Thứ Hai, 19 tháng 9, 2022

Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, góp phần kiểm soát quyền lực và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

 TCCS - Cùng với các chức năng lập hiến, lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước thì giám sát tối cao của Quốc hội có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong cơ chế tổ chức, vận hành, thực thi và kiểm soát quyền lực của nhà nước. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang 76 năm qua, quán triệt sâu sắc Cương lĩnh, quan điểm, đường lối của Đảng, trước yêu cầu nhiệm vụ phát triển đất nước thời kỳ mới, Quốc hội tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, cách làm để nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát tối cao.

Là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, Quốc hội Việt Nam luôn thể hiện vị thế, vai trò đặc biệt quan trọng trong toàn bộ cơ chế tổ chức, vận hành, thực thi và kiểm soát quyền lực nhà nước, luôn khẳng định bản lĩnh một Quốc hội hành động vì lợi ích của Nhân dân, của đất nước. Dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, đường lối của Đảng, Quốc hội từng khóa luôn hành động quyết liệt để thể chế hóa đầy đủ, kịp thời ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, các nghị quyết của Đảng thành quy định của pháp luật và giám sát chặt chẽ, làm cho pháp luật có hiệu lực trên thực tế, phát huy vai trò, tính hiệu quả của cơ chế dân chủ đại diện trong thực hành dân chủ, bảo đảm và bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân, giữ vững kỷ cương xã hội, góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ tiếp xúc cử tri quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng _Ảnh: TTXVN

Bên cạnh chức năng lập hiến, lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước, Quốc hội là cơ quan nhà nước duy nhất được Nhân dân giao thực hiện quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước nhằm góp phần kiểm soát quyền lực, bảo đảm việc tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hiện nay, việc kiểm soát quyền lực nhà nước ở nước ta được thực hiện theo nhiều phương thức khác nhau, đó là: kiểm soát bằng nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; kiểm soát bên trong từng cơ quan nhà nước; kiểm soát bằng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong bộ máy nhà nước; kiểm soát bằng cơ chế thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, hoạt động của các cơ quan nhà nước thực hiện quyền tư pháp và tham gia thực hiện quyền tư pháp; tự kiểm soát bằng thực hành trách nhiệm nêu gương, “tự soi”, “tự sửa”, tự phê bình và phê bình, gắn với xây dựng đạo đức cầm quyền, chức vụ càng cao càng phải nêu gương; kiểm soát bằng quản trị tốt dựa trên các nguyên tắc công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, bảo vệ quyền con người, quyền công dân; kiểm soát thông qua giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và Nhân dân; kiểm soát thông qua giám sát dư luận và phản biện của báo chí;... Trong đó, giám sát tối cao của Quốc hội là một phương thức kiểm soát quyền lực quan trọng và có tính nền tảng trong cơ chế kiểm soát quyền lực ở Việt Nam hiện nay.

1- Thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước thời kỳ mới, cùng  với yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, vấn đề khẳng định vị trí, vai trò của Quốc hội trong tổ chức quyền lực nhà nước, phát huy đầy đủ cơ chế dân chủ đại diện, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội luôn được Đảng và Nhà nước ta quan tâm, đặc biệt là hoạt động giám sát tối cao. Điều đó được thể hiện trong đường lối, chủ trương của Đảng:

Đại hội X của Đảng (tháng 4-2006) khẳng định chủ trương “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về Nhân dân”(1), trong đó, cần “xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”(2); đồng thời, xác định “...tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội... Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao”(3). Thông báo Kết luận số 144-TB/TW, ngày 28-3-2008, của Bộ Chính trị, “Về một số vấn đề về tổ chức, hoạt động của Quốc hội và Đảng đoàn Quốc hội”, đã khẳng định việc nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của hoạt động giám sát, tích cực hoàn thiện cơ sở pháp lý, đổi mới phương thức giám sát và tăng cường sự lãnh đạo sát sao của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là những yếu tố rất quan trọng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội.

Đại hội XI của Đảng (tháng 1-2011) làm sâu sắc hơn nhận thức về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) của Đảng xác định một trong tám đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhân dân ta phấn đấu xây dựng là: có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Đặc biệt, lần đầu tiên trong văn kiện Đại hội của Đảng, nguyên tắc kiểm soát quyền lực đã được ghi nhận. Theo đó,“Nghiên cứu xây dựng, bổ sung các thể chế và cơ chế vận hành cụ thể để bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân và nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”(4). Đại hội XI nhấn mạnh tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất “Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định và giám sát các vấn đề quan trọng của đất nước, nhất là các công trình trọng điểm của quốc gia, việc phân bổ và thực hiện ngân sách; giám sát hoạt động của các cơ quan tư pháp, công tác phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí”(5).

Đại hội XII của Đảng (tháng 4-2016) kiên định quan điểm đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong giai đoạn phát triển mới. Từ đó nêu rõ định hướng “Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, bảo đảm Quốc hội thực sự là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quốc hội thực hiện tốt chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao, nhất là đối với việc quản lý, sử dụng các nguồn lực của đất nước... Hoàn thiện cơ chế để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan dân cử, nhất là hoạt động lập pháp của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, cơ chế giám sát, đánh giá đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn. Tăng cường hơn nữa sự gắn kết giữa giám sát của Quốc hội với kiểm tra, giám sát của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và giám sát của Nhân dân”(6).

Kế thừa và phát triển quan điểm đã được xác định trong Văn kiện Đại hội Đảng các nhiệm kỳ trước đây về xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong đó có nhiệm vụ đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh cần: “Đổi mới phương thức, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, phát huy dân chủ, pháp quyền, tăng tính chuyên nghiệp trong tổ chức và hoạt động của Quốc hội, trong thực hiện chức năng lập pháp, quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao...; hoàn thiện cơ chế bảo vệ Hiến pháp, cơ chế giám sát, lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn”(7). Tại phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV, đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã chỉ đạo: “Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát chuyên đề, hoạt động chất vấn”, “chú trọng giám sát việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát”.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, quán triệt chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chương trình hành động của Đảng đoàn Quốc hội đã xác định rõ việc đổi mới và đẩy mạnh công tác giám sát là khâu trọng tâm, then chốt để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Hoạt động giám sát tối cao nói riêng và tổng thể hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung cần bám sát các nhiệm vụ trọng tâm đặt ra trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII, các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhất là về các vấn đề lớn, được quan tâm, như mô hình tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô, cơ cấu lại nền kinh tế, việc thực hiện các dự án quan trọng quốc gia, cải cách hành chính, sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, các vấn đề về văn hóa, an sinh xã hội, hội nhập, hợp tác kinh tế quốc tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Hoạt động giám sát của Quốc hội vừa phải bám sát, đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội, tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của Nhân dân và cử tri, đồng thời phải gắn với công tác lập pháp, cung cấp thông tin thực tiễn để hoàn thiện chính sách, pháp luật, nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quy định của pháp luật, tăng cường hiệu quả hoạt động của các tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát(8).

Như vậy, có thể khẳng định, việc nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội là một nội dung quan trọng trong quá trình đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội Việt Nam theo quan điểm, đường lối của Đảng về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

2- Một trong những yêu cầu của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là  phải có hệ thống pháp luật đồng bộ, trong đó tính tối cao của Hiến pháp được bảo đảm và có một cơ chế kiểm soát hiệu quả đối với hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, mà trước hết là phát huy vai trò chức năng giám sát tối cao của Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.

Bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta năm 1946 quy định “Nghị viện là cơ quan có quyền cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa”, nhưng quyền giám sát tối cao chưa được thể hiện rõ, mà mới chỉ quy định quyền của Quốc hội trong việc “kiểm soát và phê bình Chính phủ” (Điều 36). Cùng với đó là các quy định về địa vị pháp lý, mối quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp trong cơ chế vận hành của quyền lực nhà nước theo tư duy “thực hiện một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân” (Lời nói đầu của Hiến pháp năm 1946) có vai trò nhất định góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước.

Hiến pháp năm 1959 có một bước phát triển về quyền giám sát của Quốc hội nước ta với quy định: “Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” (Điều 43) và “Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa” (Điều 44)Mặc dù quyền giám sát vẫn chưa được xem như một chức năng quan trọng của Quốc hội như các bản Hiến pháp sau này, nhưng Hiến pháp năm 1959 đã xác định rõ hơn tính chất và vị trí của Quốc hội trong tổ chức bộ máy nhà nước ta thời bấy giờ, xác định cụ thể hơn với phạm vi, đối tượng rộng hơn, như quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội đối với công tác của Hội đồng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao (Điều 53). Tuy tính chất tối cao của quyền giám sát của Quốc hội chưa được nêu trực tiếp trong ngôn ngữ Hiến pháp, nhưng các quy định của Hiến pháp về quyền giám sát này đã bao hàm ý nghĩa tối cao và phạm vi giám sát đã bắt đầu bao quát các hoạt động của Nhà nước.

