Thứ Bảy, 17 tháng 9, 2022

TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN VÀ TRẬN ĐÁNH KHIẾN THÁI LAN KHIẾP SỢ...

 

Sau chiến thắng Đường 9 – Nam Lào, mùa khô năm 1971 – 1972, Tổng hành dinh Quân Giải phóng Miền Nam và Bộ chỉ huy Quân đội giải phóng nhân dân Lào quyết định mở chiến dịch lớn ở chiến trường Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng, Lào, có mật danh là chiến dịch “Z” với mục đích, là tiêu diệt gọn một bộ phận sinh lực địch đang lấn chiếm Cánh đồng Chum; phá vỡ tuyến phòng thủ của địch, giành và giữ dân, giải phóng Cánh đồng Chum.
Tháng 7/1971, lợi dụng mùa mưa, Mỹ và chính phủ Lào thân Mỹ mở cuộc hành quân lấn chiếm Cánh đồng Chum. Mưu đồ của Mỹ và đồng minh vẫn là muốn chiếm đóng lâu dài địa bàn chiến lược này, dự định đánh chiếm lại sân bay, từ đó bung ra chiếm lại Cánh đồng Chum, rồi tiến theo đường 7 đánh ra biên giới Việt – Lào. Khác với lần trước, lần này Mỹ tăng cường thêm lực lượng quân đội đánh thuê Thái Lan.
Lực lượng địch gồm: 30 tiểu đoàn bộ binh (18 tiểu đoàn Vàng Pao, 4 tiểu đoàn quân đội Hoàng gia Lào, 8 tiểu đoàn Thái Lan), 3 tiểu đoàn pháo binh, 1 đại đội máy bay T-28, 1 trung đội xe bọc thép… dưới sự chi viện tối đa của không quân Mỹ, kể cả B-52 và F-111.
Tại chỉ huy sở chiến dịch, ngoài các cán bộ chủ chốt BTL 959 (Đại tá Vũ Lập làm Tư lệnh, Đại tá Huỳnh Đắc Hương làm Chính ủy), Bộ Quốc phòng tăng cường một Đại tá xuất sắc của quân đội là đồng chí Nguyễn Hữu An làm Phó Tư lệnh. Chiến dịch sắp mở màn, Bộ cử Thiếu tướng Tổng tham mưu phó Lê Trọng Tấn sang làm phái viên trực tiếp chỉ đạo chiến dịch (vị Tướng này được cấp dưới đặt cho biệt danh “Tướng Chiến Thắng” hay “Giucốp Việt Nam”, thường chỉ huy các chiến dịch lớn). Ông có đặc điểm là rất nghiêm khắc, nóng tính và quyết đoán. Về trận chiến trên Cánh đồng Chum năm 1971, báo Bangkok sau này đưa tin: “Tướng Tấn đột ngột xuất hiện trực tiếp chỉ huy chiến dịch sau những loạt đại pháo 130 ly khiếp đảm cùng những “con báo khạc lửa” (xe tăng) thẳng tiến như không có gì cản trở”.
Lực lượng Quân Giải phóng: Trước chiến dịch “Z”, địa bàn Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng có các đơn vị quân tình nguyện: f316, e866 và d42, d25, d26 …Vào chiến dịch, trên tăng cường thêm f312, Lữ 335, một tiểu đoàn pháo mặt đất, một tiểu đoàn pháo cao xạ, một tiểu đoàn tank-thiết giáp, 2 tiểu đoàn đặc công và một số đơn vị kỹ thuật. Lực lượng vũ trang Cách mạng Lào có 9 tiểu đoàn bộ binh, 1 đại đội pháo binh và 3 đại đội vũ trang địa phương. Chiến dịch được ấn định vào giáp tết năm Nhâm Tý (1972). Sau khi nghe báo cáo tình hình địch – ta, Tướng Lê Trọng Tấn phán một câu xanh rờn: “Đánh trận này, ba đời sau Thái Lan còn sợ!”.
Quả nhiên, sự thật diễn ra đúng như ông Lê Trọng Tấn nói. Đúng giờ G, các trận địa pháo lớn đồng loạt gầm vang, hỏa tiễn H72, cối 82, 120 ly, pháo 130 ly sau đó là ĐKZ, B40, B41 diệt hỏa điểm còn lại rồi ĐH10 mở cửa, xe tăng gầm rú, dẫn bộ binh tràn lên. Nhưng quá trình chiến dịch, không phải mọi chuyện đều suôn sẻ. Sự cố ở Phu Tôn xảy ra ngay lúc quân ta tấn công, mới thấy vị tướng Tổng tham mưu phó không hổ danh “Tướng Chiến thắng”…
Trung đoàn 165 (f312) do trung tá Nguyễn Chuông chỉ huy dứt điểm Phu Thanêng (Phu Tâng) do một tiểu đoàn quân Thái Lan đóng giữ. Trung đoàn 141 đánh trung tâm chỉ huy của quân Thái Lan ở Phu Tôn. Ông Trung tá trung đoàn trưởng bị địch lừa, nằng nặc đòi xe tăng trong lúc xe đang bị sa lầy. Trên trời, OV-10 thả đèn và bắn trọng liên như mưa quanh điểm cao. Hỏa lực địch trong căn cứ vẫn bắn ra….nhưng trước sức tấn công dũng mãnh, quả cảm của Quân Giải phóng chỉ sau 5 ngày giao chiến, quân Thái, quân Mẹo bị các lực lượng của ta đánh cho tơi tả, chạy dài!
Khi đó ở hang chỉ huy Phu Nhu, không khí cực kỳ căng thẳng. Bộ Tư lệnh, cán bộ các cục, các trưởng phòng của Mặt trận 959 và phái viên của Bộ đều có mặt, chăm chú nhìn vị Tướng. Ông Lê Trọng Tấn mặt đỏ phừng phừng, đi quanh bàn, khi thì chăm chú nhìn vào tấm bản đồ treo trên vách đá, lúc quay qua chăm chú ngó sa bàn, rồi nhìn ai đó trong số “bá quan văn võ”. Bất chợt, ông dừng lại, chộp tổ hợp máy điện thoại gọi xuống e141 rồi nói như quát:
– Tài đâu, lệnh cho bộ đội xung phong ngay. Địch chạy hết rồi. Hình như ông Tài nói gì đó làm vị Tướng phật ý. Ông Tấn quát tiếp:
– Mày không lên, tao cách cổ bây giờ!
Bộ đội xông lên. Đúng là chỉ còn mấy thằng bắn súng máy nghi binh!
Nhưng địch chạy đường nào về hang ổ Long Chẹng? Nghe dưới báo cáo, đường phía Bắc vào khu vực Cửa Rừng có nhiều đèn pháo sáng, còn đường phía Nam chỉ có lưa thưa. Tư lệnh Vũ Lập, các Phó tư lệnh: Nam Hà, Hà Thế Hùng, Tham mưu trưởng Dũng Mã, Trưởng phòng tác chiến Huỳnh Lê…đều phân vân. Đa số phán đoán địch chạy hướng Bắc, có người đề nghị chia đôi pháo, bắn đạn chụp cho chắc ăn. Ông Lê Trọng Tấn lừ lừ nhìn mọi người… Bỗng nhiên ra lệnh: Tập trung hỏa lực chần dọc theo con đường phía Nam (nơi ít đèn dù hơn). Không ai dám nói ra nhưng nửa tin nửa ngờ, vì nếu phán đoán sai thì phần lớn quân địch ở Phu Tôn và Cánh đồng Chum sẽ chạy thoát và như vậy không thực hiện được mục tiêu “đánh tiêu diệt” của chiến dịch.
Ngay hôm sau, ông Lê Trọng Tấn cho người đi kiểm tra. Đúng như ông Thiếu tướng dự đoán, dọc con đường phía Nam, quân Thái chết như rạ, người toàn đổ về phía Tây. Bấy giờ tôi mới hiểu vì sao bộ đội ta đặt cho ông nhiều mỹ từ nổi bật như thế. Một lần nữa, câu nói của cổ nhân lại vang lên bên tai tôi: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô”!
Sau này Đại úy Tư Đương, phóng viên báo Quân đội Nhân dân và tôi, Thiếu úy, phóng viên báo CSMT đã phỏng vấn một tù binh, nguyên tiểu đoàn trưởng quê ở A-dút-thai-da, Thái Lan (chỉ huy lá chắn thép Phu Thanêng). Tôi hỏi hắn: “Anh thấy đối thủ của anh thế nào?”. Hắn rùng mình, mắt thất thần, nói lí nhí câu tiếng Lào: “Thạ hản Việt sulốp kềng thi xút!” (Bộ đội Việt đánh quá giỏỉ)
Vubao1-st
Có thể là hình ảnh về ‎1 người và ‎văn bản cho biết '‎E RON TAN "ĐÁNH TRẬN NÀY, BA ĐỜI SAU THÁI LAN CÒN SỢ!". -ĐẠI TƯỚNG LÊ TRONG TẤN- ه SUNNN TC‎'‎‎
12
1 bình luận
4 lượt chia sẻ
Thích
Bình luận
Chia sẻ

ĐẢNG CS VIỆT NAM TẤT CẢ VÌ CON NGƯỜI!

