Thứ Hai, 19 tháng 9, 2022

Tăng cường giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay

 TCCS - Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề học tập, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên có vị trí, vai trò quan trọng và luôn mang tính thời sự. Trước tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như hiện nay thì tăng cường giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ vừa cơ bản, lâu dài, vừa cấp bách trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người nhấn mạnh, để Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thử máy cấy lúa cải tiến tại Trại thí nghiệm trồng lúa Sở Nông lâm Hà Nội (năm 1960)_Ảnh: Tư liệu

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh đạo đức là cái gốc của con người trong mọi thời đại, mà còn đưa ra khái niệm đạo đức mới, với nội dung mới, phản ánh đạo đức ở tầm cao hơn, rộng hơn, sâu sắc hơn, đó là đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Người chỉ rõ, đạo đức cách mạng làm nên sức mạnh của Đảng và là một nhân tố quan trọng bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức bắt nguồn từ những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó còn là sự vận dụng và phát triển sáng tạo đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; sự tiếp thu và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại mà Người đã tiếp cận được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách, vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Đối với cách mạng Việt Nam, sự đòi hỏi về đạo đức còn cao hơn, bởi cách mạng Việt Nam phải tiến hành trong một hoàn cảnh đặc biệt: Tiến hành ở một nước nông nghiệp lạc hậu và phải đương đầu với các thế lực thù địch, phản động nhất, xảo quyệt nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Cách mạng nhất định sẽ thành công, nhưng thành công nhanh hay chậm, mức độ thành công lớn hay nhỏ... tùy thuộc vào đạo đức cách mạng của những người làm cách mạng, trình độ giác ngộ cách mạng và ý chí chiến đấu của quần chúng nhân dân. Người nhấn mạnh: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(2). “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(3).

Đề cao vai trò của tư tưởng, tinh thần, đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Có người nói: Lúc này mà xem trọng tinh thần tư tưởng là không duy vật biện chứng. Các cô, các chú có biết vì sao mà cách mạng của ta thành công không? Vì tinh thần. Lúc bấy giờ thực dân, phong kiến có công an, quân đội, cảnh sát, chính quyền - tất cả, Đảng ta chỉ có hai bàn tay không. Vì sao ta thành công? - Vì ta đoàn kết! Lấy gì mà đoàn kết? Lấy tinh thần!”(4).

Với tinh thần ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người không ngừng giáo dục những phẩm chất đạo đức cách mạng cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đạo đức cách mạng, một mặt, là một yêu cầu tất yếu của sự nghiệp cách mạng trước đây cũng như hiện nay; mặt khác, là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của những người lãnh đạo. Trong lịch sử các nước phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, những vị vua nắm quyền trị nước cũng như những lãnh tụ dân tộc muốn lãnh đạo được nhân dân và được nhân dân tin theo, đều phải là những người gương mẫu về đạo đức.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời mình phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Bản thân Người nêu cao tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện, thực hành đạo đức cách mạng - những phẩm chất đạo đức cao đẹp, trong đó bao hàm nhiều giá trị mới, tích cực và tiến bộ. Người quan niệm đạo đức cách mạng là nền tảng tạo ra động cơ hành động đúng đắn, tạo ra ý chí, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của người cách mạng. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước, khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần chất phác, giản dị, khiêm tốn; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Người chỉ rõ: “Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, rất cao quý của đạo đức cách mạng”(5).

Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò, tác dụng cũng như những biểu hiện cao quý của đạo đức cách mạng và chứng thực điều đó qua tấm gương của những chiến sĩ cộng sản tiền bối đã làm nên truyền thống vẻ vang của Đảng, của cách mạng: “Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”(6).

Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao cả hai mặt đức và tài ở mỗi con người. Trong mối quan hệ giữa đạo đức và tài năng, Người khẳng định đạo đức là gốc, quyết định sức mạnh tinh thần to lớn của con người, sức mạnh của đoàn kết dân tộc; nhờ đó mà đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng, góp phần to lớn vào sự thành công của cách mạng nước ta. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức nói chung cũng như đạo đức cách mạng nói riêng cho mọi người, trước hết là cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. 

Tựu trung lại, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng gồm những điểm cơ bản sau đây:

Một là, phẩm chất trung với nước, hiếu với dân.

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất khác. Từ quan niệm đạo đức cũ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” trong xã hội phong kiến phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, cao rộng hơn là “trung với nước, hiếu với dân”. Người khẳng định: “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(7). Chỉ dẫn đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị, đạo đức cho mỗi người Việt Nam, không chỉ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, mà còn lâu dài mãi mãi về sau.

Hai là, tình yêu thương con người. 

Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tình yêu thương con người rất toàn diện và độc đáo. Người xác định tình yêu thương con người là một phẩm chất cao đẹp nhất trong tình cảm đạo đức của loài người. Người luôn dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức, bóc lột. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, tình yêu thương đồng bào, đồng chí rất bao la, sâu rộng và toàn diện, không phân biệt vùng, miền, trẻ, già, trai, gái..., hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người. Tình yêu thương con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở tấm lòng bao dung cao cả của một người Cha, đặc biệt là đối với những người phạm phải sai lầm, khuyết điểm. Người căn dặn: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác”(8). Chính vì vậy, trong Di chúc thiêng liêng để lại cho muôn đời sau, Người căn dặn Đảng: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(9); mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến tình yêu thương con người.

Ba là, các đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. 

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cần tức là lao động cần cù, siêng năng, sáng tạo, có kế hoạch, có năng suất cao, với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, thì giờ, tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, vì nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to. Kiệm còn có nghĩa là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù. Liêm tức là luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân, không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc nào của Nhà nước, của nhân dân; phải trong sạch, không tham lam, không tham địa vị, không ham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình, nhờ đó mà quang minh, chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chính nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn; đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình; đối với người thì không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc; đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Chí công vô tư tức là “làm việc vì sự nghiệp chung, đặt lợi ích công lên trên hết, trước hết; không tư lợi, vụ lợi, không vì lợi ích riêng”(10). Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình phải đi sau, phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi người, nhất là những người có vị trí ảnh hưởng đối với xã hội, cộng đồng, phải luôn phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện và thực hành theo bốn đức tính: cần, kiệm, liêm, chính; thiếu một đức tính cũng không thể thành người. Bởi, “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông/Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc/Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính/Thiếu một mùa, thì không thành trời/Thiếu một phương, thì không thành đất/Thiếu một đức, thì không thành người”(11).

Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng. 

Đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng một câu thơ “Quan sơn muôn dặm một nhà/Bốn phương vô sản đều là anh em!(12), là tinh thần đoàn kết giữa những người cộng sản với các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động trên thế giới mà Người đã dày công vun đắp bằng thực tiễn hoạt động cách mạng của mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc. Đó cũng là tinh thần đoàn kết, hợp tác và hữu nghị của nhân dân Việt Nam với tất cả nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, vì mục tiêu hòa bình, công lý, tiến bộ xã hội và độc lập dân tộc.

Đánh giá cao vai trò của đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra tiêu chí của một người cán bộ tốt, đó là người cán bộ phải vừa có tài, vừa có đức, trong đó, đức là gốc. Chính Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, là kết tinh tất cả những phẩm chất tốt đẹp nhất của người Việt Nam và những phẩm chất đạo đức cộng sản cao quý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Những quy tắc đạo đức mà Người nêu ra đã trở thành vũ khí tinh thần mạnh mẽ của cả dân tộc ta trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, vì hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các dân tộc trên thế giới. Trong suốt 53 năm thực hiện Di chúc của Người, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng tiếp tục là ngọn đuốc soi đường, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng của đất nước ta, nhất là trong bối cảnh mới hiện nay.

Tiếp tục tăng cường giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới

Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Để mỗi cán bộ, đảng viên luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức tốt đẹp của mình, giác ngộ lý tưởng cách mạng, vững vàng trong mọi điều kiện, môi trường xã hội khác nhau thì cùng với sự tự giác rèn luyện, phấn đấu, còn phải cần đến sự giúp đỡ, kiểm tra, giám sát của Đảng. Đặc biệt, trong điều kiện Đảng trở thành đảng cầm quyền, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Người coi là công việc càng phải tiến hành thường xuyên, liên tục hơn. Với nhãn quan đặc biệt nhạy bén về chính trị, Người đã nhìn nhận rõ tính hai mặt vốn có của quyền lực: Một mặt, quyền lực có sức mạnh to lớn để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới nếu biết sử dụng đúng; mặt khác, quyền lực cũng có sức phá hoại ghê gớm nếu người nắm quyền lực bị thoái hóa, biến chất, sa vào con đường tham muốn quyền lực, chạy theo quyền lực, tranh giành quyền lực; lợi dụng quyền lực để lạm quyền, lộng quyền, biến quyền lực của nhân dân thành đặc quyền, đặc lợi của cá nhân... Vì vậy, Đảng phải đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để ngăn chặn, đẩy lùi và liên tục tẩy trừ mọi tệ nạn do sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên gây ra, trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn diện Nhà nước và xã hội. Nhận thức rõ sự tác động qua lại giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và môi trường xã hội, cũng như những đổi thay có thể diễn ra trong nhân cách cùng ý thức và hành vi đạo đức của cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến một nhận định mang tính triết lý và thực tiễn sâu sắc, có giá trị to lớn trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(13). Đây chính là lời cảnh tỉnh sâu sắc đối với các đảng cộng sản cầm quyền, đối với mỗi đảng viên cộng sản, nhất là những đảng viên cộng sản có chức, có quyền, giữ các vị trí then chốt trong bộ máy nhà nước.

Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với đồng bào dân tộc thôn Đăk Mút, xã Đăk Mar, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum_Ảnh : TTXVN

Qua hơn 35 năm đổi mới, với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Việc thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội có bước chuyển biến tích cực, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy. Đa số cán bộ, đảng viên tích cực trau dồi, rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, tiên phong, gương mẫu, năng động, sáng tạo trong công tác, đóng vai trò nòng cốt trong công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, trước những tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, trong đó có mặt trái, mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển của khoa học và công nghệ... một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.

Nhận định những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, ngay từ Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994), Đảng đã chỉ ra những biểu hiện của tình trạng này và coi đó là một trong bốn nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam(14). Tại các kỳ Đại hội Đảng và nhiều hội nghị Trung ương tiếp theo, Đảng có những đánh giá thẳng thắn về các nguy cơ này; trong đó, nổi lên các biểu hiện đáng lo ngại là: Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phai nhạt lý tưởng, niềm tin đối với Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt nguy hiểm là sự “trỗi dậy” của chủ nghĩa cá nhân, lối sống vị kỷ, vụ lợi, chạy theo các giá trị vật chất, xem thường các giá trị tinh thần; chỉ lo vun vén cho cá nhân mà thờ ơ, lảng tránh trách nhiệm với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Tính trung thực (cả trong tư tưởng, chính trị và đạo đức) của không ít cán bộ, đảng viên bị suy giảm nghiêm trọng. Nói không đi đôi với làm. Kèn cựa địa vị, tranh chức tranh quyền, bằng mọi thủ đoạn để tìm kiếm các mối quan hệ, liên kết “lợi ích nhóm” bất chính “lợi mình hại người”, dùng tiền bạc do tham nhũng để mua chức, mua danh, bất chấp cả liêm sỉ, đạo lý. Nạn tham nhũng tồn tại kéo dài, ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi, gây nhức nhối về đạo đức trong Đảng, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân và xã hội đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ.

Như vậy, thực trạng suy giảm đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gây hậu quả rất nặng nề, làm tổn thương đến uy tín, thanh danh của Đảng, mà nếu không được ngăn chặn và đẩy lùi triệt để thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Tâm trạng xã hội và ý nguyện của nhân dân lúc này là thiết tha mong muốn, đồng thời nghiêm khắc đòi hỏi Đảng phải trong sạch, vững mạnh bắt đầu từ đạo đức. Cán bộ, đảng viên phải chứng tỏ trên thực tế, bằng những việc làm, ứng xử và hành xử, là những người có đạo đức.

Nhìn nhận rõ thực trạng đó, tại Đại hội XII, Đảng đã nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức và đây là một trong những điểm mới, rất căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng nội dung xây dựng Đảng: “Tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức””(15). Lần đầu tiên, Đảng đưa nội dung xây dựng Đảng về đạo đức - một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng - vào trong văn kiện. Đại hội XIII của Đảng bổ sung một thành tố nữa vào công tác xây dựng Đảng là cán bộ: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(16). Đó vừa là định hướng thực tiễn, vừa là chỉ báo đánh giá kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Thực hiện tốt nội dung xây dựng Đảng về đạo đức sẽ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩ#m chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đây chính là khâu đột phá về lý luận và thực tiễn đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền đang thực thi trọng trách lịch sử mà dân tộc và nhân dân ủy thác: Lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới, vì Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Trong thời gian tới, để tăng cường giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần đặc biệt quan tâm đến một số nội dung sau:

Một là, mọi cán bộ, đảng viên phải tự giác học tập và tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đây phải được xác định là biện pháp quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Trước hết, việc học tập, tự học tập để nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng phải được thực hiện thường xuyên, liên tục. Các nội dung học tập phải được đưa vào sinh hoạt chi bộ và trở thành nền nếp. Thường xuyên trao đổi, thảo luận, tự phê bình và phê bình, đóng góp ý kiến xây dựng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị, địa phương. Biểu dương những việc làm tốt, kịp thời phát hiện, uốn nắn những việc làm chưa tốt, nhất là trong việc vận dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác vào việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác phấn đấu và tu dưỡng, rèn luyện theo những chuẩn mực đạo đức được xây dựng ở địa phương, cơ quan, đơn vị, trong từng tổ chức đảng.

Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Si  Ma Cai, tỉnh Lào Cai giúp dân_Nguồn: baolaocai.vn

Hai là, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; theo đó, tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, đặc biệt là quán triệt và thực hiện nghiêm túc Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Đây được xác định là khâu mấu chốt để thực hiện việc nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi đôi với làm, khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.

Để thực hiện tốt nội dung này, cần giữ vững các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, thực hiện nghiêm các nghị quyết, quy định của Đảng về thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu(17).

Ba là, coi trọng xây dựng quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức; đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cá nhân, tổ chức. Một mặt, để nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, yêu cầu đặt ra trước hết là phải xác định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của mỗi người, mỗi tổ chức thì tổ chức, đơn vị đó mới hoạt động có hiệu quả. Thực tế cho thấy, phải có trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng thì mỗi cá nhân mới có đóng góp cụ thể cho tổ chức, mới “nói đi đôi với làm”, tham gia cùng tập thể chống chủ nghĩa cá nhân. Mặt khác, để động viên, khuyến khích tinh thần trách nhiệm và hạn chế thói lười biếng, vô trách nhiệm, ỷ lại, tư lợi cá nhân của cán bộ, đảng viên, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy các cấp cần thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, giám sát về những nội dung này; thông qua kiểm tra, giám sát để quản lý chặt chẽ từng cán bộ, đảng viên ở nơi công tác, nơi cư trú và khi công tác xa cơ quan, đơn vị, nhất là những cán bộ có chức, có quyền, trong các lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra sai phạm, như quản lý kinh tế, công tác cán bộ... Đồng thời, phát hiện và xử lý kịp thời những cán bộ, đảng viên vi phạm tư cách, thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống, những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết nội bộ trong Đảng, vi phạm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng.

Bốn là, không ngừng hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật gắn với việc tăng cường hơn nữa tính nghiêm minh của kỷ luật đảng và pháp luật của Nhà nước. Quá trình đổi mới và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay đặt ra yêu cầu phải khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật để hạn chế những “lỗ hổng” dễ bị lợi dụng; đặc biệt, cần tăng cường kỷ cương, phép nước, tính nghiêm minh của pháp luật để củng cố niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước. Đồng thời, tăng cường phát huy dân chủ trong Đảng và thực hiện kỷ luật đảng thật sự nghiêm minh; xử lý kịp thời, công khai những cán bộ, đảng viên vi phạm, dù ở cương vị, chức trách nào; kiên quyết đấu tranh với những thói hư, tật xấu trong Đảng.

Năm là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân trong giám sát cán bộ, công chức. Đây là giải pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài của công tác xây dựng Đảng, cũng như trong việc phòng, chống chủ nghĩa cá nhân và ngăn chặn tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay. Bên cạnh đó, cần phát huy mặt tích cực của dư luận xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ góp phần giáo dục, răn đe đối với mọi cán bộ, đảng viên, đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống./.

Nâng cao đạo đức cách mạng theo tư tưởng Hồ Chí Minh và tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 TCCS - Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhiệm vụ tự giác, thường xuyên của đội ngũ cán bộ, đảng viên; đồng thời, là nhân tố quan trọng góp phần vào thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, việc rèn luyện đạo đức cách mạng theo chỉ dẫn của Người và tinh thần Đại hội XIII của Đảng chính là góp phần vào thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mỗi đảng viên, cơ quan, đơn vị, tổ chức đảng, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh.

1- Chủ tịch Hồ Chí Minh là người sáng lập, rèn luyện và lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc đến những bến bờ thắng lợi; đồng thời, là một danh nhân văn hóa thế giới, nên Người luôn hiểu rõ và thực hành các chuẩn mực đạo đức truyền thống dân tộc, đồng thời kế thừa những tinh hoa đạo đức của nhân loại. Với tầm vóc của một nhân cách lớn, không phải đến khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, có vị trí và vai trò ngày càng vững chắc trong lòng nhân dân, được lịch sử ghi nhận qua những thắng lợi vĩ đại do Đảng lãnh đạo đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc; mà ngay từ khi Đảng ta còn ở buổi sơ khai, đến những ngày đầu chính thức cầm quyền sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm, nhắc nhở cán bộ, đảng viên về việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức suốt đời của người cách mạng.

Bác Hồ với công nhân xe lửa Gia Lâm (tranh của họa sĩ Phạm Lung, sáng tác năm 1969_Ảnh: Tư liệu

Khi Đảng còn chưa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ đặc điểm của các dân tộc phương Đông là luôn tôn trọng và đánh giá cao những tấm gương đạo đức trong sáng, cao cả, hết lòng phụng sự Tổ quốc, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Những bậc vua sáng, tôi hiền trong lịch sử từ xa xưa có công mở mang bờ cõi, giữ yên sự vững bền của xã tắc, cho đến những bậc tiên hiền, những vị có công lập làng, giữ xóm… luôn được nhân dân ghi nhận, tôn làm thánh, thờ làm thành hoàng và truyền tụng từ đời này qua đời khác. Vì thế, ngay từ đầu những năm 1920, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát đặc điểm này của dân tộc Việt Nam nói riêng, các dân tộc Á Đông nói chung, để đưa ra chỉ dẫn cần thiết cho mỗi người cộng sản trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, giữ vững sự tin yêu của quần chúng nhân dân: Đối với các dân tộc Á Đông, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền.

Năm 1927, qua tác phẩm Đường cách mệnh, Người đã chỉ rõ những yêu cầu về đạo đức của người cộng sản, về tu dưỡng và rèn luyện đạo đức cách mạng. Tu dưỡng, rèn luyện theo những chỉ dẫn đó, các lớp đảng viên tiền bối của Đảng đã cống hiến, hy sinh cả cuộc đời mình để tô thắm thêm đạo đức trong sáng của người cách mạng, nên đã thuyết phục được nhân dân một lòng một dạ tin vào Đảng, đi theo Đảng. Cũng vì thế, mặc dù chỉ có chưa tới năm nghìn đảng viên, Đảng ta đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đem lại độc lập cho dân tộc sau hơn 80 năm dưới ách thực dân xâm lược, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong công cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho đất nước, các cán bộ, đảng viên của Đảng đã không quản ngại khó khăn, gian khổ, hy sinh, tỏ rõ sự xứng đáng với danh hiệu đảng viên cộng sản cao quý. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành đảng cầm quyền, thì những đảng viên của Đảng trở thành những cán bộ lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính quyền từ Trung ương đến cơ sở công tác trong hoàn cảnh, điều kiện mới, khi kẻ thù trước mặt không chỉ là quân thù và hy sinh, mất mát là mạng sống cá nhân, mà còn phải đối diện với những “viên đạn bọc đường”, luôn làm xao động ý chí phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện của họ để mưu cầu lợi ích cá nhân.