Đến Hiến pháp năm 1980 và nhất là Hiến pháp năm 1992 thì việc “Quốc hội thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước”(9) được chính thức khẳng định. Trên cơ sở đó, nội dung của quyền giám sát tối cao của Quốc hội cũng như các hình thức để Quốc hội thực hiện quyền này đã được cụ thể hoá thông qua các quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân và một số văn bản khác. Có thể nói, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 không chỉ thể hiện bước phát triển quan trọng đối với quyền giám sát của Quốc hội, mà còn đưa quyền này lên một tầm cao mới. Theo quy định của Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992, giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước không chỉ là quyền tối cao, mà còn là một chức năng đặc biệt có tính hiến định của Quốc hội nước ta.

 Kế thừa và phát triển những giá trị cốt lõi từ các Hiến pháp trước đó, Hiến pháp năm 2013 đã thể hiện đúng tầm chức năng giám sát tối cao của Quốc hội theo tinh thần: “Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội” (Điều 70). Đối với cấp tỉnh trở xuống, theo Luật Tổ chức Quốc hội năm 2014, Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan có quyền giám sát đối với hoạt động của Hội đồng nhân dân; Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội có quyền giám sát liên quan đến hoạt động của địa phương trong một số việc và lĩnh vực cụ thể(10). Theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giám sát việc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Đoàn đại biểu Quốc hội thực hiện hoạt động giám sát chuyên đề việc thi hành pháp luật ở địa phương...

Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, Hiến pháp năm 2013 xác định vấn đề kiểm soát quyền lực theo nguyên tắc: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” (Khoản 3, Điều 2); bảo đảm cho việc tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, góp phần phòng ngừa và ngăn chặn sự lộng quyền, lạm quyền, vượt quá sự ủy quyền của Nhân dân.

Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, hệ thống pháp luật về giám sát từng bước được thể chế hóa và hoàn thiện, đặc biệt là Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, “Quy chế tổ chức thực hiện một số hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội”(11) là nền tảng pháp lý cơ bản và hết sức cần thiết để thực hiện thống nhất, hiệu quả hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội, hoạt động giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan nêu trên. Bên cạnh đó, Quốc hội đã cụ thể hóa cơ chế kiểm soát quyền lực được quy định trong Hiến pháp vào các luật tổ chức bộ máy nhà nước và các đạo luật chuyên ngành khác, như: Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Phòng, chống tham nhũng... Qua đó, Quốc hội quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của các cơ quan này để góp phần từng bước hình thành các cơ chế kiểm soát quyền lực cụ thể, phù hợp với vị trí và tính chất của từng thiết chế quyền lực.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ chủ trì Phiên chất vấn và trả lời chất vấn các thành viên Chính phủ tại Phiên họp thứ 14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV _Ảnh: TTXVN

3- Quán triệt các quan điểm, đường lối của Đảng, quy định của Hiến pháp, pháp luật, đặc biệt là thực hiện định hướng của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV: “Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát, nhất là giám sát chuyên đề, hoạt động chất vấn, phát huy dân chủ, tăng tính tranh luận, phân tích sâu, làm rõ những thành tích, ưu điểm, cũng như những tồn tại, khuyết điểm, tìm ra nguyên nhân, bài học kinh nghiệm và đề xuất các giải pháp xác đáng, khả thi. Chú trọng giám sát việc thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát”, hoạt động của Quốc hội nói chung và hoạt động giám sát của Quốc hội nói riêng đã thể hiện rõ tinh thần đổi mới, sáng tạo, hành động vì lợi ích của Nhân dân, của đất nước.

Trên tinh thần đó, quyền giám sát tối cao tại kỳ họp Quốc hội được tăng cường thông qua các hoạt động xem xét báo cáo, giám sát chuyên đề, chất vấn và trả lời chất vấn, lấy phiếu tín nhiệm... cùng với kết quả hoạt động giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội với phạm vi giám sát tập trung vào những vấn đề lớn, quan trọng hoặc bức xúc của cuộc sống, bao quát hầu hết các lĩnh vực. Thông qua hoạt động giám sát, đã khẳng định tính đúng đắn của chính sách, pháp luật, cũng như kịp thời phát hiện những hạn chế, bất cập để đưa ra kiến nghị bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, làm cơ sở cho việc quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; đồng thời, kiến nghị trách nhiệm chính trị của tổ chức, cá nhân, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương, từ đó, các cơ quan hữu quan nhận thức đầy đủ trách nhiệm và thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình. Hiệu quả giám sát tối cao của Quốc hội được thể hiện rõ trong từng hoạt động giám sát, cụ thể:

Thứ nhất, việc xem xét báo cáo của các cơ quan được thực hiện một cách thực chất, trách nhiệm, hiệu quả, có ý nghĩa quan trọng trong việc góp phần kiểm soát quyền lực đối với hoạt động của Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Các báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội, công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, công tác thi hành án, công tác phòng, chống tham nhũng, công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri... được thảo luận kỹ lưỡng. Những lĩnh vực vốn được coi là nhạy cảm, thường có nguy cơ cao dẫn đến sự lạm quyền, lộng quyền, “lợi ích nhóm”, xâm phạm đến những quyền cơ bản của công dân đã được Quốc hội xem xét và được phát thanh, truyền hình trực tiếp, thể hiện tính công khai, minh bạch trong hoạt động của bộ máy nhà nước. Những đổi mới khi xem xét các báo cáo với các hình thức giải trình, tranh luận và những phát biểu mang tính phản biện đã tạo không khí sôi nổi trong phiên thảo luận, làm cho việc xem xét, đánh giá các nội dung báo cáo trở nên thực chất, hiệu quả hơn. Qua đó giúp cho chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống, phù hợp với thực tiễn, buộc các cơ quan nhà nước phải thực hiện đúng đắn, nghiêm túc, công bằng các quyền hạn được giao; kịp thời chấn chỉnh, khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm trong quá trình triển khai thực hiện; đồng thời, là căn cứ để Quốc hội đánh giá hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan và các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.

Thứ hai, hoạt động chất vấn không ngừng được đổi mới, hoàn thiện, trở thành một hình thức giám sát tối cao có hiệu quả trong hoạt động của Quốc hội, luôn thu hút sự quan tâm, theo dõi của các tầng lớp nhân dân. Với tinh thần xây dựng, trách nhiệm, tăng cường tranh luận, đối thoại, bảo đảm dân chủ, công khai, hoạt động chất vấn đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động của bộ máy nhà nước và những người đứng đầu cơ quan nhà nước, thúc đẩy việc thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thông qua phiên chất vấn, những bất cập, hạn chế trong quản lý nhà nước cũng như trách nhiệm của các cơ quan, cá nhân liên quan được phân tích, làm rõ.

Bước sang nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, với tinh thần chuẩn bị “từ sớm, từ xa”, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Lãnh đạo Quốc hội luôn chủ động cho ý kiến bước đầu về cách thức tổ chức chất vấn, trình tự, thủ tục lựa chọn nhóm vấn đề chất vấn và việc ban hành nghị quyết chất vấn. Nghị quyết về hoạt động chất vấn được xây dựng với nhiều yêu cầu, giải pháp thực hiện và có thời hạn hoàn thành cụ thể là điểm đổi mới đáng kể, giúp cho việc giám sát thực hiện lời hứa và các yêu cầu của Quốc hội sau chất vấn được kịp thời, khả thi và có căn cứ. Việc lựa chọn vấn đề và đổi mới phương pháp chất vấn tại các kỳ họp Quốc hội đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động chất vấn, bảo đảm các nội dung chất vấn hướng đúng trọng tâm, dần trở thành văn hóa nghị trường; qua đó, giúp các đại biểu Quốc hội đánh giá được năng lực thực thi quyền lực của người trả lời chất vấn đối với các quyền hạn được giao. Kết quả các phiên chất vấn cho thấy tinh thần sát thực tế, thiết thực, tâm huyết, thẳng thắn, trách nhiệm cao của người chất vấn và người trả lời chất vấn, được nhiều đại biểu Quốc hội, cử tri, nhân dân cả nước ghi nhận và đánh giá cao.

