Thứ Năm, 15 tháng 9, 2022

Người lãnh đạo và bài học tu dưỡng, tránh cám dỗ

 

Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: “Một người lo bằng kho người làm”, triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi “nhà dột từ nóc”.

Lại có câu ca dao: “Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào” là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải “lo” đường lối chiến lược, hoạch định chính sách… mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng.

Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại “nhúng chàm” để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành “tấm gương mờ” để người đời bêu riếu… “Tài” và “đức” là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có “tài” nhưng còn thiếu “đức”. Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(1). Những “tấm gương mờ” kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không “gánh được nặng” và chẳng “đi được xa”.

Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là “cần, kiệm, liêm, chính”. Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài “Cán bộ và đời sống mới” giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự “thực hành”: “Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay!

Một phẩm chất hàng đầu của người lãnh đạo là uy tín. Tham ô, đục khoét tức “vô liêm”, không trong sạch thì làm sao “được lòng dân”. Người xưa rất coi trọng chữ “liêm”. Cụ Khổng Tử mỉa mai: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử trăn trở: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”. Bác Hồ kế thừa các tinh hoa tư tưởng ấy và minh họa một trường hợp cụ thể. Trong “Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp”, Người có nói về “tấm gương” của Napoléon “đại tài nhưng tham lam”, từ một anh lính làm đến tổng tư lệnh rồi hoàng đế, vẫn chưa thấy đủ, ông còn muốn làm chúa cả thế giới: “Nếu ông Napoléon mà biết dè dặt, không tham muốn quá chừng, thì chắc nước Pháp lúc đó không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người, hại của. Mà ông Napoléon cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở Âu châu. Nhưng ông Napoléon đã làm con giời lại muốn làm cả giời, kết quả bị rơi xuống đất… Xưa nay đã nhiều người vì không “tri túc” (chừng mực) mà thất bại”(3). Là người có tài, lại ở vị trí lãnh đạo cao nhất nhưng “kết quả bị rơi xuống đất”, theo Bác Hồ có 3 lý do là “tham lam”, “không khiêm tốn”, “không biết lượng sức mình”. Vì thế mà ông ta mắc bệnh cuồng vọng “đã làm con giời lại muốn làm cả giời”. Hậu quả do người lãnh đạo gây ra, không chỉ mình người đó mà còn cả cộng đồng phải gánh chịu, có khi rất nặng nề.

Soi vào một vài trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp cao vừa rồi bị kỷ luật, không thể so sánh về tài năng, nhưng về nguyên nhân và “kết quả” thì thấy họ cũng gần giống như Napoléon vậy!  

Phật giáo coi tính “tham” là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến “bể khổ”. Khổng Tử coi sự “tham lợi” chỉ có ở kẻ “tiểu nhân”. Bác Hồ dạy cán bộ phải biết: “Ít lòng tham muốn về vật chất”! Mọi cán bộ đều phải thế, cán bộ lãnh đạo càng phải thế!

Về giải pháp ngăn chặn, căn cứ vào tư tưởng biện chứng của Lenin từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, đối chiếu với quan niệm về đặc trưng tâm lý người lãnh đạo mới nhất của thế giới hiện nay, thì lời Bác Hồ dạy vẫn là bài học đúng đắn, thiết thực. Cụ thể nhất là lấy gương người tốt-việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau. Đây là một truyền thống văn hóa phương Đông mà chính Bác Hồ giải thích: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Ở phương Tây, một số vị tổng thống khi nhậm chức thường đặt tay lên cuốn Kinh Thánh là một cách “hứa” sẽ làm theo những lời dạy mẫu mực, tức cũng coi đó là tấm gương. Vấn đề ở chỗ “làm gương” như thế nào, bằng cách nào?

Ở ngay lĩnh vực giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác Hồ đã là nhà giáo dục lớn với tư tưởng và các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp. Theo Người, lấy những tấm gương “đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác… Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ”(4). Hình tượng ẩn dụ “cây” Đảng ta tươi tốt là nhờ “gốc rễ” được “thấm nhuần” máu xương của các bậc tiền bối thật giàu ý nghĩa biểu cảm này được Người nhiều lần nhắc lại. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy đã hy sinh trọn vẹn, tuyệt đối cho dân tộc, xứng đáng là tấm gương cho mọi thế hệ kế tục học tập, noi theo.

Bác Hồ từng nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong “Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ năm 1963”, Người nhắc nhở: “Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(5). Không chỉ là lời dạy về nội dung, còn là vấn đề phương pháp luận: Phải lấy tấm gương sáng nhất, cụ thể mà gần gũi để giáo dục. Thời điểm ấy, với các bộ trưởng, thứ trưởng… thì có tấm gương nào “sáng” hơn “đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng”.

Một số cán bộ lãnh đạo mắc khuyết điểm vừa qua có nguyên nhân là phai mờ lý tưởng cộng sản, nhạt phai tinh thần tự nguyện cống hiến, hy sinh vì cách mạng, vì dân nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đúng như Bác nói, họ “coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài”(6). Xa dân nên thành “quan cách”, không đoái hoài đến đời sống của dân, không chỉ không “cần kiệm” mà còn xa hoa, lãng phí. Do vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ cấp cao cần hết sức chặt chẽ. Nhất thiết cán bộ đó phải kinh qua những cương vị lãnh đạo gần với dân, hiểu dân. Bởi có vậy họ mới thấm thía “một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào” nên có ý thức chi tiêu, sử dụng bất cứ cái gì cũng phải nghĩ đó là của dân. Chỉ khi nghĩ được như lời Bác dạy “hoang phí là một tội ác” thì mới biết trân trọng, giữ gìn tài sản của dân và danh dự của mình.

Những vụ việc ấy cho thấy bài học là còn nhiều cơ quan, tổ chức đảng coi nhẹ công tác tự phê bình và phê bình. Điều ấy có lý do từ căn tính tiểu nông cả nể đã ngàn xưa, với cán bộ chủ chốt thì sự cả nể càng tăng lên nhiều. Lại thêm tâm lý “chín bỏ làm mười”, “xuê xoa”, “an phận thủ thường”, “đấu tranh là… tránh đâu”… nên lãnh đạo mắc khuyết điểm ngày thêm nặng mà không được góp ý, chỉ ra, ngăn chặn.

Rất nhiều lần Bác Hồ nhắc cán bộ phải “gương mẫu”, “nêu gương”, phải là “đầu tàu”… Không ít lần, Người mượn lời Khổng Tử dạy cán bộ mình có đứng đắn, trong sáng mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ… Những lời dạy ấy không chỉ đúng với đạo lý mà còn là khoa học, biện chứng. Để có uy tín, để là tấm gương sáng, với người lãnh đạo-theo lời Bác dạy là phải “thực hành trước” các nguyên tắc “Cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công”, “vô tư” . Một phương pháp sư phạm đã trở thành chân lý: Cách tốt nhất để giáo dục, thuyết phục người khác là giáo dục, thuyết phục bằng chính nhân cách mình!

Lối sống ích kỉ là ngọn nguồn của suy thoái về tư tưởng,chính trị, đạo đức, lối sống

