Thứ Ba, 20 tháng 9, 2022

ĐẠI ÁN VIỆT Á - PHÉP THỬ ĐAU ĐỚN CHO NHỮNG QUAN CHỨC KHÔNG ĐỦ BẢN LĨNH


Kiếm chác, làm ăn trên nỗi đau của đồng bào, như người đứng đầu Đảng đã phải thốt lên: Vi phạm cả pháp lý và đạo lý, không ai có thể chấp nhận!
Chỉ 1 ngày sau khi Bộ Chính trị quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng, đình chỉ các chức vụ trong Đảng và trình BCH Trung ương xem xét, thi hành kỷ luật, ông Phạm Xuân Thăng – cựu Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương đã bị khởi tố, bắt tạm giam vì liên quan đại án Việt Á.
Khác với ông Nguyễn Thanh Long và Chu Ngọc Anh, ông Phạm Xuân Thăng bị khởi tố khi Ban Chấp hành Trung ương chưa họp để xem xét, thi hành kỷ luật. Điều này cho thấy tính chất nghiêm trọng của vụ việc khi các cơ quan chức năng phải áp dụng biện pháp ngăn chặn khẩn cấp (bắt tạm giam) đối với người từng đứng đầu tỉnh Hải Dương. Công việc tiếp theo là rà soát, kê biên, phong tỏa tài sản của các bị can để đảm bảo triệt để thu hồi cho Nhà nước.
Hải Dương chính là nơi “quả bom” Việt Á “phát nổ” đầu tiên. Cuối tháng 12 năm 2021, khi vụ án tại Công ty Việt Á và các đơn vị, địa phương liên quan bị khởi tố, dư luận sững sờ khi ông Phạm Duy Tuyến - Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật tỉnh Hải Dương (CDC) được xác định đã nhận tiền "hoa hồng" gần 30 tỷ đồng - con số quá lớn cho một cán bộ cấp phòng giữa lúc dịch bệnh đang diễn biến phức tạp từ Nam ra Bắc. Chủ trì hội nghị của Ban Thường vụ Tỉnh ủy, ông Phạm Xuân Thăng (khi đó là Bí thư Tỉnh ủy) nhận định “sai phạm của ông Tuyến là rất nghiêm trọng, đi ngược lại với nỗ lực chống dịch của cả hệ thống chính trị và gây bức xúc trong cán bộ, nhân dân trong tỉnh”. Ông Thăng đã rất “sốt sắng” chỉ đạo làm rõ trách nhiệm liên quan sai phạm tại CDC Hải Dương.
Tiếc thay, khi cơ quan chức năng vào cuộc thì “ba năm rõ mười”. Ông Bí thư Tỉnh ủy có thể chỉ đạo được ai khi nhiều lãnh đạo chủ chốt của địa phương đã bị Việt Á thao túng.
Theo kết luận của Bộ Chính trị, không chỉ người đứng đầu Đảng, chính quyền tỉnh mà cả tập thể Ban thường vụ, tập thể Ban cán sự Đảng UBND tỉnh và nhiều quan chức địa phương đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, vi phạm pháp luật của Nhà nước, vi phạm Quy chế làm việc, Quy định về những điều đảng viên không được làm và trách nhiệm nêu gương… Và chắc chắn, số người bị khởi tố ở Hải Dương chưa thể dừng lại khi các cơ quan chức năng có đủ căn cứ.