Thứ ba, việc xem xét báo cáo giám sát chuyên đề được chú trọng trên cơ sở kết quả giám sát của các Đoàn giám sát được Quốc hội thành lập. Tại các kỳ họp, Quốc hội đều bố trí thời gian thỏa đáng để xem xét, thảo luận báo cáo kết quả giám sát của các Đoàn giám sát và hầu hết được phát thanh, truyền hình trực tiếp để cử tri và nhân dân theo dõi, giám sát. Thời gian qua, hoạt động giám sát chuyên đề tiếp tục được hoàn thiện, góp phần làm rõ nhiều vấn đề, đặc biệt là các hạn chế, yếu kém, các vi phạm trong triển khai thi hành pháp luật về các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nhiều chuyên đề có phạm vi rộng, bao trùm hoạt động kinh tế và đời sống xã hội đã được Quốc hội lựa chọn và tiến hành giám sát, như cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước; quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước tại doanh nghiệp và cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; quy hoạch, quản lý, sử dụng đất đai tại đô thị; công tác quy hoạch; công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí...

Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV, việc thành lập các Đoàn giám sát chuyên đề của Quốc hội có một số điểm mới so với trước đây như: 1- Nghị quyết thành lập Đoàn giám sát ban hành không kèm theo kế hoạch để tạo sự chủ động cho Đoàn giám sát; 2- Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, cho ý kiến và thông qua kế hoạch chi tiết, đề cương báo cáo của các Đoàn giám sát chuyên đề; đồng thời, xác định cụ thể hơn về đối tượng, nội dung giám sát tại Kế hoạch chi tiết; 3- Căn cứ tình hình thực tế và trên cơ sở xem xét báo cáo của các cơ quan, Đoàn giám sát sẽ lựa chọn cơ quan, địa phương và báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, quyết định trước khi tổ chức giám sát trực tiếp tại cơ quan, địa phương, cơ sở; Đoàn giám sát tổ chức các tổ công tác đến làm việc, giám sát và có kết luận sơ bộ trước khi Đoàn giám sát xuống làm việc; đồng thời, sử dụng tối đa, có hiệu quả các kết quả, kết luận thanh tra, kiểm tra, kiểm toán; 4- Hội đồng nhân dân cấp tỉnh tổ chức việc thực hiện giám sát và gửi báo cáo về Đoàn giám sát; 5- Các Đoàn đại biểu Quốc hội tổ chức giám sát đối với cả bốn chuyên đề; đồng thời, huy động sự phối hợp tham gia giám sát của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, các tổ chức chính trị - xã hội và chịu trách nhiệm bước đầu về kết quả giám sát, tính xác thực của báo cáo tại địa phương.

Tại các phiên giám sát tối cao của Quốc hội, việc trình chiếu hình ảnh kết hợp với trình bày báo cáo của Đoàn giám sát là cách làm mới, cung cấp thêm nhiều thông tin, dẫn chứng sinh động, tạo hiệu ứng tích cực; tạo điều kiện thuận lợi cho đại biểu Quốc hội xem xét, thảo luận, đánh giá sâu sắc, toàn diện hơn về nội dung giám sát. Trên cơ sở đó, Quốc hội đã ban hành nghị quyết về kết quả giám sát làm căn cứ quan trọng giúp Chính phủ, các bộ, ngành, các cơ quan tư pháp và các cơ quan liên quan có những điều chỉnh phù hợp trong công tác chỉ đạo, điều hành, khắc phục những hạn chế, bất cập, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, làm rõ trách nhiệm của tổ chức, cá nhân đối với các sai phạm để có biện pháp xử lý thích hợp nhằm không ngừng củng cố kỷ cương nhà nước; đồng thời, giúp Quốc hội có điều kiện đánh giá, kiểm nghiệm, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật có liên quan, góp phần thực hiện tốt hơn chức năng lập pháp và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Thứ tư, các văn bản quy phạm pháp luật được xem xét nhằm sửa đổi, bổ sung và ban hành kịp thời, phù hợp với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Cho đến nay, mặc dù Quốc hội chưa tiến hành quy trình riêng biệt thực hiện thẩm quyền giám sát tối cao để xem xét một văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội tại kỳ họp Quốc hội theo quy định tại Điều 14 của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, tuy nhiên thông qua việc triển khai các chuyên đề giám sát, các Đoàn giám sát của Quốc hội đã chỉ ra hạn chế của hệ thống pháp luật liên quan tới chuyên đề được giám sát, trên cơ sở đó đề nghị cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện chính sách, pháp luật có liên quan, góp phần bảo đảm tính đồng bộ, đầy đủ, kịp thời, nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật. Trên cơ sở các báo cáo của các Đoàn giám sát của Quốc hội, Quốc hội đã ban hành các nghị quyết để kịp thời khắc phục những hạn chế, vướng mắc, bất cập được nêu ra, trong đó có các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong việc khẩn trương rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, để hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện thường xuyên, liên tục và bảo đảm tính thống nhất, có hệ thống, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 560/NQ-UBTVQH15 về hướng dẫn việc tổ chức thực hiện hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội; theo đó, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội tổ chức thực hiện việc báo cáo kết quả giám sát văn bản quy phạm pháp luật hằng năm (từ ngày 1-1 đến hết ngày 31-12) để báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại phiên họp tháng 4 trước khi trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 5.

Thứ năm, hoạt động giám sát lại được đặc biệt quan tâm, thể hiện việc theo dõi, giám sát đến cùng việc thực hiện nghị quyết của Quốc hội, nâng cao trách nhiệm của người bị chất vấn, đặc biệt là người đứng đầu, nhiều vấn đề bức xúc của đời sống kinh tế - xã hội tiếp tục được đưa ra phân tích, xem xét thấu đáo dưới nhiều góc độ. Qua đó, cử tri và nhân dân cả nước thấy được những nỗ lực, trách nhiệm của Chính phủ, các bộ, ngành trong công tác chỉ đạo, điều hành và trách nhiệm của đại biểu trong việc giám sát, theo dõi việc thực hiện các yêu cầu của Quốc hội. Vào thời gian giữa và cuối nhiệm kỳ, Quốc hội tổ chức giám sát các thành viên Chính phủ về việc thực hiện các nghị quyết về giám sát chuyên đề, nghị quyết về chất vấn từ đầu nhiệm kỳ đến thời điểm giám sát để đánh giá việc thực hiện lời hứa của các cơ quan chịu sự giám sát.

Thứ sáu, việc lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn tiếp tục là nội dung giám sát đặc biệt quan trọng, thể hiện mức độ tín nhiệm và sự ghi nhận, đánh giá công tâm, khách quan về những nỗ lực, kết quả đạt được của những người được lấy phiếu tín nhiệm. Qua đó, giúp những người được lấy phiếu tín nhiệm thấy được trách nhiệm của mình rõ hơn, có phương hướng khắc phục những khuyết điểm, thiếu sót, phấn đấu rèn luyện nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động, thực hiện tốt chức trách, quyền hạn được giao. Đây cũng là phương thức kiểm soát quyền lực có tính trực tiếp đối với những cán bộ lãnh đạo, trong đó có cán bộ lãnh đạo chủ chốt và cấp cao. Kết quả lấy phiếu tín nhiệm là “thước đo” hiệu quả hoạt động của những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; đồng thời, là nguồn động lực để những người được tín nhiệm cao tiếp tục phát huy, cống hiến, những người chưa được tín nhiệm cao sẽ phấn đấu khắc phục khuyết điểm, nâng cao hiệu quả công việc.

Bên cạnh những kết quả đạt được, hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội vẫn còn một số hạn chế cần được nhận diện để khắc phục trong thời gian tới nhằm đáp ứng tốt hơn nữa sự mong mỏi của cử tri và Nhân dân cả nước. Có thể khẳng định rằng, đổi mới hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng và thực sự cấp thiết trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đang đề cao vấn đề kiểm soát quyền lực, nhằm xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.

4- Để tiếp tục đổi mới, nâng cao hơn nữa chất lượng giám sát tối cao của Quốc hội theo hướng tập trung giám sát hoạt động của cơ quan hành pháp, tư pháp, cơ quan khác do Quốc hội thành lập, người giữ chức vụ do Quốc hội bầu, phê chuẩn, góp phần kiểm soát quyền lực và tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, Quốc hội chú trọng thực hiện tốt một số nội dung sau:

Một là, nâng cao nhận thức về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Quốc hội, trong đó cần nhận thức đúng về vị trí, vai trò sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát của Quốc hội nói chung và giám sát tối cao của Quốc hội nói riêng.

Nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, tầm quan trọng hoạt động giám sát của Quốc hội theo hướng: Xác định việc đổi mới và đẩy mạnh công tác giám sát là khâu trọng tâm, then chốt để nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Quốc hội. Hoạt động giám sát của Quốc hội cần bám sát các nhiệm vụ trọng tâm đặt ra trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và sự chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư; bám sát tình hình thực tế của đất nước, những vấn đề thực tiễn đặt ra, đáp ứng kịp thời nhu cầu của xã hội, phản ánh tâm tư, nguyện vọng, mong muốn của nhân dân và cử tri cả nước. Hoạt động giám sát phải cung cấp thông tin thực tiễn để hoàn thiện chính sách, pháp luật, nâng cao trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong thực hiện quy định của pháp luật, tăng cường hiệu quả hoạt động của các tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát.