     Những thành tựu trong thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam là thực tế không thể xuyên tạc, phủ nhận.
     Trong thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm xây dựng và tổ chức thực hiện tốt các chính sách xã hội, chính sách an sinh xã hội, coi đây vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển bền vững, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa. Đảng ta khẳng định, hệ thống an sinh xã hội phải đa dạng, toàn diện, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ… bảo đảm bền vững, công bằng; Nhà nước bảo đảm thực hiện chính sách ưu đãi người có công và giữ vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện chính sách an sinh xã hội; đẩy mạnh xã hội hóa, khuyến khích các tổ chức, doanh nghiệp và người dân tham gia. Đồng thời tạo điều kiện để người dân nâng cao khả năng tự bảo đảm an sinh, đó đó, đã đạt được kết quả:
     Công tác giải quyết việc làm và nâng cao thu nhập cho người dân đã đạt được những kết quả tích cực.
     Hệ thống bảo hiểm xã hội ngày càng phát triển, bao phủ đến nhiều đối tượng. Hệ thống pháp luật bảo hiểm xã hội ngày càng được hoàn thiện, tạo cơ sở pháp lý trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.
     Chính sách ưu đãi, trợ giúp người có công và đối tượng yếu thế ngày càng hoàn thiện và đạt được kết quả tích cực. Chính sách ưu đãi với người có công không ngừng được đảm bảo; mở rộng và thực hiện có hiệu quả chính sách trợ giúp xã hội.
     Chính sách ưu đãi, trợ giúp người có công và đối tượng yếu thế ngày càng hoàn thiện và đạt được kết quả tích cực. Chính sách ưu đãi với người có công không ngừng được đảm bảo; mở rộng và thực hiện có hiệu quả chính sách trợ giúp xã hội.
     Những thành quả trong thực hiện chính sách xã hội, chính sách an sinh xã hội đạt được đã góp phần hiện thực hóa quan điểm lấy con người là trung tâm và “không ai bị bỏ lại phía sau” trong quá trình phát triển. Thực hiện quan điểm Đại hội XIII của Đảng “thực hiện tốt phúc lợi xã hội, an sinh xã hội”; góp phần phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục rủi ro cho người dân trước những biến động của kinh tế – xã hội, môi trường, dịch bệnh; đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng chính đáng và không ngừng nâng cao đời sống của người dân. Đây cũng là minh chứng xác đáng bác bỏ mọi luận điệu của các thế lực thù địch xuyên tạc, phủ nhận những thành tựu trong thực hiện chính sách an sinh xã hội của Đảng và Nhà nước Việt Nam./.


Yêu nước ST.

XUYÊN TẠC ĐƯỜNG LỐI QUỐC PHÒNG AN NINH - ÂM MƯU CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH

 Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ phát triển intenet, mạng xã hội faceboock nhanh nhất thế giới và đứng đầu ASEAN về số lượng tên miền quốc gia,... Không gian mạng và đi liền với nó là các thiết bị thông minh ngày càng phổ biến, đã làm cho xã hội thông tin và kinh tế tri thức của ta ngày càng phát triển. Đảng và Nhà nước ta chủ trương đẩy mạnh phát triển Chính phủ Điện tử, giảm thiểu các thủ tục hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tạo nhiều thuận lợi cho người dân và các doanh nghiệp truy cập thông tin. Nhiều địa phương cũng đang nỗ lực xây dựng thành phố thông minh, đã tạo ra môi trường sống tốt hơn, nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế - xã hội và tăng cường quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc.

Tuy nhiên, không gian mạng cũng đang bị các thế lực thù địch lợi dụng, làm nảy sinh nhiều nguy cơ, thách thức đối với quốc phòng - an ninh của đất nước. Đó là: các cuộc tấn công không gian mạng với quy mô ngày càng lớn, tính chất ngày càng nghiêm trọng; các hành vi sử dụng các dịch vụ intenet, faceboock, mạng xã hội, viễn thông để lừa đảo; tổ chức đánh bạc xuyên quốc gia, tống tiền, phát tán văn hóa phẩm đồi trụy, kinh doanh trái phép các loại tiền điện tử,... Đặc biệt, lợi dụng khả năng đưa tin nhanh, đa chiều và rộng khắp trên không gian mạng, một số tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước cấu kết với nhau, tập trung chống phá nền tảng tư tưởng, thể chế chính trị của ta rất quyết liệt. Không chỉ có thế, họ còn là người đóng vai trò phối hợp, dẫn dắt các vụ việc tụ tập, gây rối với mục đích phá hoại đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Lợi dụng quyết tâm của Đảng, Nhà nước ta trong phòng, chống tham nhũng, họ tìm cách hướng dư luận nhìn nhận theo quan điểm của họ, và họ cho là công cuộc chống tham nhũng của Đảng chỉ là “cuộc đấu tranh nhằm triệt hạ lẫn nhau giữa các phe phái,..”. Khi một số cán bộ, trong đó có cả cán bộ cao cấp vi phạm bị xử lý kỷ luật, lập tức họ mỉa mai: đó chỉ “là những ông “đã bị lộ”, buộc lòng phải xử lý mà thôi”.

Cần nhận thức rõ rằng, đất nước càng phát triển, nhiều thành tựu mới của khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ thông tin được áp dụng, thì sự chống phá công cuộc đổi mới đất nước nói chung và lĩnh vực quốc phòng, an ninh nói riêng sẽ gia tăng. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải có các giải pháp hữu hiệu, nhất là phải luôn chủ động đấu tranh phản bác các luận điệu sai trái xuyên tạc của các thế lực thù địch; chủ động cung cấp thông tin chính thống đến quần chúng Nhân dân một cách kịp thời./.

Bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lê-nin - nhiệm vụ quan trọng hiện nay

 Từ khi ra đời đến nay, chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử. Mặc dù mô hình chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô và Đông Âu đã sụp đổ; mặc dù chủ nghĩa đế quốc cùng những thế lực phản động, thù địch dùng nhiều thủ đoạn thâm độc chống phá, xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lê-nin nhưng chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn tồn tại, phát triển mà chưa có một học thuyết nào có thể thay thế được, nó có giá trị trường tồn, sức sống bền vững. Chủ nghĩa Mác - Lê-nin vẫn là thế giới quan và phương pháp luận khoa học của hàng triệu triệu người trên trái đất. Đúng như lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã nhận định: “Bây giờ, chủ nghĩa nhiều, học thuyết nhiều nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lê-nin”.

Trong hơn 90 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh không ngừng đi sâu nhận thức chủ nghĩa Mác - Lê-nin, nắm vững bản chất khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam và thời đại. Chủ tịch Hồ Chí Minh yêu cầu cán bộ, đảng viên phải nắm vững và vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp Mác - Lê-nin vào thực tiễn cách mạng, từ đó đề ra đường lối, chủ trương đúng đắn, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

Nhận thức rõ âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng chính trị, Đảng ta đã có nhiều chủ trương, biện pháp đẩy mạnh cuộc đấu tranh phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái, thù địch nhằm ngăn chặn biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, làm thất bại âm mưu “chiến thắng không cần chiến tranh” của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.

Có thể khẳng định rằng, đấu tranh tư tưởng, lý luận để chống quan điểm sai trái nhằm bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin mang tính quy luật trong sự tồn tại, phát triển của chủ nghĩa Mác - Lê-nin./. 

Cảnh giác với phương thức hoạt động chống phá nguy hiểm của các thê lực thù địch

 Những năm trước đây, được sự hậu thuẫn của các thế lực thù địch bên ngoài, các lực lượng đối lập, phần tử chống đối chính phủ tại một số quốc gia triệt để lợi dụng sự khủng hoảng, tình trạng mất ổn định chính trị, xã hội trong nước, thông qua hô hào sử dụng “bất bạo động” đã kích động, lôi kéo được hàng vạn người dân xuống đường biểu tình, bạo loạn, lật đổ chính phủ cầm quyền tại các nước này. 

Ở nước ta, trong thời gian gần đây, đặc biệt là sau khi hàng loạt các cuộc “cách mạng sắc màu” nổ ra tại một số nước không gian hậu Xô viết, với kịch bản được các thế lực thù địch áp dụng nhằm hậu thuẫn cho các lực lượng đối lập lật đổ chính quyền đương nhiệm tại các quốc gia này thì phương thức “bất bạo động” đã và đang được các thế lực thù địch, phản động triệt để sử dụng để chống phá Việt Nam với mục đích cuối cùng là lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chế độ XHCN ở nước ta.

Có thể hiểu, “bất bạo động” là thuật ngữ dùng để chỉ một phương thức hoạt động chống đối của các thế lực thù địch, phản động không sử dụng vũ khí, súng đạn mà sử dụng các thủ đoạn “bất hợp tác”, “bất phục tùng”, “bất tuân dân sự” kết hợp với sử dụng áp lực của quần chúng để gây áp lực với Đảng, Chính phủ, từ đó làm suy yếu, tiến tới lật đổ vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền và chính phủ, nhà nước đương nhiệm ở các quốc gia.

Có thể thấy rằng, “bất bạo động” là một phương thức hoạt động với những thủ đoạn “mềm dẻo” không bộc lộ trực tiếp và lộ liễu tính thách thức về chính trị và sự đối kháng với chính quyền. Điều này không chỉ giúp các đối tượng tránh được sự trấn áp của chính quyền mà còn gây ra nhiều khó khăn đối với công tác phát hiện, đấu tranh của lực lượng chức năng. Nguy hiểm hơn nữa là nó có khả năng gây ra mơ hồ, ngộ nhận trong một bộ phận quần chúng và sự “ủng hộ” trong dư luận quốc tế và trong nước, dễ lừa bịp, lôi kéo sự tham gia của các tầng lớp xã hội, đặc biệt là đối với thanh niên, sinh viên, trí thức, văn nghệ sĩ, thậm chí kể cả cán bộ, đảng viên trong hệ thống chính trị. Vì vậy, việc nhận diện bản chất của “bất bạo động” có ý nghĩa hết sức quan trọng./. 

ĐỨA CON NGỖ NGHỊCH!

     Khi bạn có đứa con ngỗ nghịch, suốt ngày đi phá làng, phá xóm, bà con nhân dân bức xúc phản ánh kêu than... bạn vẫn làm ngơ? Như vậy thiên hạ sẽ nói bạn không biết dạy con, dung túng...
     Tuy nhiên, khi đứa con ngỗ nghịch này nó chửi cha, mắng mẹ, thậm chí phá phách muốn làm phản, muốn đốt nhà... vậy mà bạn vẫn ngắm mắt làm ngơ, cam chịu! Như vậy thiên hạ bảo nhà này hết phúc!
     Trở lại với câu chuyện lập lại trật tự, an toàn giao thông đường sắt tại Hà Nội. Việc chính quyền thực thi pháp luật thì là sao lại gọi là "bức tử"? Báo Thanh Niên đang truyền thông điệp gì cho công chúng, cho "thanh niên"? Tự do ngôn luận, tự do báo chí phải trong khuôn khổ pháp luật, đừng có dẫn dắt, cổ súy cho việc ngồi xổm lên pháp luật. Sự bức xúc trong dư luận nhân dân với cơ quan báo chí này đã tích tụ từ rất lâu! Liệu có bất trị?!
Môi trường ST.

