mưu vào mưu đồ “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Bản chất và chiêu trò chống phá của những kẻ phản động người Việt ở hải ngoại

 Tính đến nay, có hơn 4,5 triệu người Việt Nam định cư ở nước ngoài, sinh sống tại 103 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó ở Mỹ là 2,1 triệu người (tính đến năm 2016). Đại bộ phận trong số họ là những người sinh sống lương thiện, tham gia xây dựng cuộc sống mới ở nước sở tại và tích cực đóng góp xây dựng quê hương đất nước, theo QĐND. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận ôm hận thù cá nhân, nuối tiếc chế độ Việt Nam cộng hòa đã bị sụp đổ vào ngày 30-4-1975, ra sức chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam. Điều đáng nói, đã có những người nhẹ dạ cả tin ở trong nước bị bọn chúng mua chuộc, dụ dỗ và xúi giục tiến hành các hoạt động chống phá…Đảng, nhà nước ta. Bản chất của họ ngoài tư tưởng phản động còn lợi dụng vào hoạt động của các tổ chức này để kiếm tiền cho chính bản thân họ

BÁC BỎ LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ CÔNG TÁC PHÁT TRIỂN ĐẢNG


          Thực tế, "Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài" và "vào Đảng là để hết lòng hết sức phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, làm trọn nhiệm vụ của người đảng viên" như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định, cho nên, cán bộ, đảng viên của Đảng phải luôn phấn đấu để xứng đáng vừa là người lãnh đạo vừa là người đày tớ thật trung thành của nhân dân; suốt đời tận trung với nước, tận tâm phụng sự nhân dân, thực hành cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư… Những điều căn cốt này đã được mỗi quần chúng nhận thức rõ. Vì thế, khi đã xác định phấn đấu trở thành đảng viên, tất yếu mỗi người đều không chỉ cần phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc thuộc về tổ chức, sinh hoạt và Điều lệ Đảng mà còn phải trải qua quá trình phấn đấu, tu dưỡng, thử thách để trưởng thành.

          Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức, cũng ở trong xã hội và Đảng trong sạch, vững mạnh được quyết định bởi số lượng, chất lượng đảng viên và việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc xây dựng Đảng. Số lượng đảng viên là cần thiết, song số lượng đó chỉ trở thành sức mạnh khi đạt được những yêu cầu về chất lượng. Vì thế, công tác phát triển Đảng toàn diện vào các vùng, các ngành, các giới, nhất là trong thanh niên, phụ nữ, bộ đội xuất ngũ; trong các vùng xung yếu và các cơ sở còn ít đảng viên để khắc phục tình trạng "vùng trắng", nhằm đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng là rất cần thiết. Hơn nữa, việc phát triển Đảng trong hệ thống các trường đại học, cao đẳng, học viện, nhà trường; ở các vùng nông thôn; trong các khu vực doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… càng cần phải được thực hiện nghiêm túc, đảm bảo chất lượng. Nếu không quán triệt và thực hiện đúng vấn đề có tính nguyên tắc đó; nếu chỉ chú trọng số lượng mà coi nhẹ chất lượng, thì các tổ chức Đảng dù "đảm bảo chỉ tiêu kết nạp", song cũng chỉ là "một câu lạc bộ", không thể mạnh mà trái lại còn trở nên lỏng lẻo, rệu rã.

