Lúc sinh thời
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Thanh niên là một bộ phận quan trọng
của dân tộc, là người chủ tương lai của đất nước…Nước nhà thịnh hay suy, yếu
hay mạnh một phần lớn là do thanh niên”(1).
Thanh niên luôn có hoài bão lớn, có ước mơ cháy bỏng. Giàu nghị lực, sống với
lý tưởng mãnh liệt và dám xả thân vì nghĩa lớn, thanh niên rất năng động, sáng
tạo, dám khám phá cái mới và đủ sức khỏe, đủ thời gian thực hiện những hoài bão
cao đẹp của mình. Trong bất cứ thời đại nào, lực lượng thanh niên chính là
nguồn xung lực mạnh mẽ nhất của đất nước, là đại biểu cho tinh thần tự tôn và
sự đi lên của cả dân tộc.
Đầu thế kỷ XX, đất nước ta đã bị thực dân Pháp xâm lược và đặt ách đô hộ.
Nhân dân ta muốn rửa vết nhơ nô lệ nhưng không được, rửa hận cũng không xong,
không phải vì thiếu tinh thần và ý chí kiên cường dũng cảm, mà chính là thiếu
phương hướng và đường lối đúng đắn, thiếu lý tưởng, thiếu người lãnh đạo. Những
thử thách mới lại đòi hỏi lớp lớp người trẻ tuổi bước vào cuộc chiến đấu mới.
Ngay trong bối cảnh đó, chính lớp thanh niên đã tìm ra chân lý, tìm ra con
đường cho dân tộc đi theo và đảm nhận vai trò lãnh đạo toàn dân, đưa Việt Nam
thoát khỏ ách nô lệ.
Năm 1911, mặc dù
tại thời điểm này ở Việt Nam đang tồn tại đồng thời ba sự lựa chọn từ ba giải
pháp cứu nước (đó là con đường đấu tranh theo khuynh hướng phong kiến và con
đường theo khuynh hướng tư sản với 2 xu hướng bạo động và cải cách), nhưng
người thanh niên Nguyễn Tất Thành lúc này mới 21 tuổi, đã sớm nhận ra các giải
pháp đó đều không phù hợp và không thể đáp ứng được yêu cầu của lịch sử dân
tộc. Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc đã quyết tìm một hướng đi mới. Từ trải
nghiệm của bản thân, Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn, đáp ứng được
yêu cầu của lịch sử dân tộc đồng thời phù hợp với xu thế của thời đại mới. Đó
là con đường giải phóng dân tộc gắn với giải phóng giai cấp và giải phóng con
người, độc lập dân tộc gắn liền với xã hội chủ nghĩa.
Trong thế kỷ XX, với chính sách nô dịch và kìm hãm kinh tế - xã hội và văn hóa
với việc “gieo rắc một nền giáo dục đồi bại, xảo trá và nguy hiểm hơn cả sự dốt
nát”(2) của thực dân thì những
người Việt Nam, đặc biệt là thanh niên, “mặc dù bị người phương Tây coi là lạc
hậu, vẫn hiểu rõ hơn hết sự cần thiết của một cuộc cải cách toàn bộ xã hội” và
sự tồn vong của dân tộc phụ thuộc vào thanh niên. Vị lãnh tụ trẻ tuổi
Nguyễn Ái Quốc đã rung lên hồi chuông đối với những người cùng trang lứa: “Hỡi
Đông Dương đáng thương hại. Người sẽ chết mất, nếu thanh niên già cỗi của Người
không sớm hồi sinh!”(3).
Giữa vòng nô lệ,
nhiều thanh niên mà trước hết là những thanh niên trí thức đã tìm đường “vượt
ngục”. Họ cho rằng, việc xuất dương là một khám phá mới, bởi việc xuất dương
không đặt các thanh niên trí thức vào tình trạng bên ngoài cuộc đấu tranh.
Trong đó, con đường sang phương Tây, sang Pháp cũng là một con đường chống
Pháp. Nếu không sang Pháp thì theo đường “Đông Du” đến Nhật hoặc vượt biên sang
Trung Quốc, Thái Lan…. Họ ra đi mang theo một bầu nhiệt huyết đặng cứu giống
nòi. Tiêu biểu như Lê Duy Doãn, Lê Văn Phan và Phạm Đài, là ba thanh niên cùng
quê Xứ Nghệ. Họ nguyện ra đi để xứng với dòng máu Lạc Hồng, làm rạng danh vùng
đất sông Lam núi Hồng, nên cả ba người cùng lấy tên mới với chữ “Hồng” làm tên
lót: Lê Duy Doãn là Lê Hồng Phong; Lê Văn Phan là Lê Hồng Sơn và Phạm Đài là
Phạm Hồng Thái. “Thái - Sơn - Phong có nghĩa là ngọn gió núi Thái Sơn, nhất
định sẽ mạnh, nhất định sẽ thổi bay tất cả quân xâm lược”(4).
Trong thế kỷ XX, con đường tìm kiếm lý tưởng của thanh niên là con đường đầy
khó khăn gian khổ. Không phải chỉ cần một trái tim nhiệt tình cháy bỏng, mà còn
cần cả sự thông minh của khối óc; không phải chỉ bằng quan sát, chiêm nghiệm
với một nghị lực phi thường, mà còn phải lăn lộn trong cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc mới có thể đến được với lý tưởng cao đẹp. Thanh niên Việt Nam
biết rằng, “Dấn thân vô là phải bị tù đày - Là gươm kề tận cổ súng kề tai - Là
thân sống coi như còn một nửa”(5).
Những thanh niên Việt Nam vẫn chấp nhận hy sinh để trở thành nòng cốt, thành
những cơn “Sóng Hồng”(6) trong
phong trào cách mạng. Họ luôn trau dồi bản thân, luôn “Tự chỉ trích”(7) để vươn lên. Họ xác định phải
chiến đấu vì dân tộc, vì nhân dân. Nguyện “Là con của vạn nhà - Là em của vạn
kiếp phôi pha - Là anh của vạn đầu em nhỏ…”(8) để
hiến dâng tuổi thanh xuân, kể cả tính mạng nếu cần, trong cuộc “Trường Chinh”(9) giành độc lập, tự do cho dân tộc.
Hãy nghe câu nói của Hà Huy Tập trước họng súng kẻ thù: “Tôi không có gì phải
hối tiếc. Nếu còn sống tôi sẽ tiếp tục hoạt động”(10);
còn Lý Tự Trọng, ở tuổi 16, cái tuổi thần tiên của cuộc đời, đã khẳng định lý
tưởng của mình: “Con đường của thanh niên chỉ có thể là con đường cách mạng chứ
không thể là con đường nào khác”(11).
Những câu nói đầy khảng khái đó đã thể hiện lẽ sống của phần lớn thanh niên
Việt Nam lúc bấy giờ.
Trong thế kỷ XX, thanh niên Việt Nam là những người rất sớm xa rời chủ nghĩa
quốc gia cải lương mà các lãnh tụ đã lên án việc bất hợp tác ở các trường. Có
thể nói, thanh niên Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ XX đã tự tin đón nhận cuộc
“chuyển giao thế hệ”, “họ lao vào một loại tìm kiếm không ngừng về tư tưởng và
đến với chủ nghĩa Mác”(12). Trên thực
tế, những thanh niên trì thức cấp tiến, đã nhanh chóng gia nhập tổ chức của
thanh niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập: Tổ chức Việt Nam cách mạng thanh
niên và sau đó là gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam để thực hiện hoài bão, lý
tưởng của mình ở độ tuổi mười chín hai mươi tiêu biểu như: Lê Hồng Phong (23
tuổi); Lê Hồng Sơn (24 tuổi); Hồ Tùng Mậu (29 tuổi); Trần Phú (21 tuổi); Hà Huy
Tập (22 tuổi); Nguyễn Văn Cừ (17 tuổi); Võ Nguyên Giáp (29 tuổi); Trường Chinh
(20 tuổi); Phạm Văn Đồng (20 tuổi); Nguyễn Văn Linh (14 tuổi); Lê Duẩn (22
tuổi); Nguyễn Thị Minh Khai (20 tuổi); Nguyễn Đức Cảnh (18 tuổi); Ngô Gia Tự
(18 tuổi)….Thế hệ thanh niên đầu thế kỷ XX đã trở thành lực lượng xung kích của
cách mạng Việt Nam.
Trong thế kỷ XX, thanh niên Việt Nam đã nhận thức rằng: “Muốn cứu nước và giải
phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”(13). Đây là lý tưởng cao đẹp nhất, là
niềm tin, lẽ sống của lớp thanh niên, sau đó đã trở thành lý tưởng cho cả dân
tộc Việt Nam.