Bác Hồ nói: Họ mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết. Họ không lo “mình vì mọi người”… Do cá nhân chủ nghĩa mà ngại gian khổ, khó khăn, sa vào tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa. Họ tham danh trục lợi, thích địa vị quyền hành…''Đó là lời phê phán đồng thời cũng là những lời dặn dò, cảnh tỉnh của Bác đến nay vẫn còn nguyên giá trị hàm chứa tính lý luận - thực tiễn sâu sắc. Trong quá trình bảo vệ và xây dựng đất nước Đảng và dân ta đã có nhiều những thành tựu to lớn giúp phát triển đất nước, giúp đời sống nhân dân ngày càng tốt hơn. Ta có thể nhắc đến một số những thành tựu như sau : Thứ nhất trong suốt 35 năm qua, kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng khá ấn tượng. Đổi mới kinh tế và chính trị từ năm 1986 đã thúc đẩy phát triển kinh tế, nhanh chóng đưa Việt Nam từ một trong những quốc gia nghèo nhất trên thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình thấp. Nếu như trong giai đoạn đầu đổi mới (1986-1990) mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm chỉ đạt 4,4%[1], thì giai đoạn 1991-1995 GDP bình quân đã tăng gấp đôi, đạt 8,2%/năm[2]; các giai đoạn sau đó đều có mức tăng trưởng khá cao; giai đoạn 2016-2019 đạt mức bình quân 6,8%[3]. Liên tiếp trong 4 năm, từ năm 2016 - 2019, Việt Nam đứng trong top 10 nước tăng trưởng cao nhất thế giới. Thứ hai: tỉ lệ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% xuống còn dưới 6% .GDP đầu người tăng 2,7 lần, đạt trên 2.700 USD năm 2019, với hơn 45 triệu người thoát nghèo. Thứ ba: Việt Nam hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng trên nhiều cấp độ, đa dạng về hình thức, theo nguyên tắc và chuẩn mực của thị trường toàn cầu. Việt Nam đã gia nhập WTO, thiết lập được 30 đối tác chiến lược và đối tác chiến lược toàn diện; có quan hệ ngoại giao, kinh tế với 190/200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đặc biệt, WTO cùng với hơn hơn 500 hiệp định song phương và đa phương trên nhiều lĩnh vực mà Việt Nam tham gia, là những cánh cửa lớn, đa chiều để Việt Nam định hướng hoàn thiện khung khổ thể chế phát triển kinh tế thị trường và tự tin hội nhập ngày càng đầy đủ, hiệu quả hơn. Đặc biệt trong giai đoạn phòng chống đại dịch covid 19 Đặc biệt trong giai đoạn phòng chống đại dịch covid 19 Đảng nhà nước ta đã làm tốt trong công tác dự báo, khoanh vùng, xét nghiêm, chữu trị cho người dân. Tích cưc, nỗ lực liên hệ với các tổ chức y tế thế giới mua vacxin tiêm chủng cho người dân. Nhờ đó đã giúp cho đất nước giảm thiểu tối đa những ảnh hưởng của dịch bệnh đến kinh tế, xã hội. Tuy nhiên ngoài những thành tựu mà Đảng nhà nước và nhân dân ta đã đạt được thì còn đó những cá nhân có những biểu hiện, những hành động vi phạm thể hiện sự suy thoái về tư tưởng đạo đức chính trị lối sống gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của Đảng ta đối với nhân dân, ảnh hưởng trực tiếp đến kinh tế, xã hội của đất nước trong giai đoạn khó khăn nhất. Có thể kể đến vụ Việt Á, việc nâng giá kit xét nghiệm của Công ty Cổ phần Công nghệ Việt Á (Công ty Việt Á) cho thấy sự sa ngã, trục lợi chính sách của những cán bộ lãnh đạo cấp cao giữa đại dịch COVID-19, đã để lại những hậu quả khôn lường. Ăn hối lộ vụ chuyến bay giải cứu (16 cán bộ dính tràm ) gây ảnh hưởng nặng nề đến uy tín của đảng với nhân dân gây mất lòng tin của nhân dân với đảng đặc biệt trong giai đoạn địch bệnh khó khăn nhất đối với nhân dân, với những người Việt Nam xa xứ muốn về nước. Không lời giải nào xác thực hơn nữa! Đây là một biểu hiện cụ thể của sự suy thoái cả về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, chứ không chỉ riêng đạo đức, lối sống. Một sự tương tác vô cùng nguy hại của cả “mệnh đề” này, một hiện tượng xã hội của lối sống ích kỷ xấu xa, phi nhân tính.Góp phần làm trong sạch môi trường xã hội với những vụ việc của sự suy thoái đặc biệt nghiêm trọng về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống trong xã hội ta nói chung và đội ngũ cán bộ, đảng viên nói riêng, không cách nào khác, phải tuân thủ thực hiện thực sự hiệu quả ba giải pháp cơ bản mà Nghị quyết Trung ương 4, khóa XIII của Đảng xác định. Trước mắt, cần phát động rộng rãi hơn nữa phong trào nêu gương “Người tốt việc tốt” với hình thức phong phú, đa dạng, sát thực tiễn, mang tính thuyết phục cao đi vào lòng người. Khẳng định lối sống tốt đẹp của Nhân dân ta, dân tộc ta, là xu hướng tích cực trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời với công cụ và hệ thống phương tiện truyền thông, dẫn dắt,... phải tạo dư luận xã hội lên án mạnh mẽ lối sống ích kỷ đầy nguy hại này.

Quyền tự do hội họp, lập hội ở ViệtNam luôn được tôn trọng và bảo đảm

 

Một trong những vấn đề mà các thế lực thù địch, phản động thường xuyên lợi dụng nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam thời gian qua là quyền tự do hội họp, lập hội. Các thế lực thù địch, phản động cho rằng ở Việt Nam quyền tự do hội họp, lập hội không được tôn trọng và bảo đảm, còn nhiều người bị phạt tù do thực hiện quyền tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác…

Theo cách nói của các tổ chức, cá nhân thù địch, phản động thì quyền tự do hội họp, lập hội là thứ “tự do tuyệt đối” và vì thế lợi dụng thực hiện quyền tự do hội họp, lập hội họ cố tình tìm cách gieo rắc vào trong nhân dân tư tưởng “tự do hội họp, lập hội tuyệt đối”, đòi “tự do vô hạn độ” không trong khuôn khổ pháp luật. Đây là một sự suy diễn vô lối, một đòi hỏi vô lý và rất nguy hiểm mà chúng ta cần cảnh giác đấu tranh bác bỏ.

Chúng ta đều biết tự do hội họp, lập hội là một trong những quyền cơ bản của con người, được ghi nhận trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948. Điều 20 của Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948 khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình”. Tại Công ước châu Âu về nhân quyền năm 1950 (Điều 11) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (Điều 21), quyền tự do hội họp và lập hội tiếp tục được khẳng định. Tuy nhiên, đây không phải là quyền tự do tuyệt đối, tự do vô hạn độ, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 khẳng định, quyền tự do hội họp và lập hội được giới hạn khi cần thiết vì lý do an ninh quốc gia, trật tự xã hội, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ quyền và tự do của người khác (Điều 21); không ai được phép lợi dụng quyền tự do hội họp, tự do lập hội để tuyên truyền cho chiến tranh, hằn thù dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, kích động phân biệt đối xử, tạo thù địch, bạo lực (Điều 20)…

Trên cơ sở luật pháp quốc tế, pháp luật các quốc gia đều khẳng định, tự do hội họp là quyền có thể bị giới hạn trong những trường hợp nhất định nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của công dân.

Tại Việt Nam, Điều 25 Hiến pháp năm 2013 quy định công dân có quyền tự do hội họp, lập hội… Ngoài ra, quyền tự do hội họp, lập hội của người dân còn được quy định cụ thể tại Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật Dân sự và nhiều văn bản pháp luật khác. Cùng với việc hiến định trong Hiến pháp, Chính phủ Việt Nam cũng ban hành một số Chỉ thị liên quan đến hiệp hội như Chỉ thị 01-CT/HĐBT năm 1989 về quản lý tổ chức và hoạt động của các Hội quần chúng; Chỉ thị 202-CT/HĐBT năm 1990 về chấp hành các quy định của Nhà nước về lập hội… Các văn bản luật quy định về quyền tự do hội họp, lập hội của người dân ở Việt Nam đều tương thích với luật quốc tế và tình hình cụ thể của đất nước.

Việt Nam hiện có hàng nghìn hội, đại diện cho ý chí, lợi ích, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, trong đó có các tổ chức và hiệp hội của thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân, người cao tuổi, người khuyết tật…; các hội từ thiện, các tổ chức khoa học, nghề nghiệp, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức phi chính phủ đã đăng ký hoạt động.

Ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, ở Việt Nam còn có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể bao gồm Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội cựu Chiến binh Việt Nam…, hàng trăm tổ chức nhân dân bao gồm các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp hoạt động trên phạm vi toàn quốc với hàng chục triệu hội viên.

Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đảng Cộng sản Việt Nam – Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc…” ; “…là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và Xã hội”. Đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật quy định. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức đại diện và hiệp thương ý kiến của tất cả các đoàn thể và tổ chức nhân dân trong lĩnh vực chính trị, xã hội và các tổ chức nghề nghiệp, tôn giáo, dân tộc với đại diện của tất cả 54 dân tộc anh em.

Ngoài hàng chục tổ chức công đoàn cấp quốc gia, ở Việt Nam còn có hàng nghìn tổ chức công đoàn ở cơ sở địa phương. Thực tế cho thấy các tổ chức này đã tham gia tích cực vào việc xây dựng chính sách lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua các văn bản hướng dẫn và hợp đồng lao động, đồng thời đóng vai trò đại diện cho người lao động trong thương lượng, ký kết các thỏa ước lao động tập thể… Bên cạnh các tổ chức của thanh niên, phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh…ở Việt Nam còn có hàng nghìn hiệp hội, câu lạc bộ… hoạt động trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó chủ yếu là từ thiện và cứu trợ nhân đạo.