          Trên thực tế, việc kết nạp người vào Đảng luôn được các cấp ủy xem xét toàn diện, từ phẩm chất đạo đức và năng lực công tác đến trình độ giác ngộ, động cơ vào Đảng; từ quá trình rèn luyện, tu dưỡng thông qua thử thách thực tiễn đến việc thực hiện nghiêm các nguyên tắc, thủ tục kết nạp Đảng và theo dõi, đánh giá quá trình phấn đấu trong thời gian là đảng viên dự bị. Mỗi người khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng đều hiểu rõ rằng vào Đảng/trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là để mưu cầu lợi ích cho mình, làm giàu cho bản thân và người thân mà là để cống hiến và phụng sự. Tuy nhiên, thời gian qua, bên cạnh đại đa số giới trẻ, những quần chúng ngoài Đảng đã và đang nỗ lực trau dồi tri thức, nỗ lực làm việc để gây dựng sự nghiệp cho mình; thường xuyên tu dưỡng, phấn đấu để vinh dự được trở thành người đảng viên cộng sản, thì đâu đó cũng vẫn có một bộ phận giới trẻ (công nhân ở các khu công nghiệp, thanh niên ở các vùng nông thôn…) sống thiếu lý tưởng, hoài bão, chỉ biết an phận mình. Đồng thời, cũng vẫn có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" đã xa rời lý tưởng cách mạng, vi phạm kỷ luật Đảng…, song đó chỉ là hiện tượng. Cho nên, không thể vì một vài nhận xét về thực trạng công tác phát triển Đảng ở một số địa bàn cụ thể mà vội quy kết rằng "nếu không bị bắt buộc" thì người dân "không muốn vào Đảng"; và hiện nay công nhân lao động, thanh niên "ngại vào Đảng", "không tha thiết vào Đảng" như các phần tử phản động đã suy diễn, xuyên tạc.

          Chỉ riêng những con số cụ thể này: "Theo dự thảo báo cáo, trong giai đoạn 2010-2020 và 9 tháng đầu năm 2021, tổng số đoàn viên ưu tú do tổ chức đoàn giới thiệu cho đảng là 2.868.498. Theo phân bổ chỉ tiêu của nhiệm kỳ 2012-2017 số lượng đoàn viên ưu tú giới thiệu cho đảng xem xét kết nạp so với chỉ tiêu đề ra đạt 99,16%; nhiệm kỳ 2017-2022, tính đến thời điểm hiện tại đạt tỉ lệ 87,39%. Số lượng đoàn viên ưu tú được kết nạp đảng, theo số liệu thống kê của 67/67 tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc, toàn Đoàn có gần 1,6 triệu đảng viên là đoàn viên đang sinh hoạt tại các chi đoàn, chiếm 25,39% tổng số đoàn viên cả nước và chiếm 30,76% tổng số đảng viên cả nước" cũng đủ là minh chứng sinh động cho thấy công tác phát triển Đảng trong đoàn viên, thanh niên những nhiệm kỳ gần đây. Đó cũng là một trong những bằng chứng bác bỏ sự xuyên tạc của các thế lực thù địch khi cho rằng: cả 3 nhiệm kỳ Đại hội XI, XII, XIII của Đảng cũng không "chữa được hiện tượng chán đảng" dù có sự vào cuộc của ngành Tuyên giáo, của Tổng cục Chính trị Bộ Quốc phòng và Bộ Công an.

          Thực tế, trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là mục tiêu phấn đấu; đồng thời cũng là niềm tự hào của mỗi quần chúng ngoài Đảng nói chung, của tuổi trẻ nước nhà nói riêng. Vì thế, việc vin vào cớ cho rằng thủ tục vào Đảng "rườm rà", nhất là phải khai lý lịch và được xác minh từ địa phương là thành phần ưu tú trong xã hội về mọi mặt như đạo đức, lối sống, gương mẫu, trong sạch; phải đi học lớp bồi dưỡng đối tượng Đảng và "vào Đảng không đem lại lợi ích cụ thể gì', "vào Đảng không có gì khác biệt"… đã "cản trở nhiều người không muốn vào Đảng" chỉ là sự suy diễn cá nhân của những kẻ cơ hội đầy dã tâm chống phá Đảng. Hơn nữa, trên cơ sở thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 23/11/1996 của Bộ Chính trị về "Tăng cường công tác xây dựng Đảng, các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân" và Kết luận số 80-KL/TW ngày 29/7/2010 của Ban Bí thư về "Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW về “Tăng cường công tác xây dựng Đảng và các đoàn thể nhân dân trong các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần tư nhân (gọi tắt là doanh nghiệp tư nhân) và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài” của Bộ Chính trị (khóa VIII) trong tình hình mới” cùng Chỉ thị số 33-CT/TW ngày 18/3/2019 của Ban Bí thư về "Tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong các đơn vị kinh tế tư nhân”…, công tác phát triển Đảng, thành lập tổ chức Đảng cũng như tạo nguồn phát triển đảng viên trong các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp và có vốn đầu tư từ nước ngoài thời gian qua cũng có những chuyển biến nhất định và đạt được những kết quả khả quan.