PHÒNG CHỐNG ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN “XÂM LĂNG VĂN HÓA” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI!

1. Hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới
     Nói đến văn hoá là nói đến con người. Vì sự sinh tồn mà con người luôn cải tạo tự nhiên để đáp ứng nhu cầu đời sống của mình; đồng nghĩa với điều đó, con người đã sáng tạo ra “tự nhiên mới” mà theo Giáo sư sinh - nhân chủng học người Pháp Georges Olivier gọi là “sinh thái nhân văn”, tức sinh thái tự nhiên được con người “văn hoá hoá”. Nói một cách ngắn gọn nhất, văn hoá là do con người sáng tạo ra, giá trị văn hoá thực chất là tổng hoà các giá trị con người. Giá trị văn hoá phổ quát nhất mà con người luôn hướng tới đó là hệ giá trị Chân, Thiện, Mỹ, vì bản chất của văn hoá là sáng tạo và nhân văn. 
     Ngay từ khi mới ra đời và trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn quan tâm lãnh đạo xây dựng, phát triển văn hoá và con người Việt Nam. Ở từng giai đoạn cách mạng, tư duy nhận thức của Đảng về vấn đề xây dựng, phát triển văn hoá, con người ngày càng có sự phát triển, hoàn thiện, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đấu tranh cách mạng giành độc lập dân tộc, thống nhất và phát triển đất nước trên con đường xã hội chủ nghĩa. “Đề cương về văn hóa Việt Nam” năm 1943 được coi như bản cương lĩnh về văn hóa đầu tiên của Đảng, trong đó xác định: Vǎn hóa bao gồm cả tư tưởng, học thuật, nghệ thuật; nền tảng kinh tế và chế độ kinh tế của xã hội, quyết định toàn bộ vǎn hóa của xã hội. “Cách mạng vǎn hóa muốn hoàn thành phải do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo” và phải nắm vững “Ba nguyên tắc: Dân tộc hóa, Đại chúng hóa và Khoa học hóa” . Đây là những quan điểm, tư tưởng cốt lõi có giá trị định hướng cho sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hoá của nước ta. 
     Từ “Đề cương về văn hóa Việt Nam” năm 1943 đến Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII về văn hóa, tư duy nhận thức của Đảng có sự phát triển, hoàn thiện hơn. Văn hóa được quan niệm toàn diện hơn, bao gồm các lĩnh vực: Tư tưởng, đạo đức, lối sống; môi trường văn hóa; giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; văn học nghệ thuật; thông tin đại chúng; thể chế và thiết chế văn hóa... Đến Hội nghị Trung ương 9 khoá XI, Đảng ta đã đề cập rõ yêu cầu xây dựng hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới. Theo đó, cần phải “Hoàn thiện các chuẩn mực giá trị văn hóa và con người Việt Nam, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật; đề cao tinh thần yêu nước, tự hào dân tộc, lương tâm, trách nhiệm của mỗi người với bản thân mình, với gia đình, cộng đồng, xã hội và đất nước”.
    Đại hội XIII của Đảng đã tiếp tục có sự bổ sung, phát triển tư duy lý luận về văn hóa; đặc biệt là vấn đề xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam thời kỳ mới. Trong đó, Đảng ta xác định một nhiệm vụ, giải pháp hết sức quan trọng, đó là: “Tập trung nghiên cứu, xác định và triển khai xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá và chuẩn mực con người gắn với giữ gìn, phát triển hệ giá trị gia đình Việt Nam trong thời kỳ mới.” 
     Có thể nói, đây là lần đầu tiên Đảng ta nêu lên thuật ngữ “hệ giá trị quốc gia” trong văn kiện của Đảng. Chúng tôi cho rằng, nội hàm của nhiệm vụ, giải pháp này chính là cần phải tập trung hoàn thiện và triển khai xây dựng một hệ thống chuẩn mực giá trị văn hoá của quốc gia dân tộc Việt Nam trong thời kỳ mới. Đây là yêu cầu khách quan và hết sức cần thiết, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới, phát triển và xu thế toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng hiện nay. Hệ giá trị văn hoá của quốc gia, dân tộc Việt Nam trong thời kỳ mới sẽ là sự hoà quyện hữu cơ giữa những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam trải qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước với sự tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa văn hoá của nhân loại, thể hiện rõ bản sắc, ý chí, khát vọng phát triển của dân tộc Việt Nam hướng đến mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” trên con đường xã hội chủ nghĩa.
     Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc (tháng 11/2021), với tinh thần kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa dân tộc; xây dựng, phát triển văn hóa sau 35 đổi mới, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, đã xác định những yếu tố cốt lõi, nền tảng của hệ giá trị văn hóa quốc gia, dân tộc Việt Nam, với những đặc trưng: “khơi dậy truyền thống yêu nước, niềm tự hào dân tộc, niềm tin, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; xác định tài năng, trí tuệ, phẩm chất của con người Việt Nam là trung tâm, mục tiêu và động lực phát triển quan trọng nhất của đất nước” . Hệ giá trị này sẽ là cơ sở định hướng sự phát triển bền vững đất nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời định hướng, phát triển, hoàn thiện nhân cách mỗi con người Việt Nam trong thời đại hiện nay. Cùng với đó, Hội nghị cũng đã xác định những định hướng và mục tiêu cụ thể trong xây dựng hệ chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Con người Việt Nam thời kỳ mới cần phải “có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với những chuẩn mực giá trị cơ bản, đó là: yêu nước, đoàn kết, dũng cảm, tài trí, cần cù, nhân ái, nghĩa tình, hòa hiếu, khoan dung…” .

2. Nhận diện âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay
     “Xâm lăng văn hóa” là một hình thức, thủ đoạn chống phá trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, nhằm công kích, xuyên tạc, bôi nhọ hệ chân giá trị văn hóa xã hội chủ nghĩa, văn hóa Đảng Cộng sản; kích động, lôi kéo và tiêm nhiễm các phản giá trị, làm lệch chuẩn các thang giá trị trong đời sống văn hóa chính trị, đạo đức, lối sống của quần chúng nhân dân. Từ đó, tạo ra sự mâu thuẫn về nhận thức tư tưởng, lòng tin của nhân dân đối với quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam; phủ nhận đường lối văn hóa - văn nghệ của Đảng, tiến tới phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng.
     Âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay hết sức tinh vi và nguy hiểm; chúng triệt để lợi dụng xu thế toàn cầu hóa trong thời kỳ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để tuyên truyền, tiêm nhiễm văn hóa, lối sống phương Tây; phủ nhận, bôi nhọ tính Đảng Cộng sản, tính giai cấp của đường lối văn hóa - văn nghệ cách mạng Việt Nam; ra sức truyền bá các sản phẩm văn hóa ngoại lai, phản nhân văn, phi văn hóa nhằm kích thích tâm lý, lối sống thực dụng, sa đọa, thấp hèn; làm băng hoại, lệch chuẩn các thang giá trị văn hóa đạo đức nhân ái, nhân văn trong một bộ phận nhân dân, nhất là đối với thế hệ trẻ… Có thể khái quát một số phương thức, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch trong tình hình hiện nay, nổi lên là:
     Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng Internet, mạng xã hội để truyền bá, kích động tư tưởng chống đối, lối sống thực dụng, văn hóa phẩm đồi trụy; khuếch trương các quyền tự do, dân chủ trên lĩnh vực báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ núp dưới chiêu bài tự do ngôn luận, tự do sáng tác, quyền thông tin; móc nối với những phần tử bất mãn, chống đối trong nước, lợi dụng những sơ hở, yếu kém của ta trong quản lý kinh tế, văn hóa, xã hội, tung ra các tác phẩm báo chí, văn học nghệ thuật để xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, nói xấu, vu cáo chế độ ta, hòng bôi đen nền văn hóa xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Thông qua việc truyền bá những tư tưởng, quan điểm sai trái, thù địch, lối sống lai căng vào xã hội, vào cán bộ, đảng viên và nhân dân, dần dần từng bước tạo sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta, để đi đến chuyển hóa Đảng, chuyển hóa chế độ.
     Ở nước ngoài, các thế lực thù địch ra sức lôi kéo, thành lập các hội, nhóm văn hóa, văn nghệ phản động để tiến hành tuyên truyền, bôi nhọ quan điểm, đường lối của Đảng; chúng dùng mọi biện pháp để đánh vào nền tảng tư tưởng của Đảng, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, xuyên tạc chủ nghĩa yêu nước Việt Nam; phủ nhận những giá trị văn hóa dựng nước và giữ nước Việt Nam, nhất là hệ giá trị văn hóa giữ nước trong hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc; chúng đánh đồng giá trị nhân văn, chính nghĩa với phi nghĩa, phản động, làm lẫn lộn giá trị nhân cách yêu nước, chính nghĩa của những chiến sĩ cách mạng với những kẻ phản bội, cướp nước, bán nước…
     Lợi dụng các tổ chức “xã hội dân sự” trong nước, các thế lực thù địch ra sức móc nối, cài cắm, phát triển lực lượng, từ đó hình thành các tổ chức phản động ở Việt Nam để truyền bá văn hóa phản động. Đặc biệt, chúng dùng mọi thủ đoạn để kích động, lôi kéo, lung lạc đội ngũ nhà văn, nghệ sĩ trong nước tham gia vào các hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam; hướng lái các văn nghệ sĩ đi theo các trào lưu tư tưởng văn hóa phương Tây, đào sâu “tự do, dân chủ” trong sáng tác, thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập” để đối trọng với Hội Nhà văn Việt Nam, v.v. Thậm chí, họ còn dùng những tác phẩm văn học, nghệ thuật để tạo cớ gây áp lực đòi “nhân quyền”, kích động bạo lực và lối sống thực dụng, dung tục, hòng làm phai mờ những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người Việt Nam. 
     Trong thời gian gần đây, các thế lực thù địch còn dùng thủ đoạn cử người trực tiếp tiếp cận các tầng lớp nhân dân, nhất là giới trí thức, sinh viên, số cực đoan tôn giáo và cán bộ, đảng viên tha hóa, biến chất để tuyên truyền, lôi kéo tham gia các hoạt động chống đối trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa. Với mưu đồ phủ nhận tính giai cấp, tính Đảng của văn hóa - văn nghệ, chúng tuyên truyền đề cao chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa cơ hội trong văn hóa - văn nghệ; hạ bệ những tác phẩm đỉnh cao chứa đựng sâu sắc tính nhân văn, chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của nhân dân ta,… tiến tới phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với văn hóa - văn nghệ.