Nhận thức rõ vị trí, vai trò của hoạt động giám sát của Quốc hội - một trong các phương thức kiểm soát quyền lực, mối quan hệ giữa các hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội với hoạt động giám sát của các cơ quan của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội; trong đó, giám sát tối cao của Quốc hội giữ vị trí trung tâm. Đồng thời, nâng cao nhận thức về mối quan hệ biện chứng giữa chức năng giám sát và chức năng lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước; mối quan hệ biện chứng giữa hoạt động giám sát với công tác xây dựng, thi hành pháp luật, nhất là các lĩnh vực có nhiều vướng mắc, bất cập; gắn kết chặt chẽ, bảo đảm kết nối và kế thừa hiệu quả giữa kết quả của hoạt động giám sát văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội tiến hành với kết quả của các hoạt động kiểm tra, kiểm soát chất lượng văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ thực hiện. Tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, tuyên truyền để các chủ thể giám sát cũng như đối tượng chịu sự giám sát nhận thức đúng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của hoạt động giám sát của Quốc hội.

Đoàn Giám sát Ủy ban Kinh tế của Quốc hội thực hiện giám sát tiến độ Dự án sân bay Long Thành tại tỉnh Đồng Nai _Ảnh: TTXVN

Hai là, nghiên cứu xác định rõ hơn phạm vi, đối tượng, phương pháp, hình thức giám sát tối cao của Quốc hội; tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát, tăng cường kỷ luật, kỷ cương trong triển khai các hoạt động giám sát, tập trung ở một số nội dung cụ thể sau: nâng cao chất lượng xây dựng chương trình giám sát của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội; phát huy có hiệu quả vai trò chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội theo hướng chủ động, thống nhất, tránh trùng lặp, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, phát huy được hiệu quả hoạt động giám sát; tăng cường tính tranh luận, đi sâu làm rõ vấn đề, trách nhiệm trong thảo luận, xem xét các báo cáo; tiếp tục nâng cao chất lượng hoạt động giám sát chuyên đề, trong đó coi trọng sử dụng thông tin từ cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, chuyên gia, nhà nghiên cứu trong xây dựng báo cáo và nghị quyết giám sát, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động giám sát chuyên đề; tiếp tục đổi mới phương thức, cách thức tổ chức chất vấn và trả lời chất vấn; tăng cường hoạt động chất vấn tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, trong đó chú trọng xem xét, ban hành nghị quyết về chất vấn để làm rõ, xử lý kịp thời vấn đề chất vấn và làm cơ sở giám sát việc thực hiện; tăng cường xem xét các kiến nghị giám sát chưa được thực hiện, coi đây là nhiệm vụ thường xuyên của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội; giám sát văn bản quy phạm pháp luật một cách thường xuyên, báo cáo Quốc hội định kỳ hằng năm, mở rộng và gắn chặt giám sát văn bản quy phạm pháp luật với giám sát thực hiện chính sách, qua đó thể hiện cao hơn nữa trách nhiệm của Quốc hội, bảo đảm pháp luật được ban hành đi vào cuộc sống.

Tăng cường hoạt động giám sát việc thực hiện các nội dung liên quan đến công tác đối ngoại, an ninh quốc phòng, bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước; thực hiện đường lối đối ngoại, mở rộng hợp tác quốc tế, thu hút đầu tư nước ngoài, góp phần nâng cao vị thế, vai trò và đóng góp của Quốc hội Việt Nam trong các diễn đàn quốc tế và khu vực.

Ba là, tăng cường giám sát của Quốc hội trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí theo hướng: Triển khai các hoạt động giám sát (chất vấn, giám sát chuyên đề, giải trình, giám sát văn bản quy phạm pháp luật, giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, kiến nghị của cử tri...), Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội phải chú trọng nội dung phòng, chống tham nhũng, tiêu cựclãng phí, xác định đây là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng và được tiến hành toàn diện và công khai, có trọng tâm, trọng điểm; tập trung vào các lĩnh vực dễ phát sinh tiêu cực, dư luận quan tâm về tham nhũng, tiêu cực, về suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Phát huy cơ chế tham gia của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, các ban chỉ đạo cấp tỉnh, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội các cấp, nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí trong hoạt động giám sát, trong đó có giám sát việc thực hiện pháp luật về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực.

Căn cứ tình hình thực tế, nghiên cứu lồng ghép nội dung về phòng, chống tiêu cực trong báo cáo về công tác phòng, chống tham nhũng. Theo đó, hằng năm, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao phải báo cáo Quốc hội về nội dung này, Ủy ban Tư pháp của Quốc hội chủ trì, phối hợp với Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban khác của Quốc hội tiến hành thẩm tra. Tại các kỳ họp cuối năm, trường hợp cần thiết, có thể bố trí để Quốc hội xem xét báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực cùng với xem xét báo cáo thực hành tiết kiệm, chống lãng phí.

Bốn là, hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Quốc hội với các tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội trong hoạt động giám sát để phát huy vai trò giám sát của mỗi cơ quan, cùng tạo sức cộng hưởng thúc đẩy, nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm soát quyền lực. Tăng cường mối quan hệ phối hợp, cung cấp thông tin giữa Quốc hội với Ủy ban Kiểm tra các cấp của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Kiểm toán Nhà nước trong hoạt động kiểm soát quyền lực. Tăng cường sự liên thông và phân định rõ nội dung giám sát giữa hoạt động giám sát của Quốc hội với giám sát của Hội đồng nhân dân, giám sát xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội, giám sát trực tiếp của Nhân dân.

Năm là, rà soát, tổng kết, đánh giá và nghiên cứu đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của pháp luật về hoạt động giám sát, đặc biệt là Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân để phù hợp với yêu cầu kiểm soát quyền lực trong tình hình mới. Bảo đảm tính tối cao trong hoạt động giám sát của Quốc hội đối với hoạt động của bộ máy nhà nước; tiếp tục đổi mới việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm với các chức danh do Quốc hội bầu, phê chuẩn; thực hiện việc thành lập Ủy ban lâm thời khi cần thiết theo quy định của Luật Tổ chức Quốc hội.

Xuất phát từ sự xem xét một cách toàn diện về nguyên tắc tổ chức quyền lực nhà nước, vai trò giám sát tối cao của Quốc hội trong cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước, có thể thấy, việc đổi mới, nâng cao chất lượng hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội là vấn đề đã và đang được Quốc hội thực hiện và thể hiện thông qua những thay đổi trong tư duy và cách làm nhằm góp phần kiểm soát quyền lực nhà nước, tổ chức thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Giám sát phải trên tinh thần hết sức xây dựng; giữa “xây” và “chống” thì xây vẫn là căn bản, lâu dài; chống là quyết liệt, triệt để, cấp bách; phải phát huy được những mô hình tốt, những cách làm hay, gương người tốt, việc tốt; đánh giá cân bằng, khách quan để tiếp tục hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật, tiếp tục nâng cao hiệu quả khâu tổ chức thực hiện để mọi việc tốt hơn, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng đất nước. Quốc hội phải luôn tự đổi mới chính bản thân mình, mỗi cơ quan của Quốc hội phải thực hiện tốt tự giám sát, mỗi đại biểu Quốc hội phải tự mình kiểm soát hoạt động của chính mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm trước cử tri để thực sự “mở ra một giai đoạn mới đầy triển vọng tốt đẹp trong hoạt động Quốc hội” như kỳ vọng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Phiên khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV./.

-------------------

(1), (2), (3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr. 126
(4), (5) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 247, 248 - 249
(6) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr. 177 - 178
(7) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, t. I,
tr. 175 – 176

(8) Quyết định số 2362-QĐ/ĐĐQH14, ngày 24-6-2021, của Đảng đoàn Quốc hội, về “Ban hành Chương trình hành động của Đảng đoàn Quốc hội về thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng”
(9) Điều 82 của Hiến pháp năm 1980 và Điều 83 của Hiến pháp năm 1992.
(10) Chẳng hạn, Hội đồng Dân tộc giám sát việc thi hành chính sách dân tộc, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng giám sát việc thực hiện chính sách đối với thanh niên, thiếu niên và nhi đồng; Ủy ban Đối ngoại giám sát hoạt động đối ngoại, kinh tế đối ngoại của các ngành và địa phương, giám sát hoạt động ký kết, gia nhập và thực hiện thỏa thuận quốc tế...
(11) Nghị quyết số 334/2017/UBTVQH14, ngày 11-1-2017, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, “Ban hành Quy chế tổ chức thực hiện một số hoạt động giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội và đại biểu Quốc hội”

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM - TỪ KHI ĐẢNG RA ĐỜI CHO ĐẾN NAY

 Từ khi thành lập cho đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ xuyên suốt, thường xuyên, liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ.