          Thông qua việc thay đổi nhận thức của chủ doanh nghiệp với vấn đề phát triển Đảng và thành lập tổ chức Đảng; việc khắc phục những khó khăn về thời gian tham dự lớp cảm tình Đảng của công nhân các khu công nghiệp; nhất là việc đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục về công tác phát triển Đảng trong khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, ở các vùng nông thôn… công tác phát triển đảng viên ở những địa bàn này đã có những thay đổi tích cực. Vì thế, câu chuyện "giới trẻ nhạt Đảng", "giới trẻ ngại vào Đảng" là hiện tượng phổ biến ở Việt Nam mà một luận điệu thù địch nêu ra không phản ánh đúng thực tế công tác phát triển Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó chỉ là một vài hiện tượng đơn lẻ, chỉ là thiểu số, không phải là bản chất, cho nên sự quy chụp đó là vội vàng, là thiển cận và ác ý; là bôi đen sự thật để xuyên tạc công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng của Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, công tác phát triển Đảng nói riêng.

          Đương nhiên, để Đảng luôn xứng đáng với vai trò tiên phong, trong thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ chú trọng công tác phát triển Đảng mà còn luôn tự chỉnh đốn và đổi mới. Một mặt, các cấp ủy Đảng chủ động làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục, tạo nguồn trong quần chúng tích cực, đảm bảo về số lượng, cơ cấu hợp lý; bồi dưỡng, theo dõi, giúp đỡ để họ có đủ điều kiện trở thành đảng viên cộng sản; xem xét toàn diện về mọi mặt (trình độ giác ngộ, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, uy tín trước quần chúng…) và thử thách trong thực tiễn; bồi dưỡng, kết nạp và giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức. Mặt khác, Đảng thường xuyên tiến hành tự phê bình và phê bình, kiểm tra và giám sát, để kịp thời phát hiện, xử lý, đưa ra khỏi Đảng những kẻ suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong từng tổ chức cơ sở Đảng/những kẻ đã xa rời lý tưởng cách mạng, thiếu tu dưỡng đạo đức cách mạng của người đảng viên, không còn là "tấm gương" cho quần chúng noi theo.

          Một trong những nội dung quan trọng của Văn kiện Đại hội XIII cần được cả hệ thống chính trị và cấp ủy Đảng các cấp quán triệt sâu sắc là: “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ đảng viên; phát huy tính tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, tin dân, hiểu dân, học dân của cán bộ, đảng viên. Tăng cường hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, củng cố và không ngừng nâng cao niềm tin của nhân dân đối với Đảng”. Theo đó, để công tác phát triển Đảng thật sự đảm bảo chất lượng, toàn Đảng không chỉ cần phải nâng cao hơn nữa nhận thức về vị trí, vai trò của nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên này theo đúng tinh thần Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 21/1/2019 của Ban Bí thư về "Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng" mà còn phải chú trọng, đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục trong cán bộ, đảng viên nói chung, quần chúng ngoài Đảng nói riêng về mục đích, ý nghĩa của công tác phát triển đảng viên. Đồng thời, quan tâm đào tạo, rèn luyện phẩm chất đạo đức và bản lĩnh chính trị cho thế hệ trẻ, cho những quần chúng ngoài Đảng trong các tổ chức chính trị-xã hội ở các vùng, các địa bàn, các giới… để chủ động phát hiện và tạo nguồn dự bị của Đảng; tổ chức nhiều lớp bồi dưỡng để giúp quần chúng, đảng viên mới nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng, bồi đắp lý tưởng cách mạng, xác định đúng đắn động cơ vào Đảng trên cơ sở giác ngộ lý tưởng và tự giác phấn đấu, rèn luyện để được đứng trong hàng ngũ của Đảng.