3. Một số giải pháp phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay
     Xã hội muốn phát triển thì phản giá trị không thể chiếm chỗ của chân giá trị. Để cho “Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” , thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, nhất là các địa phương, cơ quan, đơn vị ở cơ sở phải tích cực, chủ động, kiên quyết đấu tranh phòng, chống, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch. Theo đó, cần phải có sự nghiên cứu tổng hợp, vận dụng linh hoạt, sáng tạo các hình thức, biện pháp đấu tranh, ngăn ngừa; trong phạm vi nghiên cứu của bài viết, xin nêu mấy vấn đề cơ bản:
     Một là, tăng cường giáo dục, bồi đắp hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người Việt Nam thời kỳ mới
     Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định “Tăng cường giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc, truyền thống và lịch sử dân tộc, ý thức trách nhiệm xã hội cho các tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên” . Đây vừa là mục tiêu, vừa là giải pháp hết sức quan trọng để ngăn ngừa sự tác động, xâm hại của những âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa”; tạo ra sự “miễn dịch” trong các tầng lớp nhân dân trước mưu đồ chống phá của kẻ địch. Quán triệt quan điểm của Đảng, cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội ở các địa phương, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục. Tập trung tuyên truyền khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân ái, nhân văn trong truyền thống văn hóa hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam. Đẩy mạnh giáo dục nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ về “hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam” thời kỳ mới, đó chính là sự gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa giá trị truyền thống với giá trị hiện đại; tích cực gìn giữ, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống với tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; ngăn chặn có hiệu quả sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, đẩy lùi tiêu cực, tệ nạn xã hội trong điều kiện kinh tế thị trường và xu thế hội nhập hiện nay.
Cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và các cơ quan chức năng ở cơ sở cần nghiên cứu, vận dụng linh hoạt các hình thức, biện pháp tuyên truyền, giáo dục, gắn sát với đặc điểm của từng đối tượng; trong đó, cần đẩy mạnh tuyên truyền trên các phương tiện thông tin, truyền thông; tuyên truyền, giáo dục trong các nhà trường, ở từng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Phát huy tốt vai trò xung kích, sáng tạo của các tổ chức quần chúng trong hoạt động tuyền truyền giáo dục đoàn viên, hội viên. Kết hợp giữa tuyên truyền, giáo dục với tổ chức các hình thức hoạt động văn hóa, văn nghệ để định hướng nhận thức tư tưởng một cách sinh động, hiệu quả trong cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là thế hệ trẻ.
     Hai là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành của cấp ủy, chính quyền; phát huy tốt vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt ở địa phương, cơ sở
     Đây là giải pháp hết sức quan trọng để giành thắng lợi trong mặt trận phòng, chống “xâm lăng văn hóa” mà các thế lực thù địch tiến hành đối với nước ta hiện nay. Trước hết, cấp ủy, chính quyền ở các địa phương, cơ quan, đơn vị cần quán triệt sâu sắc các quan điểm, chủ trương của Đảng về xây dựng, phát triển văn hóa, con người Việt Nam thời kỳ mới; tập trung đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức lãnh đạo, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực xây dựng, phát triển văn hóa, con người. Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát; chăm lo đào tạo, phát triển đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, tham mưu trong lĩnh vực văn hóa, văn nghệ; có cơ chế khuyến khích sự tìm tòi, sáng tạo trong hoạt động văn học, nghệ thuật, làm phong phú thêm bản sắc văn hóa Việt Nam; hạn chế các lệch lạc, các biểu hiện chạy theo thị hiếu tầm thường, mắc mưu lôi kéo, cám dỗ của các thế lực thù địch. Chính quyền, cơ quan chức năng ở các địa phương, cơ sở cần phải tăng cường quản lý và phát triển các loại hình truyền thông, thông tin, nhất là trên internet, mạng xã hội. Kiên quyết ngăn ngừa, loại bỏ các sản phẩm, thông tin độc hại, xuyên tạc, phản động, ảnh hưởng xấu đến ổn định chính trị - xã hội, thuần phong mỹ tục…
     Phát huy tốt vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì, chủ chốt các cấp ở cơ sở có tác dụng lan tỏa rất lớn trong giáo dục, định hướng giá trị văn hóa cho cán bộ, đảng viên và nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng căn dặn: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền” ; trong những năm qua, Đảng ta đã ban hành nhiều quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên: Quy định số 101-QÐ/TW, ngày 07/6/2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; Quy định số 55-QĐ/TW, ngày 19/12/2016, về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên; Quy định số 08-QĐ/TW, ngày 25/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, quy định trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Quán triệt quan điểm của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, đảng viên, mà trước hết là cán bộ chủ trì, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đoàn thể ở địa phương, cơ sở phải là những tấm gương sáng về trí tuệ, đạo đức, lối sống, phong cách và tinh thần trách nhiệm đối với tập thể, tạo sự lan toả các giá trị văn hoá nhân cách đến các tầng lớp nhân dân.
     Ba là, đẩy mạnh xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú ở các địa phương, cơ sở
     Môi trường văn hóa ở các địa phương, cơ quan, đơn vị cơ sở có vai trò hết sức quan trọng, là môi trường xã hội trực tiếp hình thành, nuôi dưỡng, phát triển, hoàn thiện nhân cách của cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân. Ca dao, tục ngữ có câu: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”, “gần mực thì đen, gần đèn thì rạng”; chăm lo xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, lành mạnh, phong phú ở các địa phương, cơ sở là giải pháp hữu hiệu để ngăn ngừa, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch một cách hiệu quả.
     Xây dựng môi trường văn hóa ở địa phương, cơ quan, đơn vị cơ sở hiện nay cần phải xây dựng đồng bộ, toàn diện các yếu tố tạo nên môi trường văn hóa, bao gồm hệ thống các giá trị văn hóa, các quan hệ văn hóa, hoạt động văn hóa và thiết chế, cảnh quan văn hóa. Phải chăm lo xây dựng văn hóa từ trong các tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể đến văn hóa nhân cách của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tập trung xây dựng đời sống văn hóa của các tầng lớp nhân dân, “cải thiện điều kiện hưởng thụ văn hóa của nhân dân …; bảo đảm công bằng về cơ hội và thụ hưởng văn hóa. Khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển và đời sống văn hóa giữa các vùng, miền, các giai tầng xã hội, đặc biệt quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, các khu công nghiệp …” như Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã xác định. Chăm lo xây dựng các quan hệ văn hóa lành mạnh, văn minh, tiến bộ trong từng địa phương, cơ quan, đơn vị, nhà trường, doanh nghiệp và trong mỗi gia đình …; khắc phục sự xuống cấp về đạo đức trong các quan hệ văn hóa, nhất là trong giới trẻ hiện nay. Xây dựng cảnh quan văn hóa hài hòa, thân thiện, văn minh; tổ chức các hoạt động văn hóa đa dạng, phong phú, tạo ra ở mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị một không gian văn hóa lành mạnh, tiến bộ, làm lấn át, đẩy lùi sự nảy sinh những biểu hiện phản văn hóa và âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch.
     Bốn là, gắn kết chặt chẽ giữa “xây” và “chống”; giữa gìn giữ, bồi đắp hệ giá trị văn hóa, chuẩn mực con người thời kỳ mới với kiên quyết đấu tranh ngăn ngừa, lọc bỏ những biểu hiện phản giá trị văn hóa trong mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị
Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” vừa là yêu cầu khách quan, vừa là giải pháp hữu hiệu trong phòng, chống âm mưu, thủ đoạn “xâm lăng văn hóa” của các thế lực thù địch hiện nay. Trước những tác động tiêu cực từ mặt trái nền kinh tế thị trường, xu thế toàn cầu hòa, hội nhập quốc tế và mưu đồ chống phá trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa của các thế lực thù địch, đã và đang làm nảy sinh ngày càng gia tăng những biểu hiện phi văn hóa, phản giá trị, suy thoái, tệ nạn, tiêu cực ở các địa phương, cơ quan, đơn vị ... Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống” nhằm lấy “xây” để “chống”, lấy “cái đẹp” để “dẹp cái xấu” và lấy “chống” để “xây”, kiên quyết “nhổ cỏ dại” để “hái mùa vàng”.
     Trong tình hình mới, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể ở các địa phương, cơ quan, đơn vị cần phải coi trọng giáo dục, gìn giữ, bồi đắp và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống, thể hiện bản sắc, thương hiệu của mình; đồng thời, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, tạo lập những giá trị văn hóa mới, mang tính tiên tiến, văn minh, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Kiên quyết đấu tranh ngăn ngừa, lọc bỏ những biểu hiện phản giá trị văn hóa; nhất là những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, sự xuống cấp về đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; phê phán và ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, tệ nạn mê tín, dị đoan; đẩy lùi bệnh quan liêu, bè phái, mất đoàn kết, chủ nghĩa cơ hội và thực dụng; các hành vi vi phạm pháp luật, kỷ luật ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Phối hợp chặt chẽ giữa các cấp, các ngành, phát huy sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, binh chủng trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, nhất là vai trò của cơ quan chức năng, các “Ban chỉ đạo 35”, lực lượng nòng cốt đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên không gian mạng. Phải làm cho các tổ chức, các lực lượng nhận thức đầy đủ, sâu sắc rằng, đây là việc làm thường xuyên, lâu dài chứ không phải là công việc “một sớm, một chiều”, giản đơn, “thuận buồm, xuôi gió”. Nó phải được tiến hành một cách bền bỉ, kiên trì, dũng cảm trên mọi lĩnh vực, mọi mặt hoạt động, trong mọi tổ chức, mọi lực lượng và trong mỗi con người. Trong đó, cần kết hợp chặt chẽ giữa khơi dậy và phát huy vai trò nêu gương về văn hóa của cán bộ, đảng viên với tăng cường quản lý, điều hành, thanh tra, kiểm tra xử lý các biểu hiện vi phạm./.