 

Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phù hợp với quy luật và thực tiễn

(LLCT) - Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nó phản ánh tính phổ biến (quy luật) vì trong mọi nhà nước dân chủ đều thể hiện rõ vai trò chi phối của đảng chính trị trong hầu hết các hoạt động và tổ chức của nhà nước. Nó phản ánh điều kiện chính trị trong nước (thực tiễn): Đảng Cộng sản Việt Nam có quá trình gắn bó máu thịt với nhân dân, với dân tộc qua cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do, thống nhất đất nước; xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vai trò lãnh đạo của Đảng được cả dân tộc thừa nhận và suy tôn.

Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phù hợp với quy luật và thực tiễn

Chủ tịch Hồ Chí Minh và thành viên hai đoàn làm việc chứng kiến Thủ tướng Kim Nhật Thành và Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký kết Bản Tuyên bố chung giữa Triều Tiên và Việt Nam tháng 12-1958 - Ảnh tư liệu: TTXVN

Công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam do Đảng Cộng sản lãnh đạo đã có những bước tiến quan trọng. Tuy nhiên, các thế lực thù địch vẫn cố tình không biết, không thấy và luôn tìm mọi cách thức, thủ đoạn chống phá; mặt khác, trong xã hội hiện nay cũng nảy sinh nhiều nhận thức chưa đúng đắn, lệch lạc, sai trái. Các luận điệu sai trái, thù địch, chống đối cách mạng Việt Nam là: “... nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp và phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những luận điệu thường thấy của các phần tử này là... một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị (!); chế độ một đảng lãnh đạo, độc quyền là trái với nguyên tắc nhà nước pháp quyền (!)...”(1). Có thể thấy, điểm chung của các luận điệu này là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam; phủ nhận, xuyên tạc, bóp méo những thành tựu to lớn của Đảng trong suốt tiến trình lãnh đạo Nhà nước, xã hội và nhân dân ta thực hiện công cuộc kháng chiến, kiến quốc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính vì vậy, việc phản bác các quan điểm lệch lạc, sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng nói chung và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói riêng là nhiệm vụ khó khăn, cấp bách nhưng không thể khoan nhượng, không thể không quyết liệt.

1. Vấn đề Đảng lãnh đạo Nhà nước trong các văn kiện của Đảng

Đại hội VI của Đảng (tháng 12-1986) đã khởi động vấn đề xây dựng một nhà nước có tính pháp quyền thay thế cho phong cách quản lý, điều hành xã hội nặng về tính mệnh lệnh hành chính... Đại hội khẳng định: “Nhà nước ta là công cụ của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa. Trong thời kỳ quá độ, đó là nhà nước chuyên chính vô sản thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, chức năng của nhà nước là thể chế hóa bằng pháp luật quyền hạn, lợi ích, nghĩa vụ của nhân dân lao động và quản lý kinh tế, xã hội theo pháp luật”(2).

Tại Đại hội VII (tháng 6-1991), Đảng đã có bước ngoặt về lý luận, trong đó có các quan điểm về nhà nước. Nhà nước XHCN đã được sử dụng một cách phù hợp trong điều kiện Việt Nam ở giai đoạn lịch sử này là: “xây dựng nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân, vì dân”(3). Lúc này, “nền dân chủ XHCN” được xem là mục tiêu của toàn bộ tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị chứ không chỉ là “quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động” như trước đó. Nhà nước ta lúc này phải: “có đủ quyền lực và đủ khả năng định ra luật pháp và tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng luật pháp. Sửa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan luật pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của nhà nước”(4).

Có bước ngoặt về lý luận này là vì:

Một là, mặc dù không sử dụng chính thức thuật ngữ CCVS, nhưng vẫn luôn xác định CCVS là thuộc về bản chất của nhà nước XHCN, CCVS là hình thức nhà nước xuyên suốt tiến trình cách mạng vô sản. Tuy nhiên, trong giai đoạn lịch sử mới của đất nước - thời kỳ đổi mới, nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu là phát triển, hội nhập quốc tế, sớm đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu và chống nguy cơ tụt hậu thì việc xác định bản chất CCVS của nhà nước ta vẫn là vấn đề mang tính nguyên tắc.

Hai là, công cuộc đổi mới đã đòi hỏi phải mở rộng dân chủ, nhất là dân chủ trong kinh tế, đồng thời đòi hỏi sự mở rộng giao lưu, hội nhập kinh tế với thế giới. Tất cả những việc này và những mối liên hệ, quan hệ phức tạp trong đó cũng như sự vận hành của toàn bộ nền kinh tế và các quan hệ xã hội đều phải lấy pháp luật làm căn cứ, làm chuẩn mực thực hiện. Như vậy, chính thực tiễn đã đặt ra yêu cầu cần xây dựng một nhà nước pháp quyền nhằm quản lý có hiệu quả mọi mặt đời sống xã hội, xây dựng một xã hội thực sự công bằng, dân chủ.

Thực tiễn đổi mới cùng với những kết quả của công tác tổng kết thực tiễn, khái quát lý luận đã cung cấp những căn cứ chính xác, có tính thuyết phục cao cho quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam. Những quan điểm đó ngày càng được bổ sung, phát triển, được thể hiện rõ trong các văn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam và trong nội dung sửa đổi bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992:

Trước hết, nhà nước pháp quyền không phải là một kiểu nhà nước mà là cách thức tổ chức bộ máy nhà nước, là phương thức vận hành bộ máy đó trên cơ sở pháp luật do chính nhà nước ban hành. Trong xã hội hiện đại, nhà nước pháp quyền là một hình thức tổ chức tiến bộ, tạo điều kiện để chống chủ nghĩa quan liêu, độc đoán, chuyên quyền tốt hơn và có thể đưa xã hội vào hoạt động có trật tự, kỷ cương. Vì vậy, Nhà nước XHCN Việt Nam, tất yếu phải được tổ chức dưới hình thức nhà nước pháp quyền. Tại Đại hội XIII, Đảng ta xác định: “Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”.

Thứ hai, xây dựng nhà nước pháp quyền là một quá trình phải có những hình thức và bước đi thích hợp bị quy định bởi điều kiện lịch sử (trình độ phát triển kinh tế - xã hội, trình độ dân trí, đặc điểm truyền thống chính trị, văn hóa chính trị và văn hóa dân tộc).

Thứ ba, Nhà nước cộng hòa XHCN Việt Nam được hình thành, phát triển trên cơ sở triển khai thực hiện các nghị quyết, chủ trương, đường lối của Đảng và được thể chế hóa thông qua các định chế pháp lý cơ bản trong các bản Hiến pháp. Về mặt chính trị, Hiến pháp quy định Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ cộng hòa (Điều 1, Hiến pháp 1946 và Điều 2, Hiến pháp 1959); là Nhà nước cộng hòa XHCN (Điều 2, Hiến pháp 1992).

Thứ tư, xét trên phương diện chính trị - pháp lý, nhà nước Việt Nam hiện nay được tổ chức theo nguyên tắc dân chủ - pháp quyền. Về bản chất, pháp quyền thể hiện đặc trưng quan trọng nhất của Nhà nước dân chủ mà chúng ta đang xây dựng.

Tuy nhiên, pháp quyền không đồng nhất với pháp luật, bởi vì có thể có nhà nước, có pháp luật nhưng không phải như thế là tất yếu có nhà nước pháp quyền. Pháp luật chỉ là tiền đề, là phương tiện để có thể có nhà nước pháp quyền. Mặt khác, dân chủ là nội dung quan trọng hàng đầu của nhà nước pháp quyền. Trong sáu đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam thì đặc trưng thứ nhất là: “Nhà nước ta là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân: tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân”(5). Tuy nhiên, dân chủ không phải là cái muốn là có ngay được, hay chỉ cần ban hành những văn bản pháp lý về dân chủ (thí dụ pháp lệnh dân chủ, quy chế dân chủ...) thì dân chủ sẽ được thực hiện trong thực tế một cách đầy đủ. Dân chủ phải có quá trình thực hành, phải có thời gian rèn luyện, bởi vì khát vọng tự do có thể là bẩm sinh, nhưng thực hành dân chủ thì phải học mới biết(6).