Nhận thấy rõ điều đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở đội ngũ cán bộ, đảng viên về nghĩa vụ của họ trước quốc dân, đồng bào và chỉ rõ: Đảng không phải là tổ chức để làm quan, phát tài, mà là để phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc; vì thế, đảng viên phải luôn rèn luyện, phấn đấu, luôn sẵn sàng hy sinh, cống hiến cho sự nghiệp cách mạng. Những lời căn dặn, nhắc nhở của Người giúp đội ngũ cán bộ, đảng viên nhận thức rõ trách nhiệm, nghĩa vụ của mình trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc, thấy rõ những tiêu chí cần phải kiên trì tu dưỡng, rèn luyện, nỗ lực phấn đấu để xứng đáng với sự mong đợi, kỳ vọng của quần chúng nhân dân, với nhiệm vụ do Đảng giao phó, xứng với danh hiệu đảng viên cộng sản.

Những yêu cầu đó đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ trong nhiều bài nói, bài viết ngay từ khi Đảng ta trở thành đảng cầm quyền sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, gửi đội ngũ cán bộ, đảng viên và bộ máy chính quyền các cấp, ở các vùng, miền và thể hiện tập trung hơn cả chính là ở tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, năm 1947. Đây có thể xem như một bộ tổng tập đầu tiên về những tiêu chuẩn của người cán bộ cách mạng, người đảng viên cộng sản, về yêu cầu và chỉ dẫn đối với hoạt động của chính quyền cách mạng, là sự cảnh báo về những thói hư, tật xấu mà người cán bộ, đảng viên hay mắc phải, để từ đó đề ra biện pháp phòng, chống những thói hư, tật xấu đó. Sau chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, Đảng ta cầm quyền trên một nửa lãnh thổ trong điều kiện phải chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ với miền Bắc và chi viện cho phong trào cách mạng miền Nam đấu tranh giải phóng đất nước. Khi đó, những thói hư, tật xấu trong một bộ phận cán bộ, đảng viên xuất hiện, gây ảnh hưởng xấu tới uy tín, sự vững mạnh, hiệu quả lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của Đảng. Nhận thức rõ nguy cơ này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết nhiều tác phẩm về việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, đó là tác phẩm Đạo đức cách mạng, viết năm 1955; tác phẩm Đạo đức cách mạng, viết năm 1958, đặc biệt là tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân viết năm 1969.

Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Võ Văn Thưởng thăm và làm việc với Ban thường vụ Tỉnh ủy Long An về tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Nghị quyết Đại hội XI Đảng bộ tỉnh Long An nhiệm kỳ 2020 - 202 (Trong ảnh: Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng thăm Hợp tác xã rau an toàn Phước Thịnh tại xã Phước Hậu, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An)_Ảnh: TTXVN

2- Tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân được Chủ tịch Hồ Chí Minh mở đầu bằng việc nêu bật những thành tích của Đảng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Có được những thành tích đó là nhờ đông đảo đảng viên luôn kiên trì phấn đấu theo lý tưởng của Đảng, trở thành những người đi trước mở đường, dẫn dắt quần chúng nhân dân chinh phục những cột mốc trên con đường đấu tranh vì độc lập, tự do, hạnh phúc của dân tộc. Tuy nhiên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ, vẫn “còn có một số ít cán bộ, đảng viên mà đạo đức, phẩm chất còn thấp kém”(1), họ chính là những người “mang nặng chủ nghĩa cá nhân, việc gì cũng nghĩ đến lợi ích riêng của mình trước hết”(2). Vì sa vào chủ nghĩa cá nhân, nên họ “tham ô, hủ hóa, lãng phí, xa hoa… coi thường tập thể, xem khinh quần chúng, độc đoán, chuyên quyền”(3), họ cũng “mất đoàn kết, thiếu tính tổ chức, tính kỷ luật, kém tinh thần trách nhiệm, không chấp hành đúng đường lối, chính sách của Đảng và của Nhà nước, làm hại đến lợi ích của cách mạng, của nhân dân”(4).

Để ngăn chặn và đẩy lùi căn bệnh cá nhân chủ nghĩa, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Đảng ta phải ra sức tăng cường giáo dục toàn Đảng về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên. Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng. Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên. Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”(5). Về phía mỗi đảng viên, Người yêu cầu phải “đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết. Phải kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân, nâng cao đạo đức cách mạng, bồi dưỡng tư tưởng tập thể, tinh thần đoàn kết, tính tổ chức và tính kỷ luật. Phải đi sâu đi sát thực tế, gần gũi quần chúng, thật sự tôn trọng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân. Phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”(6).

Trong tác phẩm Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ nguyên nhân chủ quan và khách quan của chủ nghĩa cá nhân. Nguyên nhân chủ quan, là do những cá nhân này thiếu tu dưỡng, rèn luyện nên “phẩm chất, đạo đức còn thấp kém”. Nguyên nhân khách quan, có nguyên nhân từ thực tế xã hội khi những tồn dư do xã hội cũ để lại từ lối mòn suy nghĩ, đã tác động không tốt tới nhận thức chính trị của một số đảng viên, khiến cho họ tuy là đảng viên nhưng chưa thực sự xứng đáng với tư cách đảng viên cộng sản. Bên cạnh đó, một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa nghiêm túc trong thực hiện việc theo dõi, bồi dưỡng, đánh giá trước khi kết nạp quần chúng vào Đảng; sau khi kết nạp đảng, không nghiêm túc thực hiện các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, như tự phê bình và phê bình, tập trung dân chủ… trong thực hiện nhiệm vụ chính trị cũng như trong sinh hoạt hằng ngày. Những hạn chế đó khiến cho một số cán bộ, đảng viên thiếu sự rèn luyện, tu dưỡng, ít được kiểm tra, giúp đỡ trong công việc và sinh hoạt hằng ngày, nên đã làm cho căn bệnh cá nhân chủ nghĩa phát sinh và ngày càng trầm trọng.