Ngược dòng thời gian, đầu năm 2021, Covid-19 bùng phát tại Hải Dương đúng thời điểm đang diễn ra Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng – một sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng của đất nước, lại cận kề với Tết Nguyên đán. Giải quyết tình thế “nước sôi lửa bỏng” đó, ngay bên lề Đại hội đã diễn ra các cuộc họp khẩn cấp, chưa có tiền lệ để kịp thời chỉ đạo công tác chống dịch. Trách nhiệm nặng nề đặt lên vai những người lãnh đạo địa phương. Chính trong quá trình giải quyết khó khăn, thử thách đó, cả một dàn lãnh đạo địa phương đã mắc sai phạm.
Đến thời điểm này, đại án Việt Á đã “cuốn” gần 100 quan chức ở Trung ương và địa phương vào vòng lao lý, trong đó có những người từng là Ủy viên Trung ương. Có thể lý giải nguyên nhân nào dẫn đến hậu quả nghiêm trọng này nếu không phải là lòng tham, là chủ nghĩa cá nhân hẹp hòi, không thể vượt qua cám dỗ.
Kiếm chác, làm ăn trên nỗi đau của đồng bào, như người đứng đầu Đảng đã phải thốt lên: Vi phạm cả pháp lý và đạo lý, không ai có thể chấp nhận!
Đại án Việt Á chính là phép thử đau đớn cho những quan chức không đủ bản lĩnh.
Covid- 19 như một cơn bão “quét qua”, để lại những mảng màu sáng - tối. Ở đó, chúng ta bắt gặp những cán bộ dám nghĩ - dám làm, năng động, sáng tạo, động cơ trong sáng. Họ lao vào thử thách, chấp nhận thiệt thòi, chấp nhận hy sinh, thậm chí cả tính mạng… vì sự bình yên của nhân dân, vì hạnh phúc của đồng bào. Nhưng cũng chính ở đó, mảng màu tối lần lượt bị phanh phui, trả lại công bằng, trả lại niềm tin cho nhân dân.
Đưa ra ánh sáng vụ Việt Á cũng giống như cắt bỏ một khối u lớn, di căn ra nhiều bộ phận trong cơ thể nhưng không thể không làm. Cũng giống như đại án Mobifone mua AVG, khi những tiếng nói đầu tiên bày tỏ băn khoăn ở diễn đàn Quốc hội, tưởng rằng mọi chuyện sẽ chìm vào im lặng. Nhưng với quyết tâm sắt đá của người đứng đầu Đảng, chúng ta đã làm và làm quyết liệt, thu hồi hàng nghìn tỷ đồng thất thoát cho Nhà nước.
Vụ án Việt Á là vụ án rất lớn và phức tạp, liên quan đến nhiều người ở nhiều địa phương. Nó được khởi nguồn, được dung túng và tiếp tay từ chính những cơ quan chuyên môn và những người đứng đầu các cơ quan đó. Tại phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ngày 17/8 vừa qua, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng yêu cầu phải xử lý dứt điểm các vụ việc, vụ án liên quan đến Công ty cổ phần Công nghệ Việt Á.
Lưới trời lồng lộng, ai đã trót nhúng chàm, chắc chắn pháp luật sẽ "gọi tên" để xét xử công bằng và nghiêm minh./.
VOV.VN
Có thể là hình ảnh về 3 người và văn bản cho biết 'Từ trái qua phải: ông Chu Ngọc Anh, Nguyá…n Thanh Long và Phạm Xuân Thăng'