Quan điểm xây dựng nhà nước pháp quyền là quan điểm định hướng chính trị cơ bản được phản ánh trong Hiến pháp (năm 1992) và hệ thống pháp luật Việt Nam. Việc xây dựng thành công Nhà nước pháp quyền Việt Nam phải gắn liền với một quá trình nhận thức thực tiễn xã hội trên tinh thần đổi mới và khoa học, với phương thức tiếp cận từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, trong đó có yêu cầu bức thiết của việc hoàn thiện thể chế dân chủ. Yêu cầu phát huy dân chủ trong quá trình đổi mới cho thấy rõ việc cần thiết phải khai thác những giá trị của lý luận nhà nước pháp quyền mà nhân loại đã từng có trong lịch sử.

Trong quá trình đổi mới tư duy lý luận ở Việt Nam, nội dung thuật ngữ “nhà nước pháp quyền” dần dần được làm rõ. Đồng thời, đã hình thành khái niệm “Nhà nước pháp quyền XHCN” - được hiểu là một hình thức của nhà nước XHCN (nhà nước vô sản), về bản chất vẫn là nhà nước của giai cấp công nhân, đồng thời của đông đảo nhân dân lao động dựa trên cơ sở công, nông liên minh và do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Về phương thức tổ chức, Nhà nước được tổ chức theo nguyên tắc của một nhà nước pháp quyền. Dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Hội nghị Đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1-1994), lần đầu tiên thuật ngữ Nhà nước pháp quyền Việt Nam được nêu rõ trong văn kiện: Tiếp tục xây dựng và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Đó là nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật, đưa đất nước phát triển theo định hướng XHCN.

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VII (tháng 1-1995) nêu 5 quan điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam: xây dựng Nhà nước XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; lấy liên minh giai cấp công nhân, nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng, do Đảng Cộng sản lãnh đạo...; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp; quán triệt nguyên tắc tập trung - dân chủ trong tổ chức và hoạt động của nhà nước...; tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật...; tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.

Tại Đại hội VIII (tháng 4-1996), Đảng ta tiếp tục khẳng định năm quan điểm trên và cho rằng để xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước phải tập trung giải quyết các nhiệm vụ cơ bản: đổi mới, nâng cao chất lượng công tác lập pháp và giám sát tối cao của Quốc hội đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước; cải cách nền hành chính nhà nước, cải cách tổ chức và hoạt động tư pháp; đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng...

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII (tháng 6-1997) khái quát những thành tựu đổi mới Nhà nước ta: từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân; tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, trước hết là của cơ quan hành chính nhà nước, đã có bước điều chỉnh theo yêu cầu của tiến trình xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng XHCN. Đồng thời, chỉ ra nguyên nhân yếu kém trong xây dựng Nhà nước và nhận định rằng: “Việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong điều kiện chuyển đổi nền kinh tế là nhiệm vụ mới mẻ, hiểu biết của chúng ta còn ít, có nhiều việc phải vừa làm vừa tìm tòi, rút kinh nghiệm”(7).

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa VIII (tháng 8-1999): cải tiến cách làm việc của Ủy ban thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, nâng cao hiệu quả hoạt động của các đại biểu Quốc hội; rà soát và điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức cơ quan Chính phủ, cơ quan chính quyền địa phương; tinh giản hợp lý cơ quan trực thuộc Chính phủ và Thủ tướng; tinh gọn tổ chức ngành Kiểm sát và Tòa án...

Nghị quyết Đại hội IX của Đảng khẳng định: Nhà nước ta là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Trong thực tiễn xây dựng Nhà nước, luôn luôn quán triệt nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, thực hành dân chủ, phát huy tính sáng tạo của nhân dân; biết tham khảo và vận dụng có chọn lọc lý luận xây dựng nhà nước pháp quyền của nhân loại vào điều kiện cụ thể của Việt Nam sao cho phù hợp với dân tộc, thời đại và hoàn cảnh thực tiễn của đất nước.

Hội nghị Trung ương 4 khóa IX (tháng 11-2001) tiếp tục khẳng định vấn đề bản chất của Nhà nước ta, nội dung xây dựng Nhà nước pháp quyền cũng như mô hình tổng thể bộ máy nhà nước. Những tư tưởng này đã được bổ sung trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi năm 2001).

Tại Đại hội X, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định những quan điểm về Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam một cách cụ thể hơn nữa: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất... Hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng tính cụ thể, khả thi của các quy định trong văn bản pháp luật. Xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát tính hợp hiến, hợp pháp trong các hoạt động và quyết định của các cơ quan công quyền”(8).

Văn kiện Đại hội XI của Đảng, ở nội dung VIII - Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, tiếp tục khẳng định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, do Đảng lãnh đạo”(9). Đồng thời, chỉ rõ phải đẩy mạnh xây dựng Nhà nước tập trung trên ba nội dung lớn: một là, tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước: Quốc hội, Chính phủ, hệ thống tư pháp, chính quyền địa phương; hai là, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, có năng lực đáp ứng yêu cầu của tình hình mới; ba là, tích cực phòng ngừa và kiên quyết đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), phần về hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng tiếp tục xác định: “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân... Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”(10).

Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), tại Điều 2 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. 2. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. 3. Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và toàn hệ thống chính trị được khẳng định ở Điều 4 Hiến pháp năm 2013: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”.

Đại hội XII của Đảng tiếp tục kiên định và có bổ sung, phát triển thêm những quan điểm phù hợp với thực tiễn mới của đất nước, khu vực và thế giới: “Tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa do Đảng lãnh đạo là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị”(11).

Tại Đại hội XIII, Đảng ta xác định rõ và cụ thể hơn phương hướng, nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay phù hợp với những biến động phức tạp, nhanh chóng của thực tiễn thế giới, khu vực và trong nước: “Nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước. Xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát quyền lực nhà nước”(12).

2. Đảng lãnh đạo xây dựng Nhà nước trong thực tiễn

Thông qua phân tích các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam trong các văn kiện Đảng từ Đại hội VI đến Đại hội XIII về lãnh đạo xây dựng, tổ chức, hoạt động của Nhà nước có thể thấy nhận thức về nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một quá trình lâu dài, phức tạp. Kể từ khi bắt đầu công cuộc đổi mới cho đến nay, chúng ta đã có được những bước tiến chắc chắn trong nhận thức về nhà nước pháp quyền và vận dụng để đổi mới việc xây dựng, tổ chức và hoạt động của nhà nước ta theo hướng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân. Bắt đầu chỉ là nhận thức ngày càng rõ ràng hơn về vai trò của pháp luật trong quản lý xã hội, xây dựng Nhà nước, rồi cao hơn là chính thức đưa ra khái niệm nhà nước pháp quyền: “nhà nước pháp quyền XHCN”, “nhà nước pháp quyền Việt Nam”, “nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân”. Tuy có khác nhau về thuật ngữ thể hiện khái niệm Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, nhưng các đặc trưng cơ bản của tất cả các khái niệm đó vừa thống nhất với các quan điểm về nhà nước XHCN của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (tính quy luật) vừa có sự phát triển, bổ sung cho phù hợp với thực tế Việt Nam hiện nay (yếu tố thực tiễn). Các đặc trưng đó là:

- Làm cho Nhà nước ta trở thành Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. “Dân” được hiểu là nhân dân lao động, là cả dân tộc Việt Nam với nền tảng là liên minh công nhân, nông dân và trí thức. Đây được coi là nguyên tắc nền tảng của chế độ dân chủ XHCN của nước ta.

- Trong Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, pháp luật phải được coi là tiêu chuẩn tối cao điều chỉnh hành vi của các tổ chức, cơ quan kể cả các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, công dân và doanh nghiệp. Quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng và theo pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục, nâng cao đạo đức, tăng cường pháp chế XHCN.

- Quyền lực nhà nước là thống nhất, không phân chia, nhưng có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Văn kiện Đại hội XI và Cương lĩnh bổ sung phát triển năm 2011 đã lần đầu tiên thể hiện một nhận thức mới và hết sức quan trọng, đó là có sự kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đây là một bước tiến cần thiết về mặt lý luận trong “kỹ thuật” tổ chức thực hiện quyền lực nhà nước. Chúng ta không thừa nhận nguyên tắc tam quyền phân lập theo nghĩa phân lập, đối trọng giữa các quyền như cách thức phổ biến ở các nhà nước tư sản, nhưng có thể và cần thừa nhận giá trị về mặt “kỹ thuật” của nguyên tắc đó, đồng thời vận dụng một cách phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam, nhằm phát huy tối đa trách nhiệm và hiệu quả của từng cơ quan trong hệ thống quyền lực nhà nước cũng như sự phối hợp hợp lý giữa các cơ quan ấy để bảo đảm tính thống nhất của quyền lực nhà nước và tránh được sự chồng chéo giữa các quyền năng.