Thế kỷ XX là thế kỷ của lớp lớp thanh niên Việt Nam thực hiện những lời
thề, đó là lời thề giành lại độc lập dân tộc “…dù phải hy sinh đến đâu, dù có
đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng quyết giành cho được độc lập dân tộc” và sẵn
sàng “…đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững nền
độc lập ấy”, “…thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất định không chịu
làm nô lệ”; là lời thề chiến đấu cho Tổ quốc và cho cả nhân loại với chân lý
“không có gì quý hơn độc lập tự do”!
Sự nghiệp đấu
tranh cho độc lập, tự do của dân tộc và xã hội chủ nghĩa là một cuộc cách mạng
lâu dài, gian khổ và quyết liệt nhất, triệt để và vinh quang nhất. Trong cuộc
“trường chinh” này, thế hệ thanh niên thế kỷ trước đã tìm ra chân lý, tìm thấy
lý tưởng chiến đấu và đồng thời thực hiện được một phần công cuộc ấy. Thế hệ đó
đã giành lại độc lập dân tộc, tự do cho dân tộc. Nó cũng nói lên một điều rằng,
thế hệ ngày nay sẽ bước tiếp con đường ấy, xây dựng thành công xã hội xã hội
chủ nghĩa - xã hội mà hiện nay toàn Đảng, toàn dân ta đang định hướng và từng
bước định hình mà thanh niên sẽ là lực lượng quan trọng nhất quyết định sự
thắng lợi này.
Một thế kỷ là quãng thời gian đủ để chúng ta nhìn lại quá khứ với ý niệm “ôn cố
tri tân” trong quy luật tất yếu của dòng chảy truyền thống. Bởi lịch sử phát
triển của dân tộc là kết quả sự kế tục từ các thế hệ nối tiếp nhau. Nếu không
biết trân trọng truyền thống thì chỉ có thể là những người không có trái tim.
Nhưng nếu chúng ta không tiếp nối truyền thống để vươn lên thì chúng ta không
có khối óc. Chúng ta không thể ăn bằng truyền thống, sống bằng tiềm năng, nhưng
không thể thiếu những điều đó. Thực tiễn lịch sử diễn ra một thế kỷ trước cho
thấy, tương lai của một đất nước, một sự nghiệp cách mạng không chỉ thể hiện ở
chỗ nó giải quyết đúng đắn hay không về mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp mà còn
tùy thuộc vào việc có chuẩn bị tốt về con người hay không. Thế hệ thanh niên
Việt Nam trong thế kỷ XX đã cống hiến trọn đời vì lý tưởng cao đẹp, hoàn thành
sứ mệnh cao cả của lịch sử. Họ đã làm nên một tấm gương sáng về con đường đi
tìm lý tưởng sống cho thế hệ thanh niên ngày này và mai sau noi theo tiếp bước.
Chính sức trẻ của các thế hệ thanh thiếu niên ở mọi thời đại trong lịch sử đã
mang lại sức mạnh cho dân tộc ta vượt qua mọi thử thách. Lý tưởng của thế hệ
thanh niên ngày nay vẫn là ra sức lao động, học tập và rèn đức luyện tài để trở
thành “những con người xã hội chủ nghĩa”
Thế hệ trẻ Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ hôm nay đang được sống
trong một đất nước độc lập và hòa bình mà biết bao các bậc tiền nhân đã phải đổ
máu xương mới giành được. Thụ hưởng thành quả của 36 năm Đổi mới (1986 – 2022),
thế hệ trẻ có nhiều cơ hội phát triển toàn diện. Cùng với sự phát triển của đất
nước, các nhu cầu của thanh niên (học tập, vui chơi, giải trí,…) bước đầu đã
được đáp ứng. Trong thời bình, chúng ta vẫn không thể nào quên lời dặn của Đại
tướng Võ Nguyên Giáp: “Các thế hệ cha anh đã rửa được mối nhục mất nước, giành
lại độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc, vậy các thế hệ hôm nay phải đồng lòng
chung sức, quyết rửa được mối nhục nghèo nàn lạc hậu, lập nên những kỳ tích mới
trong xây dựng hòa bình”.
Kế thừa công lao của các thế hệ cha anh từ xưa để lại, thế hệ thanh niên
ngày nay cần phải học tập, trau dồi tri thức và ứng dụng những kiến thức có
được một cách linh hoạt vào những công việc, mục tiêu, kế hoạch cụ thể, để góp
phần xây dựng đất nước phồn thịnh về mọi mặt, đẩy lùi những tàn dư về một xã
hội kém phát triển, đưa ra các biện pháp cụ thể để giúp cho mọi người sống tốt
hơn, xã hội văn minh hơn. Đó cũng là một cách thể hiện lòng biết ơn với những
thành quả mà cha ông đã để lại, và cũng là một hành động thiết thực để lưu giữ
những chiến tích lịch sử của dân tộc.
Vừa qua, kết quả khảo sát thanh niên cho thấy: giá trị xã hội quan
trọng nhất trong giai đoạn hiện nay của phần lớn thanh niên Thành phố là “Sống
có lý tưởng hoài bão”. Và hơn 2/3 thanh niên được khảo sát chọn giá trị sống có
ít cho xã hội, coi trọng lẽ sống công bằng, sống có lý tưởng hoài bão tốt đẹp,
khẳng định vai trò của bản thân và sẵn sàng cống hiến vì cộng đồng. Trong khi
đó, các giá trị khác như quyền lực (6,4%) và giàu có (8,1%) được đánh giá rất
thấp. Khi được hỏi về xu hướng nào phổ biến trong thanh niên thành phố hiện nay
có 66,2% thanh niên thích tham gia các hoạt động tình nguyện. Từ kết quả khảo sát đặt ra yêu cầu cho tổ chức Đoàn Thanh niên
Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam cần
phải tiếp tục bắt mạch nguyện vọng thanh niên, tạo những môi trường thuận lợi
để tiếp thêm nguồn cảm hứng, động lực cho các bạn thanh niên rèn luyện và phấn
đấu. Đồng thời, thông qua những phong trào hành động cách mạng cụ thể góp phần
lan tỏa những giá trị nhân văn của chủ nghĩa yêu nước, làm cho nhiều hơn các
bạn trẻ lấy mục tiêu cống hiến cho xã hội xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ
nghĩa làm lẽ sống của mình ./,
Vâng, mỗi chúng ta khi vô tình chạm đến hai chữ “lý tưởng” thì cảm
thấy như gặp một cái gì đó xa vời, không thực tại chút nào. Chúng ta cứ nghĩ
rằng lý tưởng là cái gì đó vĩ đại như lý tưởng cách mạng của K. Marx - F.
Engels, như là lý tưởng vô sản của V.I.Lenin. Thế nhưng ,chúng ta lại không
biết rằng lý tưởng lại là thực tại, rất đời thường và gần gũi gắn bó với cuộc
sống thường ngày mỗi chúng ta. Lý tưởng chính là cái mục tiêu phấn đấu và
nó đã trở thành một phần của cuộc sống của mỗi con người. Vì thế cho nên cuộc
sống sẽ vô vị biết bao nếu thiếu đi “lý tưởng”. Tôi thường đề cập đến “lý
tưởng” bằng từ “niềm tin”. Niềm tin mạnh mẽ có thể giúp những người bình
thường làm được những việc phi thường hoặc không tưởng. Ngược lại, niềm tin
giới hạn có thể làm thui chuột những con người tài năng nhất. Lý tưởng giống
như “hệ điều hành” cho não bộ của chúng ta. Chúng quyết định những gì bạn mong
muốn và những gì bạn có thể đạt được. Và trên hết mọi thứ, lý tưởng là ngọn đèn
chỉ đường; không có lý tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có
phương hướng thì không có cuộc sống. Nếu bạn tin rằng, bạn có thể trở
thành một doanh nhân thành đạt hay một chính trị gia quyền lực, bạn sẽ “dám”
mong muốn bản thân mình đạt được điều đó. Nếu bạn tin rằng bạn không bao giờ có
khả năng trở thành người như vậy, bạn sẽ chẳng dám mong muốn chứ đừng nói đến
việc hành động để biến nó thành hiện thực. Khi đã có lý tưởng bạn sẽ có
dũng khí làm những gì bạn quyết định.