1

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY 20/9


“Cán bộ cần hoan nghênh ý kiến và những lời phê bình của dân, để sửa chữa sai lầm”.
Là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong thư thăm hỏi các đại biểu và tất cả các cán bộ và nhân viên mậu dịch, Người viết ngày 20 tháng 9 năm 1951.
Đây là thời điểm nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn do chiến tranh kéo dài, hàng hoá, nhu yếu phẩm rất khan hiếm và được phân phối cho cán bộ và nhân dân theo chế độ tem phiếu thông qua hệ thống các cửa hàng mậu dịch Nhà nước. Do vậy, đã nẩy sinh rất nhiều bất cập, khó khăn cho cả phía cán bộ, nhân viên mậu dịch và nhân dân. Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trên Bác Hồ đã gửi thư và căn dặn cán bộ, nhân viên ngành mậu dịch, theo Bác việc tự phê bình và tiếp thu phê bình đối với người cán bộ, đảng viên như việc rửa mặt hằng ngày. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn. Bởi lẽ, nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ là bản chất của Đảng và Nhà nước ta, cùng cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” luôn được quan tâm xây dựng, bổ sung, hoàn thiện. Nhân dân cũng là lực lượng đông đảo, rộng khắp, họ thấy rõ, thấy đầy đủ những thiếu sót cần phải phê bình, góp ý cụ thể cho cán bộ, đảng viên.
Trong cuộc đấu tranh chống các nguy cơ đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của đất nước hiện nay, một vũ khí không thể thiếu đó là công luận và tiếng nói của nhân dân. Học tập và làm theo Bác, những năm qua, Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đã tạo môi trường, có các chủ trương, chính sách, cơ chế, pháp luật để nhân dân tham gia giám sát, phê bình cán bộ, đảng viên. Những ý kiến đóng góp của nhân dân đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ “có chức, có quyền” là kênh thông tin quan trọng để họ vươn lên tự hoàn thiện bản thân, có trách nhiệm với công việc, là cơ sở đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn với lợi ích của đất nước và phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.
Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong Quân đội luôn đề cao và duy trì nền nếp, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên. Định kỳ sáu tháng, một năm, tổ chức đảng tổ chức để mỗi cán bộ, đảng viên trên cương vị, chức trách nhiệm vụ được giao thực hiện việc tự phê bình trước chi bộ, lấy ý kiến phê bình của các tổ chức quần chúng trong đơn vị; ý kiến nhận xét của cấp uỷ, chi bộ nơi cư trú theo đúng Quy định 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về việc đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Nội dung phê bình toàn diện trên các mặt tư tưởng chính trị, việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực; giữ gìn đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân và các quy định của địa phương, nơi cư trú. Tôn trọng ý kiến đóng góp của quần chúng, cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc tiếp thu, nhận khuyết điểm, định rõ thời gian, biện pháp khắc phục sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.
Có thể là hình ảnh về 1 người, đang đứng và văn bản cho biết 'ĐẨY MẠNH HỌC TẬP VÀ LÀM THEO TƯ TƯỞNG, ĐẠO ĐỨC, PHONG CÁCH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH'

SÙNG BÁI TIỀN

  

Tiền là thứ cơ bản để duy trì cuộc sống nhưng tiền cũng chỉ là vật tuỳ thân chết cũng không mang theo được …Chỉ nên quý trọng chớ quá tôn sùng ..


Tiền thì ai không yêu quý, chúng ta quý trọng là bởi đó là đồng tiền làm ra vất vả bằng mồ hôi nước mắt. Trân quý tiền để tiêu pha tiết kiệm có kế hoạch, không hoang phí….chứ không phải tôn sùng một cách mù quáng, cái gì cũng quy ra giá trị đồng tiền. 


Đừng vì đồng tiền mà xem nhẹ mọi yếu tố khác trong cuộc sống, tiền không phải là tất cả. Nhiều người phải trả giá, phải sống trong chốn lao tù, nghĩ cho cùng cũng vì lòng tham mà ra. Họ yêu tiền tôn sùng tiền nên đã để đồng tiền che mờ mắt …


Chúng ta cố gắng kiếm tiền để có cuộc sống thoải mái, không lo nghĩ. Nhưng mục đích sống của tất cả chúng ta đều hướng đến hai từ: "Hạnh phúc". Không có tiền thì khó có được hạnh phúc trọn vẹn, sẽ thật khổ sở lao đao đôi khi khiến chúng ta hèn kém đi. Nhưng có thật nhiều tiền không biết sử dụng đúng ý nghĩa của đồng tiền chưa chắc đã hạnh phúc …


Hạnh phúc là một yếu tố trìu tượng tuỳ theo suy nghĩ và cảm nhận của mỗi người. Để có cuộc sống hạnh phúc. Vậy làm thế nào để hạnh phúc? Rất đơn giản: Xoá chữ 'TÔI', bỏ cái tôi ích kỷ đi. Xoá chữ 'MUỐN', bỏ lòng tham sân si đi. Tham thì thâm.  Ở đời biết đủ là hạnh phúc.


Tiền bạc không phải là hạnh phúc, bản chất của tiền bạc không thể tạo ra hạnh phúc, nó chỉ là một trong các phương tiện để con người đi đến hạnh phúc mà mình mong muốn. Hạnh phúc là khi tâm hồn mình cảm thấy bình an. Đồng tiền giúp con người  cảm thấy tự tin, hạnh phúc, đem đến cuộc sống ấm no. Tuy nhiên, khi bị đồng tiền chi phối, muốn tích trữ thật nhiều tiền sẽ làm cho con người ta trở nên tham lam, gian ác,ích kỷ, bất hiếu..thì cái giá phải trả là không hề nhẹ …


P/s: Tốt hay xấu nhiều tiền hay ít tiền cứ ngủ ngon lương tâm thanh thản là được ..