Để ngăn ngừa và đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ ra những biện pháp căn bản. Thứ nhất, mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên trì, quyết tâm tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng, phải “đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân lên trên hết, trước hết”, “phải cố gắng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ hiểu biết để làm tốt mọi nhiệm vụ”. Thứ hai, tổ chức đảng các cấp phải tăng cường việc giáo dục đội ngũ cán bộ, đảng viên về các tiêu chí của người cộng sản; trong đó, cần chú ý “về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, về đường lối, chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và đạo đức của người đảng viên”. Thứ ba, thực hiện nghiêm các biện pháp xây dựng Đảng về tổ chức, như “Phải thực hành phê bình và tự phê bình nghiêm chỉnh trong Đảng… Chế độ sinh hoạt của chi bộ phải nghiêm túc. Kỷ luật của Đảng phải nghiêm minh. Công tác kiểm tra của Đảng phải chặt chẽ”. Thứ tư, phát huy vai trò của quần chúng nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng, theo đó tổ chức đảng các cấp “Phải hoan nghênh và khuyến khích quần chúng thật thà phê bình cán bộ, đảng viên”.

Những chỉ dẫn đó của Chủ tịch Hồ Chí Minh đến nay vẫn còn nguyên giá trị, vẫn luôn là kim chỉ nam cho mỗi cấp ủy, tổ chức đảng cũng như mỗi đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, tiến hành công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, cũng như trong việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức người cộng sản một cách hiệu quả.

3- Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt là những chỉ dẫn quan trọng của Người về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, để Đảng xứng đáng với sự tin yêu của nhân dân, thời gian tới, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng cần tiếp tục quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh để thực hiện có hiệu quả những nội dung Đại hội XIII của Đảng đề ra.

Một là, làm tốt việc giáo dục lý tưởng cách mạng, quan điểm, đường lối của Đảng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên của toàn hệ thống chính trị và lan tỏa trong nhân dân, để quan điểm, đường lối chính trị khoa học, cách mạng trở thành dòng chủ lưu chính chi phối suy nghĩ, hành động của toàn thể đội ngũ cán bộ, đảng viên và đông đảo nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Đảng muốn vững phải có chủ nghĩa làm cốt; chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng là định hướng quan trọng để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của cả hệ thống chính trị, góp phần bảo đảm kết quả thực hiện nhiệm vụ dưới sự lãnh đạo của Đảng đạt yêu cầu, mục đích đề ra.

Giáo dục lý tưởng cách mạng, quan điểm, đường lối của Đảng cho đoàn viên, thanh niên (Trong ảnh: Đoàn viên, thanh niên thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh tham quan Khu lưu niệm Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ tại phường Phù Khê, thành phố Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh)_Ảnh: TTXVN

Thời gian qua, bên cạnh những thành quả đã đạt được, vẫn còn tình trạng “việc cụ thể hóa, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa kịp thời… Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta”(7). Để khắc phục những hạn chế này, thời gian tới, các cấp ủy, tổ chức đảng, các cấp, các ngành phải: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng và phát triển sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam”, “Công tác tư tưởng phải… làm cho tư tưởng tiến bộ, tích cực thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội”(8).

Hai là, làm tốt công tác phát triển đảng viên. Trong thời gian qua, việc “Kết nạp đảng viên một số nơi còn chạy theo số lượng, chưa coi trọng đúng mức chất lượng… Công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên chưa được quan tâm đúng mức, việc rà soát, sàng lọc đảng viên chưa thường xuyên, thiếu cương quyết”(9).

Để khắc phục những hạn chế đó, đồng thời nâng cao chất lượng đảng viên, thời gian tới, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tập trung thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp mà Đại hội XIII của Đảng đã đề ra là: “Nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên, chú trọng phát hiện, bồi dưỡng kết nạp vào Đảng những đoàn viên ưu tú, trưởng thành trong lao động, học tập, trong lực lượng vũ trang; quan tâm phát triển đảng viên là công nhân, trí thức, doanh nhân để tạo nguồn cán bộ cho hệ thống chính trị các cấp”(10). Bên cạnh đó, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 28-CT/TW, ngày 21-1-2019, của Ban Bí thư, “Về nâng cao chất lượng kết nạp đảng viên và rà soát, sàng lọc, đưa những đảng viên không còn đủ tư cách ra khỏi Đảng”; Nghị quyết số 21-NQ/TW, ngày 16-6-2022, Hội nghị Trung ương 5 khóa XIII về tăng cường củng cố xây dựng tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên trong giai đoạn mới. Cần làm tốt công tác lựa chọn, bồi dưỡng các quần chúng ưu tú và việc rèn luyện, thử thách cán bộ, đảng viên trong thực tiễn cách mạng. Cần tuân thủ nghiêm chỉ dẫn của V.I. Lê-nin trong phát triển đảng viên là “thà ít mà tốt”. Đảng vững mạnh không phải ở số lượng đông đảo đảng viên, mà ở sức mạnh to lớn, đầy thuyết phục do những thành viên xứng đáng với danh hiệu người đảng viên cộng sản thể hiện trước quần chúng nhân dân, trong thực tiễn cách mạng của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.

Ba là, tổ chức đảng các cấp cần tuân thủ nghiêm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, như tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình,… nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Sức mạnh của Đảng nói chung, của mỗi tổ chức đảng nói riêng là ở sự đồng tâm nhất trí của tập thể cùng quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ; cùng hy sinh, phấn đấu cho lý tưởng; cùng giúp nhau chiến thắng những kẻ thù ẩn sâu bên trong bản thân mỗi người - những suy nghĩ mang tính cá nhân ích kỷ, không vì lý tưởng, sự nghiệp chung…

Thời gian qua, “Tự phê bình và phê bình ở không ít nơi còn hình thức; tình trạng nể nang, né tránh, ngại va chạm còn diễn ra ở nhiều nơi; một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tự giác nhận khuyết điểm và trách nhiệm của mình đối với nhiệm vụ được giao”(11). Để khắc phục, đẩy lùi những hạn chế, khuyết điểm nói trên của đảng viên, tổ chức đảng, thời gian tới cần “Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ; tăng cường kiểm tra, giám sát, kịp thời xử lý các chi bộ, đảng viên vi phạm quy định, nguyên tắc sinh hoạt đảng… Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả tự phê bình và phê bình, đánh giá, xếp loại chất lượng tổ chức đảng, đảng viên hằng năm”(12).

Bốn là, phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đảng chỉ hoàn thành được sứ mệnh của mình khi luôn hướng mọi hoạt động của mình vào phục vụ nhân dân; giữ vững sự trong sạch, vững mạnh của Đảng, xứng đáng là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Thời gian qua, tổ chức đảng các cấp, bên cạnh những thành tích đạt được trong việc phục vụ nhân dân, cũng như việc bảo đảm chịu sự giám sát, giúp đỡ của nhân dân, vẫn còn một số hạn chế cần khắc phục, đó là: “Giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên ở một số nơi chưa thường xuyên, hiệu quả thấp”(13). Vì thế, thời gian tới, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên cần đặc biệt “Coi trọng công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, kết hợp với phát huy vai trò giám sát của báo chí và nhân dân đối với việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên… Thực hiện có hiệu quả việc giám sát của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu và cán bộ chủ chốt”(14)./.