Yêu nước ST.

NGƯỜI ĐẤU TRANH CHO DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN CHÂN CHÍNH KHÔNG BAO GIỜ BỊ BẮT Ở VIỆT NAM!

     Mới đây, đối tượng Bùi Tuấn Lâm bị cơ quan an ninh thành phố Đà Nẵng bắt tạm giam với tội danh: “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, quy định tại Điều 117 Bộ luật Hình sự.
     Đã thành thói quen, cứ sau khi các cơ quan bảo vệ pháp luật của Việt Nam áp dụng các biện pháp ngăn chặn bất kỳ một đối tượng nào đó có hành vi phá hoại đất nước, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc, lợi ích của nhân dân thì một số trang mạng và một vài tờ báo thiếu thiện chí với Việt Nam ở hải ngoại lại tìm cách đưa tin, viết bài bênh vực, che chắn. Đối với Bùi Tuấn Lâm cũng vậy. Ngay sau khi đối tượng này bị bắt, một số trang mạng thiếu thiện chí với Việt Nam ở hải ngoại đã ra sức tung hô, tô vẽ, bênh vực cho những hành vi sai phạm của Bùi Tuấn Lâm. 
     Dưới ngòi bút của một số “nhà bình luận”, Bùi Tuấn Lâm hiện lên như một “nhà hoạt động năng nổ trong các vấn đề như nhân quyền, dân oan, hay thiện nguyện…”; Bùi Tuấn Lâm còn được biết đến như “một nhà hoạt động xã hội dân sự, thường xuyên tham gia các hoạt động đấu tranh đòi nhân quyền và bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam”… Cứ theo cách lấp liếm của họ thì Bùi Tuấn Lâm có “bản thành tích” khá dày và “đáng nể” trong đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền. Nhưng cho dù bằng cách nào, luận điệu gì, tinh vi, biến ảo đến đâu đi chăng nữa họ cũng không thể che đậy được sự thật.
     Theo điều tra ban đầu, Bùi Tuấn Lâm là thành viên của một số tổ chức là các hội, nhóm chống Đảng, Nhà nước Việt Nam và các tổ chức phản động lưu vong. Bùi Tuấn Lâm từng tham gia khóa huấn luyện về “xã hội dân sự”, “đấu tranh bất bạo động”; thường xuyên tham gia các buổi thảo luận về học thuyết xã hội nhằm đào tạo lực lượng hình thành xã hội dân sự; tham gia với các đối tượng chống đối chính trị viết bài xuyên tạc chính quyền, câu kết hoạt động kích động biểu tình, gây rối…
Từ năm 2013 đến nay, Bùi Tuấn Lâm thường xuyên sử dụng mạng xã hội để đăng tải nhiều bài viết, video, livestream có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; cổ xúy các hoạt động chống Đảng, Nhà nước. Ngoài ra, Bùi Tuấn Lâm còn đăng tải, chia sẻ trên mạng xã hội các bài viết xúc phạm lãnh tụ, xúc phạm uy tín, danh dự của các tổ chức, cá nhân thực thi pháp luật với mong muốn, mục đích thay đổi chế độ Nhà nước xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, gây hoang mang, bức xúc trong quần chúng nhân dân…
     Dù đang trong quá trình điều tra, nhưng những hành vi vi phạm pháp luật của Bùi Tuấn Lâm là khá rõ ràng. Hoạt động của Bùi Tuấn Lâm như đã nói không phải nhằm bảo vệ và thúc đẩy quyền con người một cách chân chính. Thực chất những hành động của Bùi Tuấn Lâm đã vi phạm pháp luật, ngăn cản việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 
     Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, tất cả vì con người và cho con người. Cùng với tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, Nhà nước Việt Nam luôn khuyến khích mọi hoạt động đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền chân chính. Luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do của công dân, tranh thủ tối đa sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế trong bảo vệ nhân quyền, nhưng Việt Nam kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn mọi âm mưu và hành động núp bóng “dân chủ”, “nhân quyền” để chống phá Đảng và chính quyền nhân dân, can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác. Việt Nam không bao giờ bắt bớ, giam giữ, xử tù những người đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền một cách chân chính. Ở Việt Nam không có chỗ cho thứ “dân chủ”, “nhân quyền” coi thường kỷ cương phép nước./.
Yêu nước ST.

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2022

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 17 THÁNG 9 NĂM 1945!

         “Chúng ta không sợ có khuyết điểm, chúng ta chỉ sợ không có quyết tâm sửa đổi, chúng ta phải lấy lòng “chí công vô tư”!
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh được trích trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà”, đề ngày 17 tháng 9 năm 1945, viết tại Hà Nội, Người lấy danh nghĩa của một đồng chí già, mục đích là để san sẻ ít kinh nghiệm với các đồng chí quê mình. Thư gồm 4 mục nhỏ, đánh số rõ ràng nhằm chuyển tải 4 nội dung:
- Một là, ý nghĩa rất to lớn của cuộc cách mạng dân tộc;
- Hai là, lý giải vì sao cuộc cách mạng thắng lợi;
- Ba là, sự nghiệp kiến thiết xây dựng xã hội mới sau khi giành chính quyền;
- Phần thứ tư, dài nhất, đậm nhất cuối thư, Người nêu những khó khăn cần giải quyết, phải vừa làm vừa học, cái chính là theo cho đúng chính sách của Chính phủ ban hành.
     Chính sách của Chính phủ ngay sau giành chính quyền, theo Người rút lại chỉ trong có 2 chuyện: Củng cố đoàn kết và sửa chữa khuyết điểm. Sức mạnh đoàn kết dân tộc, ai cũng rõ rồi, nhưng nêu rõ ra và yêu cầu sửa chữa những khuyết điểm trên nhiều phương diện chủ yếu của cán bộ, đảng viên lúc bấy giờ thì không phải ai cũng quán triệt. Những khuyết điểm đó, cụ thể ra là thói bao biện, hẹp hòi; lạm dụng hình phạt; kỷ luật không nghiêm; một số việc làm xấu xa như lên mặt làm quan cách mạng, độc đoán, dùng phép công để báo thù tư… Tất cả khiến dân chúng hoang mang, nền đoàn kết bị lung lay, uy tín của Chính phủ và đoàn thể bị ảnh hưởng xấu. Giành được chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn nhiều - nhận thức sâu sắc quy luật này, Bác kêu gọi đồng chí, đồng bào ở tỉnh nhà phải lập tức sửa đổi ngay.
     Thông điệp trong “Thư gửi các đồng chí tỉnh nhà” đến nay vẫn còn giữ nguyên giá trị lịch sử của một giai đoạn hào hùng và ý nghĩa thời sự đối với việc tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ của cán bộ, đảng viên các cấp trong thực hiện Nghị quyết Trung ương lần thứ 4 khóa XII của Đảng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, gắn với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
     Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, rèn luyện, thấu triệt lời dạy của Bác và được cụ thể hóa trong mọi mặt công tác, đặc biệt là trong chiến đấu. Sau mỗi trận đánh, mỗi nhiệm vụ, cấp ủy, chỉ huy các cấp đều lãnh đạo, chỉ đạo tổ chức rút kinh nghiệm nghiêm túc, đã có nhiều Hội nghị chỉnh huấn cấp toàn quân. Thông qua việc mở rộng dân chủ, đề cao trách nhiệm trong tự phê bình và phê bình đã làm rõ nguyên nhân, rút ra những kinh nghiệm quý để Quân đội ta càng đánh, càng mạnh, càng đánh, càng thắng, lập nên những chiến công vẻ vang, tô thắm truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” và phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ” xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân./.
Môi trường ST.

QUÂN ĐÔI TA TRUNG VỚI ĐẢNG, HIẾU VỚI DÂN, NHIỆM VỤ NÀO CŨNG HOÀN THÀNH, KHÓ KHĂN NÀO CŨNG VƯỢT QUA, KẺ THÙ NÀO CŨNG ĐÁNH THẮNG!

     Đó là lời khen tặng của Chủ tịch Hồ Chí Minh dành cho Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam nhân kỷ niệm lần thứ 20 Ngày thành lập và đó cũng chính là truyền thống vẻ vang của quân đội ta, là chuẩn mực của Bộ đội Cụ Hồ. Phẩm chất đó là cơ sở vững chắc của sức mạnh đoàn kết, thống nhất về tư tưởng và hành động; là động lực mạnh mẽ thúc đẩy cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn nêu cao ý chí quyết tâm, huy động mọi sức lực và trí tuệ, phấn đấu vươn lên hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao./.







Yêu nước ST.

NHẬN DIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐOÀN KẾT VÀ THÀNH CÔNG!

         Đoàn kết là truyền thống quý báu của dân tộc và của Đảng ta. Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác-Lênin nhấn mạnh: Đoàn kết là yêu cầu chiến lược để đảng cộng sản thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình. Đoàn kết là sức đề kháng để Đảng phòng ngừa các nguy cơ bè phái, cục bộ, “lợi ích nhóm”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”...
     Ngay từ khi mới thành lập Đảng, những người cộng sản Việt Nam đã thống nhất từ bỏ mọi thành kiến và xung đột cũ, kết thành đội tiên phong của giai cấp và của dân tộc. Tại Đại hội III của Đảng năm 1960, nhận thức rõ đoàn kết “là sinh mệnh của Đảng”, Đảng ta bổ sung vào Điều lệ Đảng nguyên tắc đoàn kết nhất trí và nhấn mạnh: Đảng kiên quyết chống lại mọi hiện tượng chia rẽ, bè phái trong Đảng. Mỗi đảng viên phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt... Tự phê bình và phê bình thành khẩn, thẳng thắn và đúng mức là một bảo đảm cho sự đoàn kết nhất trí đó. Điều lệ Đảng hiện hành quy định: Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động... đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng.
     Để nguyên tắc đoàn kết trong Đảng phát huy vai trò, tác dụng, trước hết cần tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả những nhiệm vụ, giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Thực sự coi trọng giáo dục lý luận chính trị cho đảng viên. Sự giác ngộ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng là cơ sở nền tảng cho việc thống nhất ý chí, thống nhất hành động. Không ngừng hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách đúng đắn. Kiên định và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng cùng với không ngừng mở rộng dân chủ trong Đảng./.