Các tổ chức và hiệp hội hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, tự quản, độc lập và tuân thủ pháp luật. Chính phủ chỉ trợ giúp tài chính nếu các chương trình, dự án và hoạt động phù hợp với chính sách phát triển kinh tế – xã hội và lợi ích chung của cộng đồng. Các cơ sở của tổ chức xã hội và cơ sở của tổ chức xã hội nghề nghiệp ở Việt Nam cũng tăng nhanh. Sự phát triển mạnh của các loại cơ sở này chứng tỏ nhu cầu thành lập hiệp hội của người dân tăng nhanh, quyền tự do thành lập và tham gia các tổ chức, hiệp hội của người dân được tôn trọng và bảo đảm. Như vậy, trên cơ sở luật pháp quốc tế luật pháp các quốc gia trên thế giới cũng như luật pháp Việt Nam công nhận quyền tự do hội họp, tự do lập hội của người dân nhưng đó không phải là “tự do vô hạn”, mà phải trong khuôn khổ pháp luật, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc và lợi ích của nhân dân. Đó là một thực tế khách quan không thể bác bỏ! Những luận điệu tuyên truyền, gieo rắc tư tưởng tự do hội họp, tự do lập hội vô hạn độ thực chất chỉ là trò xuyên tạc, bịp bợm nhằm thực hiện mưu đồ đen tối hòng gây mất ổn định chính trị, ngăn cản sự phát triển bền vững của Việt Nam.   

Lại diễn kịch bôi lem chính sách đặc xá

 

Nhân dịp Quốc khánh 2/9 vừa qua, Chủ tịch nước quyết định đặc xá cho 2.434 phạm nhân. Điều này tiếp tục khẳng định chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và truyền thống nhân văn, nhân đạo của dân tộc Việt Nam. Vậy nhưng với ý đồ chống phá, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc vấn đề này.

Để “kêu oan”, “khóc mướn” cho số đối tượng có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia đang chấp hành án phạt tù, các thế lực thù địch dựng nên màn kịch hết sức lố bịch. Họ rêu rao rằng: “Tù chính trị bị phân biệt đối xử trong đặc xá”; vu cáo, xuyên tạc “Việt Nam đang giam giữ hàng trăm tù nhân lương tâm”; “Việt Nam từ chối thả tù nhân chính trị”, dựng chuyện một số “tù nhân chính trị” tuyệt thực… Từ đó họ vu cáo, ở Việt Nam, “tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm” bị phân biệt đối xử, không có cơ hội được đặc xá, giảm án! Đây là những luận điệu xuyên tạc, sai trái mà các thế lực thù địch, phản động lặp đi lặp lại nhiều lần khi Việt Nam tiến hành đặc xá.

Lâu nay, các thế lực xấu vẫn dùng đi dùng lại cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị” để chống phá Việt Nam. Họ cố tình lắp ghép, pha trộn ngôn từ một cách gượng gạo, dùng từ ngữ thuộc phạm trù đạo đức để ghép vào thuật ngữ pháp lý: “tù nhân” gắn với “lương tâm”! Đây là cách tư duy ngụy tạo không khác gì một màn kịch với đạo diễn là các thế lực thù địch, tổ chức, hội nhóm phản động và các diễn viên là “tù nhân lương tâm”.

Thực tế cho thấy, trong nền tư pháp Việt Nam không có thuật ngữ “tù nhân lương tâm”. Cái gọi là “tù nhân lương tâm” chỉ là một chiêu trò nhằm cổ súy các đối tượng chống phá, xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta Ở Việt Nam hoàn toàn không có cái gọi là “tù nhân lương tâm” mà chỉ có những đối tượng phạm tội bị xét xử theo tội danh quy định trong Bộ luật Hình sự. Không có khái niệm công dân bị xét xử vì “lương tâm”. Việc giam giữ, điều tra, truy tố, xét xử, kết án đối với những đối tượng phạm tội được các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện theo đúng quy định của pháp luật với tội danh, điều khoản rõ ràng.

Việc đặc xá hằng năm đã khuyến khích phạm nhân học tập, rèn luyện, lao động, phấn đấu cải tạo tốt để sớm được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, trở về đoàn tụ với gia đình và hòa nhập cộng đồng. Quyết định đặc xá năm nay của Chủ tịch nước tiếp tục phản ánh rõ sự ưu tiên, bảo đảm, thúc đẩy quyền con người của Đảng và Nhà nước Việt Nam, mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, mở ra cơ hội mới đối với những người đã từng lầm lỡ, lạc đường nay đã ăn năn hối cải và có kết quả cải tạo tốt. Những phạm nhân có quốc tịch nước ngoài cũng được đối xử bình đẳng như các phạm nhân có quốc tịch Việt Nam trong đợt đặc xá lần này nếu đủ điều kiện.

Quyết định cũng quy định rõ 15 trường hợp không được đề nghị đặc xá trong đợt này. Trong đó, những người phạm tội giết người có tổ chức, tính chất côn đồ, thực hiện tội phạm một cách man rợ, hiếp dâm trẻ em, mua bán người dưới 16 tuổi, cướp tài sản có hung khí, cướp giật tài sản gây hậu quả nghiêm trọng… thì không được xét đặc xá. Đồng thời, không xét đặc xá với những người bị kết án phạt tù về tội phản bội Tổ quốc; tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; tội gián điệp; tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; tội bạo loạn; tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân; tội phá hoại cơ sở vật chất – kỹ thuật của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam; tội phá rối an ninh; tội chống phá cơ sở giam giữ, tội khủng bố hoặc một trong các tội quy định tại chương các tội phá hoại hòa bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh của Bộ luật Hình sự. Những tội này đều có chung đặc điểm là chủ thể đều có mục đích chống lại Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, xâm phạm tới những quan hệ xã hội có tầm quan trọng đặc biệt, đó là mối quan hệ của công dân với Nhà nước, rộng hơn là Tổ quốc. Những người đang chấp hành án về các tội danh này không được xét đặc xá trong đợt Quốc khánh 2/9 vừa qua, quy định này được thể hiện cụ thể, rõ ràng chứ không có gì mập mờ và không thể đánh tráo những phạm nhân chấp hành án về tội danh xâm phạm an ninh quốc gia sang khái niệm “tù nhân lương tâm”!

Bên cạnh đó, nhân quyền là vấn đề có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo góc độ tiếp cận, quan điểm chính trị, lợi ích giai cấp. Bởi vậy, quan niệm về vấn đề này không có sự thống nhất giữa các quốc gia. Tôn trọng, bảo đảm, phát huy, thúc đẩy quyền con người không phải để quyền đó ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của quốc gia, cá nhân, tổ chức.

Quyền con người không phải là quyền tự do cá nhân tuyệt đối, càng không thể nhân danh quyền con người để chống lại nhà nước, chống lại xã hội, chống lại lợi ích quốc gia – dân tộc.

Thực tế, không quốc gia nào có thể đưa ra những quy định dung dưỡng phần tử chống đối, những người tìm mọi cách lật đổ thể chế chính trị ở quốc gia đó. Ngược lại, mọi hành vi chống chính quyền, lật đổ chính quyền, phản bội Tổ quốc, gây hại cho quốc gia, dân tộc, xâm phạm tới lợi ích của nhân dân thì các nước trên thế giới đều xử lý nghiêm minh nhằm đảm bảo lợi ích quốc gia đó, đảm bảo sự phát triển chung.

Quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam là không ngừng mở rộng dân chủ XHCN, bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền con người. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung phát triển năm 2011) đã chỉ rõ việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Điều 14, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”.

Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng nêu rõ: “Phát huy tối đa nhân tố con người, coi con người là trung tâm, chủ thể, nguồn lực quan trọng nhất và mục tiêu của sự phát triển; lấy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm phát triển bền vững; phải có cơ chế, chính sách phát huy tinh thần cống hiến vì đất nước; mọi chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải hướng vào nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của nhân dân”; “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có sức khỏe, năng lực, trình độ, có ý thức, trách nhiệm cao đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc”…

Đức trị và pháp trị thể hiện rõ nét trong quản lý xã hội của Nhà nước Việt Nam. Để thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân, chúng ta đã xây dựng, hoàn thiện hệ thống luật pháp, thể hiện quyền làm chủ của nhân dân và thể chế hóa thành các quy định mang tính pháp quyền thành nguyên tắc tổ chức và vận hành của Nhà nước cũng như các thiết chế chính trị khác, tạo nên chế độ dân chủ.