Thứ Hai, 19 tháng 9, 2022

NƠI ĐẦU SÓNG

  

Chiều qua em vừa ra thăm biển

Con sóng chan hòa kể chuyện đảo xa

Nơi đầu sóng, ngọn gió là nhà

Anh đứng gác giữa phong ba, bão táp.


Cây bàng vuông che anh bóng mát 

Sóng du dương ca hát vỗ mạn thuyền 

Cho quê nhà cuộc sống được bình yên 

Cờ Tổ quốc khắp mọi miền phấp phới.


Bình minh lên rạng ngời ngày mới 

Tàu nối tàu giăng lưới khơi xa

Những mẻ cá lấp lánh đẹp như hoa

Luôn rực rỡ chan hòa trong nắng sớm.


Cũng có lúc sóng gầ.m gào, vật lộn

Cuồn cuộn dâng dữ dội đến nao lòng

Biển gồng mình gạn đục lại khơi trong

Cho con sóng thôi ngày đêm giằng xé.


Cũng như anh luôn hướng về đất Mẹ

Dưỡng tình yêu xem nhẹ những nhọc nhằn 

Sát cánh bên nhau chia sẻ khó khăn

Giữ biển quê hương xem thường vất vả...


Nghe sóng kể mà lòng em rộn rã 

Biển quê hương ôm trọn cả tim hồng 

Gửi ra anh nơi ấy một tấm lòng 

Luôn trân quý những người con của biển./.

ST

TỪ LỜI "XIN LỖI BẠN ĐỌC" CỦA BÁC HỒ NGHĨ VỀ NHÀ BÁO CÁCH MẠNG


Bác bảo rằng: “Báo của ta là báo của nhân dân, phải nói thật với nhân dân. Thổi phồng khó khăn làm dân sợ, dân hoang mang là sai, là không tốt".


Tại một cuộc gặp gỡ anh chị em phóng viên các báo trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp xâm lược, Bác dặn rằng, viết khó hơn nói rất nhiều, phải thượng tôn sự thật, phải viết sự thật bằng cái đầu của mình.

Bác chỉ là nhà cách mạng chuyên nghiệp - Bác bảo vậy khi một số người cứ hay gọi Bác là “nhà” này, “nhà” nọ. Công cụ đắc lực nhất của nhà cách mạng chuyên nghiệp Hồ Chí Minh chính là báo chí.


Bác bảo rằng: “Báo của ta là báo của nhân dân, phải nói thật với nhân dân. Thổi phồng khó khăn làm dân sợ, dân hoang mang là sai, là không tốt".


Nhưng ngược lại, nói quá dễ dàng, tưởng để động viên, nhưng khi dân thấy sự thật không đúng như thế, dân không tin ta nữa, không xem báo nữa! Báo không còn tác dụng nữa thì gọi là báo “lá cải” vì nó không có giá trị bằng lá rau cải. Chưa điều tra, chưa nghiên cứu kỹ thì chưa nên viết”.


Nhân bất thập toàn. Câu nói của tiền nhân quả không sai.


Bản thân Bác có lúc mắc phải sai sót trong viết báo nhưng đã nghiêm túc nhận lỗi để sửa. Điều này, ngay cả ở lĩnh vực xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Bác cũng đã bày tỏ quan điểm rằng: Một Đảng giấu giếm khuyết điểm của mình là một Đảng hỏng; một Đảng thừa nhận khuyết điểm của mình, xem khuyết điểm đó do đâu mà có rồi ra sức sửa chữa thì Đảng đó mới là Đảng chắc chắn, chân chính.