Yêu nước ST.

CHÍNH CÁC BẠN ĐÃ P.H.Á V.Ỡ MỐI QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM CHÚNG TÔI!

         Một họa sĩ người Ukraine mới đây đã vẽ "quốc kỳ các quốc gia đã ủng hộ NHÂN ĐẠO , KINH TẾ , VŨ KHÍ, TÀI CHÍNH, QUÂN SỰ, TINH THẦN... cho Ukraina" tại một đường phố của Ukraine, trong đó có cờ vàng ba sọc và chú thích là "VIETNAM".
     Tôi không biết nghệ sĩ này là ai nhưng anh ta nên tìm hiểu một chút về lịch sử Việt Nam. Trong các thời kỳ cách mạng Việt Nam thì theo tôi được biết chưa bao giờ cái tên "Việt Nam" lại được gắn với lá vàng ba sọc, trong khi nó chỉ gắn liền với cái gọi là "chế độ VNCH" mà người Việt Nam quen gọi là chế độ ngụy Sài Gòn.
     Đường lối đối ngoại của Nhà nước Việt Nam là hoàn toàn trung lập, không nghiêng và không theo một phe phái nào, nên chúng tôi không bênh vực bên nào mà chọn lẽ phải. Chỉ có tổ chức nào đó dù đã s.ụ.p đ.ổ từ lâu, nhưng vẫn h,ậ,m h,ự,c muốn phục hồi nên đành cam chịu làm tay sai cho Bông Kỳ. Dù không muốn nhưng họ vẫn phải đã cử một số thành viên đầu quân cho các bạn để ủng hộ chủ nghĩa phát xít và vài tên trong số đó hiện đã "đăng xuất" khỏi trái đất. 
     Không phải họ làm thế vì thương các bạn đâu, vì lợi ích vật chất, vì là tay sai cho Bông Kỳ nên họ mới đầu quân cho các bạn thôi. Chúng tôi mới thực sự là những người thương các bạn! Vì chúng tôi từng trải qua ch.iến tr.anh nên thừa hiểu những mất mát của ch.iến tr.anh chúng tôi mong muốn các bạn được sống trong hòa bình. Nhưng nếu các bạn vẫn cố chấp ủng hộ chủ nghĩa phát xít, cùng với đội ngũ lãnh đạo và các chính sách như hiện nay thì tôi e rằng các bạn sẽ còn phải chịu thêm những m.ấ.t m.á.t hơn nữa, nếu không muốn nói là chẳng còn gì để mà mất!


Yêu nước ST.

CHỦ ĐỘNG PHÒNG, CHỐNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH, GÓP PHẦN BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA!

     Bảo vệ Tổ quốc (BVTQ) từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là quan điểm xuyên suốt của Đảng ta.
     Nghị quyết Đại hội XII của Đảng xác định: “Có kế sách ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và triệt để triệt tiêu các nhân tố bất lợi, nhất là các nhân tố bên trong có thể gây ra đột biến”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục bổ sung, phát triển thành: “Chủ động ngăn ngừa các nguy cơ chiến tranh, xung đột từ sớm, từ xa; phát hiện sớm và xử lý kịp thời những yếu tố bất lợi, nhất là những yếu tố nguy cơ gây đột biến; đẩy mạnh đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hoạt động chống phá của các thế lực thù địch”.
     1. Quan điểm BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là hoàn toàn đúng đắn, xuất phát từ bài học kinh nghiệm được đúc kết từ lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đồng thời thể hiện bước phát triển quan trọng từ thực tiễn và lý luận của Đảng về quốc phòng, an ninh (QPAN), đối tác, đối tượng, về BVTQ trong tình hình mới.
     Từ xưa đến nay, đất nước ta đã áp dụng nhiều biện pháp, như: Tích cực hoạt động bang giao, giữ hòa khí với các nước láng giềng, tránh chiến tranh khi còn có thể; chăm lo xây dựng, củng cố lực lượng quân đội, tiềm lực quốc gia; giữ vững biên giới; thực hiện kế sách khoan thư sức dân... Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Bất kỳ hòa bình hoặc chiến tranh, Việt Nam cũng phải nắm vững chủ động, phải thấy trước, chuẩn bị trước”.
     Thực tế cho thấy, BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy là tư tưởng chỉ đạo, hành động xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta. Kế sách này được vận dụng sáng tạo, linh hoạt thông qua việc xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và "thế trận lòng dân"; thực hiện tốt chủ trương kết hợp chặt chẽ kinh tế, văn hóa, xã hội với QPAN trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội... Tuy nhiên, các thế lực thù địch, phản động không ngừng chống phá kế sách BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Vì vậy, Đảng, Nhà nước ta đã đề ra nhiều giải pháp để đấu tranh với những âm mưu, thủ đoạn chống phá này. Đặc biệt, ngày 22-10-2018 Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 35-NQ/TW về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới”. Tiếp đó, ngày 4-6-2019, Ban Bí thư ban hành Kết luận số 53-KL/TW về việc chỉ đạo đấu tranh ngăn chặn, xử lý, gỡ bỏ, triệt phá tin giả, thông tin sai sự thật, xấu độc trên internet, mạng xã hội. Hai văn bản này tạo khuôn khổ phối hợp đồng bộ, có hiệu quả giữa các cơ quan làm nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, nhất là trên không gian mạng.
     2. Việc đặt ra yêu cầu chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, góp phần BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy xuất phát từ đánh giá, nhận định thấu đáo của Đảng ta về tình hình trong nước, những diễn biến mới và thay đổi nhanh chóng trên thế giới; phương thức, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch.

Về tình hình trong nước. Tuy đất nước đã đạt được nhiều thành tựu to lớn mà không ai có thể phủ nhận, như Đảng ta đã khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”; song vẫn còn tồn tại những hạn chế, khiếm khuyết, như: Sự phân hóa giàu nghèo, khoảng cách chênh lệch về sự phát triển giữa các vùng miền, vẫn còn nhiều vụ việc tham nhũng, tiêu cực... Các thế lực thù địch, phản động luôn tận dụng những hạn chế, khuyết điểm này để suy diễn, xuyên tạc, thổi phồng hòng chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, quyết liệt chống phá Đảng, Nhà nước ta.
     Về những diễn biến mới và thay đổi nhanh chóng trên thế giới. Chúng ta đang sống trong một thế giới toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, thay đổi rất mau lẹ, khó đoán định với nhiều xu hướng đáng quan ngại nổi lên (như chủ nghĩa dân tộc cực đoan, khủng bố quốc tế, tội phạm xuyên quốc gia, trào lưu dân túy, sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ...) đặt ra hàng loạt thách thức đối với các quốc gia. Không gian lựa chọn chiến lược của Việt Nam bị thu hẹp dưới tác động của thay đổi địa chính trị quốc tế, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt giữa các nước lớn. Bối cảnh mới đòi hỏi Việt Nam phải duy trì thế cân bằng chiến lược trong quan hệ với các nước để tránh đối đầu, trở thành nạn nhân của xung đột vũ trang và chiến tranh.
     Đặc biệt, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã tạo ra một không gian chiến lược mới-“không gian mạng”. Đây là môi trường chủ yếu, không thể thiếu trong triển khai các chiến lược, quan hệ đối ngoại, củng cố, duy trì hoạt động kinh tế-xã hội của các quốc gia, đưa tới những chuyển biến sâu sắc về mọi mặt, trong đó có những phương tiện và phương thức bảo đảm QPAN, BVTQ, tạo ra những thách thức mới...
     Trong thế giới phẳng hiện nay, người dân được tiếp cận thông tin rất nhanh và phong phú, đa chiều, cả mặt thuận và mặt trái, trong đó nhiều thông tin không được kiểm chứng. Những thông tin xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo trên không gian mạng tác động rất lớn đến tư tưởng, tình cảm của nhân dân và sự nghiệp QPAN, BVTQ.
     Phương thức, thủ đoạn hoạt động của các thế lực thù địch không ngừng thay đổi, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, đặc biệt là tận dụng thành tựu khoa học, công nghệ để tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta. Không gian mạng đã được chúng tận dụng triệt để với quy mô, mức độ, đối tượng rộng khắp và rất khó kiểm soát. Các thế lực thù địch, phản động, đối tượng chống đối chủ yếu sử dụng mạng xã hội để tung tin xấu độc, tán phát tài liệu, quan điểm sai trái nhằm tuyên truyền, phá hoại nền tảng tư tưởng, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, từng bước thực hiện âm mưu thay đổi chế độ chính trị nước ta. Theo báo cáo của Bộ Công an, chỉ riêng năm 2020 đã phát hiện hơn 3.000 trang mạng có nội dung xấu độc, đăng tải hơn 800.000 bài viết, video clip có nội dung chống phá, hòng làm lung lay niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Đảng, Nhà nước.
     Đặc biệt, các thế lực thù địch, phản động cố tình tung nhiều thông tin không có lợi cho chính sách BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy của Đảng, Nhà nước ta. Ví như chúng thường lợi dụng những sự việc trên Biển Đông để bóp méo, bịa đặt, xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo; kích động chiến tranh và gây chia rẽ, bất ổn trong nước; đòi hỏi Đảng, Nhà nước ta phải xem xét lại chính sách đối ngoại theo hướng tẩy chay nước này, dựa vào nước khác... Đây là những luận điệu phản động rất nguy hiểm, cố tình phá hoại chính sách đối ngoại, quốc phòng của Việt Nam theo nguyên tắc vừa đạt được mục tiêu BVTQ vừa giữ được môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
     3. Dự báo, hoạt động chống phá của các đối tượng phản động, chống đối sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, khó kiểm soát hơn trong thời gian tới. Vì vậy, để chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, gây tổn hại tới chính sách BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy của Đảng, Nhà nước và toàn dân, toàn quân ta; đồng thời góp phần thực hiện thắng lợi đường lối BVTQ từ sớm, từ xa, cần thực hiện tốt một số nội dung sau:
     Một là, các cơ quan nghiên cứu lý luận, đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng cần chủ động hơn nữa trong công tác nghiên cứu chiến lược, nắm chắc tình hình, diễn biến trong và ngoài nước, cụ thể như: Các xu hướng vận động của thế giới và khu vực, nhất là khu vực ASEAN, Biển Đông; phân tích kỹ những cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn; những diễn biến trên thế giới để chỉ rõ những tác động đối với sự nghiệp xây dựng và BVTQ... Trên cơ sở đó, chuẩn bị các luận cứ khoa học phục vụ nhiệm vụ đấu tranh phản bác những quan điểm sai trái; hoàn thiện chiến lược BVTQ, nhất là kế sách chủ động BVTQ từ trong thời bình; tập trung phát triển, hoàn thiện lý luận BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy trong tình hình mới.
     Hai là, tăng cường thông tin, tuyên truyền để đạt được thống nhất cao trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về chủ trương BVTQ từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy. Để thực hiện được điều này, Ban Tuyên giáo Trung ương và các cấp, ngành cần thường xuyên cập nhật kiến thức về BVTQ trong tình hình mới; xây dựng đội ngũ tuyên truyền viên và cập nhật thường xuyên tài liệu tuyên truyền công khai về các vấn đề dư luận trong nước và quốc tế quan tâm theo hướng dễ đọc, dễ hiểu... để nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền.
     Ba là, thường xuyên quan tâm nghiên cứu, nắm thật chắc tình hình tư tưởng, các xu hướng xã hội, đặc biệt là những vấn đề, sự kiện nhân dân quan tâm để kịp thời thông tin, định hướng dư luận có nhận thức đúng; không để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng "khoảng trống thông tin" để xuyên tạc, kích động; tránh để người dân vì tò mò mà tìm cách tiếp cận thông tin xấu độc, thiếu kiểm chứng... Thực tế cho thấy, đây là việc hết sức quan trọng, bảo đảm giữ vững niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng; phòng, chống tư tưởng, tâm lý dao động, mất lòng tin trong nhân dân và dẫn tới “tự diễn biến”, suy thoái về tư tưởng chính trị trong một bộ phận cán bộ, đảng viên có lập trường tư tưởng không vững vàng.
     Bốn là, tăng cường công tác tuyên truyền, thông tin đối ngoại; chủ động cung cấp thông tin chính thống, đầy đủ cho các đối tác, cơ quan đại diện nước ngoài tại Việt Nam để họ hiểu đúng, hiểu toàn diện, tránh cách nhìn phiến diện, thiên lệch về tình hình tại Việt Nam; không để các đối tượng phản động, chống đối lợi dụng cung cấp thông tin một chiều, không đúng thực tế, gây bất lợi cho Đảng, Nhà nước ta, nhất là trong thực hiện kế sách BVTQ từ sớm, từ xa.
     Năm là, luôn theo dõi sát, nắm bắt kịp thời các dạng quan điểm sai trái và những hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị nhằm chủ động trong đấu tranh, ngăn chặn hiệu quả. Đồng thời, cần đổi mới phương thức đấu tranh trên các mặt pháp lý, truyền thông, tuyên truyền, đặc biệt là về mặt kỹ thuật. Lực lượng chuyên trách các cấp cần đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để kịp thời phát hiện, ngăn chặn thông tin sai trái, tội phạm mạng...; tăng cường số lượng, chất lượng thông tin tích cực để đẩy lùi thông tin xấu độc.
     Sáu là, chủ động phát hiện sớm và xử lý kịp thời những vụ việc phức tạp, nổi cộm phát sinh, những vấn đề bức xúc trong xã hội; không để các thế lực thù địch lợi dụng để tuyên truyền chống phá, không để các vụ việc phức tạp kéo dài, phát triển ngoài tầm kiểm soát, gây ra tâm lý hoài nghi, giảm lòng tin trong quần chúng nhân dân đối với các cấp chính quyền và Đảng, Nhà nước ta./.