Đạo đức và pháp luật gắn kết chặt chẽ với nhau. Nhóm tội xâm phạm an ninh quốc gia không chỉ vi phạm pháp luật nghiêm trọng mà còn vi phạm chuẩn mực đạo đức, đó là lòng trung thành của công dân đối với Tổ quốc, vấn đề đã được nêu rõ tại Điều 44, Hiến pháp  2013: “Công dân có nghĩa vụ trung thành với Tổ quốc. Phản bội Tổ quốc là tội nặng nhất”.

Thực tế, Nhà nước ta đã từng tha tù trước thời hạn cho một số đối tượng phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia nhưng sau khi bước ra khỏi nhà tù thì đã có những đối tượng “trở mặt”, không lấy sự khoan hồng đó để ăn năn, hối cải, làm những việc có ích cho cộng đồng xã hội mà lại tiếp tục nuôi dưỡng tư tưởng thù địch, tỏ thái độ và hành động chống phá quyết liệt hơn. Thật khó chấp nhận những kẻ không biết hoàn lương, luôn tìm mọi cách phủ nhận, chống phá, phản bội Tổ quốc, chà đạp lên lợi ích quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, dù không được xét đặc xá trong đợt này song những người phạm các tội danh nói trên, nếu quá trình cải tạo, chấp hành tốt thì cũng sẽ được giảm án theo quy định của pháp luật chứ không phải là phân biệt, “bịt” lối về!

Việc xem xét đề nghị đặc xá cho phạm nhân được tiến hành theo quy trình hết sức chặt chẽ, công khai, dân chủ, khách quan. Hồ sơ đề nghị đặc xá được kiểm tra, thẩm định ở nhiều cấp,với sự tham gia của ban ngành chức năng, đặc biệt là sự giám sát của Viện Kiểm sát cũng như của các tổ chức, nhân dân, tránh việc sót lọt và tiêu cực. Bên cạnh đó, xem xét đặc xá cho những người quốc tịch nước ngoài trên cơ sở công bằng, minh bạch cũng giúp cộng đồng quốc tế hiểu rõ hơn về chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam.

Thực tiễn đó chứng minh rõ, hoàn toàn không có khái niệm “tù nhân lương tâm” hay “ngược đãi tù nhân lương tâm”, xuyên tạc, bôi lem chính sách đặc xá như một số luận điệu rêu rao.

Học Bác, hỏi dân – phòng, chống tham nhũng, tiêu cực nhất định thành công

 

Tham nhũng – kẻ giấu mình cần vạch mặt, chỉ tên

Muốn xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội cần phải có con người mới xã hội chủ nghĩa. Muốn phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải đồng thời làm nhiều việc, trong đó đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực có vị trí đặc biệt quan trọng. Đây là một trong những nội dung cơ bản của xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh.

Sinh thời, Bác Hồ dạy: “Muốn xây dựng một xã hội mới và tốt đẹp, thì cần phải diệt những thói hư, tật xấu của xã hội cũ còn sót lại”[1]. Bác cho rằng thực dân và phong kiến tuy bị tiêu diệt nhưng “cái nọc xấu” của nó là tham ô, lãng phí, quan liêu vẫn còn thì nhiệm vụ của cách mạng vẫn chưa thành công, bởi vì “cái nọc xấu” của việt gian, phản động ngấm ngầm ngăn cản, phá hoại cách mạng, làm hư hỏng những cán bộ, đảng viên kém rèn luyện, tu dưỡng. Tham nhũng là “giặc nội xâm” rất nguy hiểm, phải ra sức tiêu diệt nó; Đảng, Nhà nước phải coi nhiệm vụ này là “đánh giặc trên mặt trận”.

 Theo Bác, tham ô “là ăn cắp của công làm của tư; đục khoét của nhân dân; ăn bớt của nhân dân”[2], “là hành động xấu xa nhất, tội lỗi, đê tiện nhất trong xã hội”[3]Bác khẳng định tham ô, lãng phí, quan liêu là kẻ thù “giấu mặt”, “không mang gươm mang súng” nhưng nó lại nằm ngay trong tổ chức, len lỏi trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, núp dưới danh nghĩa “đồng chí, đồng đội” nhưng lại âm mưu hại ta bằng cách ngấm ngầm chống phá, cản trở chúng ta thực hiện nhiệm vụ từ bên trong, làm hỏng công việc cách mạng.

Vì vậy, để xứng đáng là “công bộc của dân”, là “người đầy tớ trung thành cho lợi ích của nhân dân và toàn thể dân tộc”, người cán bộ, đảng viên phải ra sức tu dưỡng, rèn luyện, phấn đấu.

Phòng tránh tham nhũng, bảo vệ mình “từ sớm, từ xa”

(1) Tránh xa tệ nạn tham ô, lãng phí, quan liêu; đồng thời, phải xung kích đi đầu trong công tác giáo dục, nâng cao nhận thức, trách nhiệm về vấn đề này. Bác cho rằng trong đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu phải kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục với trừng phạt; trong đó, lấy giáo dục là chính, còn trừng phạt là phụ. Bởi vì, giáo dục không phải là nói suông, nói cho hay, nói lấy được mà là công tác đào tạo, bồi dưỡng đạo đức cách mạng, cần cho cách mạng, hối thúc cách mạng tiến lên. Muốn công tác này đạt hiệu quả, đem lại niềm tin, sự thuyết phục phải lấy sự ngay thẳng, trong sáng của cán bộ, đảng viên làm gương và Đảng, Nhà nước nhất thiết phải thực hiện nghiêm minh việc thưởng – phạt; phải hỏi ý kiến nhân dân vì nhân dân biết rõ sẽ bày cho cách chống tham nhũng hiệu quả. Theo Bác, ở đâu và bao giờ, việc thưởng – phạt thực hiện nghiêm minh và nhân dân vào cuộc chống tham ô, lãng phí, thì khi ấy và ở đó, chống tham ô, lãng phí thành công, nhân dân phấn khởi, yên ổn làm ăn, an cư, lạc nghiệp, niềm tin của họ vào cán bộ, đảng viên mới có chỗ đứng, mới thật sự có sức nặng thuyết phục, và do đó, kháng chiến mới thắng lợi, kiến quốc mới thành công; ngược lại, ở đâu coi thường dân, việc thưởng – phát không nghiêm, thì cách mạng sẽ gặp nhiều khó khăn, thách thức.

Để thông nhất tư tưởng và hành động, Bác và Chính phủ đã đề ra 10 điểm thưởng, 10 điểm phạt và nói rõ rằng “Ai làm công việc một cách trong sạch, ngay thẳng, sẽ được thưởng”, ai “trộm cắp của công sẽ bị xử tử”[4]. Đó là điều giải thích tại sao vào năm 1950, giữa lúc cách mạng đang vào thời “nước sôi, lửa bỏng”, Bác vẫn dành thời gian chỉ đạo quyết liệt công tác phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu vì muốn từng viên thuốc, từng bát gạo phải đến tay chiến sĩ để họ ăn no đánh giặc. Đồng thời, Bác và Chính phủ kiên quyết chỉ đạo việc xét xử các vụ án tham ô, lãng phí, quan liêu. Bác đã không chấp nhận đơn xin giảm án tử hình của một cán bộ cao cấp phạm tội tham ô (vụ án Trần Dụ Châu) dù rất buồn đau.

(2) Tham ô, lãng phí, quan liêu là “căn bệnh hiểm nghèo” nhưng không phải là vô phương cứu chữa. Bác đã phân tích và gợi mở nhiều biện pháp hay, có lý có tình để “cứu người chạy lại”. Lời dạy của Bác đến nay vẫn còn nguyên giá trị cần vận dụng vào thực tiễn cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay. Điều đầu tiên cần suy ngẫm, nghiên cứu, học tập lời khuyên của Bác là: “đánh thông tư tưởng” sao cho “trên dưới đồng lòng”, ý Đảng – lòng dân là một khối thống nhất, làm cho công tác tư tưởng, giáo dục, thuyết phục đi trước một bước để cán bộ, đảng viên vi phạm khuyết điểm “sửa chữa những ý nghĩa sai lầm”, “khắc phục cho được những lo ngại không đúng”.