          Cùng với đó, các tổ chức cơ sở Đảng phải quán triệt sâu sắc quan điểm "trọng chất lượng hơn số lượng", để khi tiến hành các khâu, các quy trình phát triển Đảng vừa tránh sa vào hiện tượng chạy theo chỉ tiêu mà tùy tiện hạ thấp tiêu chuẩn, điều kiện của người vào Đảng vừa tránh được tình trạng mắc bệnh hẹp hòi, cầu toàn, gây tác hại nhiều mặt, làm tổn hại đến việc bổ sung nguồn sinh lực cho Đảng. Trong quá trình triển khai, một mặt, phải thường xuyên đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ và tuyên truyền, giáo dục về mục tiêu, lý tưởng của Đảng; phát huy vai trò, trách nhiệm của người đảng viên, nhất là người đứng đầu, cán bộ lãnh đạo, quản lý để làm gương cho quần chúng tự nguyện phấn đấu vào Đảng. Mặt khác, điều chỉnh linh hoạt những bất cập (bố trí các lớp cảm tình Đảng, lớp đảng viên mới bằng hình thức trực tuyến, học vào ngày nghỉ, ngoài giờ hành chính, bố trí địa điểm, thời gian cho phù hợp điều kiện thực tế…) để tạo thuận lợi cho những đối tượng đặc thù; đồng thời, thực hiện nghiêm các khâu, các quy trình bồi dưỡng, kết nạp, giúp đỡ đảng viên dự bị trở thành đảng viên chính thức để Đảng thật sự thu hút và kết nạp được những người ưu tú nhất, tiêu biểu nhất về phẩm chất, bản lĩnh, năng lực, trí tuệ vào Đảng.

          Chỉ có như vậy, công tác phát triển Đảng mới đạt chất lượng cao, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng nói chung, từng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh nói riêng, để Đảng có đủ uy tín, năng lực và trí tuệ lãnh đạo sự nghiệp cách mạng đi đến thành công.

 

NGHỀ KIẾM ĂN CỦA MỘT BỘ PHẬN GIỚI NGHỆ SĨ Ở HẢI NGOẠI LÀ PHẢN BỘI TỔ QUỐC!

      Có lẽ chưa khi nào cái việc mà ngày xưa chỉ cần bị nghi ngờ đã có thể bị trảm vì cái tội phản loạn, nay lại mọc lên nhiều vậy. Thời đại mà con người chỉ mải miết làm giàu, thậm chí có người còn làm giàu bằng mọi giá, kể cả việc bán rẻ lương tâm và trách nhiệm với quê hương, gia đình, nòi giống.

Đây chính là cơ hội để những nhà Dân chủ, những “tay chơi tự do” và những đảng phái đối lập có điều kiện thuê đủ những thể loại người phục vụ cho chặng đường “cứu cuốc” mà chúng đang theo đuổi. Đó là những kẻ bị trục xuất vì kém tài, thất đức, thậm chí là cả một bộ phận của giới vô loài cũng được trưng dụng. Trưng dụng bởi chúng có cái mác là người này, người kia…

Nghề kiếm miếng ăn của chúng là bôi nhọ lịch sử, xuyên tạc sự thật, chửi bới đồng bào và bôi xấu đất nước. Chúng là nỗi nhục của người Việt Nam. Cái nghề mà bọn chúng làm mọi thời đều khinh rẻ, miệt thị, bởi vì cái nghề đó chẳng khác gì là cave.

Tuy nhiên, chúng cũng chẳng làm được trò trống gì. Bởi xã hội Việt Nam vẫn còn nhiều người lao động và làm nghề chân chính như những người nông dân trên cánh đồng ở các làng quê, những người công nhân ở đô thị. Cho dù là nghề gì, kiếm được nhiều tiền hay ít nhưng họ đều tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vẫn yêu quê hương đất nước mình, vẫn trân trọng nòi giống, tổ tiên mình. Họ kiếm tiền bằng sức lao động chân chính của mình, để góp phần đưa doanh nghiệp phát triển, để giúp mình cải thiện cuộc sống, để góp phần dù nhỏ bé vào xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ngoài ra còn rất nhiều các nhà doanh nhân như Nhật Vượng (Vingroup), Đặng Lê Nguyên Vũ (cà phê trung nguyên), Lê Văn Dũng (Viettel), bầu Đức (CEO Hoàng Anh Gia Lai),..v..v.. đang ra sức phát triển doanh nghiệp của mình và thương hiệu Việt ra toàn cầu. Họ cũng từng sống ở nước ngoài, cũng phải lao động kiếm tiền, nhưng họ chưa bao giờ phản bội Tổ quốc, thậm chí khi đã kiếm được tiền họ trở về quê hương để xây dựng đất nước.