Yêu nước ST.

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2022

QUAN ĐIỂM SAI LẦM CỦA PHƯƠNG TÂY KHI VIỆT NAM THAM DỰ ARMYGAME


Trước thềm Army Games 2022, trong bối cảnh quan hệ Nga – Ukraina có nhiều thay đổi và những biến động chính trị thế giới khó lường, đã xuất hiện quan điểm lệch lạc cho rằng, Việt Nam ‘chọn phe’ Nga khi đưa quân dự cuộc thi về quân sự hàng năm do Bộ Quốc phòng Liên bang Nga tổ chức (Army Games).

Tuy nhiên, báo chí phương Tây không hiểu rằng, chính những hành động khiêu khích của Hoa Kỳ và đồng minh mới là nguồn cơn, nguyên nhân sâu xa cho sự chia rẽ sâu sắc, thế giới phân cực và ảnh hưởng đến hoà bình, ổn định, thịnh vượng chung trong khu vực.

Mỹ và Phương Tây với những định kiến cố hữu, luôn có thái độ, quan điểm sai lầm đã nỗ lực can thiệp vào công việc nội bộ của nước khác một cách trắng trợn. Việt Nam là quốc gia có độc lập, chủ quyền, có uy tín, vị thế, tiếng nói riêng. Với chính sách “bốn không” kiên định và đường lối “ngoại giao cây tre” mềm dẻo nhưng khôn khéo, phù hợp với tình hình cụ thể của mình, Hà Nội sẽ tự biết cách cân bằng và chọn đường lối đối sách thích hợp nhất trong bất kỳ hoàn cảnh nào.

Thành công của các lực lượng Quân đội Việt Nam dự Army Games 2022 lần này đã chứng minh tất cả - năng lực, trình độ của bộ đội Việt Nam, khả năng tổ chức, phối hợp đăng cai với Quân đội các nước tuỵệt vời, tinh thần chủ động trách nhiệm cao và tất cả vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, Quân đội Nhân dân Việt Nam, đóng góp chung cho tình đoàn kết hữu nghị giữa Quân đội các nước, vì ổn định, an ninh chung trong toàn khu vực và trên thế giới.

KHÔNG NGỪNG VUN ĐẮP QUAN HỆ VIỆT NAM - CAMPUCHIA


Việt Nam - Campuchia gìn giữ và không ngừng củng cố, tăng cường quan hệ láng giềng gần gũi, mối quan hệ truyền thống, gắn bó từ lâu đời giữa nhân dân hai nước


Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam, ngày 13-9, Chủ tịch Danh dự Đảng Nhân dân Campuchia, Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia Samdech Heng Samrin đã tiếp kiến Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc và Thủ tướng Phạm Minh Chính.


Anh em thân thiết, cùng kề vai sát cánh


Tại các cuộc tiếp Chủ tịch Quốc hội Campuchia, các nhà lãnh đạo ta bày tỏ vui mừng nhận thấy quan hệ hợp tác giữa hai nước thời gian qua giữ được đà phát triển ổn định. Lãnh đạo cấp cao hai nước thường xuyên có các cuộc trao đổi, tiếp xúc. Các cơ chế hợp tác song phương tiếp tục phát huy hiệu quả, giúp duy trì đà hợp tác giữa hai nước trên các lĩnh vực.


Dù bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 song kim ngạch thương mại hai chiều giữa hai nước năm 2021 vẫn đạt gần 10 tỉ USD, tăng 80% so với năm trước. Việt Nam có 188 dự án đầu tư với tổng vốn 2,8 tỉ USD, đứng đầu ASEAN và trong tốp 5 nước đầu tư lớn nhất tại Campuchia. Hai bên cũng đã nỗ lực thúc đẩy công tác phân giới cắm mốc nhằm xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển lâu dài.


Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh truyền thống quan hệ Việt Nam - Campuchia là hai nước láng giềng gần gũi, anh em thân thiết, cùng kề vai sát cánh bên nhau trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước trước đây cũng như trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước ngày nay.


Chủ tịch Quốc hội Campuchia Samdech Heng Samrin khẳng định Quốc hội Campuchia luôn sát cánh bên Việt Nam với tinh thần đoàn kết hữu nghị tốt đẹp giữa hai nước. Năm 2022 là năm kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước (1967-2022), Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia mong muốn cơ quan chức năng hai nước tổ chức nhiều hoạt động thiết thực, vun đắp cho sự phát triển tốt đẹp của mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai dân tộc.


Nhân dịp này, Chủ tịch Quốc hội Campuchia cũng bày tỏ cảm ơn Đảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam đã viện trợ, giúp xây dựng nhà làm việc của Ban Thư ký và các ủy ban của Quốc hội Campuchia tại Phnom Penh. Đặc biệt, Đảng và nhân dân Campuchia luôn ghi nhớ công lao, sự hy sinh to lớn của quân tình nguyện và chuyên gia Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng đất nước Campuchia khỏi chế độ d.iệt c.hủng Pol Pot.


Tăng cường kết nối hai nền kinh tế


Về phương hướng tăng cường quan hệ hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới, hai bên nhất trí duy trì tiếp xúc, trao đổi cấp cao thường xuyên trên tất cả các kênh nhằm không ngừng củng cố quan hệ chính trị tin cậy. Các cơ quan lập pháp và hành pháp hai nước tiếp tục phát huy vai trò thúc đẩy quan hệ, nhất là trong việc xây dựng thể chế, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho hợp tác trên tất cả các lĩnh vực; phối hợp giám sát, thúc đẩy các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp hai bên triển khai hiệu quả các thỏa thuận đã ký.


Trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực có những diễn biến phức tạp hiện nay, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc mong muốn Quốc hội hai nước phát huy hơn nữa vai trò của cơ quan lập pháp, thúc đẩy quan hệ song phương, xây dựng thể chế, hoàn thiện pháp luật nhằm tạo thuận lợi cho tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực, nhất là kết nối hai nền kinh tế; đẩy mạnh giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức và trách nhiệm của người dân, đặc biệt là thế hệ trẻ hai nước. Qua đó, gìn giữ và không ngừng củng cố, tăng cường quan hệ láng giềng gần gũi, mối quan hệ truyền thống, gắn bó từ lâu đời giữa nhân dân hai nước.


Thủ tướng Phạm Minh Chính và Chủ tịch Quốc hội Campuchia nhất trí hai nước tiếp tục phối hợp triển khai hiệu quả các thỏa thuận, kế hoạch hợp tác quốc phòng - an ninh; phối hợp kiểm soát chặt chẽ để ngăn chặn t.ội p.hạm xuyên biên giới; tiếp tục nỗ lực phân giới cắm mốc 16% còn lại để xây dựng đường biên giới trên đất liền hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.


Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường kết nối hai nền kinh tế, nhất là giao thông vận tải, viễn thông, tài chính - ngân hàng, làm cơ sở và tạo động lực mới cho hợp tác trên các lĩnh vực khác như thương mại, đầu tư, năng lượng, du lịch, giáo dục - đào tạo và hợp tác giữa các địa phương, nhất là các tỉnh biên giới. Hai bên nhất trí tiếp tục phối hợp, ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế và khu vực; hoàn thành "Quy hoạch tổng thể kết nối hai nền kinh tế Việt Nam - Campuchia đến năm 2030", ký kết Hiệp định Thương mại biên giới, triển khai hiệu quả Hiệp định Khuyến khích - Bảo hộ đầu tư và Hiệp định Tránh đánh thuế hai lần.


Thủ tướng Phạm Minh Chính khẳng định Việt Nam ủng hộ và tin tưởng Campuchia sẽ đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN và AIPA năm 2022. Thủ tướng đề nghị hai nước cùng các quốc gia thành viên khác nỗ lực duy trì đoàn kết, thống nhất và vai trò trung tâm của ASEAN trong các vấn đề chiến lược của khu vực, trong đó có vấn đề biển Đông.


Sáng cùng ngày, Chủ tịch Quốc hội Vương quốc Campuchia Samdech Heng Samrin đã đến đặt vòng hoa và vào Lăng viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh.


Giải quyết dứt điểm l.ừa đ.ảo, c.ưỡng b.ức lao động


Thủ tướng Phạm Minh Chính cảm ơn và đề nghị Quốc hội, Chính phủ Campuchia tiếp tục quan tâm, tạo điều kiện cho người gốc Việt tại Campuchia sinh sống, làm ăn ổn định, hòa nhập tốt xã hội sở tại và làm cầu nối hữu nghị giữa hai nước; đồng thời tạo thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam đầu tư, kinh doanh ổn định, lâu dài tại Campuchia.


Thủ tướng cũng cảm ơn các cơ quan chức năng Campuchia thời gian qua đã phối hợp hiệu quả với phía Việt Nam trong việc giải cứu thành công nhiều công dân Việt Nam bị l.ừa đ.ảo, c.ưỡng b.ức lao động tại các cơ sở kinh doanh b.ất h.ợp p.háp của người nước ngoài tại Campuchia; đề nghị hai bên tiếp tục hợp tác chặt chẽ để g.iải c.ứu, hỗ trợ nạn nhân và giải quyết dứt điểm vấn đề này.


Báo Người Lao Động

SỰ GẮN KẾT ĐẶC BIỆT


Tình cảm đặc biệt giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một biểu tượng sáng ngời về tình cảm của một nhà lãnh đạo, một người chỉ huy, một người thầy, một người anh, một người thân thích với một trợ lý, một vị tướng, một người học trò… của tình đồng chí và tình thân trong nghĩa đồng bào sâu đậm. Đó là hiện thân của sự gắn kết ý chí, niềm tin, sự chân thành, sự tận tụy của hai con người vĩ đại, của sức mạnh dân tộc Việt Nam.


Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã hồi tưởng, viết về những cảm xúc khi lần đầu tiên được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1940: "Tôi nhận ra ngay chính là đồng chí Nguyễn Ái Quốc. Nếu so với bức ảnh ngày trước tôi đã được xem thì trông Bác ở ngoài linh hoạt và sắc sảo hơn nhiều (Hồi đó Bác chưa để râu)… Gặp Bác, tôi thấy Bác hoàn toàn không giống như những điều mình hằng tưởng tượng. Ngay từ phút đầu, tôi đã cảm thấy như mình được ở rất gần Bác, được quen Bác từ lâu rồi. Con người của Bác toát ra một cái gì rất trong sáng, giản dị…"


Không chỉ trong công tác, mà trong cuộc sống hàng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp có một sự gắn bó đặc biệt của những con người có chung chí hướng. Đó là một biểu tượng sáng ngời về tình cảm, sự đồng cảm của một nhà lãnh đạo, một người chỉ huy, một người thầy, một người anh, một người thân thích với một trợ lý, một vị tướng, một người học trò…, của tình đồng chí và của tình thân trong nghĩa đồng bào sâu đậm. Đó là hiện thân của sự gắn kết ý chí, niềm tin, sự chân thành, sự tận tụy của hai con người vĩ đại, của sức mạnh dân tộc Việt Nam./

GIÁ TRỊ CỦA HOÀ BÌNH

 

Trong muôn vàn những điều tốt đẹp mà cuộc đời mang lại cho mỗi người thì hòa bình chính là món quà vô giá nhất. Chỉ khi có được hòa bình thì con người mới có thể sống một cuộc sống yên ổn hạnh phúc không phải chịu nỗi đau mất mát chia li như trong chiến tranh. Vì vậy hoà bình luôn là điều mong muốn của những con người chân chính trên trái đất này, đặc biệt là dân tộc Việt Nam ta. 


Dân tộc ta đã phải trải qua hơn 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước, hàng trăm năm chiến tranh triền miên, gánh chịu bao mất mát đau thương nên thấu hiểu sâu sắc giá trị của hoà bình. Tuy rằng chiến tranh đã đi vào quá khứ mất mát đau thương đã nhường chỗ cho một Việt Nam tự hào và phát triển, nhưng mỗi hình ảnh, mỗi câu chuyện được kể lại khiến cho chúng ta hình dung được những tháng năm bi hùng của dân tộc. 


Chúng ta có thể khép lại quá quá khứ, nhưng không có nghĩa được phép quên đi lịch sử. Khi nói về lịch sử, đại văn hào Victor Hugo từng khẳng định: "Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ trong tương lai và là phản chiếu tương lai trên quá khứ. Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, nhưng nó luôn có mối quan hệ mật thiết với hiện tại và tương lai". Lịch sử chính là thước đo chân lý và bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, vì vậy những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam sẽ mãi trường tồn cho dù thời gian trôi qua. 


Nhìn về quá khứ không phải là để nung nấu hận thù, càng không phải để kích động tư tưởng bài ngoại, mà nhớ về quá khứ chính là cơ sở để xây dựng lòng tự tôn, tự hào dân tộc trong mỗi người, từ đó suy nghĩ sáng suốt, hành động hiệu quả để không làm tổn thương cha ông ta những người đã không ngại gian khổ hy sinh để giành nền độc lập tự do cho dân tộc. Quá khứ-hiện tại- tương lai là dòng chảy liên tục của lịch sử. Tương lai không thể tươi sáng, cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do - hạnh phúc không thể vững bền nếu như chúng ta quên đi quá khứ…


Hà Thanh

QUÂN ĐỘI TA TRUNG VỚI ĐẢNG HIẾU VỚI DÂN!

         Lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của Quân đội nhân dân Việt Nam trong gần 80 năm qua không chỉ khẳng định về sự cần thiết phải tổ chức xây dựng quân đội cách mạng, quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam, yêu cầu của cuộc đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc ở nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm đánh đuổi thực dân, đế quốc, đánh đổ phong kiến, xây dựng và bảo vệ chế độ xã hội mới mà còn khẳng định Quân đội nhân dân Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành với Đảng, với Nhà nước, với nhân dân, với Tổ quốc và chế độ xã hội chủ nghĩa.
     Trong điều kiện tiến hành công cuộc đổi mới đất nước, cùng với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân ta giành được trong hơn 35 năm đổi mới, đất nước ta vẫn đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức mới; nhân dân ta, nhất là ở vùng sâu, vùng cao, vùng xa, biên giới, hải đảo vẫn còn nhiều khó khăn cả về đời sống vật chất và tinh thần. Vì vậy, sự quan tâm bảo đảm về vật chất, tinh thần cho cán bộ, chiến sĩ quân đội cũng còn gặp nhiều khó khăn, nhưng không vì thế mà cán bộ, chiến sĩ quân đội lại suy giảm bản chất của quân đội cách mạng. Ngược lại, càng trong khó khăn, gian khổ, cán bộ, chiến sĩ quân đội càng sáng ngời bản chất cách mạng, sáng ngời bản chất, truyền thống của Bộ đội Cụ Hồ.
     Những giọng điệu của những kẻ cơ hội chính trị, phản động tán phát trên mạng không phải là do nhận thức chưa đầy đủ, thiếu đúng đắn về bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam mà thực ra họ đang cố tình xuyên tạc sự thật, phủ nhận bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam, kích động chia rẽ quân đội với Đảng, Nhà nước và nhân dân. Sâu xa hơn là “phi chính trị hóa” quân đội, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng với quân đội.
     Trong thời kỳ mới, cùng với đấu tranh phản bác những giọng điệu nguy hiểm ấy, chúng ta cần tập trung xây dựng bảo đảm cho quân đội luôn luôn là công cụ bạo lực, lực lượng chính trị trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, sẵn sàng, hy sinh vì lợi ích của Tổ quốc, của dân tộc, của nhân dân, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ. Đồng thời, mỗi cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng trong quân đội cũng phải tích cực, chủ động đấu tranh phòng, chống những luận điệu xuyên tạc bản chất cách mạng của Quân đội nhân dân Việt Nam trong tình hình mới./.




Yêu nước ST.

Lại diễn kịch bôi lem chính sách đặc xá

 Nhân dịp Quốc khánh 2/9 vừa qua, Chủ tịch nước quyết định đặc xá cho 2.434 phạm nhân. Điều này tiếp tục khẳng định chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước và truyền thống nhân văn, nhân đạo của dân tộc Việt Nam. Vậy nhưng với ý đồ chống phá, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc vấn đề này.

Nhận diện về tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ trong dân tộc Mông

 Tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ đã lợi dụng niềm tin tín ngưỡng, tôn giáo nhằm tuyên truyền, tập hợp lực lượng để lập cái gọi là “Nhà nước Mông” gây ra tình trạng phức tạp về an ninh, trật tự. Vậy nguồn gốc, bản chất và hoạt động của tà đạo Giê Sùa, Bà Cô Dợ trong dân tộc Mông như thế nào?