Thực tế chỉ ra rằng, trong một số hội nghị, cán bộ và đảng viên đều thể hiện rõ quyết tâm chống tham ô, lãng phí, tiêu cực nhưng khi tiến hành trên thực tế thì không ít cán bộ, đảng viên “băn khoăn, lo lắng, e sợ” vì họ cho rằng trong ba căn bệnh tham ô, lãng phí, quan liêu, khi kiểm điểm nhỡ may mắc phải một căn bệnh nào đó, dù là nhẹ nhưng không biết tổ chức sẽ xử trí mình như thế nào, nếu tự nhận hoặc tổ chức phát hiện thì tình cảnh “trên đe, dưới búa” sẽ diễn ra và như vậy thì rất xấu hổ, mất danh dự, có khi con đường phấn đấu “tụt dốc không phanh”, bỏ phí cơ hội. Cho nên, cán bộ, đảng viên thuộc diện này “có tật giật mình”, “lòng nặng trĩu như đeo đá”, tiến thoái lưỡng nan: Tiến lên thì sợ lòi ra cái đuôi cũ; nằm yên mọt chỗ thì bị Đảng phê phán, nhân dân la ó vì thiếu trách nhiệm, không có năng lực…

Thấu hiểu và chia sẻ, Bác đã gợi ý các tổ chức đảng phải công tâm, khách quan, xem xét khách quan, toàn diện, lịch sử, cụ thể, thực tiễn và phát triển; cá nhân cán bộ, đảng viên phải thật thà, thành khẩn, cầu tiến bộ, thực hiện nghiêm túc công tác phê bình, kiểm thảo để giúp nhau tiến bộ chứ không phải là mang nhau ra hội nghị đấu tố, cạo trọc đầu, làm cho nhau mất mặt, nao núng tinh thần, tụt nhuệ khí phấn đấu; làm như thế là mất cán bộ, có hại cho cách mạng.

Vì vậy, cần xem xét kỹ lưỡng công việc để đánh giá đúng sai rõ ràng, đúng việc, đúng người, đúng tội; công tác cán bộ, đánh giá con người cần phải hết sức thận trọng, không được làm đại khái, qua loa. Phải căn cứ vào nguyên nhân khách quan và chủ quan, kết quả, thành tích phấn đấu để tha thứ cho cán bộ, đảng viên vi phạm tham ô, lãng phí, quan liêu chưa đến mức phải xử phạt. Nếu có công với cách mạng nhưng khi làm việc có sai sót chút đỉnh thì cũng nên tha thứ cho họ, cần chú ý những cán bộ, đảng viên không nắm giữ quyền lực, quản lý kinh tế, tiền bạc nên họ không thể tham ô, lãng phí.

Nếu vì thiếu kiến thức, chưa có kinh nghiệm quản lý, vả lại họ tự nhận sai lầm, biết rõ trách nhiệm, thành thật kiểm thảo trước tổ chức và nhân dân thì căn cứ vào sự thành khẩn ấy mà xem xét cho khách quan, mở con đường cho họ sửa chữa khuyết điểm, sai lầm để tiến bộ, “lấy công chuộc tội”. Quan điểm này rất nhân văn, cần học Bác, vận dụng nó một cách linh hoạt, sáng tạo vào cuộc đấu tranh, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay.

(3) Cấp ủy, tổ chức đảng cần có biện pháp phù hợp, thật thấu tình, đạt lý để cán bộ, đảng viên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, tiếp tục học tập tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đặc biệt là thấm nhuần sâu sắc và học tập đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đây là thứ thuốc bổ dưỡng “mầu nhiệm” nhất để tăng sức đề kháng để tự bảo vệ mình, chống sự xâm nhập của mọi loại vi rút tham ô, lãng phí, quan liêu; giúp cán bộ, đảng viên “miễn dịch” không bị tham ô, lãng phí, quan liêu tấn công, “làm mờ mắt”, không để “chân bị nhúng chàm lại bước lên thảm đỏ”.

 Điều này có nghĩa là tự mình chiến thắng chính mình, tự mình vượt qua “nghịch cảnh”, mọi sự cám dỗ của đời thường; không bị mua chuộc bởi đồng tiền, vật chất,…Tức là tự mình phải gột rửa, loại bỏ mọi lăn tăn, vướng mắc trong đầu về thiệt hơn, được mất bởi sự ham muốn, tham vọng của chủ nghĩa cá nhân – căn bệnh nan y sinh ra mọi thói hư, tật xấu, lòng tham muốn danh lợi, địa vị, tiền tài cho cá nhân, gia đình mình đến bán rẻ lương tâm, danh dự, làm tay sai cho đồng tiền nhơ nhuốc; những kẻ bán nước, hại dân.

Vì vậy, Bác khẳng định “muốn đánh thắng kẻ địch bên ngoài thì trước hết phải đánh thắng kẻ địch bên trong là chủ nghĩa cá nhân”[5]; thực hành tự phê bình và phê bình một cách nghiêm túc, chân thành; phải luôn luôn đặt lợi ích của tập thể, của quốc gia – dân tộc lên trên hết và trước hết. Đây là biện pháp giúp cán bộ, đảng viên vững tin, luôn ngẩng cao đầu bước qua vòng danh lợi; từ bỏ được động cơ cá nhân, vụ lợi, thu vén, tư túi cho mình, cho người thân, vì “lợi ích nhóm”.

(4) Phòng, chống tham ô, lãng phí phải gắn chặt với phòng, chống quan liêu. Theo Bác, “bệnh quan liêu là nguồn gốc sinh ra lãng phí, tham ô... Ở đâu có bệnh quan liêu thì ở đó chắc có lãng phí, tham ô”. Bác chỉ rõ: “Quan liêu là do cán bộ xa rời thực tế, không điều tra, nghiên cứu đến nơi đến chốn những công việc cần phải làm, việc gì cũng nắm không vững, chỉ đạo một cách đại khái, chung chung. Quan liêu là xa rời quần chúng, không đi sâu đi sát, không hiểu rõ lai lịch, tư tưởng và công tác của cán bộ mình, quan hệ của họ với nhân dân. Không lắng nghe ý kiến của quần chúng…thiếu dân chủ, không giữ đúng nguyên tắc lãng đạo tập thể, phân công phụ trách”[6]. Chính vì thế, cán bộ “có mắt mà không thấy suốt, có tai mà không nghe thấu, có chế độ mà không giữ đúng có kỷ luật mà không nắm vững. Kết quả là người xấu, những cán bộ kém tha hồ tham ô, lãng phí…. Cho nên Bác kết luận: “Muốn trừ sạch tham ô, lãng phí, thì trước mắt phải tẩy sạch quan liêu”[7].

(5) Để thực hiện tốt lời căn dặn của Bác về đấu tranh phòng, chống tham ô, lãng phí, quan liêu cần có sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, quyết tâm của cán bộ, đảng viên và sự hăng hái tham gia của quần chúng nhân dân. Đây là những nhân tố có ý nghĩa quyết định sự thành công của công tác quan trọng này. Muốn vậy, cần tiếp tục mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân, Đảng, Nhà nước phải hỏi nhân dân, phải dựa hẳn vào nhân dân để phòng, chống tham nhũng; bởi nhân dân có “nghìn mắt nghìn tay”, có quyền kiểm soát quyền lực của mình đã giao cho cán bộ. Họ biết rất rõ cán bộ, đảng viên nào vì nước, vì dân; sống thanh cao, trong sáng; cán bộ, đảng viên nào “ăn cắp của nhân dân”, làm giầu bất lương, bất chính, phải nghiêm trị.

Gặp vướng mắc trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, hãy mở sách của Bác Hồ mà đọc và đi hỏi nhân dân

 Đây là tư tưởng chỉ đạo, phương châm hành động và là một trong những biện pháp hữu hiệu để phòng tránh việc một số cán bộ nắm giữ chức quyền trong các cơ quan nhà nước nhưng lạm dụng quyền lực phục vụ cho lợi ích cá nhân, tự tư lợi cá nhân. Đồng thời, phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tự phê bình và phê bình trong Đảng; xử phạt nhiêm minh nhũng cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước cho dù người đó là ai, giữ chức vụ gì; kiên quyết phải “chặt cành để cứu cây”, “kỷ luật một vào người để cứu muôn người”. Khi tiến hành công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực hiện nay, nếu gặp khó khăn, vướng mắc gì thì mở sách Bác Hồ mà đọc và đi hỏi nhân dân về biện pháp phòng, chống; nhân dân sẽ bày cho. Lời dạy của Bác và sự giúp đỡ của nhân dân sẽ giúp chúng ta đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực thành công./.