Quay ngược dòng thời gian để tìm về những dấu ấn lịch sử, cách đây 103 năm,
ngày 05/6/1911, tại Thương cảng Sài Gòn (nay là Bến cảng Nhà Rồng), người thanh
niên yêu nước mang tên Nguyễn Tất Thành cùng với hai bàn tay trắng xuống tàu
buôn ra nước ngoài mang trên mình hàng trang duy nhất là lý tưởng tìm đường cứu
nước và khát vọng giải phóng dân tộc Việt Nam khỏi ách áp bức của thực dân –
phong kiến. Có thể thấy, nếu không có đủ sức mạnh của lý tưởng thì Bác Hồ của
chúng đã không bao giờ có can đảm ra đi; để rồi đến năm 1920, Người đã đến với
lý tưởng cộng sản, tìm thấy con đường cứu nước giải phóng dân tộc đúng đắn,…
Theo con đường cứu nước mà Bác đã chọn, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời
đến nay đã căn cứ vào điều kiện cụ thể của nước ta và tình hình thế giới để đề
ra đường lối đúng đắn, kịp thời và đã đưa dân tộc ta giành hết thắng lợi này
đến thắng lợi khác: Cách mạng tháng Tám năm 1945, chiến thắng lịch sử Điện Biên
Phủ năm 1954, Đại thắng mùa xuân năm 1975. Ngày nay dân tộc Việt Nam vẫn tiếp
tục đi theo con đường mà Bác đã chọn để xây dựng đất nước Việt Nam trở thành
một quốc gia “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Một nhà lãnh đạo
nổi bật trên thế giới trong thế kỷ XX mà chúng ta cũng cần đề cập đến là lãnh
tụ Ấn Độ Mahatta Gandhi. Phải chăng Gandhi tạo nền tảng vững mạnh để giải phóng
Ấn Độ khỏi Anh Quốc là nhờ gia đình ông có quyền thế? Dĩ nhiên là không, ông
chỉ là một người bình thường, một luật sư. Và việc sử dụng kiến thức pháp luật
mà ông học được từ chính… thực dân Anh chắc chắn không thể nào giúp ông giải
phóng dân tộc mình. Thay vào đó, ông nhẹ nhàng dùng sức mạnh của việc biểu tình
hòa bình với hàng chục ngàn người dân… cho đến khi Anh Quốc bị khuất phục.
Cả hai bậc vĩ nhân - Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh tụ Mahatta
Gandhi đều khởi đầu mà chẳng có điều gì hứa hẹn sẽ giúp họ hoàn thành những
việc họ mong muốn, nhưng rồi họ vẫn làm được… và lịch sử có không ít những vĩ
nhân xuất chúng như thế. Điều không tương đồng của những người này so với những
người bình thường ở chỗ là họ có niềm tin mãnh liệt (hay còn gọi là lý tưởng).
Chính điều này đã mang lại sức mạnh giúp họ “chiến đấu” kiên cường và cuối cùng
“chiến thắng” bất cứ gian lao trắc trở nào.
“Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách
mạng, không thể có con đường nào khác” - lời nói đó đã trở thành lý tưởng sống,
mệnh lệnh hành động thôi thúc biết bao thế hệ thanh niên Việt Nam.
Tuổi 18, trước toà đại hình do bọn thực dân Pháp lập ra để xét xử
tù chính trị ngày 17/4/1931, Lý Tự Trọng – người đoàn viên thuộc lớp đầu tiên
của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Con đường của thanh niên chỉ là con
đường cách mạng, không thể có con đường nào khác”. Lời nói đó đã trở thành lý
tưởng sống, mệnh lệnh hành động thôi thúc biết bao thế hệ thanh niên “Cảm tử cho
Tổ quốc quyết sinh” trong thời kỳ chiến tranh với một mục tiêu – lý tưởng tất
cả vì tiền tuyến, vì độc lập tự do của đất nước.
Bước vào thế kỷ XXI, đất nước ta đang trên đà hội nhập với nền
kinh tế quốc tế với rất nhiều thời cơ và thách thức được mở ra. Và thanh niên
Việt Nam chúng ta, những người chủ tương lai của đất nước phải góp một phần sức
cho quê hương của mình. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ và xem lại cách
sống của mình, và một câu hỏi lớn được đặt ra: Lý tưởng sống của thanh
niên Việt Nam ngày nay là gì?
chúng ta nhìn
lại quá khứ với ý niệm “ôn cố tri tân” trong quy luật tất yếu của dòng chảy truyền
thống. Bởi lịch sử phát triển của dân tộc là kết quả sự kế tục từ các thế hệ
nối tiếp nhau. Nếu không biết trân trọng truyền thống thì chỉ có thể là những
người không có trái tim. Nhưng nếu chúng ta không tiếp nối truyền thống để vươn
lên thì chúng ta không có khối óc. Chúng ta không thể ăn bằng truyền thống,
sống bằng tiềm năng, nhưng không thể thiếu những điều đó. Thực tiễn lịch sử
diễn ra một thế kỷ trước cho thấy, tương lai của một đất nước, một sự nghiệp
cách mạng không chỉ thể hiện ở chỗ nó giải quyết đúng đắn hay không về mục
tiêu, nhiệm vụ, biện pháp mà còn tùy thuộc vào việc có chuẩn bị tốt về con
người hay không. Thế hệ thanh niên Việt Nam trong thế kỷ XX đã cống hiến trọn
đời vì lý tưởng cao đẹp, hoàn thành sứ mệnh cao cả của lịch sử. Họ đã làm nên
một tấm gương sáng về con đường đi tìm lý tưởng sống cho thế hệ thanh niên ngày
này và mai sau noi theo tiếp bước. Chính sức trẻ của các thế hệ thanh thiếu
niên ở mọi thời đại trong lịch sử đã mang lại sức mạnh cho dân tộc ta vượt qua
mọi thử thách. Lý tưởng của thế hệ thanh niên ngày nay vẫn là ra sức lao động,
học tập và rèn đức luyện tài để trở thành “những con người xã hội chủ nghĩa”
Thời gian gần đây, làn
sóng chống đối Đảng, Nhà nước ta về mặt tư tưởng chính trị lại rộ lên, có lúc
dồn dập. Lợi dụng tình hình kinh tế - xã hội trong nước xuất hiện những khó
khăn và thách thức mới, nhất là chịu ảnh hưởng nặng nề của đại dịch COVID-19 và
tình trạng tham nhũng, quan liêu vẫn còn xảy ra ở một vài nơi... các thế lực
thù địch, các phần tử cơ hội ra sức chống phá với nhiều thủ đoạn và sách lược
mới. Tuy nhiên, thủ đoạn của chúng không có gì mới, đó là vừa dùng các lực
lượng và phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển lực lượng ở trong
nước để tạo ra sự “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chống đối từ nội bộ Đảng ta,
xã hội ta. Bên cạnh đó, một số người cơ hội chính trị, bất mãn cũng lợi dụng
các diễn đàn, các mối quan hệ để truyền bá những quan điểm sai trái, viết đơn
thư, tài liệu vu cáo, đả kích chế độ ta, tác động vào Nhân
dân, nhất là đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ… Nội dung các quan điểm của họ vẫn
là những luận điệu lâu nay các nhà tư tưởng chống cộng đã từng nói và đã nhiều
lần bị chúng ta phê phán, bác bỏ như phủ nhận thành tựu của cách mạng; thổi
phồng khuyết điểm, tồn tại của chúng ta, bôi đen hiện thực, gieo rắc
hoài nghi, lung lạc niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân
dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Thời gian gần đây, các
thế lực thù địch đưa ra luận điệu mới rằng Đảng Cộng sản Việt Nam đã làm tròn
nhiệm vụ lịch sử là giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Chúng rêu rao
rằng, trong điều kiện thế giới phát triển hội nhập như hiện nay, Đảng Cộng sản
Việt Nam đã hết vai trò, không còn phù hợp nữa, cần có những lực lượng, tổ chức
mới khác để đưa đất nước phát triển đi lên theo hướng hòa bình, dân chủ, tiến
bộ… Rõ ràng, đây là những luận điệu sai trái, thù địch cần phải đấu tranh phản
bác, góp phần củng cố niềm tin cho cán bộ, đảng viên và Nhân
dân vào sự lãnh đạo của Đảng.
Vì vậy, công
tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai
trái, thù địch luôn được các cấp ủy, tổ chức đảng từ Trung ương đến địa phương
triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực
lớn, hành động quyết liệt. Đại hội XIII của Đảng (2021) khẳng định: “Toàn Đảng,
toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và
chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới của Đảng; kiên định các nguyên
tắc xây dựng Đảng; đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các
nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi để xây
dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” . Đây là vấn đề
mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững
chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động. Sự khẳng định
này phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam qua 92 năm
dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Mặc dù những kết quả đạt được, việc đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái,
thù địch cũng còn những hạn chế, bất cập, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ
trong tình hình mới, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
ngày càng sâu rộng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra mạnh mẽ
cùng với sự phát triển bùng nổ của mạng internet, các mạng xã hội toàn cầu và
những vấn đề nảy sinh từ mặt trái của kinh tế thị trường. Mặt khác, các thế lực
thù địch, phản động luôn có những chiêu thức, thủ đoạn mới để chống phá Đảng,
Nhà nước ta. Công tác đấu tranh phản bác, ngăn chặn các thông tin xấu độc, quan
điểm sai trái, thù địch có lúc, có nơi còn bị động, thiếu sắc bén, tính chiến
đấu chưa cao. Một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng,
suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của
Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; một số ít hoang mang, dao
động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh và đường lối đổi mới của Đảng.