Thế mới có chuyện: Trong bài đăng báo Nhân Dân, số 2946, ngày 17/4/1962, bút danh T.L., đầu đề “Cần phải ra sức trồng nhiều hoa màu”, ở cuối bài báo này, Bác viết: “Xin lỗi - Trong báo Nhân Dân (14/3/1962), dưới đầu đề “Làm thế nào cho lạc thêm vui” đúng ra là 1 tấn lạc đổi được 1,5 tấn (1 tấn rưỡi) gang. Vì để sót một dấu phẩy (,) mà viết sai thành 15 (mười lăm) tấn gang. Đó là một thái độ không nghiêm túc, cẩn thận, T.L. xin thật thà tự phê bình và xin lỗi bạn đọc”.


Một dấu phẩy nhưng làm sai nghĩa, Bác thật thà tự phê bình và thành khẩn xin lỗi bạn đọc. Cũng vì thế, Bác hay dặn các báo phải nên có một câu trang trọng ghi trên tờ báo: “Hoan nghênh bạn đọc phê bình báo”.


Nay, không ít trường hợp bài báo nào đó có sai sót thì một là người ta lờ đi, không đính chính; hai là đổ lỗi cho “người đánh máy”; ba là không xin lỗi bạn đọc. Sai sót là chuyện dễ thấy, nhưng điều quan trọng nhất là ở chỗ phải thật sự học Bác, tức là phải có dũng khí, phải thật thà, nghiêm túc, cẩn trọng.


Và, trên tất cả là phải có thái độ ứng xử có văn hóa với bạn đọc.


Ứng xử của Bác với anh chị em phóng viên cũng rất tế nhị. Có lúc bản thân Bác chính là đối tượng để các nhà báo săn tin, nhưng Bác lại chính là nhà báo, cho nên Bác hiểu tâm lý của những người trong nghề báo chí.


Khi phóng viên ảnh chụp hình Bác nhưng vào thời khắc không thuận tiện, Bác biết và có ý làm lại để cho phóng viên chụp hình được thuận tiện. Nhiều lúc Bác còn trực tiếp giúp biên tập vừa để tờ báo nào đó tuân thủ tôn chỉ, mục đích, vừa súc tích, có ý nghĩa thời cuộc, vừa hấp dẫn đối với bạn đọc.


Thời cuộc nay đã khác, loại hình báo chí phong phú hơn, nhanh nhạy hơn nhưng bản chất vấn đề không khác: Trung thực, phản ánh đúng sự thật, viết rõ, viết đúng sự thật. Đó là điểm mấu chốt nhất để phân biệt thế nào là báo chí cách mạng với yêu cầu phản ánh trung thực sự thật với loại báo lá cải đưa tin tùy tiện, không chịu trách nhiệm với bạn đọc.


Tấm gương sáng của nền báo chí cách mạng


Thời cuộc đã khác nhưng báo chí không thể không nhằm phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân, tôn vinh cái đẹp, cái thiện, dẹp cái ác, cái xấu.


Thật đáng buồn khi một số nhà báo, tờ báo có lúc như “con sâu làm rầu nồi canh”, đưa những tin giật gân, thương mại hóa, xâm phạm đời tư của người khác, xuyên tạc sự thật, kích động bạo lực, vô tình cổ súy cho những hành vi phản văn hóa, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo kẽ hở để những kẻ xấu tuyên truyền lật đổ chế độ chính trị.


Đất nước Việt Nam đang rất cần trí lực, vật lực vượt bậc cho công cuộc đổi mới. Trong dòng cách mạng đó, theo gương Bác, các nhà báo của nước ta hiện nay chắc chắn sẽ phấn đấu cho sự hùng cường của đất nước. Khát vọng đó được kích hoạt từ nhà báo cách mạng Hồ Chí Minh, từ nguồn cảm hứng bất tận của cuộc đời người thầy nhà báo cách mạng Hồ Chí Minh.


Là nhà báo cách mạng, Bác nêu một tấm gương sáng về sự dâng hiến cho Tổ quốc.


Trong Di chúc, Bác viết về việc riêng: “Suốt đời tôi hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.


Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.


Việc riêng? Đúng là Bác viết về bản thân mình nhưng ý nghĩa là không riêng cho cá nhân mà là toát lên một nhân cách lớn, cao đẹp của con người suốt đời lo cho việc nước.