Một bước chuyển biến quan trọng trong thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan nhà nước. Do xác định rõ Nhà nước ta là nhà nước XHCN, Nhà nước của dân, do dân, vì dân và bản chất giai cấp công nhân được thể hiện trước hết ở sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước nên trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam không thể không củng cố và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Đây là nguyên tắc trọng yếu, bất di, bất dịch. Chính Nhà nước Liên Xô trước đây, khi từ bỏ nguyên tắc này đã phạm sai lầm chiến lược và dẫn tới sự tan rã của nhà nước. Vì vậy, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong thực tiễn đã được thực hiện theo các nguyên tắc:

Thứ nhất, bảo đảm vai trò lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với toàn bộ hệ thống chính trị. Đảng đặc biệt coi trọng việc đề ra đường lối xây dựng và hoàn thiện Nhà nước trong điều kiện mới, đặc biệt là việc xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân.

Thứ hai, Đảng luôn coi trọng việc phát huy tính chủ động, sáng tạo, chế độ trách nhiệm rõ ràng của các cơ quan nhà nước; từng bước đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước theo phương châm: Đảng lãnh đạo Nhà nước nhưng không bao biện, làm thay Nhà nước; Đảng lãnh đạo nhưng Nhà nước phải kiến tạo phát triển.

Thứ ba, việc đổi mới cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và các cơ quan nhà nước biểu hiện một cách rõ ràng, cụ thể trên ba lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng thể hiện trước hết ở việc Đảng đề ra đường lối chiến lược để xây dựng và hoàn thiện Nhà nước trong điều kiện mới. Đường lối đó được xem là kim chỉ nam cho việc xây dựng tổ chức bộ máy và cho các hoạt động của toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước. Hơn nữa, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là lãnh đạo cụ thể trên từng lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam, việc tiếp thu và vận dụng những quan điểm mácxít có tính phương pháp luận về bản chất, chức năng, tính tất yếu của nhà nước vô sản - nhà nước XHCN (tính quy luật) có vị trí đặc biệt quan trọng. Chính sự vận dụng này, cùng với sự phát triển sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước trong điều kiện đặc thù Việt Nam (tính thực tiễn), đã góp phần quyết định vào việc xây dựng Nhà nước Việt Nam mới (sau 1945) là một Nhà nước mang bản chất giai cấp công nhân, nhưng mang tính chất nhân dân và dân tộc, tức Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Để có được sự thống nhất quan điểm và mô hình xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng như hiện nay, chúng ta đã phải trải qua một quá trình lâu dài: từ xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân 1945-1954 đến xây dựng Nhà nước XHCN thời kỳ 1954-1975 (ở miền Bắc), 1975-1986 (trên phạm vi cả nước) và xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam từ 1986 đến nay.

_________________

Ngày nhận: 2-6-2022; Ngày bình duyệt: 3-6-2022; Ngày duyệt đăng: 15-7-2022.

 

(1) Vũ Văn Hiền (Chủ biên): Một số luận cứ phản bác các quan điểm sai trái, thù địch chống phá Đại hội XIII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2020, tr.111.

(2) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.117

(3), (4) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.113, 19.

(5) Lê Hữu Nghĩa, Nguyễn Văn Yểu: Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.27.

(6) Xem N.M.Voskresenskaia, N.B.Davletshina: Chế độ dân chủ, nhà nước và xã hội, Nxb Tri thức, Hà Nội, 2008.

(7) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1997, tr.40.

(8) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2006, tr.126.

(9), (10) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.52, 85.

(11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.175.

(12) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t.I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr.174-175.

                                                                                                    Nguồn:    PGS, TS TRƯƠNG QUỐC CHÍNH

Học viện Chính trị khu vực I

TS NGUYỄN DUY HẠNH

Viện Lịch sử Đảng,

 Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

 Sư đoàn 10 không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ

Trước yêu cầu cấp thiết của chiến trường Tây Nguyên, ngày 20/9/1972, Sư đoàn 10 (thuộc Quân đoàn 3) được thành lập. Ra đời ngay tại chiến trường ác liệt, mà tiền thân là các trung đoàn chủ lực của Mặt trận Tây Nguyên hợp thành, nên Sư đoàn đã nhanh chóng ổn định tổ chức, bước ngay vào chiến đấu và lập công xuất sắc ở Plei Cần, Đăk Siêng, Đăk Pét, Non Nước, mở rộng vùng giải phóng ở Bắc Kon Tum, góp phần cùng với các đơn vị tạo thế và lực mới cho chiến trường Tây Nguyên. Trong chiến dịch Tây Nguyên, Sư đoàn là đơn vị xung kích, vượt núi, băng rừng, nổ súng tiến công đánh trận đầu tiên mở màn cho Chiến dịch và giành thắng lợi nhanh, gọn ở Đức Lập, cùng các đơn vị giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột, Quân cảng Cam Ranh và toàn tỉnh Khánh Hòa. Đặc biệt, trong chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Sư đoàn đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần tiêu diệt 02 trong 05 mục tiêu chủ yếu là Sân bay Tân Sơn Nhất và Bộ Tổng Tham mưu ngụy. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Sư đoàn làm nhiệm vụ phát động quần chúng, truy quét Phun rô, chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam, làm nghĩa vụ quốc tế ở Campuchia và tham gia chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc. Trong thời kỳ mới, Sư đoàn thực hiện nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ địa bàn chiến lược Tây Nguyên.

Năm mươi năm xây dựng, chiến đấu, phát triển và trưởng thành, bằng máu xương, mồ hôi, công sức, trí tuệ, lớp lớp cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn đã xây đắp nên truyền thống “Đoàn kết - Thống nhất - Kiên cường - Quyết thắng”. Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, Sư đoàn hai lần được Nhà nước tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (năm 1975 và 1979); 01 Huân chương Hồ Chí Minh, 12 Huân chương Quân công, 37 Huân chương Chiến công các hạng và được Nhà nước Campuchia tặng Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhất. Sư đoàn còn có 03 trung đoàn, 06 tiểu đoàn, 07 đại đội và 12 cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Kết quả đó là sự kết tinh của nhiều yếu tố, trong đó không ngừng nâng cao chất lượng huấn luyện chiến đấu là nhân tố quan trọng, có ý nghĩa quyết định, góp phần nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu của Sư đoàn. Quán triệt, cụ thể hóa Nghị quyết số 765-NQ/QUTW, ngày 20/12/2012 của Quân ủy Trung ương, Nghị quyết số 570-NQ/ĐU của Đảng ủy Quân đoàn, Đảng ủy Sư đoàn đã ban hành Nghị quyết số 459-NQ/ĐU, ngày 08/4/2013 về “Lãnh đạo nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo”. Hằng năm, Đảng ủy Sư đoàn ban hành kết luận lãnh đạo và chỉ đạo các cấp ủy, chi bộ ra nghị quyết chuyên đề lãnh đạo nâng cao chất lượng huấn luyện. Trong nghị quyết đại hội nhiệm kỳ, nghị quyết thường kỳ của các cấp ủy, chi bộ đều xác định mục tiêu, chỉ tiêu, biện pháp lãnh đạo công tác huấn luyện; chỉ huy các cấp xây dựng kế hoạch thực hiện chặt chẽ, sát đặc điểm tình hình và từng đối tượng huấn luyện với những giải pháp cụ thể.

Trước hết, Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt công tác giáo dục nâng cao nhận thức, vị trí, vai trò của công tác huấn luyện chiến đấu cho cán bộ, chiến sĩ. Đây là nội dung rất quan trọng trong định hướng nhận thức, tư tưởng cho bộ đội trong thực hiện nhiệm vụ nói chung, nhiệm vụ huấn luyện chiến đấu nói riêng. Vì vậy, Sư đoàn chỉ đạo các cơ quan, đơn vị tập trung giáo dục cho bộ đội nắm chắc các nội dung trọng tâm trong nghị quyết của trên về “nâng cao chất lượng huấn luyện giai đoạn 2013 - 2020 và những năm tiếp theo”, mệnh lệnh huấn luyện của Tư lệnh Quân đoàn và nhiệm vụ của đơn vị, làm chuyển biến mạnh mẽ nhận thức, trách nhiệm của cấp ủy, người chỉ huy, chính ủy, chính trị viên, các tổ chức và mọi cán bộ, chiến sĩ về vị trí, ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ huấn luyện. Đảng ủy, chỉ huy Sư đoàn yêu cầu cấp ủy, chính ủy, chính trị viên, người chỉ huy và cơ quan chính trị các cấp thường xuyên bám sát tình hình thực tiễn, yêu cầu nhiệm vụ của đơn vị để lãnh đạo, chỉ đạo tiến hành tốt công tác giáo dục chính trị; kết hợp chặt chẽ các hình thức giáo dục chính trị; giữa giáo dục chính trị cơ bản với giáo dục thường xuyên; giữa giáo dục chung và giáo dục riêng, giúp cán bộ, chiến sĩ nhận thức rõ vinh dự, trách nhiệm và niềm tự hào là người chiến sĩ của Sư đoàn. Quá trình giáo dục coi trọng việc liên hệ thực tiễn, định hướng tư tưởng, hướng dẫn hành động; xây dựng bản lĩnh chính trị, bồi dưỡng kỹ năng sống cho cán bộ, chiến sĩ. Đồng thời, tiến hành tốt hoạt động thi đua trong huấn luyện gắn với thực hiện phong trào Thi đua Quyết thắng và cuộc vận động của các ngành, v. v. Nhờ đó, cán bộ, chiến sĩ có tư duy và nhận thức đúng về vị trí, vai trò, tầm quan trọng của nhiệm vụ huấn luyện trong tình hình hiện nay; xác định rõ đây là nhiệm vụ chính trị trọng tâm của Sư đoàn và từng đơn vị, là trách nhiệm của mọi tổ chức, mọi quân nhân, là một trong những điều kiện hàng đầu bảo đảm cho Sư đoàn hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.