Để Nâng cao ý
thức bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng trong tình hình mới,chúng ta cần thực hiện
đồng bộ các giải pháp chủ yếu sau:
Một là, tích cực tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng cho cán bộ, đảng viên và Nhân
dân. Trong giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, coi trọng việc phân tích bản chất
cách mạng và khoa học của học thuyết này. Kịp thời giải đáp có sức thuyết phục
những băn khoăn, thắc mắc có liên quan đến những vấn đề lý luận và thực tiễn
đất nước mà Nhân dân đang quan tâm. Đồng thời,
vạch trần âm mưu, thủ đoạn và các luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch,
từ đó có phương sách đối phó và có chủ trương, biện pháp xử lý tình huống một
cách hiệu quả nhất. Ngoài ra, cần phát huy vai trò của Hội đồng Lý luận Trung
ương, Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Tuyên giáo các tỉnh, thành trong cuộc
đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Hai là, kiên trì thực hiện có kết quả cuộc vận động “Học tập và làm theo
tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng
theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII; chống suy thoái về tư
tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, chống các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự
chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, nhằm củng cố lòng tin của Nhân
dân đối với Đảng và Nhà nước. Tăng cường các biện pháp phòng chống quan liêu,
tham nhũng, tiêu cực một cách có hiệu quả. Kết hợp phát triển kinh tế gắn với
thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong từng chính sách và từng bước phát
triển. Có như vậy mới có thể đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù
địch có hiệu quả.
Ba là, thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, từng bước xây dựng đời
sống văn hóa trong Đảng. Xây dựng chế độ cung cấp thông tin kịp thời trong Đảng
(trừ những thông tin có liên quan đến an ninh quốc gia), trong các đoàn thể
chính trị - xã hội. Tăng cường xây dựng thế trận lòng dân trong cuộc đấu tranh
chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch gắn với
bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ Đảng,
Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa,
bảo vệ sự nghiệp đổi mới, bảo vệ lợi ích quốc gia dân tộc, bảo vệ an ninh chính
trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa, giữ vững ổn định chính trị và phát
triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bốn là, đẩy mạnh công tác phối hợp giữa các bộ, ban, ngành, giữa Trung
ương và địa phương trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến dân chủ, nhân
quyền, tôn giáo, dân tộc. Tập trung giải quyết tốt các vấn đề bức xúc trong đời
sống xã hội, nhất là giải quyết tốt các vụ tranh chấp, khiếu nại đất đai và các
vấn đề bức xúc trong đời sống xã hội, loại bỏ các “điểm nóng” trong vùng đồng
bào dân tộc, tôn giáo. Cùng với đó, tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo
vệ quyền con người; củng cố và tăng cường các thể chế, chính sách nhằm thực
hiện đầy đủ hơn, tốt hơn các quyền tự do chính đáng của Nhân
dân. Mặt khác, cần mở rộng và nâng cao hơn nữa hiệu quả công tác thông tin đối
ngoại, đặc biệt là công tác đấu tranh dư luận, chủ động chiếm lĩnh mặt trận
thông tin, báo chí.
Năm là, phát huy vai trò của cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cơ
quan, đơn vị trong xây dựng lực lượng đấu tranh chống lại các luận điệu sai
trái, thù địch. Đặc biệt, phải ngăn chặn những kênh có tác động xấu vào nội bộ
nước ta… Kịp thời định hướng thông tin trong hệ thống chính trị để cán bộ, đảng
viên không bị “nhiễu” thông tin xấu. Mặt khác, cần ngăn chặn có hiệu quả sự móc
nối tiến hành các hoạt động chiến tranh tâm lý giữa các phần tử cơ hội chính
trị, chống đối ở trong nước với các đối tượng người nước ngoài có tư tưởng thù
địch.
Sáu là, tổ chức tốt công tác tuyên truyền, giáo dục về tư tưởng, chính
trị, về lịch sử văn hóa Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước, truyền thống đoàn kết,
nhân ái của dân tộc ta trong quá trình dựng nước, giữ nước. Có cơ chế tạo điều
kiện cho những ai quan tâm đến các vấn đề lớn của đất nước có diễn đàn thảo
luận, trao đổi một cách dân chủ, cởi mở. Mặt khác, các cơ quan thông tấn báo
chí cần ưu tiên chuyển tải các công trình khoa học, các bài viết có nội dung
phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trên phương tiện thông tin đại chúng.
Một thực tế không thể phủ nhận đó là kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng (XD,CĐĐ) đạt được trong thời gian qua không những được cán bộ, đảng viên và nhân dân ta ghi nhận, đánh giá cao mà còn khẳng định XD, CĐĐ là vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược để Đảng ta có đủ sức mạnh lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Thế nhưng, các thế lực thù địch phớt lờ điều ấy, chúng còn ra sức công kích vấn đề có tính nguyên tắc và chiến lược này.
Bối cảnh trong nước và những biến động nhanh, phức tạp, khó lường từ thế giới như cạnh tranh chiến lược gay gắt, xung đột vũ trang Ucraine, giá xăng dầu, nguyên vật liệu đầu vào tăng, áp lực lạm phát trên toàn cầu có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế Việt Nam. Trong khi nền kinh tế nước ta có độ mở rất cao, khả năng chống chịu của nền kinh tế đối với các cú sốc bên ngoài còn hạn chế. Do biến động của nền kinh tế, các thị trường lớn của Việt Nam đều thu hẹp lại, các chuỗi cung ứng bị đứt gãy, chính sách tiền tệ của Mỹ về tăng giá đồng USD ảnh hưởng đến tỷ giá, lãi suất, tiền tệ…, chính sách chống Covid của một số nước cũng tác động đến Việt Nam làm thu hẹp thị trường, thu hẹp chuỗi cung ứng…
“Tuy nhiên, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ của nhân dân, sự hỗ trợ của bạn bè, đối tác quốc tế, chúng ta đã phát huy được sức mạnh của dân tộc kết hợp với sức mạnh của thời đại trong một bối cảnh khó khăn để vừa bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy quan hệ với các nước, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn”.
Vừa qua, Chính phủ đã tiến hành các chương trình hồi phục và phát triển kinh tế, tinh thần chung là hồi phục thì nhanh nhưng phát triển phải bền vững. Nhìn chung, cả công nghiệp, nông nghiệp đều phục hồi nhanh, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng lên, chính trị ổn định, độc lập chủ quyền được giữ vững, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, hội nhập quốc tế được đẩy mạnh, uy tín và vị thế của Việt Nam được nâng lên, tập trung xử lý hiệu quả các vấn đề cấp bách phát sinh và những vấn đề tồn tại kéo dài.
Tuy nhiên không vỳ vậy mà được chủ quan, cần tiếp tục phối hợp hài hòa, hợp lý, đồng bộ, chặt chẽ, linh hoạt, hiệu quả giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác. Trong đó, thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt, chắc chắn, hiệu quả; thực hiện chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, bảo đảm hiệu quả. Phát triển thị trường vốn, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, thị trường bất động sản an toàn, minh bạch, hiệu quả, bền vững. “Ưu tiên số một hiện nay là ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, đảm bảo những cân đối lớn”.
Trong bối cảnh kinh tế biến động khó lường, điều quan trọng nhất là phải kiên định với mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và thực hiện các giải pháp hỗ trợ cho nền kinh tế. Đối với hoạt động ngân hàng, mục tiêu điều hành của ngành Ngân hàng là phải đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu chi trả cho người dân.
Chính phủ đã rất chủ động, bình tĩnh nhưng không chủ quan, phản ứng chính sách kịp thời, có giải pháp đúng và trúng trong điều hành để đạt được mục tiêu ổn định kinh tế, kiềm chế lạm phát và phục hồi kinh tế sau dịch. Luôn cầu thị lắng nghe các ý kiến của các chuyên gia, nhà khoa học, các tổ chức quốc tế để chủ động phản ứng chính sách kịp thời, phát huy tinh thần đoàn kết, sự đồng lòng, ủng hộ của nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội, nhất là những người yếu thế trong bối cảnh kinh tế thế giới khó lường hiện nay.
Với âm mưu, thủ đoạn nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và chuyển hóa chế độ chính trị ở nước ta, các thế lực thù địch đã, đang và sẽ không ngừng gia tăng, đồng thời điều chỉnh thủ đoạn, hoạt động chống phá cách mạng Việt Nam. Chúng cho rằng, vấn đề cốt yếu nhất là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trên mặt trận tư tưởng – lý luận, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch được tiến hành bằng các thủ đoạn, biện pháp ngày càng công khai, trực diện, trong đó chúng hướng mũi nhọn chống phá vào việc xuyên tạc, bôi nhọ, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đồng thời, các thế lực thù địch ra sức cổ súy, xây dựng hệ thống lý luận khác, có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, hòng lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một xã hội mới, theo ý đồ của chúng.