TĂNG CƯỜNG BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG, ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

 Xác định công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, thời gian qua, các cấp uỷ đảng, chính quyền của tỉnh đã quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai đồng bộ nhiều giải pháp kịp thời tạo sự chuyển biến về nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân trong đấu tranh phản bác các thông tin xấu độc, tích cực bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Qua đó, góp phần giữ vững ổn định chính trị tư tưởng, tạo sự đồng thuận xã hội, thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội Đảng các cấp và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, từng bước thực hiện mục tiêu xây dựng tỉnh Nam Định phát triển nhanh, bền vững, trở thành tỉnh phát triển khá của cả nước vào năm 2030.

Bảo đảm tính khả thi của pháp luật theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

 TCCS - Nâng cao chất lượng của hệ thống pháp luật nói chung, tính khả thi của pháp luật nói riêng được xem là một trong những vấn đề cơ bản trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chỉ khi văn bản pháp luật có tính khả thi mới thực sự khơi nguồn các dòng chảy của thực tiễn, giải quyết các vấn đề mà cuộc sống đặt ra theo định hướng, chủ trương đúng đắn của Đại hội XIII của Đảng.

Một quốc gia thành công hay không thì khâu đột phá đầu tiên phải là thể chế với thành tố chủ đạo là pháp luật. Muốn làm được điều đó, pháp luật phải bảo đảm hoặc đáp ứng nhiều thuộc tính, yêu cầu khác nhau. Trong đó, tính khả thi là một trong những tiêu chí để đánh giá một văn bản pháp luật “tốt”, thể hiện tính chắc chắn, ổn định của hệ thống pháp luật. Bên cạnh sáu thuộc tính pháp luật được đề cập tại Đại hội XII của Đảng thì Đại hội XIII của Đảng đã bổ sung một số thuộc tính, yêu cầu đối với hệ thống pháp luật, trong đó có tính khả thi của pháp luật.

Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ với các đại biểu tham dự Tọa đàm chuyên gia một số nội dung phục vụ việc xây dựng chuyên đề hoàn thiện hệ thống pháp luật và tổ chức thi hành pháp luật đến năm 2030, định hướng đến năm 2045, tại nhà Quốc hội_Ảnh: Tư liệu

Nhận diện tính khả thi của pháp luật

Dưới giác độ ngôn ngữ, khả thi có nghĩa là có khả năng thực hiện được(1). Theo đó, có thể hiểu tính khả thi của pháp luật là khả năng văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) đó có đủ các điều kiện bảo đảm được thực hiện trên thực tế. Cụ thể là sau khi được ban hành, các VBQPPL này thể hiện sự phù hợp với thực tiễn cuộc sống, biểu hiện sự hợp lý, mang lại hiệu quả cao nhất về kinh tế, chính trị, xã hội, đạt được mục đích quản lý của Nhà nước. Nói cách khác, những quy định của pháp luật không chỉ dừng lại trên danh nghĩa giấy tờ mà nó phải đi vào đời sống của người dân. Như vậy, tính khả thi của một VBQPPL bao gồm sự phù hợp giữa các quy định trong văn bản đó với yêu cầu thực tế, trình độ phát triển của xã hội và điều kiện bảo đảm để thực hiện(2).

Tính khả thi của pháp luật cần tính tới đồng thời cả hai nhóm đối tượng cơ bản(3): Đối tượng phải chấp hành nghĩa vụ pháp lý (hoặc đối tượng được hưởng quyền lợi) mà văn bản pháp luật quy định; các cơ quan nhà nước (hoặc cán bộ, công chức) phải tổ chức thi hành các quy định trong các văn bản pháp luật. Nếu không có tính khả thi đối với nhóm đối tượng thứ nhất, pháp luật sẽ không tạo ra chuyển biến trong đời sống thực tế, mục đích ban hành pháp luật sẽ không đạt được. Nếu không có tính khả thi đối với nhóm đối tượng thứ hai, pháp luật sẽ khó được chấp hành nghiêm chỉnh; uy và tín của pháp luật sẽ bị ảnh hưởng.

Để đánh giá tính khả thi của một văn bản pháp luật cần phải dựa trên nhiều tiêu chí để xem xét, đánh giá. Thông qua một số nghiên cứu(4), một VBQPPL được đánh giá là có tính khả thi khi đáp ứng một số tiêu chí nhất định: Nội dung phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội; xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của xã hội, đáp ứng kịp thời nhu cầu quản lý nhà nước; có tính dự báo và tính ổn định tương đối. Với tính dự báo, các quan hệ xã hội luôn biến động và phát triển nên VBQPPL phải có khả năng giải quyết được các vấn đề trong tương lai gần. Với tính ổn định, VBQPPL không “đứng yên” mà phải “ổn định trong phát triển”. Phải bảo đảm sự toàn diện của các biện pháp, sự tương xứng, hợp lý của các quy định, các chế tài trong văn bản so với mục tiêu giải quyết vấn đề. Mục tiêu giải quyết vấn đề ở mức độ nào thì đặt ra các quy định, chế tài ở mức độ đó, chế tài phải tương xứng với tính chất, mức độ hành vi vi phạm thì mới bảo đảm tính khả thi. Có cơ chế bảo đảm thực thi theo hướng xác định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục thực hiện và VBQPPL phải phù hợp với điều kiện bảo đảm để thực hiện, như bộ máy, nhân lực, nguồn tài chính, trình độ quản lý, trình độ dân trí và khả năng thực hiện văn bản của đối tượng chịu tác động...