Vậy mà, có những kẻ là con dân đất Việt, mang trong mình dòng máu đỏ, da vàng, là hậu duệ của Vua Hùng, con rồng, cháu lạc, tuy chưa làm được gì cho Tổ quốc lại đi tiếp tay cho ngoại bang chống phá đất nước để kiếm tiền.

Kiếm tiền không phải tội lỗi, nhưng đừng kiếm những đồng tiền tội lỗi! Vì đó sẽ là điều không thể chấp nhận được, là điều nhục nhã vì đó là những đồng tiền dơ bẩn vì việc làm đó là bán rẻ tổ tiên, dòng họ.

Quay đầu là bờ, nếu tự thấy lương tâm cắn rứt vì quê hương Việt Nam thương yêu của mình. Dù gì đi nữa ở bên Mỹ người ta vẫn gọi là đám người Việt lưu vong, còn ở quê nhà vẫn được gọi là Việt kiều.

Và điều cuối cùng muốn nhắn nhủ tới những con người kia rằng nếu đã chối bỏ quê hương thì đừng hát bằng tiếng Việt nữa mà hãy hát bằng tiếng ngoại quốc để người đời không biết mình là người Việt Nam chính gốc, để tổ tiên, ông bà nơi chín suối không thấy hổ thẹn với trần gian vì đã trót sinh ra lũ Ký sinh trùng chuyên ăn bám để tồn tại./.

Ảnh: Đan Nguyên - một kẻ bán rẻ bản thân cho bọn phản động lưu vong để bôi xấu, phản bội quê hương và Tổ quốc.

Yêu nước ST.

Phản nước, hại dân và phục vụ mưu đồ chính trị cá nhân


Tại Việt Nam vài năm gần đây, việc kích động tụ tập đông người để gây rối trật tự công cộng, tiến công lực lượng chức năng, phá hoại tài sản nhà nước… đã trở thành "nghề" của một số người tự nhận là "nhà dân chủ, người yêu nước". Và do được sự hà hơi, tiếp sức của thế lực thù địch ở nước ngoài, mà càng ngày nhóm người này càng tỏ ra ngông cuồng.

Ðáng chú ý, sau khi được dư luận và các cơ quan chức năng vạch rõ bản chất, đông đảo người dân, kể cả một số người vì cả tin mà có hành vi lầm lạc đã nhanh chóng nhận rõ mưu mô và "trò hề" của kẻ xấu, từ đó nâng cao cảnh giác, không để bị lôi kéo, lợi dụng.

Từ đầu tháng 8-2018, trước thực tế rất nhiều phong trào thi đua yêu nước, các hoạt động lập thành tích chào mừng 73 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2-9 diễn ra sôi nổi trên cả nước… một số kẻ không muốn đất nước phát triển, thiếu thiện ý với xã hội, đã mưu đồ kích động, gây rối các sự kiện quan trọng này, nhằm thực hiện chống phá chính quyền, phá hoại sự ổn định xã hội, gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc. Lợi dụng mạng xã hội, họ đăng tải đủ loại "lời kêu gọi", công bố kế hoạch để kích động "tổng biểu tình toàn quốc vào dịp 2-9", thậm chí tô vẽ coi đó như là "một cuộc cách mạng tháng tám lần thứ hai" nhằm lật đổ chế độ, giải tán Ðảng Cộng sản! Ðể thực hiện kế hoạch điên rồ này, nấp sau chiêu bài "dân chủ, nhân quyền", nhóm người này vừa kêu gọi "xuống đường", vừa công khai chỉ đạo người tham gia thực hiện các thủ đoạn hòng làm rối loạn xã hội trên phạm vi rộng. Thật ê chề cho họ, dư luận trên mạng xã hội lập tức vạch trần bản chất dối trá, lươn lẹo này, đồng thời chỉ mặt, điểm danh những kẻ ở trong và ngoài nước có ác tâm lợi dụng dân chúng để thực hiện mưu đồ đen tối.