Bác không hối hận khi “phải từ biệt thế giới này” vì cả cuộc đời Bác hiến dâng cho sự nghiệp ba giải phóng: Giải phóng dân tộc - Giải phóng xã hội, giai cấp - Giải phóng con người.


Bác không hối hận vì tự nguyện đặt cả cuộc đời mình vào cuộc sống của nhân dân. Ngày 14/7/1969, nghĩa là chỉ một tháng rưỡi nữa thôi là mãi mãi đi xa, khi trả lời phỏng vấn nữ phóng viên báo Granma (của Cuba), Bác nói: “Tôi hiến dâng cả đời tôi cho dân tộc tôi”.


Nhà báo cách mạng Hồ Chí Minh hòa nhịp đập với trái tim của những người cần lao khát vọng giải phóng vươn lên làm chủ cuộc đời mình.


Cũng giống như khi trả lời các nhà báo nước ngoài đầu năm 1946, Bác nói rằng: “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.


Nhà báo cách mạng Hồ Chí Minh - một người hai lần bị vào tù (một lần tù của thực dân Anh năm 1931 - 1932, một lần tù của chính quyền Tưởng Giới Thạch năm 1942 - 1943), một lần bị án tử hình vắng mặt tại Tòa án Nam Triều năm 1929 tại Vinh (Nghệ An); một người hoạt động gian khổ, sống cuộc sống thiếu thốn về vật chất, luôn luôn bị mật thám đế quốc theo dõi, lại còn bị một số đồng chí quốc tế và trong nước hiểu nhầm, đã chứng tỏ được sức sống mãnh liệt của cái thiện, của lẽ phải, của chính nghĩa vì luôn luôn mưu việc lớn với mục tiêu cuối cùng là góp phần giải phóng con người cần lao.


Tinh thần, thái độ và hành động phục vụ cách mạng theo quan niệm của nhà báo cách mạng Hồ Chí Minh, cũng tức là tinh thần làm đầy tớ, làm công bộc cho nhân dân. Bằng sự nghiệp dâng hiến cho giải phóng và chấn hưng dân tộc, Bác đã thấy thành quả là nước nhà được độc lập, nhân dân Việt Nam được sống trong chế độ chính trị do bản thân mình làm chủ, dân tộc Việt Nam đã đứng trong hàng ngũ các dân tộc tiên phong đấu tranh vì hòa bình, độc lập, dân chủ và sự tiến bộ xã hội. Bác đã sống với cả một cuộc đời như thế và đúng là Bác không có gì phải hối hận khi từ biệt thế giới này vào năm 1969.

ST

🇻🇳NHỚ LỜI DẠY CỦA BÁC HỒ🇻🇳 🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳🇻🇳 Ngày 20 tháng 9

 

“Cán bộ cần hoan nghênh ý kiến và những lời phê bình của dân, để sửa chữa sai lầm”.


Là lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong thư thăm hỏi các đại biểu và tất cả các cán bộ và nhân viên mậu dịch, Người viết ngày 20 tháng 9 năm 1951.


Đây là thời điểm nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn do chiến tranh kéo dài, hàng hoá, nhu yếu phẩm rất khan hiếm và được phân phối cho cán bộ và nhân dân theo chế độ tem phiếu thông qua hệ thống các cửa hàng mậu dịch Nhà nước. Do vậy, đã nẩy sinh rất nhiều bất cập, khó khăn cho cả phía cán bộ, nhân viên mậu dịch và nhân dân. Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trên Bác Hồ đã gửi thư và căn dặn cán bộ, nhân viên ngành mậu dịch, theo Bác việc tự phê bình và tiếp thu phê bình đối với người cán bộ, đảng viên như việc rửa mặt hằng ngày. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn.


Bởi lẽ, nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ là bản chất của Đảng và Nhà nước ta, cùng cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” luôn được quan tâm xây dựng, bổ sung, hoàn thiện. Nhân dân cũng là lực lượng đông đảo, rộng khắp, họ thấy rõ, thấy đầy đủ những thiếu sót cần phải phê bình, góp ý cụ thể cho cán bộ, đảng viên. Trong cuộc đấu tranh chống các nguy cơ đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của đất nước hiện nay, một vũ khí không thể thiếu đó là công luận và tiếng nói của nhân dân. Học tập và làm theo Bác, những năm qua, Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đã tạo môi trường, có các chủ trương, chính sách, cơ chế, pháp luật để nhân dân tham gia giám sát, phê bình cán bộ, đảng viên. Những ý kiến đóng góp của nhân dân đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ “có chức, có quyền” là kênh thông tin quan trọng để họ vươn lên tự hoàn thiện bản thân, có trách nhiệm với công việc, là cơ sở đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn với lợi ích của đất nước và phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.


Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong Quân đội luôn đề cao và duy trì nền nếp, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên. Định kỳ sáu tháng, một năm, tổ chức đảng tổ chức để mỗi cán bộ, đảng viên trên cương vị, chức trách nhiệm vụ được giao thực hiện việc tự phê bình trước chi bộ, lấy ý kiến phê bình của các tổ chức quần chúng trong đơn vị; ý kiến nhận xét của cấp uỷ, chi bộ nơi cư trú theo đúng Quy định 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về việc đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Nội dung phê bình toàn diện trên các mặt tư tưởng chính trị, việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực; giữ gìn đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân và các quy định của địa phương, nơi cư trú. Tôn trọng ý kiến đóng góp của quần chúng, cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc tiếp thu, nhận khuyết điểm, định rõ thời gian, biện pháp khắc phục sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao.

ST

SỰ HIỆN DIỆN VÀ ĐÓNG GÓP CỦA VIỆT NAM TẠI LIÊN HỢP QUỐC NGÀY CÀNG RÕ NÉT VÀ HIỆU QUẢ

 

Việt Nam không chỉ đóng góp vào công việc chung của Liên Hợp Quốc (LHQ) bằng lời nói mà còn bằng hành động cụ thể.


Ngày 20/9/1977, lễ thượng cờ Việt Nam được chính thức tổ chức tại trụ sở LHQ, ghi dấu ấn Việt Nam trở thành thành viên thứ 149 của tổ chức lớn nhất hành tinh này. Trong suốt 45 năm qua, sự hiện diện và đóng góp của Việt Nam vào các công việc chung của LHQ và các cơ chế của tổ chức này ngày càng rõ nét và hiệu quả và nhận được sự đánh giá cao của cộng đồng quốc tế. Nhân dịp này, phóng viên VOV đã có cuộc trao đổi với Đại sứ Đặng Hoàng Giang, Trưởng phái đoàn thường trực Việt Nam tại LHQ.


PV: Đại sứ đánh giá thế nào về vai trò cũng như những đóng góp của Việt Nam tại LHQ, đặc biệt khi chúng ta là thành viên của một số cơ chế của tổ chức này trong vòng 45 năm qua?


Đại sứ Đặng Hoàng Giang: Sau 45 năm tham gia LHQ, Việt Nam từ một nước chủ yếu tham dự hội nghị trong thời gian đầu thì hiện nay sự hiện diện và đóng góp của Việt Nam vào các cơ chế của LHQ ngày càng rõ nét và hiệu quả.


Chúng ta đã hai lần tham gia vào Hội đồng bảo an LHQ và hoàn thành tốt trọng trách của mình với tư cách là ủy viên không thường trực của Hội đồng bảo an. Chúng ta đã hai lần làm phó chủ tịch Đại hội đồng LHQ, hai lần làm thành viên của Ủy ban luật pháp quốc tế, đảm nhiệm thành viên Hội đồng nhân quyền rồi hội đồng chấp hành của UNESCO và rất nhiều cơ chế khác.


Có thể nói là những đóng góp của ta tại các cơ chế này đã thể hiện rõ một Việt Nam tích cực, chủ động và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế. Chúng ta đưa ra được những sáng kiến hiệu quả để làm sao có thể đóng góp vào chương trình nghị sự chung của LHQ về về cả hòa bình, an ninh cũng như phát triển.


Tôi tin tưởng là trong thời gian tới, với nền tảng kinh nghiệm và đóng góp đã được thực hiện thời gian qua và với sự tin tưởng và tín nhiệm của cộng đồng quốc tế thì Việt Nam hoàn toàn có thể đóng góp sâu sắc hơn nữa, thực chất hơn nữa vào công việc chung của LHQ cũng như của cộng đồng quốc tế vì một thế giới hòa bình, ổn định và phát triển và vị lợi ích của tất cả người dân.