Trước sự bùng nổ của công nghệ thông tin, các thế lực thù địch đã dùng nhiều hình thức, biện pháp, huy động tối đa các phương tiện truyền thông để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo trắng trợn tình hình dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo và vấn đề dân tộc ở Việt Nam. Chúng đưa ra yêu sách đòi mở rộng dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo, tự do lập hội để tập hợp lực lượng, kích động gây bạo loạn, dẫn đến mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở Việt Nam.
Đặc biệt, chúng luôn tìm mọi cách hướng lái truyền thông nhằm tác động vào quá trình xây dựng hệ thống pháp luật, nhất là thời điểm sửa đổi các văn bản pháp luật về dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hoặc ban hành các chỉ thị, nghị quyết, quy định về xây dựng, chỉnh đốn Đảng,… để bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước; kích động, lôi kéo, chia rẽ nội bộ, nhằm gây áp lực với Đảng, Nhà nước Việt Nam.
Ngoài ra, lợi dụng sự phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0), các thế lực thù địch sẵn sàng mạnh tay đầu tư tài chính cho quảng cáo, đầu tư, tài trợ các chương trình nhằm tác động, dẫn dắt giới truyền thông hoạt động theo ý đồ của chúng, đưa truyền thông tách khỏi sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước Việt Nam.
Mặt khác, chúng còn lợi dụng các trang mạng xã hội, Facebook, blogger , Telegram, Twitter và một số báo, đài phương Tây, hệ thống phương tiện truyền thông của lực lượng phản động người Việt lưu vong,… để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo, kêu gọi dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí và cạnh tranh trên lĩnh vực truyền thông, gây nhiễu loạn tư tưởng, mất phương hướng trong đời sống xã hội.
Thực hiện tư tưởng “chiến thắng không cần chiến tranh” trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch ra sức thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong xã hội, trong hệ thống chính trị nhất là nội bộ Đảng Cộng sản Việt Nam, trong lực lượng vũ trang nhân dân… trong mỗi cá nhân là cán bộ, đảng viên và quần chúng… Thông qua các phương tiện truyền thông, nhất là Internet, chúng kêu gào, đòi Việt Nam phải thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập để “có dân chủ và phát triển”. Thực chất đó là chiêu bài “dân chủ”, “tự do” quen thuộc mà chúng áp dụng xưa nay. Chúng sử dụng chiêu bài “dân chủ” như một công cụ đòi Đảng Cộng sản Việt Nam phải từ bỏ quyền lãnh đạo cách mạng, đồng thời hiện thực hóa âm mưu xóa bỏ chế độ chính trị hiện hành, đưa đất nước ta theo mô hình dân chủ tư sản.
Là những người có thể tiếp cận và có nhu cầu sử dụng thông tin thông qua các phương tiện truyền thông, nhất là Internet, mỗi chúng ta cần không ngừng nâng cao cảnh giác để không bị rơi vào bẫy thông tin. Với vai trò tiền phong, gương mẫu, mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng tự nghiên cứu, học tập, trau rèn nhận thức, bản lĩnh chính trị, nâng cao “sức đề kháng” trước những tư tưởng sai trái, lệch lạc, không để mình bị “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Từ đó, có“kỹ năng”nhận diện và bóc trần những âm mưu, thủ đoạn chống phá, quan điểm sai trái, thù địch. Tích cực tham gia xây dựng phong trào quần chúng nhân dân đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, kịp thời phát hiện, ngăn chặn các đối tượng chống phá, đẩy lùi những thông tin xấu độc, tích cực tuyên truyền lan tỏa những thông tin chính thống, kết quả phát triển kinh tế - xã hội, gương người tốt, việc tốt, góp phần nâng cao dân trí và xây dựng “thế trận lòng dân”, khiến các thế lực thù địch dần dần không còn "đất" để xuyên tạc, chống phá.
Hội thao Quân sự quốc tế năm 2022 có sự tham gia của 264 đội tuyển đến từ 34 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới, cùng tranh tài ở 34 nội dung tại 12 quốc gia của 3 châu lục. Việt Nam tham gia 10 nội dung với 187 huấn luyện viên và vận động viên, trong đó có nội dung mới là “Đột phá đặc biệt” giành cho lưu học sinh quân sự Việt Nam đang học tại Nga, đồng thời lần thứ 2 đăng cai Cuộc thi Vùng tai nạn.
Tham gia Hội thao Quân sự quốc tế năm 2022 trong điều kiện còn gặp nhiều khó khăn, song Đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam đã chủ động khắc phục khó khăn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Các đội tuyển luôn nêu cao ý chí, quyết tâm, rèn luyện bản lĩnh vững vàng, nỗ lực vượt khó trong luyện tập, thi đấu đạt được những thành tích nổi bật trước các quốc gia có tiềm lực quân sự lớn trên thế giới. Việt Nam đã tổ chức thành công tốt đẹp Cuộc thi "Vùng tai nạn", được các nước tham gia cũng như bạn bè và dư luận quốc tế ghi nhận, đáng giá cao.
Kết quả, Đoàn Quân đội nhân dân Việt Nam đã thi đấu tự tin, đạt nhiều thành tích xuất sắc, có 7/10 đội tuyển giành được huy chương. Kết quả Đoàn Việt Nam đoạt 1 Huy chương Vàng (Đội tuyển Vùng tai nạn, Cục Cứu hộ - Cứu nạn), 2 Huy chương Bạc (Đội tuyển Đội quân văn hóa, Cục Tuyên huấn và đội tuyển Kỹ năng thành thục, Binh chủng Thông tin liên lạc) và 4 Huy chương Đồng. Chung cuộc Việt Nam xếp thứ 5/34 nước tham gia, vượt chỉ tiêu đề ra, chỉ đứng sau các quốc gia có tiềm lực quân sự mạnh trên thế giới như: Nga, Trung Quốc, Belarus... (năm 2021 xếp thứ 7/42 nước).
Hội thao lần này một lần nữa khẳng định truyền thống quyết chiến quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, đồng thời góp phần tô đẹp thêm hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế. Hoạt động cũng góp phần củng cố, phát triển mối quan hệ tốt đẹp với các nước, đồng thời là cơ hội để lực lượng Quân đội Việt Nam tiếp tục cọ xát, trao đổi tích lũy kinh nghiệm trong huấn luyện, thi đấu, tổ chức Hội thao cũng như trong khai thác, bảo đảm vũ khí, khí tài, qua đó xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, luôn đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới
Thay mặt Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Đại tướng Phan Văn Giang đánh giá cao tinh thần trách nhiệm, sự nỗ lực của các đội tuyển và các lực lượng đã tích cực luyện tập, thi đấu đạt thành tích xuất sắc; đồng thời làm tốt công tác chuẩn bị, tổ chức đăng cai thành công Cuộc thi “Vùng tai nạn” trong khuôn khổ Hội thao quân sự quốc tế năm 2022.
Đại tướng Phan Văn Giang biểu dương, chúc mừng thành tích đạt được của các đội tuyển, các cá nhân đoạt giải; biểu dương các thành viên Ban Chỉ đạo, Ban Tổ chức, các cơ quan chức năng đã lãnh đạo, chỉ đạo, chủ động phối hợp tổ chức bảo đảm cho các đội tuyển huấn luyện, thi đấu và tổ chức đăng cai Hội thao thành công tốt đẹp; góp phần nâng cao uy tín, vị thế cho Quân đội và cho Tổ quốc./.
Hơn 8 năm qua, Việt Nam đã mở rộng hơn các lực lượng, kể cả về cá nhân và đơn vị, cũng như các hình thức tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc. Không chỉ đáp ứng được yêu cầu của Liên Hợp Quốc, khẳng định được hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trước bạn bè quốc tế, tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình còn thể hiện cam kết lâu dài của Việt Nam với Liên Hợp Quốc.