Thước đo của tính khả thi được rút ra không chỉ từ những nguyên tắc chung của pháp luật, mà còn dựa trên các quy tắc chung của cuộc sống nên phần nhiều phụ thuộc vào quan điểm của các chủ thể có thẩm quyền ban hành văn bản. Do đó, việc đánh giá một văn bản pháp luật có khả thi hay không đôi khi cần phải có thời gian kiểm chứng. Bên cạnh đó, việc bảo đảm tính khả thi của Hiến pháp và luật (do Quốc hội ban hành) đóng vai trò rất quan trọng bởi nó sẽ ảnh hưởng đến tính khả thi của các loại VBQPPL khác trong hệ thống pháp luật. Bởi vậy, để đánh giá tính khả thi không thể chỉ dựa trên một VBQPPL đơn lẻ mà cần đánh giá một cách hệ thống, gắn kết trong hệ thống pháp luật. Để tính khả thi được phát huy không chỉ thỏa mãn những tiêu chí nêu trên mà phải kể đến các mối quan hệ với tính hợp pháp, thống nhất, ổn định và công khai, minh bạch của pháp luật. Bên cạnh đó, có nhiều yếu tố tác động đến việc bảo đảm tính khả thi của pháp luật, như pháp luật phải được ban hành đầy đủ nhưng cũng phải có giới hạn, không phải vấn đề gì, quan hệ xã hội nào cũng cần pháp luật điều chỉnh. Việc đánh giá tác động trong xây dựng và thi hành VBQPPL quyết định rất nhiều đến tính khả thi của nó. Những quy định trong VBQPPL phải rõ ràng, cụ thể, dễ hiểu, thống nhất, đồng bộ. Việc gắn kết giữa xây dựng và thi hành pháp luật cũng tác động đến chất lượng văn bản pháp luật (bảo đảm tính khả thi, dễ tiếp cận, dễ thực hiện và đáp ứng được yêu cầu của thực tiễn).

Một số kết quả đạt được về tính khả thi của pháp luật thời gian qua

Pháp luật Việt Nam trong hơn 35 năm đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng(5).

Thứ nhất, hệ thống pháp luật Việt Nam có sự phát triển rất nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Từ đầu năm 1987 đến hết tháng 6-2021, Quốc hội đã ban hành 440 bộ luật, luật; Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành 188 pháp lệnh; Chính phủ đã ban hành 3.993 nghị định; các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan, tổ chức khác đã ban hành 14.400 văn bản liên tịch(6). Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo Nghị quyết số 48-NQ/TW, ngày 24-5-2005, của Bộ Chính trị, đã thu được nhiều thành tựu đáng ghi nhận xoay quanh ba trụ cột: xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; pháp luật về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quyền con người(7). Về cơ bản, hệ thống pháp luật, được xây dựng tương đối đồng bộ, cơ bản phù hợp với cơ chế thị trường và đáp ứng được ở mức độ nhất định yêu cầu, đòi hỏi của sự phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế.

Thứ hai, quy trình xây dựng luật, pháp lệnh đã được đổi mới một bước khá cơ bản nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống pháp luật (trong đó có tính khả thi). Theo đó, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đã tách bạch quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị định của Chính phủ và nghị quyết của hội đồng nhân dân cấp tỉnh, bảo đảm sự phù hợp của luật, pháp lệnh với đường lối, chủ trương của Đảng. Luật cũng đổi mới quy trình xây dựng, ban hành VBQPPL của một số cơ quan, người có thẩm quyền khác, theo đó bổ sung quy định cụ thể hơn về trình tự, thủ tục soạn thảo, thẩm định, thẩm tra văn bản. Cùng với đó, bổ sung nhiều quy định mới về việc tổ chức lấy ý kiến nhằm mở rộng dân chủ, tăng cường công khai, minh bạch trong xây dựng VBQPPL và tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng VBQPPL.

Đáng chú ý, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật  năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) đã bổ sung 01 điều (Điều 7) về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tham gia vào quá trình xây dựng, ban hành VBQPPL từ khâu lập đề nghị xây dựng VBQPPL, chủ trì, tham gia soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, chỉnh lý, trình dự án, dự thảo đến ban hành VBQPPL. Trong trường hợp dự thảo văn bản không bảo đảm về chất lượng, chậm tiến độ, không bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật thì người đứng đầu cơ quan, tổ chức chủ trì soạn thảo, cơ quan thẩm định, cơ quan trình, cơ quan thẩm tra và cơ quan ban hành VBQPPL trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình phải chịu trách nhiệm về việc không hoàn thành nhiệm vụ và tùy theo mức độ mà bị xử lý theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và quy định khác của pháp luật có liên quan.

Các đại biểu Quốc hội biểu quyết thông qua luật tại Kỳ họp thứ hai, Quốc hội khoá XV_Ảnh: TTXVN

Thứ ba, với các thành quả đổi mới, đặc biệt trong giai đoạn 2016 - 2021, hệ thống pháp luật Việt Nam đã có bước phát triển mới, ngày càng hoàn thiện hơn cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp(8), trong đó khá nhiều văn bản bảo đảm tính khả thi, đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Ở cấp Trung ương, theo một nghiên cứu được công bố năm 2018, một trong những thành tựu nổi bật trong việc bảo đảm tính khả thi của pháp luật là ở lĩnh vực an sinh xã hội(9). Trên thực tế, chất lượng của pháp luật an sinh xã hội từng bước được nâng cao, không có những sai sót đáng kể và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Bên cạnh đó, tính công bằng, công khai, minh bạch và dễ tiếp cận của các quy định pháp luật về an sinh xã hội về cơ bản được bảo đảm. Hay như trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, tính khả thi đã có những điểm cải thiện nhất định khi các thủ tục hành chính và nghĩa vụ bảo vệ môi trường của doanh nghiệp được quy định theo hướng nghiêm ngặt hơn. Ở cấp địa phương, hoạt động xây dựng VBQPPL đã có sự chú trọng đến tính khả thi của văn bản(10). Khả năng thực hiện trong thực tiễn được xem là một tiêu chí để đánh giá chất lượng VBQPPL của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp.

Một số hạn chế, yếu kém

Mặc dù chất lượng của hệ thống pháp luật nói chung và tính khả thi của pháp luật nói riêng thời gian qua đã đạt được một số kết quả tích cực nhưng vẫn còn có những hạn chế, yếu kém  nhất định.

Một là, nội dung VBQPPL chưa phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội, nhu cầu thực tế của xã hội và chưa đáp ứng kịp thời nhu cầu quản lý nhà nước. Ví dụ: Để điều chỉnh quan hệ của các chủ thể tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, ngoài những bộ luật, luật truyền thống, đến thời điểm hiện tại đã có khá nhiều VBQPPL từng bước được ban hành nhưng khung pháp lý này hiện đã bộc lộ một số hạn chế do môi trường pháp lý còn bất cập, thiếu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật; còn có khoảng cách giữa quy định pháp luật với việc thực thi trong thực tế. Lấy ví dụ trong phát triển kinh tế số, các quy định thường không theo kịp với tốc độ số hóa nhanh chóng của nền kinh tế(11).

Hai là, nội dung VBQPPL thiếu tính dự báo và thiếu tính ổn định tương đối nên ảnh hưởng đến tính khả thi của chính VBQPPLThực tế cho thấy, tính dự báo của hệ thống pháp luật nước ta chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, ảnh hưởng đến tính khả thi của pháp luật. Đối với tính ổn định của hệ thống pháp luật(12), tuổi thọ của VBQPPL trên một số lĩnh vực không cao đã gây khó khăn trong việc hiểu, áp dụng, giải thích một cách thống nhất, tính khả thi bị suy giảm.