Thực hành huấn luyện vượt sông

Sư đoàn xác định, để nâng cao chất lượng huấn luyện phải tập trung làm tốt công tác chuẩn bị huấn luyện. Trong đó, hết sức coi trọng công tác tập huấn cán bộ và luôn xem đó là khâu quan trọng then chốt, làm cơ sở để nâng cao chất lượng đối với nhiệm vụ quan trọng này, bởi khi và chỉ khi có cán bộ giỏi thì mới có đơn vị giỏi. Sư đoàn chỉ đạo đơn vị tập trung thực hiện tốt công tác xây dựng kế hoạch, chuẩn bị đội ngũ giáo viên, đội mẫu, thao trường tập huấn; trước thời gian tổ chức tập huấn, giáo viên và đội mẫu được chuẩn bị, thông qua và thục luyện kỹ, đảm bảo làm chủ về nội dung, tổ chức và phương pháp huấn luyện. Nội dung tập huấn, bồi dưỡng tập trung vào những khâu yếu, mặt hạn chế, như: huấn luyện đêm, huấn luyện tập chiến thuật đề mục vượt sông, huấn luyện đội ngũ chiến thuật cấp trung đội, đại đội, v.v. Hằng năm, Sư đoàn đều tổ chức từ 60 đến 70 lớp tập huấn cho các đối tượng để thống nhất nội dung, phương pháp huấn luyện, trong đó tập trung vào những nội dung còn hạn chế của năm trước; tiến hành tổ chức tập huấn bù, vét bảo đảm 100% quân số tham gia. Trong quá trình huấn luyện, Sư đoàn kiên quyết khắc phục triệt để tình trạng huấn luyện “chay”, “nóng vội”, không sát thực tế. Đồng thời, chủ động củng cố, làm mới mô hình, học cụ; nâng cấp, tu sửa hệ thống thao trường, bãi tập bảo đảm chất lượng, trọng tâm là thao trường huấn luyện bắn súng bộ binh, ném lựu đạn, thuốc nổ và huấn luyện chiến thuật. Tổ chức tốt hội thi công tác chuẩn bị huấn luyện cấp Sư đoàn, trung đoàn. Cùng với đó chỉ đạo các cơ quan, đơn vị động viên cán bộ, chiến sĩ tích cực phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật phục vụ huấn huyện, sẵn sàng chiến đấu. Hằng năm, trước khi bước vào huấn luyện, Sư đoàn phát động phong trào thi đua “Phát huy sáng kiến cải tiến mô hình học cụ, làm tốt công tác chuẩn bị huấn luyện”. Nhờ đó, nhiều mô hình, sáng kiến cải tiến kỹ thuật được áp dụng vào thực tế, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu của Sư đoàn.

Xuất phát từ đặc điểm, cơ cấu chiến sĩ là người dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ cao (hơn 50% tổng quân số), Sư đoàn tập trung chỉ đạo các đơn vị vận dụng nhiều biện pháp, cách làm hay, sáng tạo, hiệu quảnhằm nâng cao chất lượng huấn luyện, như: biên chế số chiến sĩ có chung ngôn ngữ trong cùng tiểu đội, trung đội; cán bộ trung đội trưởng, tiểu đội trưởng cũng được lựa chọn, biên chế phù hợp; trong huấn luyện chú trọng sử dụng mô hình trực quan và thực hành động tác mẫu. Ngoài ra, Sư đoàn còn tổ chức “dạy thêm cho các đồng chí tái mù chữ” để nâng cao khả năng tiếp thu kiến thức trong huấn luyện. Quá trình huấn luyện, các cơ quan, đơn vị bám sát phương châm “Cơ bản, thiết thực, vững chắc”; huấn luyện toàn diện, đồng bộ, chuyên sâu; chú trọng huấn luyện thực hành, huấn luyện đêm và rèn luyện bộ đội mang vác nặng, hành quân ở nhiều địa hình khác nhau để tăng sức khỏe dẻo dai; đồng thời, huấn luyện cho bộ đội làm chủ các loại vũ khí, trang bị mới được biên chế, huấn luyện sát đối tượng và địa bàn tác chiến, sát với thực tế chiến đấu. Vận dụng linh hoạt quan điểm, nguyên tắc, các mối kết hợp, tổ chức, triển khai huấn luyện chặt chẽ, sát với từng đối tượng. Sư đoàn chỉ đạo các cơ quan, đơn vị thực hiện tốt phương châm “cấp trên dạy cấp dưới, chỉ huy dạy đơn vị”, cán bộ có nhiều kinh nghiệm, phương pháp huấn luyện và thực hành tốt bồi dưỡng cho cán bộ kinh nghiệm còn hạn chế, nhất là cán bộ trung đội, cán bộ trẻ mới ra trường. Duy trì nền nếp thông qua giáo án, bồi dưỡng cán bộ ngày thứ Sáu (chiến sĩ mới ngày thứ Bảy) hàng tuần và việc “tự học, tự rèn”, gắn tổ chức bình giảng, bình học, hội thao sau mỗi giờ, mỗi ngày huấn luyện để kịp thời chỉ ra khâu yếu, mặt yếu, rút kinh nghiệm và khắc phục ngay tại thao trường, bãi tập. Ngoài ra, các đơn vị của Sư đoàn còn tích cực hành quân dã ngoại làm công tác dân vận ở vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới giúp nhân dân sản xuất, hướng dẫn đồng bào chuyển đổi giống cây trồng có năng suất cao vào canh tác,... góp phần xóa đói, giảm nghèo, ổn định đời sống nhân dân các dân tộc Tây Nguyên; đồng thời, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn đóng quân. Với những giải pháp thiết thực đó, đến nay: 100% cán bộ của Sư đoàn huấn luyện được theo phân cấp; trong đó, trên 80% cán bộ tiểu đoàn và trên 75% cán bộ trung đội, đại đội huấn luyện đạt khá, giỏi. Đây là lực lượng hạt nhân, nòng cốt để bảo đảm chất lượng huấn luyện của Sư đoàn không ngừng được nâng cao.

Sư đoàn chú trọng nâng cao chất lượng các cuộc hội thi, hội thao và diễn tập các cấp, nhất là diễn tập chỉ huy - cơ quan một bên hai cấp ngoài thực địa, diễn tập vòng tổng hợp cấp đại đội, tiểu đoàn có bắn đạn thật, diễn tập hiệp đồng quân, binh chủng. Quá trình huấn luyện kết hợp chặt chẽ với rèn luyện thể lực, xây dựng chính quy và luyện tập các phương án sẵn sàng chiến đấu, thông qua đó rèn luyện nâng cao trình độ tổ chức chỉ huy chiến đấu cho đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp trung đội, đại đội, tiểu đoàn, khả năng hiệp đồng chiến đấu, khả năng cơ động của các bộ phận, các lực lượng, bảo đảm cho Sư đoàn luôn sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ trong bất luận mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh.

Những kết quả đạt được trong công tác huấn luyện đã trực tiếp xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ của Sư đoàn có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trình độ kỹ chiến thuật tốt, chuyên môn nghiệp vụ giỏi, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; góp phần xây dựng Đảng bộ Sư đoàn trong sạch, vững mạnh tiêu biểu, Đơn vị vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Đây là tiền đề quan trọng để Sư đoàn 10, tiếp nối truyền thống anh hùng, không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

                                                                            Nguồn: Đại tá HÀ VIẾT LIỄN, Sư đoàn trưởng