Sau những năm chịu ách thống trị của đế quốc thực dân, phong kiến. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhân dân ta đã nhất tề đứng lên tiến hành cách mạng 8/1945 thành công, giành chính quyền về tay nhân dân, lập nên nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước của dân, do dân, vì dân. Những năm sau đó toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã lập nên những mốc son lịch sử chói lọi trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân pháp và đế quốc Mỹ xâm lược bằng những chiến công vang dội mà chiến thắng Điện Biên Phủ, Điện Biên Phủ trên không hay đại thắng mùa Xuân năm 1975… là những bằng chứng không thể chối cãi. Hơn 90 năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, đất nước ta đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, không ngừng phát triển trên tất cả các lĩnh vực, nhân dân ta đã được hưởng giá trị đích thực của độc lập, tự do, hạnh phúc.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu to lớn. Từ một nước nông nghiệp nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển với hơn 2 triệu người dân chết đói năm 1945, trải qua mấy chục năm chiến tranh chống đế quốc xâm lược, đến nay đất nước đã vươn lên mạnh mẽ, thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, là nước đứng đầu về xuất khẩu nông sản. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm duy trì ở mức cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh theo hướng tích cực. Tỷ lệ hộ nghèo giảm. Từ một nước với hơn 90% dân số mù chữ, dịch bệnh hoành hành trong thời kỳ đầu lập nước, đến nay y tế, giáo dục tiếp tục hoàn thiện và phát triển. Hiện nay tỉ lệ người tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế tăng cao. Chất lượng các dịch vụ khám chữa bệnh có chuyển biến tích cực đáp ứng tốt hơn nhu cầu của nhân dân. Đất nước đã phổ cập trung học cơ sở và đang tiến tới phổ cập trung học phổ thông trên phạm vi cả nước. Đất nước ta đã duy trì được nền chính trị ổn định, hòa bình là cơ sở thuận lợi để xây dựng và phát triển kinh tế và là điểm đến lý tưởng của du khách, bạn bè quốc tế… Đó chính là thành quả lãnh đạo của Đảng cùng với sự nỗ lực cố gắng của toàn dân ta.
Tuy nhiên, đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước có xuất phát điểm rất thấp, chúng ta không tránh khỏi những khó khăn, vấp váp, thậm chí cả những sai lầm trong tổ chức thực hiện. Bởi lẽ, đó là điều trong lịch sử chưa từng có tiền lệ, vừa xây dựng chúng ta vừa tổng kết, rút kinh nghiệm. Trong thời gian qua, ở một số địa phương, bộ, ban, ngành, một số cán bộ còn thiếu trách nhiệm, gây ra những hậu quả nghiêm trọng hay các tệ nạn xã hội diễn biến phức tạp. Y tế, giáo dục đang trong quá trình cải cách và hoàn thiện còn nhiều thiếu sót…Tuy nhiên, nhìn nhận một cách khách quan có thể thấy rằng, những khuyết điểm nêu trên trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội là khó tránh khỏi. Đó chỉ khuyết điểm, sai sót trong cách làm ở một bộ phận cán bộ, đảng viên. Không phải vì thế mà chúng ta cho rằng chủ nghĩa xã hội là điều hoang tưởng viễn vông, không thể thực hiện, từ đó đánh mất niềm tin đối với Đảng, với chế độ Xã hội chủ nghĩa. Đó không phải bản chất của chế độ, không phải là sai lầm trong đường lối lãnh đạo của Đảng. Đảng ta là đảng cách mạng chân chính. Đảng không dung túng cho sai sót, khuyết điểm mà luôn kiên quyết khắc phục sửa sai. Chính sự thẳng thắn và quyết liệt đó mà Đảng tồn tại và phát triển, khắc phục được sai sót, đưa đất nước đi lên và quan trọng nhất là niềm tin, sự ủng của nhân dân đối với Đảng ngày càng được củng cố vững chắc.
TCCS - Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề học tập, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên có vị trí, vai trò quan trọng và luôn mang tính thời sự. Trước tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” như hiện nay thì tăng cường giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên là nhiệm vụ vừa cơ bản, lâu dài, vừa cấp bách trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng công tác giáo dục đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Người nhấn mạnh, để Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là đạo đức, là văn minh, mỗi cán bộ, đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, là người lãnh đạo, người đầy tớ thật trung thành của nhân dân. Trong Di chúc, Người căn dặn: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”(1).
Chủ tịch Hồ Chí Minh dùng thử máy cấy lúa cải tiến tại Trại thí nghiệm trồng lúa Sở Nông lâm Hà Nội (năm 1960)_Ảnh: Tư liệu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng
Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh đạo đức là cái gốc của con người trong mọi thời đại, mà còn đưa ra khái niệm đạo đức mới, với nội dung mới, phản ánh đạo đức ở tầm cao hơn, rộng hơn, sâu sắc hơn, đó là đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên. Người chỉ rõ, đạo đức cách mạng làm nên sức mạnh của Đảng và là một nhân tố quan trọng bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp cách mạng do Đảng lãnh đạo.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức bắt nguồn từ những giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam được hình thành, phát triển trong suốt quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó còn là sự vận dụng và phát triển sáng tạo đạo đức cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin; sự tiếp thu và phát triển những tinh hoa văn hóa, đạo đức của nhân loại mà Người đã tiếp cận được trong quá trình hoạt động cách mạng đầy gian lao, thử thách, vì mục tiêu giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người. Đối với cách mạng Việt Nam, sự đòi hỏi về đạo đức còn cao hơn, bởi cách mạng Việt Nam phải tiến hành trong một hoàn cảnh đặc biệt: Tiến hành ở một nước nông nghiệp lạc hậu và phải đương đầu với các thế lực thù địch, phản động nhất, xảo quyệt nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Cách mạng nhất định sẽ thành công, nhưng thành công nhanh hay chậm, mức độ thành công lớn hay nhỏ... tùy thuộc vào đạo đức cách mạng của những người làm cách mạng, trình độ giác ngộ cách mạng và ý chí chiến đấu của quần chúng nhân dân. Người nhấn mạnh: “Làm cách mạng để cải tạo xã hội cũ thành xã hội mới là một sự nghiệp rất vẻ vang, nhưng nó cũng là một nhiệm vụ rất nặng nề, một cuộc đấu tranh rất phức tạp, lâu dài, gian khổ. Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(2). “Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân”(3).
Đề cao vai trò của tư tưởng, tinh thần, đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Có người nói: Lúc này mà xem trọng tinh thần tư tưởng là không duy vật biện chứng. Các cô, các chú có biết vì sao mà cách mạng của ta thành công không? Vì tinh thần. Lúc bấy giờ thực dân, phong kiến có công an, quân đội, cảnh sát, chính quyền - tất cả, Đảng ta chỉ có hai bàn tay không. Vì sao ta thành công? - Vì ta đoàn kết! Lấy gì mà đoàn kết? Lấy tinh thần!”(4).
Với tinh thần ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng và trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người không ngừng giáo dục những phẩm chất đạo đức cách mạng cho toàn thể cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đạo đức cách mạng, một mặt, là một yêu cầu tất yếu của sự nghiệp cách mạng trước đây cũng như hiện nay; mặt khác, là điều kiện tiên quyết cho sự thành công của những người lãnh đạo. Trong lịch sử các nước phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, những vị vua nắm quyền trị nước cũng như những lãnh tụ dân tộc muốn lãnh đạo được nhân dân và được nhân dân tin theo, đều phải là những người gương mẫu về đạo đức.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cả cuộc đời mình phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới. Bản thân Người nêu cao tinh thần tự tu dưỡng, rèn luyện, thực hành đạo đức cách mạng - những phẩm chất đạo đức cao đẹp, trong đó bao hàm nhiều giá trị mới, tích cực và tiến bộ. Người quan niệm đạo đức cách mạng là nền tảng tạo ra động cơ hành động đúng đắn, tạo ra ý chí, quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ của người cách mạng. Từ đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh coi đạo đức cách mạng là gốc của người cách mạng. Có đạo đức cách mạng thì gặp khó khăn, gian khổ, thất bại không rụt rè, lùi bước, khi gặp thuận lợi, thành công vẫn giữ vững tinh thần chất phác, giản dị, khiêm tốn; lo hoàn thành nhiệm vụ cho tốt chứ không kèn cựa về mặt hưởng thụ, không công thần, không quan liêu, không kiêu ngạo, không hủ hóa. Người chỉ rõ: “Vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng, của giai cấp, của dân tộc và của loài người mà không ngần ngại hy sinh tất cả lợi ích riêng của cá nhân mình. Khi cần, thì sẵn sàng hy sinh cả tính mạng của mình cũng không tiếc. Đó là biểu hiện rất rõ rệt, rất cao quý của đạo đức cách mạng”(5).