ĐẤU TRANH VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TO LỚN TRONG BÀI VIẾT CỦA TỔNG BÍ THƯ

 

Thời gian qua, sau khi bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng được đăng tải, các thế lực thù địch đã phát tán nhiều bài viết, bình luận trên nền tảng mạng xã hội và một số website, tờ báo nước ngoài có tư tưởng phản động chống phá Việt Nam như: Danlambao, kênh VOA Tiếng Việt, Đài Á Châu Tự Do… với nội dung xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và nội dung bài viết trên. Chúng cho rằng Tổng Bí thư đã đưa ra “hệ thống lý luận cũ kỹ, không còn phù hợp với thời đại”, “lạc nhịp”, “lỗi thời” và Việt Nam “lợi dụng tự do, dân chủ, tuyên truyền chống phá các nhà nước tư bản”; phản đối chế độ một đảng lãnh đạo ở Việt Nam; bôi nhọ, nói xấu chế độ ta. Thực chất đây là những luận điệu sai trái, thông tin sai sự thật, “lập lờ đánh lận con đen”, cố tình xuyên tạc, phủ nhận con đường đi lên CNXH ở Việt Nam mà Tổng Bí thư đã trình bày trong bài viết quan trọng của mình!

Trước những lập luận chặt chẽ trong bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, các thế lực thù địch cố gắng dùng mọi thủ đoạn để cố tình xuyên tạc, bôi nhọ bài viết, đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng ta, hòng gây hoang mang dao động về hệ tư tưởng, về lý tưởng XHCN.

Xuyên tạc những vấn đề lý luận trong bài viết của Tổng Bí thư, các thế lực thù địch, cơ hội cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội chỉ là phương tiện cứu nước, giành độc lập dân tộc, và khi giành độc lập rồi thì cần phải thay đổi phương tiện”(VOA Tiếng Việt)(7). Thực chất đây là thủ đoạn đánh tráo khái niệm, hòng phủ nhận con đường đi lên CNXH ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. 

Bài viết của Tổng Bí thư đã khẳng định chế độ XHCN là một chế độ xã hội mang bản chất tốt đẹp, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, lấy con người làm trung tâm, dựa trên lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội tư bản “lấy lợi nhuận làm mục tiêu tối thượng, coi chiếm đoạt của cải và tiêu dùng vật chất ngày càng tăng làm thước đo văn minh, lấy lợi ích cá nhân làm trụ cột của xã hội”. Vậy mà, luận điệu của các thế lực thù địch lại cho rằng“chế độ xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hoàn toàn không có bình đẳng xã hội, không có an sinh, phúc lợi xã hội gì cả, mọi thứ đều phải trả bằng tiền”. Có lẽ nào chúng muốn dân tộc ta phải đi tìm cái bình đẳng của phương Tây khi mà một bộ phận rất nhỏ, thậm chí chỉ là 1% dân số, nhưng lại chiếm giữ phần lớn của cải, tư liệu sản xuất, kiểm soát tới 3/4  nguồn tài chính, tri thức và các phương tiện thông tin đại chúng và do đó chi phối toàn xã hội. Trong nhiều bài viết chống phá con đường đi lên CNXH ở nước ta, các thế lực thù địch thường xuyên so sánh vấn đề dân chủ ở Việt Nam và vấn đề dân chủ Phương Tây nhưng họ không hiểu rằng trong đời sống chính trị, một khi quyền lực của đồng tiền chi phối thì quyền lực của nhân dân sẽ bị lấn át và người dân mất đi chính quyền làm chủ của chính mình. Vì vậy mà tại các nước tư bản phát triển, các cuộc bầu cử được gọi là “tự do”, “dân chủ”, dù có thể thay đổi chính phủ, nhưng không thể thay đổi được các thế lực thống trị; núp đằng sau hệ thống đa đảng trên thực tế vẫn là sự thống trị của các tập đoàn tư bản.

Bài viết của đồng chí Tổng Bí thư đã làm rõ những vấn đề cốt lõi của chế độ XHCN mà chúng ta kiên định trong quá trình đổi mới đất nước; đồng thời đã khẳng định chế độ XHCN là một chế độ xã hội mang bản chất tốt đẹp, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, lấy con người làm trung tâm, dựa trên lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa cá nhân và phe nhóm. Để đạt được mục tiêu đó, sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Không chấp nhận thực tế đó, những kẻ thù địch với chế độ XHCN ở trong và ngoài nước lại cố tình bịa đặt, lèo lái, dẫn dắt đánh lừa dư luận nhằm thực hiện mưu đồ phản động của mình bằng ngôn ngữ xấu, độc, võ đoán khi cho rằng: “Đảng cộng sản dốc tâm lo xây dựng chủ nghĩa xã hội để nắm giữ lợi quyền. Để độc quyền cai trị. Để có cơ nhũng lạm, cướp bóc, làm giàu cho cá nhân, phe nhóm, vinh sang cho một đảng trị vì khiến đất nước cứ mãi lạc hậu đói nghèo”. Tiếp cận dưới góc độ một bài viết có tính lý luận cao, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã phân tích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam bằng lập luận khoa học, thuyết phục qua những thành tựu xây dựng CNXH, thể hiện tập trung ở giải trình bản chất chế độ XHCN ở Việt Nam. Đó là cơ sở phản bác một cách thuyết phục, kể cả phản bác đanh thép, sắc bén trước những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị. Trong bài viết của mình, Tổng Bí thư khẳng định rằng: Đảng ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc. Những thành tựu to lớn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng là không thể phủ nhận; những hạn chế, khuyết điểm của chúng ta là có thực, đặc biệt là tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống vẫn diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên. Trong khi đó, các thế lực xấu, thù địch lại luôn tìm mọi thủ đoạn để can thiệp, chống phá, gây mất ổn định, thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình” nhằm xóa bỏ CNXH ở Việt Nam. Đó là những khó khăn, trở lực cả khách quan lẫn chủ quan đang từng ngày, từng giờ đe dọa đến sự tồn vong của chế độ, mà thành công hay thất bại là phụ thuộc trước hết vào sự đúng đắn của đường lối, bản lĩnh chính trị, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Cũng từ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đặt ra yêu cầu phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, đấu tranh chống chủ nghĩa cơ hội, chủ nghĩa cá nhân, chống tham nhũng, quan liêu, lãnh phí, thoái hóa… trong nội bộ Đảng và trong toàn bộ hệ thống chính trị. Thực tế công tác xây dựng Đảng ở nước ta và những quyết tâm của đồng chí Tổng Bí thư trong bài viết là sự tiếp nối của tư tưởng Hồ Chí Minh: “Ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng ta không có lợi ích gì khác”(8).

Từ khi bài viết được công bố ngày 16/5/2021 đến nay, trên các phương tiện thông tin đại chúng, các báo, tạp chí… đã có hàng nghìn bài viết, bài bình luận, tâm tư tình cảm của độc giả, từ cán bộ hưu trí, đảng viên ở cơ sở, nhân dân ở mọi vùng, miền của Tổ quốc; từ đồng bào dân tộc thiểu số, tôn giáo cho đến các nhà nghiên cứu, các chính trị gia, học giả quốc tế, văn nghệ sĩ, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài… đón nhận bài viết của Tổng Bí thư với lòng yêu mến, niềm tin tưởng và sự hưởng ứng tích cực.

Đối với các Đảng Cộng sản, Đảng Lao động trên thế giới như: Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Cộng sản Cuba, Đảng Cộng sản Hoa Kỳ, … đều bày tỏ sự đồng tình, đánh giá cao bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Những nhận định của bạn bè quốc tế năm châu về bài viết của đồng chí Tổng Bí thư không chỉ tiếp thêm niềm tin vững chắc cho toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đi trên con đường CNXH, mà còn trang bị vũ khí lý luận sắc bén để chúng ta tiếp tục đấu tranh, phản bác với những suy diễn vô căn cứ, chống phá, xuyên tạc những thành tựu mà Việt Nam đạt được trong hơn 35 năm đổi mới đất nước. Từ tổng kết thực tiễn của Việt Nam, Tổng Bí thư đã đóng góp thêm tiếng nói của Việt Nam vào kho tàng lý luận thế giới về CNXH. Điều đó càng khẳng định rằng, sự lựa chọn và kiên định con đường đi lên CNXH không phải là “sai lầm” mà là sự lựa chọn, kiên định đúng đắn của lịch sử dân tộc, của nhân dân ta, của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ra đời cách đây hơn một năm, bài viết của đồng chí Nguyễn Phú Trọng đã khơi dậy và lan tỏa niềm tin, niềm tự hào, tình cảm thiêng liêng đến các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước về CNXH ở Việt Nam; góp phần quan trọng củng cố niềm tin của nhân dân đối với con đường đi lên CNXH dưới sự lãnh đạo của Đảng. Vì vậy, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị sẽ tiếp tục đưa ra các luận điệu phản động, tìm cách phủ nhận, bôi đen thành tựu xây dựng, phát triển đất nước, xuyên tạc, bóp méo CNXH và con đường đi lên CNXH, hạ thấp uy tín đồng chí Tổng Bí thư. Do đó, toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta cần hiểu rõ giá trị bài viết, coi đây là cơ sở khoa học, luận điểm để phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch.

Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam, thể hiện tầm tư tưởng, giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc, là kim chỉ nam tiếp tục chỉ đạo nhiệm vụ quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng cho công cuộc đổi mới của đất nước trong thời gian tới. “Hiện nay, gần 1,5 tỷ người trên hành tinh vẫn đang đi theo con đường XHCN với những thành tựu đáng trân trọng và tự hào. Dù còn nhiều khó khăn, thách thức, phức tạp, nhưng sự phát triển của các nước XHCN hiện nay (Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba…) đã chứng minh rằng CNXH vẫn là hiện thực, là thực tế, là một chế độ xã hội tốt đẹp nhất trong lịch sử nhân loại đến ngày nay”(9). Nhân dân tin tưởng rằng, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta sẽ tiếp tục giành những thắng lợi to lớn hơn nữa trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

XÂY DỰNG THẾ TRẬN AN NINH NHÂN DÂN TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần xây dựng thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng, huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị và mọi nguồn lực trong nhân dân tham gia bảo vệ an ninh mạng, phòng chống tội phạm mạng, vô hiệu hóa các thông tin xấu, luận điệu phản tuyên truyền của các thế lực thù địch, cơ hội.
Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang tạo ra sự phát triển đột phá cho nền kinh tế số của nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng cũng đặt các quốc gia trước những nguy cơ, thách thức to lớn về an ninh mạng. Các cuộc tấn công mạng có chủ đích vào hệ thống thông tin trọng yếu của các nước ngày càng gia tăng, gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế, quốc phòng và an ninh. Tội phạm mạng ngày càng nguy hiểm với nhiều thủ đoạn tinh vi, kỹ thuật cao, sử dụng các loại mã độc ứng dụng trí tuệ nhân tạo để tấn công, xâm nhập.
Hoạt động phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, tuyên truyền chống Đảng, Nhà nước diễn biến hết sức phức tạp và nguy hiểm. Theo đó, các thế lực thù địch, các “Trung tâm phá hoại tư tưởng”, các tổ chức phản động lưu vong móc nối với các đối tượng chống đối trong nước tạo lập, điều hành hàng trăm hội nhóm trọng điểm trên mạng xã hội cùng với hàng nghìn trang mạng đặt máy chủ ở nước ngoài để triển khai hoạt động.
Sự chống phá tập trung vào thời điểm diễn ra dịch bệnh covid- 19, các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, đặc biệt là Đại hội Đảng. Với đặc tính nặc danh, lan truyền nhanh, người dùng lớn của môi trường mạng, các đối tượng sử dụng nhiều thủ đoạn tinh vi như: Giả mạo cơ quan truyền thông báo chí, pha trộn thông tin thật - giả, cắt ghép hình ảnh, bình luận đồn đoán xuyên tạc phá hoại tư tưởng, thông tin nhân sự, thu hút hàng triệu tài khoản người dùng theo dõi, gây tâm lý ngờ vực trong một bộ phận quần chúng nhân dân; khi có “thời cơ”, liên kết tổ chức “chiến dịch truyền thông”, hình thành “phong trào phản đối” trên không gian mạng.
Trong tham luận gửi đến hội thảo “không gian mạng và sứ mệnh bảo vệ biên cương văn hóa tư tưởng của tuổi trẻ”, Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an cho biết, hoạt động của các loại tội phạm mạng, tội phạm sử dụng công nghệ cao gia tăng cả về số vụ, tính chất, mức độ nghiêm trọng và bằng nhiều phương thức, thủ đoạn tinh vi hơn.
Tội phạm sử dụng không gian mạng lừa đảo, chiếm đoạt tài sản gia tăng với nhiều thủ đoạn tinh vi mới, khiến nhiều nạn nhân bị chiếm đoạt số tiền rất lớn.
Đặc biệt, thủ đoạn mạo danh các cơ quan thực thi pháp luật như Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án gọi điện yêu cầu nạn nhân “cung cấp thông tin hỗ trợ điều tra” để đánh cắp thông tin tài khoản và chiếm đoạt tài sản xảy ra ở nhiều địa phương, chiếm đoạt tổng số tiền lên đến hàng trăm tỷ đồng.
Tội phạm tổ chức đánh bạc, đánh bạc, cá độ bóng đá trên mạng chủ yếu do các “nhà cái” ở nước ngoài móc nối với các đối tượng trong nước hình thành các đường dây, thiết lập hàng nghìn trang web, tên miền, số tiền đánh bạc ước tính hàng triệu USD mỗi ngày.
Trong bối cảnh đó, Cục An ninh mạng và Phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao, Bộ Công an cho rằng, cần xây dựng thế trận an ninh nhân dân trên không gian mạng, huy động sức mạnh của cả hệ chính trị và mọi nguồn lực trong nhân dân tham gia bảo vệ an ninh mạng, phòng chống tội phạm mạng, vô hiệu hóa các thông tin xấu, luận điệu phản tuyên truyền trên không gian mạng.
Đấu tranh với hoạt động sử dụng không gian mạng thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của thế lực thù địch là cuộc đấu tranh mang tính đặc thù, là cuộc chiến thông tin, phần thắng sẽ thuộc về phía giành được thế chủ động.
Do đó, để ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin xấu, khi cần thiết phải huy động cả hệ thống các cấp cơ sở Đoàn tham gia tấn công chính trị, phản bác luận điệu phá hoại tư tưởng, nhất là hoạt động kích động “xuống đường”, “biểu tình, bạo loạn”. Trong đó, vai trò của các cấp cơ sở Đoàn là rất quan trọng đối với việc huy động sức mạnh của đoàn viên, thanh niên tham gia các phong trào đấu tranh phòng chống diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch.
Nghiên cứu, xây dựng các chính sách, pháp luật điều chỉnh các vấn đề mới phát sinh để đáp ứng kịp thời xu thế phát triển của khoa học, công nghệ; xác định rõ trách nhiệm của cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp trong bảo vệ an ninh mạng và có chế tài xử lý nghiêm các vi phạm.
Rà soát, quy hoạch lại các cơ sở hạ tầng cung cấp dịch vụ viễn thông, internet, bảo đảm hiệu quả ngăn chặn tấn công mạng và chặn, lọc thông tin gây nguy hại đến an ninh quốc gia; các cổng kết nối quốc tế phải kết nối với hệ thống tường lửa quốc gia; phân định rõ hoạt động cung cấp dịch vụ mang mục đích thương mại và hoạt động phục vụ an ninh, quốc phòng nhằm bảo đảm hiệu lực quản lý nhà nước.
Tập trung quản lý chặt chẽ các dịch vụ thông tin di động và các loại hình thông tin trên mạng, đặc biệt là các mạng xã hội, trang thông tin điện tử, blog hoạt động theo đúng quy định của pháp luật.
Ngoài ra, đầu tư, tăng cường tiềm lực bảo đảm an ninh mạng, phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao cho lực lượng chuyên trách chủ động phòng ngừa, ngăn chặn, vô hiệu hóa từ xa các hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội.
Báo Tiền Phong

NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ BÀI HỌC TU DƯỠNG, TRÁNH CÁM DỖ


Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: “Một người lo bằng kho người làm”, triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi “nhà dột từ nóc”.
Lại có câu ca dao: “Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào” là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải “lo” đường lối chiến lược, hoạch định chính sách... mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng.
Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại “nhúng chàm” để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành “tấm gương mờ” để người đời bêu riếu... “Tài” và “đức” là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có “tài” nhưng còn thiếu “đức”. Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(1). Những “tấm gương mờ” kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không “gánh được nặng” và chẳng “đi được xa”.
Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là “cần, kiệm, liêm, chính”. Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài "Cán bộ và đời sống mới" giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự “thực hành”: “Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay!
Một phẩm chất hàng đầu của người lãnh đạo là uy tín. Tham ô, đục khoét tức “vô liêm”, không trong sạch thì làm sao “được lòng dân”. Người xưa rất coi trọng chữ “liêm”. Cụ Khổng Tử mỉa mai: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử trăn trở: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”. Bác Hồ kế thừa các tinh hoa tư tưởng ấy và minh họa một trường hợp cụ thể. Trong "Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp", Người có nói về “tấm gương” của Napoléon “đại tài nhưng tham lam”, từ một anh lính làm đến tổng tư lệnh rồi hoàng đế, vẫn chưa thấy đủ, ông còn muốn làm chúa cả thế giới: “Nếu ông Napoléon mà biết dè dặt, không tham muốn quá chừng, thì chắc nước Pháp lúc đó không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người, hại của. Mà ông Napoléon cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở Âu châu. Nhưng ông Napoléon đã làm con giời lại muốn làm cả giời, kết quả bị rơi xuống đất... Xưa nay đã nhiều người vì không “tri túc” (chừng mực) mà thất bại”(3). Là người có tài, lại ở vị trí lãnh đạo cao nhất nhưng “kết quả bị rơi xuống đất”, theo Bác Hồ có 3 lý do là “tham lam”, “không khiêm tốn”, “không biết lượng sức mình”. Vì thế mà ông ta mắc bệnh cuồng vọng “đã làm con giời lại muốn làm cả giời”. Hậu quả do người lãnh đạo gây ra, không chỉ mình người đó mà còn cả cộng đồng phải gánh chịu, có khi rất nặng nề.
Soi vào một vài trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp cao vừa rồi bị kỷ luật, không thể so sánh về tài năng, nhưng về nguyên nhân và “kết quả” thì thấy họ cũng gần giống như Napoléon vậy!
Phật giáo coi tính “tham” là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến “bể khổ”. Khổng Tử coi sự “tham lợi” chỉ có ở kẻ “tiểu nhân”. Bác Hồ dạy cán bộ phải biết: “Ít lòng tham muốn về vật chất”! Mọi cán bộ đều phải thế, cán bộ lãnh đạo càng phải thế!
Về giải pháp ngăn chặn, căn cứ vào tư tưởng biện chứng của Lenin từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, đối chiếu với quan niệm về đặc trưng tâm lý người lãnh đạo mới nhất của thế giới hiện nay, thì lời Bác Hồ dạy vẫn là bài học đúng đắn, thiết thực. Cụ thể nhất là lấy gương người tốt-việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau. Đây là một truyền thống văn hóa phương Đông mà chính Bác Hồ giải thích: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Ở phương Tây, một số vị tổng thống khi nhậm chức thường đặt tay lên cuốn Kinh Thánh là một cách “hứa” sẽ làm theo những lời dạy mẫu mực, tức cũng coi đó là tấm gương. Vấn đề ở chỗ “làm gương” như thế nào, bằng cách nào?
Ở ngay lĩnh vực giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác Hồ đã là nhà giáo dục lớn với tư tưởng và các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp. Theo Người, lấy những tấm gương “đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác... Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ”(4). Hình tượng ẩn dụ “cây” Đảng ta tươi tốt là nhờ “gốc rễ” được “thấm nhuần” máu xương của các bậc tiền bối thật giàu ý nghĩa biểu cảm này được Người nhiều lần nhắc lại. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy đã hy sinh trọn vẹn, tuyệt đối cho dân tộc, xứng đáng là tấm gương cho mọi thế hệ kế tục học tập, noi theo.
Bác Hồ từng nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong "Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ năm 1963", Người nhắc nhở: “Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(5). Không chỉ là lời dạy về nội dung, còn là vấn đề phương pháp luận: Phải lấy tấm gương sáng nhất, cụ thể mà gần gũi để giáo dục. Thời điểm ấy, với các bộ trưởng, thứ trưởng... thì có tấm gương nào “sáng” hơn “đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng”.
Một số cán bộ lãnh đạo mắc khuyết điểm vừa qua có nguyên nhân là phai mờ lý tưởng cộng sản, nhạt phai tinh thần tự nguyện cống hiến, hy sinh vì cách mạng, vì dân nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đúng như Bác nói, họ “coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài”(6). Xa dân nên thành “quan cách”, không đoái hoài đến đời sống của dân, không chỉ không “cần kiệm” mà còn xa hoa, lãng phí. Do vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ cấp cao cần hết sức chặt chẽ. Nhất thiết cán bộ đó phải kinh qua những cương vị lãnh đạo gần với dân, hiểu dân. Bởi có vậy họ mới thấm thía “một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào” nên có ý thức chi tiêu, sử dụng bất cứ cái gì cũng phải nghĩ đó là của dân. Chỉ khi nghĩ được như lời Bác dạy “hoang phí là một tội ác” thì mới biết trân trọng, giữ gìn tài sản của dân và danh dự của mình.
Những vụ việc ấy cho thấy bài học là còn nhiều cơ quan, tổ chức đảng coi nhẹ công tác tự phê bình và phê bình. Điều ấy có lý do từ căn tính tiểu nông cả nể đã ngàn xưa, với cán bộ chủ chốt thì sự cả nể càng tăng lên nhiều. Lại thêm tâm lý “chín bỏ làm mười”, “xuê xoa”, “an phận thủ thường”, “đấu tranh là... tránh đâu”... nên lãnh đạo mắc khuyết điểm ngày thêm nặng mà không được góp ý, chỉ ra, ngăn chặn.
Rất nhiều lần Bác Hồ nhắc cán bộ phải “gương mẫu”, “nêu gương”, phải là “đầu tàu”... Không ít lần, Người mượn lời Khổng Tử dạy cán bộ mình có đứng đắn, trong sáng mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ... Những lời dạy ấy không chỉ đúng với đạo lý mà còn là khoa học, biện chứng. Để có uy tín, để là tấm gương sáng, với người lãnh đạo-theo lời Bác dạy là phải “thực hành trước” các nguyên tắc “Cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công”, “vô tư” . Một phương pháp sư phạm đã trở thành chân lý: Cách tốt nhất để giáo dục, thuyết phục người khác là giáo dục, thuyết phục bằng chính nhân cách mình!
Nguồn ST

5 LỜI THỀ VĨNH BIỆT ĐƯỢC ĐỌC TẠI LỄ TRUY ĐIỆU CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

Tại Lễ truy điệu Chủ tịch Hồ Chí Minh ngày 9.9.1969, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đã đưa ra 5 lời thề vĩnh biệt Người.
Lời thề thứ nhất: “Giương cao mãi mãi ngọn cờ độc lập dân tộc, quyết chiến, quyết thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, thống nhất đất nước, để thỏa lòng mong ước của Người”.
Lời thề thứ hai: “Đem hết sức mình tiếp tục phấn đấu thực hiện lý tưởng Xã hội chủ nghĩa và Cộng sản chủ nghĩa cao đẹp mà Người đã vạch ra cho giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đem lại phồn vinh cho đất nước, hạnh phúc cho đồng bào”.
Lời thề thứ ba: “Hết lòng, hết sức giữ gìn sự đoàn kết, nhất trí trong Đảng, như giữ gìn con ngươi của mắt mình, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm hạt nhân cho khối đoàn kết toàn dân, bảo đảm cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam hoàn toàn thắng lợi”.
Lời thề thứ tư: “Luôn luôn phát huy tình cảm quốc tế trong sáng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hết lòng hết sức góp phần vào khôi phục, tăng cường nhất trí trong phe Xã hội chủ nghĩa, giữa các đảng anh em, trên cơ sở Chủ nghĩa Mác Lênin và Chủ nghĩa quốc tế vô sản; thắt chặt tình đoàn kết hữu nghị giữa các dân tộc Đông Dương; ra sức ủng hộ phong trào cách mạng của nhân dân các nước, góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới, vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và Chủ nghĩa xã hội”.
Lời thề thứ năm: “Suốt đời học tập đạo đức, tác phong của Người, bồi dưỡng phẩm chất cách mạng, không sợ gian khổ, không sợ hy sinh, rèn luyện mình thành những chiến sĩ trung thành với Đảng, với dân, xứng đáng là đồng chí, là học trò của Hồ Chủ tịch. Noi gương Người, toàn thể nhân dân ta, thanh niên ta nguyện ra sức trau dồi mình thành những con người mới, làm chủ đất nước, làm chủ xã hội mới, mang lá cờ bách chiến bách thắng của Hồ Chủ tịch tới đích cuối cùng”.
Những lời thề vĩnh biệt Bác hơn 50 năm qua đã và đang được toàn Đảng và Nhân dân ta, các thế hệ người Việt Nam ra sức thực hiện.
Nguồn ST