Trên thực tế, dễ nhận thấy rằng không chỉ chăm chăm vào các ngày kỷ niệm lớn của đất nước, các thế lực thù địch, một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí thường xuyên nhân cơ hội, tìm đủ loại lý do kích động tụ tập đông người, bênh vực, bao che người có hành vi vi phạm trật tự công cộng nhằm mục đích tạo dư luận ở ngoài nước. Thực chất việc hô hào, kích động, kêu gọi "xuống đường tổng biểu tình" vừa qua chỉ là kịch bản cũ được dàn dựng lại. Thủ đoạn lôi kéo, kích động được sử dụng vẫn là: trước hết một số tổ chức, cá nhân lên mạng xã hội làm rùm beng một số vấn đề do họ bịa đặt, vu khống, dựng chuyện nhưng thu hút được dư luận thiếu tỉnh táo; khi đã thu hút được sự chú ý của một số người, bước tiếp theo là kích động tụ tập đông người trái pháp luật nhằm thực hiện hành vi chống Ðảng, chống chế độ, thậm chí đòi "khôi phục chế độ Sài Gòn" - "thây ma" đã biến mất gần nửa thế kỷ.

Từ năm 2015 đến nay, các hoạt động có tính toán, có lớp lang này được họ hô hào, tổ chức khá liên tục. Mục đích là nhằm gây rối loạn, làm suy yếu chế độ, cản trở sự phát triển làm mất uy tín của Nhà nước Việt Nam, qua đó tạo cơ hội đầu cơ chính trị cũng như tạo điều kiện cho các thế lực chống cộng ở nước ngoài thừa cơ "đục nước, béo cò". Ðiển hình là một số cuộc tụ tập đông người có hành vi bạo lực xảy ra năm 2016 dưới chiêu bài "vì môi trường, chống Công ty Formosa Hà Tĩnh".

 

Trong các cuộc tụ tập này, nổi lên vai trò của một số linh mục và công dân theo Thiên chúa giáo thuộc Giáo phận Vinh, với những phát ngôn, hành động cực đoan và được một số người như linh mục Nguyễn Duy Tân - Quản xứ Thọ Hòa (địa bàn tỉnh Ðồng Nai), Ngô Quang Kiệt - nguyên Tổng Giám mục Hà Nội hiện cư trú ở Ðan viện Châu Sơn (địa bàn tỉnh Ninh Bình) đến thăm, hiệp thông; từ nước Mỹ, một kẻ là Emily Page - Le (Ê-mi-li Pếch-lê) đến gặp gỡ, trao tiền ủng hộ… Trên internet (in-tơ-nét) hiện còn lưu ảnh chụp bản viết tay của linh mục Ðặng Hữu Nam - Quản xứ Phú Yên (địa bàn tỉnh Nghệ An) cho biết đã nhận từ linh mục Lê Ngọc Thanh - sinh sống tại TP Hồ Chí Minh, số tiền 348.250.000 đồng, 10.900 USD, 300 ơ-rô "ủng hộ Phú Yên kiện Formosa…". Hay lợi dụng tâm lý đám đông, sự bồng bột, thiếu tỉnh táo của một số người dân để kích động, gây nên cuộc tụ tập đông người có hành vi bạo lực, gây rối trật tự công cộng xảy ra tại Bình Thuận và TP Hồ Chí Minh ngày 10-6-2018. Sau đó, các thế lực thù địch còn hô hào "tổng biểu tình" trong các ngày 16-6 và 27-6; tuy nhiên lúc này người dân ở các địa phương đã cảnh giác, tỉnh táo nên số người bị lôi kéo tham gia chỉ thưa thớt. Từ đó có thể nói, cái gọi là "tổng biểu tình" đã lộ rõ bản chất chỉ là trò hề lố lăng.