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh vai trò, tác dụng cũng như những biểu hiện cao quý của đạo đức cách mạng và chứng thực điều đó qua tấm gương của những chiến sĩ cộng sản tiền bối đã làm nên truyền thống vẻ vang của Đảng, của cách mạng: “Trong Đảng ta, các đồng chí Trần Phú, Ngô Gia Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Thị Minh Khai và nhiều đồng chí khác đã vì dân, vì Đảng mà oanh liệt hy sinh, đã nêu gương chói lọi của đạo đức cách mạng chí công vô tư cho tất cả chúng ta học tập”(6).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá cao cả hai mặt đức và tài ở mỗi con người. Trong mối quan hệ giữa đạo đức và tài năng, Người khẳng định đạo đức là gốc, quyết định sức mạnh tinh thần to lớn của con người, sức mạnh của đoàn kết dân tộc; nhờ đó mà đạo đức, nhất là đạo đức cách mạng, góp phần to lớn vào sự thành công của cách mạng nước ta. Chính vì vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng giáo dục, rèn luyện đạo đức nói chung cũng như đạo đức cách mạng nói riêng cho mọi người, trước hết là cho đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Tựu trung lại, quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng gồm những điểm cơ bản sau đây:
Một là, phẩm chất trung với nước, hiếu với dân.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đây là phẩm chất quan trọng nhất, bao trùm nhất và chi phối các phẩm chất khác. Từ quan niệm đạo đức cũ “trung với vua, hiếu với cha mẹ” trong xã hội phong kiến phương Đông, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa vào đó một nội dung mới, cao rộng hơn là “trung với nước, hiếu với dân”. Người khẳng định: “Trung với nước, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”(7). Chỉ dẫn đó của Người vừa là lời kêu gọi hành động, vừa là định hướng chính trị, đạo đức cho mỗi người Việt Nam, không chỉ trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, mà còn lâu dài mãi mãi về sau.
Hai là, tình yêu thương con người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói về tình yêu thương con người rất toàn diện và độc đáo. Người xác định tình yêu thương con người là một phẩm chất cao đẹp nhất trong tình cảm đạo đức của loài người. Người luôn dành tình yêu thương rộng lớn cho những người cùng khổ, những người lao động bị áp bức, bóc lột. Ở Chủ tịch Hồ Chí Minh, tình yêu thương đồng bào, đồng chí rất bao la, sâu rộng và toàn diện, không phân biệt vùng, miền, trẻ, già, trai, gái..., hễ là người Việt Nam yêu nước thì đều có chỗ trong tấm lòng nhân ái của Người. Tình yêu thương con người của Chủ tịch Hồ Chí Minh còn thể hiện ở tấm lòng bao dung cao cả của một người Cha, đặc biệt là đối với những người phạm phải sai lầm, khuyết điểm. Người căn dặn: “Mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi, đó là thái độ của người cách mạng. Đối với những người có thói hư tật xấu, trừ hạng người phản lại Tổ quốc và nhân dân, ta cũng phải giúp họ tiến bộ bằng cách làm cho cái phần thiện trong con người nảy nở để đẩy lùi phần ác”(8). Chính vì vậy, trong Di chúc thiêng liêng để lại cho muôn đời sau, Người căn dặn Đảng: “Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau”(9); mỗi cán bộ, đảng viên luôn luôn chú ý đến tình yêu thương con người.
Ba là, các đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Cần tức là lao động cần cù, siêng năng, sáng tạo, có kế hoạch, có năng suất cao, với tinh thần tự lực cánh sinh, không lười biếng, không ỷ lại, không dựa dẫm. Kiệm tức là tiết kiệm sức lao động, thì giờ, tiền của của dân, của nước, của bản thân mình; phải tiết kiệm từ cái to đến cái nhỏ, vì nhiều cái nhỏ cộng lại thành cái to. Kiệm còn có nghĩa là không xa xỉ, không hoang phí, không bừa bãi, không phô trương, hình thức, không liên hoan, chè chén lu bù. Liêm tức là luôn luôn tôn trọng, giữ gìn của công và của dân, không xâm phạm một đồng xu, hạt thóc nào của Nhà nước, của nhân dân; phải trong sạch, không tham lam, không tham địa vị, không ham tiền tài, không tham sung sướng, không ham người tâng bốc mình, nhờ đó mà quang minh, chính đại, không bao giờ hủ hóa. Chính nghĩa là không tà, thẳng thắn, đứng đắn; đối với mình thì không tự cao, tự đại, luôn chịu khó học tập, cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân mình; đối với người thì không nịnh hót người trên, không xem khinh người dưới, luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc; đối với việc thì để việc công lên trên, lên trước việc tư, việc nhà. Chí công vô tư tức là “làm việc vì sự nghiệp chung, đặt lợi ích công lên trên hết, trước hết; không tư lợi, vụ lợi, không vì lợi ích riêng”(10). Khi làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước, khi hưởng thụ thì mình phải đi sau, phải “lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, mỗi người, nhất là những người có vị trí ảnh hưởng đối với xã hội, cộng đồng, phải luôn phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện và thực hành theo bốn đức tính: cần, kiệm, liêm, chính; thiếu một đức tính cũng không thể thành người. Bởi, “Trời có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông/Đất có bốn phương: Đông, Tây, Nam, Bắc/Người có bốn đức: Cần, Kiệm, Liêm, Chính/Thiếu một mùa, thì không thành trời/Thiếu một phương, thì không thành đất/Thiếu một đức, thì không thành người”(11).
Bốn là, tinh thần quốc tế trong sáng.
Đó là tinh thần đoàn kết quốc tế vô sản mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên bằng một câu thơ “Quan sơn muôn dặm một nhà/Bốn phương vô sản đều là anh em!”(12), là tinh thần đoàn kết giữa những người cộng sản với các dân tộc bị áp bức và nhân dân lao động trên thế giới mà Người đã dày công vun đắp bằng thực tiễn hoạt động cách mạng của mình và bằng sự nghiệp cách mạng của cả dân tộc. Đó cũng là tinh thần đoàn kết, hợp tác và hữu nghị của nhân dân Việt Nam với tất cả nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới, vì mục tiêu hòa bình, công lý, tiến bộ xã hội và độc lập dân tộc.
Đánh giá cao vai trò của đạo đức cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra tiêu chí của một người cán bộ tốt, đó là người cán bộ phải vừa có tài, vừa có đức, trong đó, đức là gốc. Chính Người là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, là kết tinh tất cả những phẩm chất tốt đẹp nhất của người Việt Nam và những phẩm chất đạo đức cộng sản cao quý của chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Những quy tắc đạo đức mà Người nêu ra đã trở thành vũ khí tinh thần mạnh mẽ của cả dân tộc ta trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, vì hòa bình, hợp tác và hữu nghị với tất cả các dân tộc trên thế giới. Trong suốt 53 năm thực hiện Di chúc của Người, tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng tiếp tục là ngọn đuốc soi đường, dẫn dắt sự nghiệp cách mạng của đất nước ta, nhất là trong bối cảnh mới hiện nay.
Tiếp tục tăng cường giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bối cảnh mới
Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Để mỗi cán bộ, đảng viên luôn giữ gìn phẩm chất đạo đức tốt đẹp của mình, giác ngộ lý tưởng cách mạng, vững vàng trong mọi điều kiện, môi trường xã hội khác nhau thì cùng với sự tự giác rèn luyện, phấn đấu, còn phải cần đến sự giúp đỡ, kiểm tra, giám sát của Đảng. Đặc biệt, trong điều kiện Đảng trở thành đảng cầm quyền, việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Người coi là công việc càng phải tiến hành thường xuyên, liên tục hơn. Với nhãn quan đặc biệt nhạy bén về chính trị, Người đã nhìn nhận rõ tính hai mặt vốn có của quyền lực: Một mặt, quyền lực có sức mạnh to lớn để cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới nếu biết sử dụng đúng; mặt khác, quyền lực cũng có sức phá hoại ghê gớm nếu người nắm quyền lực bị thoái hóa, biến chất, sa vào con đường tham muốn quyền lực, chạy theo quyền lực, tranh giành quyền lực; lợi dụng quyền lực để lạm quyền, lộng quyền, biến quyền lực của nhân dân thành đặc quyền, đặc lợi của cá nhân... Vì vậy, Đảng phải đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng để ngăn chặn, đẩy lùi và liên tục tẩy trừ mọi tệ nạn do sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên gây ra, trong điều kiện Đảng cầm quyền, lãnh đạo toàn diện Nhà nước và xã hội. Nhận thức rõ sự tác động qua lại giữa vai trò lãnh đạo của Đảng và môi trường xã hội, cũng như những đổi thay có thể diễn ra trong nhân cách cùng ý thức và hành vi đạo đức của cán bộ, đảng viên, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi đến một nhận định mang tính triết lý và thực tiễn sâu sắc, có giá trị to lớn trong việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(13). Đây chính là lời cảnh tỉnh sâu sắc đối với các đảng cộng sản cầm quyền, đối với mỗi đảng viên cộng sản, nhất là những đảng viên cộng sản có chức, có quyền, giữ các vị trí then chốt trong bộ máy nhà nước.