Ba là, một số VBQPPL chưa quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trình tự, thủ tục thực hiện cho các nhóm đối tượng. Ví dụ: Bộ luật Dân sự năm 2015 ghi nhận vấn đề chuyển đổi giới tính (Điều 37), tuy nhiên, kể từ khi Bộ luật này có hiệu lực thi hành từ ngày 1-1-2017 đến nay vẫn chưa có Luật Chuyển đổi giới tính nên chưa có quy định cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện quyền.

Bốn là, không ít quy định của luật chưa xác định được nguồn lực để triển khai thực hiện, chưa xem xét đầy đủ đến khả năng thực hiện của đối tượng chịu sự tác động. Điều này có thể thấy qua quy định liên quan đến hình thức thi hành án tử hình. Theo Điều 59 Luật Thi hành án hình sự năm 2010, Điều 82 Luật Thi hành án hình sự năm 2019 thì thi hành án tử hình được thực hiện bằng tiêm thuốc độc. Tuy nhiên, ngay từ khi thi hành Luật Thi hành án hình sự năm 2010 đã cho thấy nhiều trường hợp chưa thể thi hành án tử hình vì thiếu thuốc (kinh phí mua thuốc lớn và phải nhập từ nước ngoài).

Các hạn chế, khó khăn nêu trên về tính khả thi của pháp luật xuất phát từ một số nguyên nhân, như thực tế xã hội Việt Nam đang biến đổi khá nhanh; quy trình xây dựng pháp luật còn có một số hạn chế, khó khăn, ảnh hưởng đến chất lượng của pháp luật nói chung, tính khả thi của pháp luật nói riêng; tình trạng luật chưa cụ thể, mang tính chất luật khung, luật ống mặc dù đã được cải thiện trong thời gian qua nhưng đến nay vẫn tồn tại; còn có sự cắt khúc, thiếu tính liên kết giữa việc xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật.

Một số giải pháp bảo đảm tính khả thi của pháp luật theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng

Đại hội XIII của Đảng đánh giá: “Vai trò của pháp luật và thực thi pháp luật ngày càng được chú trọng trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước và đời sống xã hội... Hệ thống pháp luật còn một số quy định chưa thống nhất, chưa đáp ứng kịp thời yêu cầu thực tiễn”(13); “Năng lực xây dựng thể chế còn hạn chế; chất lượng luật pháp và chính sách trên một số lĩnh vực còn thấp”(14). Vì vậy, phải: “Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định, lấy quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người dân, doanh nghiệp làm trọng tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm yêu cầu phát triển nhanh, bền vững”(15).

Tuyên truyền nâng cao nhận thức pháp luật cho ngư dân xã Lập Lễ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng_Nguồn: canhsatbien.vn

Để góp phần bảo đảm tính khả thi của pháp luật theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng, cần thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật - giải pháp căn bản để bảo đảm tính khả thi của pháp luật. Chất lượng VBQPPL tỷ lệ thuận với tính khả thi của pháp luật. Các giai đoạn liên quan đến chính sách bao gồm hoạch định chính sách, phân tích chính sách, đánh giá tác động chính sách nên được xác định là khâu trọng yếu trong quy trình xây dựng pháp luật. Chính sách tốt, có lợi cho người dân, có lợi cho sự phát triển của đất nước là tiền đề để xây dựng VBQPPL có tính khả thi. Công tác phân tích chính sách nên được đầu tư nhiều nguồn lực hơn và thực hiện một cách bài bản. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản có liên quan cần quy định rõ hơn nội hàm của các nội dung đánh giá chính sách, quy trình thực hiện, trách nhiệm của các cơ quan trong việc tuân thủ quy trình đánh giá tác động chính sách. Từ đó, các bộ, ngành cần xây dựng các tiêu chí cụ thể, theo từng lĩnh vực để phục vụ cho việc đánh giá. Những sự thay đổi, bổ sung này cần thực hiện để có thể đạt được mục tiêu chính sách, có được hệ thống chính sách, pháp luật chất lượng cao, bảo đảm được hiệu lực thi hành.

Đối với tiêu chí thẩm định, thẩm tra đề nghị xây dựng VBQPPL, dự án VBQPPL, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản có liên quan cần xác định rõ nội dung về tính khả thi, các tiêu chí để đánh giá tính khả thi theo hướng cụ thể, đầy đủ và rõ nét hơn so với các quy định có tính chất tham khảo hiện hành. Để cải thiện quy trình xây dựng pháp luật, vấn đề quan trọng vẫn là phải có sự giám sát độc lập từ phía người dân, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần được sửa đổi theo hướng hỗ trợ mạnh mẽ hơn quyền giám sát độc lập này. Ví dụ, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật có thể quy định nếu một văn bản được ban hành mà không bảo đảm quy trình lấy ý kiến thì văn bản đó không có hiệu lực và người ký văn bản phải chịu trách nhiệm.

Bên cạnh đó, để góp phần tăng tính khả thi của pháp luật cần: “Tăng cường năng lực dự báo và khả năng phản ứng chính sách trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế”(16). Muốn làm được điều này, cần có sự đầu tư bài bản cho công tác nghiên cứu vấn đề mà VBQPPL được ban hành để giải quyết, xác định rõ quy mô, nguyên nhân, các yếu tố tác động để giải quyết, nhận diện được quy luật và xu hướng vận động của vấn đề chính sách.

Thứ hai, tiếp tục cải thiện sự liên thông, gắn kết giữa xây dựng pháp luật với thi hành pháp luật, nhằm khắc phục khuynh hướng tách biệt giữa hai hoạt động này. Trong giai đoạn hệ thống pháp luật ở nước ta đã tương đối hoàn thiện như hiện nay, thi hành pháp luật cần phải được coi là khâu trung tâm, thực hiện vai trò “kiểm định chất lượng” đối với các VBQPPL. Cần tiếp tục đổi mới tư duy trong xây dựng và thi hành pháp luật để thấy được mối quan hệ biện chứng giữa chúng, từ đó thiết lập sự liên thông, tránh tình trạng khép kín, thuần túy dựa vào sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước để thi hành pháp luật(17).

Thứ ba, nội dung, tiêu chí để đánh giá, bảo đảm tính khả thi (và các thuộc tính, yêu cầu khác) của VBQPPL cần được Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản có liên quan quy định cụ thể, xuyên suốt từ khâu tổng kết thi hành pháp luật, phân tích, đánh giá đến soạn thảo, ban hành và thi hành pháp luật. Trong đó, cần chú trọng các điều kiện để bảo đảm thi hành pháp luật nhằm gắn kết giữa hoạt động xây dựng pháp luật và thi hành pháp luật./.