Ngoài ra, cũng phải kể đến một số cuộc tụ tập bất hợp pháp nhỏ lẻ cũng do mấy người tự nhận là "nhà dân chủ, người yêu nước" hô hào và tổ chức, như biểu tình vì cây xanh, vì môi trường, vì một số sự kiện và vấn đề liên quan Biển Ðông, biểu tình của nhóm người được gọi là "dân oan chuyên nghiệp". Thất bại vì không lôi kéo được người dân tham gia nhằm thực hiện ý đồ thâm độc, để đỡ phần bẽ bàng, cay cú và tiếp tục nuôi mộng các thế lực thù địch, một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí chuyển hướng hô hào cái gọi "biểu tình tại gia" vào chủ nhật với liên tưởng viển vông: "Nếu đại đa số đều ở nhà một ngày, thì chợ búa phải đóng cửa. Tất cả những phương tiện giao thông công cộng sẽ phải đình chỉ. Máy bay sẽ ngừng cất cánh. Tàu vận chuyển sẽ không thể nhổ neo… Từ một ngày chủ nhật ngắn ngủi, sẽ trở thành tiền đề cho các cuộc biểu tình, đình công bãi thị sau này"! Là người tỉnh táo thì ai cũng biết vào chủ nhật, hầu hết mọi người đều ở nhà cùng gia đình. Chắc chắn không ai coi việc ở nhà là một thái độ chính trị, nên tại các gia đình, cuộc sống vẫn diễn ra đầm ấm, hạnh phúc, hoạt động xã hội cũng không bị đình trệ, khủng khiếp như kẻ xấu vẽ ra.

Không quá lời khi khẳng định mấy năm nay ở Việt Nam, "biểu tình" tồn tại như thứ nghề ăn nên làm ra của mấy kẻ cơ hội chính trị. Nhờ nghề này, họ vừa được "suy tôn là nhà dân chủ, người yêu nước", vừa được nhận tiền tài trợ từ các tổ chức phản động ở nước ngoài để "hành nghề" quanh năm. Là nghề kiếm sống nên bất kể thời điểm nào họ cũng cố tìm ra lý do để "biểu tình". Ðịa điểm quen thuộc họ nhắm đến để tụ tập là nơi công cộng, cổng các cơ quan nhà nước và đại sứ quán, chủ yếu để tạo "tiếng vang", được đại diện nước ngoài chú ý, được báo chí nước ngoài đưa tin, ảnh lên internet thay cho chứng từ thanh toán "tiền công"...

Khi bị ngăn chặn, họ tổ chức "biểu tình du kích" bằng cách một vài người tìm đến nơi khuất nẻo, giơ khẩu hiệu chụp vội bức ảnh, rồi khuếch đại thành hàng trăm người để báo cáo với ai đó ở nước ngoài. Thảm hại hơn, họ công bố cả ảnh cũ về biểu tình vừa lừa bịp người xem, vừa có cơ sở quyết toán dự án đã ký kết. Tranh giành "miếng bánh biểu tình", mấy "nhà dân chủ, người yêu nước" không e ngại tố cáo, vạch mặt lẫn nhau. Như sắp đến kỷ niệm Ngày giải phóng miền nam 30-4, Quốc tế Lao động 1-5 vừa qua, trang facebook của "Trung Lĩnh Nguyễn" đăng "lời kêu gọi biểu tình phản đối Trung Quốc" vào chủ nhật 2-5-2018. Lập tức "nhà dân chủ, người yêu nước" Lã Việt Dũng, Mai Phương Thảo lên tiếng cho rằng kêu gọi của "Trung Lĩnh Nguyễn" chỉ có tính cá nhân, và tranh cãi quyết liệt đã nổ ra. Rốt cuộc, như nhận được lời chỉ bảo từ các "nhà dân chủ, người yêu nước" khác, "Trung Lĩnh Nguyễn" phải rút lời kêu gọi. Vậy là một cuộc "tổng biểu tình" đã bị đoản mệnh từ trong trứng nước, còn "Trung Lĩnh Nguyễn" thì bị đồng bọn quy tội muốn đánh bóng tên tuổi, muốn một mình nuốt trọn các khoản tài trợ từ nước ngoài.