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với đồng bào dân tộc thôn Đăk Mút, xã Đăk Mar, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum_Ảnh : TTXVN
Qua hơn 35 năm đổi mới, với những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Việc thực hành dân chủ trong Đảng và trong xã hội có bước chuyển biến tích cực, quyền làm chủ của nhân dân được phát huy. Đa số cán bộ, đảng viên tích cực trau dồi, rèn luyện phẩm chất đạo đức, năng lực chuyên môn, tiên phong, gương mẫu, năng động, sáng tạo trong công tác, đóng vai trò nòng cốt trong công cuộc đổi mới. Tuy nhiên, trước những tác động của nhiều nhân tố khách quan và chủ quan, trong đó có mặt trái, mặt tiêu cực của nền kinh tế thị trường, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, sự phát triển của khoa học và công nghệ... một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống.
Nhận định những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, ngay từ Hội nghị toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII (tháng 1-1994), Đảng đã chỉ ra những biểu hiện của tình trạng này và coi đó là một trong bốn nguy cơ đối với cách mạng Việt Nam(14). Tại các kỳ Đại hội Đảng và nhiều hội nghị Trung ương tiếp theo, Đảng có những đánh giá thẳng thắn về các nguy cơ này; trong đó, nổi lên các biểu hiện đáng lo ngại là: Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, phai nhạt lý tưởng, niềm tin đối với Đảng, chế độ xã hội chủ nghĩa. Đặc biệt nguy hiểm là sự “trỗi dậy” của chủ nghĩa cá nhân, lối sống vị kỷ, vụ lợi, chạy theo các giá trị vật chất, xem thường các giá trị tinh thần; chỉ lo vun vén cho cá nhân mà thờ ơ, lảng tránh trách nhiệm với Đảng, với Tổ quốc, với nhân dân. Tính trung thực (cả trong tư tưởng, chính trị và đạo đức) của không ít cán bộ, đảng viên bị suy giảm nghiêm trọng. Nói không đi đôi với làm. Kèn cựa địa vị, tranh chức tranh quyền, bằng mọi thủ đoạn để tìm kiếm các mối quan hệ, liên kết “lợi ích nhóm” bất chính “lợi mình hại người”, dùng tiền bạc do tham nhũng để mua chức, mua danh, bất chấp cả liêm sỉ, đạo lý. Nạn tham nhũng tồn tại kéo dài, ngày càng diễn biến phức tạp và tinh vi, gây nhức nhối về đạo đức trong Đảng, làm suy giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân và xã hội đối với sự lãnh đạo của Đảng và chế độ.
Như vậy, thực trạng suy giảm đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên gây hậu quả rất nặng nề, làm tổn thương đến uy tín, thanh danh của Đảng, mà nếu không được ngăn chặn và đẩy lùi triệt để thì sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự tồn vong của Đảng, của chế độ. Tâm trạng xã hội và ý nguyện của nhân dân lúc này là thiết tha mong muốn, đồng thời nghiêm khắc đòi hỏi Đảng phải trong sạch, vững mạnh bắt đầu từ đạo đức. Cán bộ, đảng viên phải chứng tỏ trên thực tế, bằng những việc làm, ứng xử và hành xử, là những người có đạo đức.
Nhìn nhận rõ thực trạng đó, tại Đại hội XII, Đảng đã nhấn mạnh đến vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức và đây là một trong những điểm mới, rất căn bản và trọng yếu trong việc mở rộng nội dung xây dựng Đảng: “Tập trung thực hiện mục tiêu: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức””(15). Lần đầu tiên, Đảng đưa nội dung xây dựng Đảng về đạo đức - một nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng - vào trong văn kiện. Đại hội XIII của Đảng bổ sung một thành tố nữa vào công tác xây dựng Đảng là cán bộ: “Trong những năm tới phải đặc biệt coi trọng và đẩy mạnh hơn nữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”(16).Đó vừa là định hướng thực tiễn, vừa là chỉ báo đánh giá kết quả xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay. Thực hiện tốt nội dung xây dựng Đảng về đạo đức sẽ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực, phẩ#m chất và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, bảo đảm cho Đảng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Đây chính là khâu đột phá về lý luận và thực tiễn đối với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền đang thực thi trọng trách lịch sử mà dân tộc và nhân dân ủy thác: Lãnh đạo thành công sự nghiệp đổi mới, vì Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Trong thời gian tới, để tăng cường giáo dục và rèn luyện đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh, cần đặc biệt quan tâm đến một số nội dung sau:
Một là, mọi cán bộ, đảng viên phải tự giác học tập và tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Đây phải được xác định là biện pháp quan trọng hàng đầu, là nhiệm vụ thường xuyên và lâu dài trong sự nghiệp cách mạng ở nước ta. Trước hết, việc học tập, tự học tập để nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên về đạo đức cách mạng phải được thực hiện thường xuyên, liên tục. Các nội dung học tập phải được đưa vào sinh hoạt chi bộ và trở thành nền nếp. Thường xuyên trao đổi, thảo luận, tự phê bình và phê bình, đóng góp ý kiến xây dựng cho cán bộ lãnh đạo, quản lý của cơ quan, đơn vị, địa phương. Biểu dương những việc làm tốt, kịp thời phát hiện, uốn nắn những việc làm chưa tốt, nhất là trong việc vận dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách của Bác vào việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ của từng cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự giác phấn đấu và tu dưỡng, rèn luyện theo những chuẩn mực đạo đức được xây dựng ở địa phương, cơ quan, đơn vị, trong từng tổ chức đảng.
Cán bộ, chiến sĩ Đồn Biên phòng Si Ma Cai, tỉnh Lào Cai giúp dân_Nguồn: baolaocai.vn
Hai là, nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; theo đó, tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, đặc biệt là quán triệt và thực hiện nghiêm túc Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, của Ban Chấp hành Trung ương, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””. Đây được xác định là khâu mấu chốt để thực hiện việc nêu cao tinh thần trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, chống chủ nghĩa cá nhân, nói đi đôi với làm, khắc phục tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay.
Để thực hiện tốt nội dung này, cần giữ vững các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, phát huy dân chủ trong Đảng, thực hiện tốt tự phê bình và phê bình, thực hiện nghiêm các nghị quyết, quy định của Đảng về thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu(17).
Ba là, coi trọng xây dựng quy chế làm việc, xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của từng cá nhân, tổ chức; đồng thời, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mỗi cá nhân, tổ chức. Một mặt, để nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, yêu cầu đặt ra trước hết là phải xác định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ của mỗi người, mỗi tổ chức thì tổ chức, đơn vị đó mới hoạt động có hiệu quả. Thực tế cho thấy, phải có trách nhiệm, quyền hạn rõ ràng thì mỗi cá nhân mới có đóng góp cụ thể cho tổ chức, mới “nói đi đôi với làm”, tham gia cùng tập thể chống chủ nghĩa cá nhân. Mặt khác, để động viên, khuyến khích tinh thần trách nhiệm và hạn chế thói lười biếng, vô trách nhiệm, ỷ lại, tư lợi cá nhân của cán bộ, đảng viên, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy các cấp cần thực hiện nghiêm công tác kiểm tra, giám sát về những nội dung này; thông qua kiểm tra, giám sát để quản lý chặt chẽ từng cán bộ, đảng viên ở nơi công tác, nơi cư trú và khi công tác xa cơ quan, đơn vị, nhất là những cán bộ có chức, có quyền, trong các lĩnh vực nhạy cảm, dễ xảy ra sai phạm, như quản lý kinh tế, công tác cán bộ... Đồng thời, phát hiện và xử lý kịp thời những cán bộ, đảng viên vi phạm tư cách, thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống, những phần tử cơ hội, bất mãn, gây mất đoàn kết nội bộ trong Đảng, vi phạm các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng.
Bốn là, không ngừng hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật gắn với việc tăng cường hơn nữa tính nghiêm minh của kỷ luật đảng và pháp luật của Nhà nước. Quá trình đổi mới và tích cực, chủ động hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay đặt ra yêu cầu phải khẩn trương hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật để hạn chế những “lỗ hổng” dễ bị lợi dụng; đặc biệt, cần tăng cường kỷ cương, phép nước, tính nghiêm minh của pháp luật để củng cố niềm tin của nhân dân đối với các cơ quan nhà nước. Đồng thời, tăng cường phát huy dân chủ trong Đảng và thực hiện kỷ luật đảng thật sự nghiêm minh; xử lý kịp thời, công khai những cán bộ, đảng viên vi phạm, dù ở cương vị, chức trách nào; kiên quyết đấu tranh với những thói hư, tật xấu trong Đảng.
Năm là, phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tầng lớp nhân dân trong giám sát cán bộ, công chức. Đây là giải pháp vừa cấp bách, vừa lâu dài của công tác xây dựng Đảng, cũng như trong việc phòng, chống chủ nghĩa cá nhân và ngăn chặn tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên hiện nay. Bên cạnh đó, cần phát huy mặt tích cực của dư luận xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng trong việc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Thực hiện tốt giải pháp này sẽ góp phần giáo dục, răn đe đối với mọi cán bộ, đảng viên, đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống./.