Chưa kể, dù luôn tự nhận có lòng yêu nước hơn người khác, nhưng hầu như các "nhà dân chủ, người yêu nước" lại thờ ơ với những khó khăn của đất nước, thờ ơ với cuộc sống còn vất vả của đồng bào ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn. Khó có thể nói là có liêm sỉ khi vào những ngày cuối tháng 8 đầu tháng 9, trong khi nhiều vùng trên cả nước gặp thiên tai nặng nề, hàng nghìn đồng bào mất hết nhà cửa và tài sản, cơ sở hạ tầng ở nhiều nơi bị tàn phá, rất nhiều người chết và bị thương, hàng nghìn héc-ta lúa chín có nguy cơ mất trắng,… và toàn dân đang nỗ lực cứu giúp đồng bào ở các vùng gặp thiên tai, thì họ vẫn thản nhiên hô hào đi biểu tình. Sự thiếu nhân tính này giúp giải thích vì sao khi được kêu gọi đi "biểu tình nhân danh lòng yêu nước", nhiều người đã phẫn nộ, bày tỏ sự khinh bỉ với những kẻ vô lương tâm, chỉ vì toan tính cá nhân mà chà đạp lên lẽ sống của cộng đồng.

Trò hề của mấy "nhà dân chủ, người yêu nước" đã không thoát khỏi con mắt tinh tường của nhân dân, và với thực tế cả nước vừa phấn khởi tưng bừng đón Tết Ðộc lập vừa góp công sức giúp đỡ đồng bào gặp khó khăn đã khiến lời nói, việc làm của "nhà dân chủ, người yêu nước" càng thêm lạc lõng, lố bịch. Trước thực tế thảm hại đó, trên một trang mạng chống cộng khét tiếng ở nước ngoài, một kẻ vào ngày 2-9 chỉ hong hóng ngồi chờ "tin thắng trận từ biểu tình" mà bặt vô âm tín đã phải chua chát thốt lên: "Có lẽ tôi ước mong nhiều lắm chăng? Có thể vì hy vọng của tôi cao lắm chăng? Và chính những điều đó đã làm cho tôi hụt hẫng trong tâm trạng đầy chán nản"!

Mới đây, trong vi-đê-ô clíp mang tựa đề "Có hay không tổng biểu tình 2-9…" đăng trên trang Nửa vòng trái đất của Derek Phạm (Ðê-rếch Phạm) - người Mỹ gốc Việt Nam, sau khi theo dõi các phương tiện truyền thông, kiểm chứng từ rất nhiều nguồn, người làm vi-đê-ô clíp thông báo hầu như không có cuộc biểu tình nào diễn ra, đã bổ sung: "Chỉ một sự kiện có nhiều người tập trung với số lượng rất lớn ngay tại Hà Nội kéo dài từ sân bay Nội Bài cho đến sân vận động Mỹ Ðình để đón đội tuyển Olympic Việt Nam từ Indonesia trở về đúng ngày 2-9. Tại TP Hồ Chí Minh cũng có một sự kiện rất nhiều người tụ tập là đến trung tâm quận 1 theo dõi màn bắn pháo hoa". Ðó là sự thật mà mấy "nhà dân chủ, người yêu nước" cần nhìn thẳng vào đó để nhận diện chính mình.

 

Không chỉ với Việt Nam, mà với quốc gia nào cũng vậy, mọi hành vi phá hoại sự đoàn kết, thống nhất của dân tộc, lật đổ chế độ,… đều bị pháp luật trừng trị. Vì thế, việc vừa qua Tòa án nhân dân ở Việt Nam tổ chức các phiên tòa xét xử những đối tượng hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, gây rối trật tự công cộng với những bản án nghiêm khắc, đã nhận được sự đồng thuận cao của nhân dân. Bởi dẫu thế nào thì kẻ xấu cũng không bao giờ có thể lợi dụng lòng yêu nước chân chính của nhân dân để thực hiện mưu đồ phản nước, hại dân.