PV: Không chỉ là thành viên tích cực, chủ động và có trách nhiệm của LHQ, Việt Nam còn có nhiều đóng góp quan trọng cho công việc chung của LHQ nhất là thông qua việc tham gia hoạch định chính sách và thực hiện cam kết của mình, xin Đại sứ cho biết thêm về điều này?


Đại sứ Đặng Hoàng Giang: Có thể nói là trong 45 năm qua thì Việt Nam đã luôn đồng hành và nỗ lực vun đắp và xây dựng mối quan hệ ngày càng hiệu quả giữa Việt Nam và LHQ.


Trong lĩnh vực hoạch định chính sách thì ngay từ những ngày đầu tham gia LHQ thì chúng ta đã tham gia thúc đẩy và nâng cao vai trò của LHQ bằng cách tham gia xây dựng những quy chuẩn, quy định của luật pháp quốc tế, điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia và tham gia thương lượng, xây dựng những điều ước quốc tế hết sức quan trọng của LHQ như là Công ước luật biển LHQ, các công ước về quyền con người hay các công ước về giải trừ quân bị.


Chúng ta cũng tham gia xây dựng những chính sách, những định hướng lớn của LHQ trong vấn đề phát triển như xây dựng chương trình mục tiêu phát triển thiên niên kỷ hay vừa rồi là chương trình mục tiêu phát triển bền vững, chương trình nghị sự 2030. Trong quá trình tham gia các cơ chế của LHQ, Việt Nam cũng thúc đẩy nhiều nghị quyết, tuyên bố quan trọng của Hội đồng bảo an LHQ, Đại hội đồng LHQ, Hội đồng nhân quyền và các nghị quyết, văn kiện này đều cộng đồng quốc tế và các nước đánh giá và ủng hộ cao.


Về mặt triển khai trên thực tế các cam kết của mình thì Việt Nam luôn nghiêm chỉnh thực hiện các cam kết quốc tế, các cam kết của Việt Nam trong khuôn khổ LHQ và đặc biệt là luôn luôn đề cao việc tuân thủ và thực hiện nghiêm chỉnh Hiến chương LHQ là luật pháp quốc tế. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng thúc đẩy, xây dựng, triển khai các sáng kiến của LHQ như vấn đề phát triển thiên niên kỷ, chúng ta đã hoàn thành trước hạn các mục tiêu này và hiện nay đang triển khai rất hiệu quả các mục tiêu phát triển bền vững.


Đồng thời, trên thực địa, chúng ta đã triển khai gửi các lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình của LHQ tại các khu vực trên thế giới và qua đó thể hiện rõ là Việt Nam không chỉ đóng góp vào công việc chung của LHQ bằng lời nói mà còn bằng hành động cụ thể.


PV: Một trong những hoạt động mà Việt Nam chúng ta đã làm rất tốt và tích cực trong thời gian qua là tham gia góp phần gìn giữ hòa bình, Đại sứ đánh giá thế nào về sự đóng góp này của chúng ta đối với sứ mệnh này của LHQ?


Đại sứ Đặng Hoàng Giang: Việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình của LHQ là một chủ trương rất quan trọng của Đảng và Nhà nước nhằm triển khai đường lối chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Chúng ta có thể thấy rằng hòa bình và ổn định, phát triển của các quốc gia hiện nay là tùy thuộc lẫn nhau và gắn chặt với nhau, liên hệ mật thiết với nhau, chính vì vậy, gìn giữ hòa bình, ổn định và phát triển cho các quốc gia khác, khu vực khác cũng chính là bảo vệ tổ quốc từ sớm, từ xa.


Qua việc tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình, Việt Nam càng khẳng định được một nước Việt Nam yêu chuộng hòa bình, mong muốn các dân tộc khác cũng được hưởng hòa bình và phòng tránh thảm họa chiến tranh.


Điều đặc biệt hơn nữa là những chiến sỹ của ta đang tham gia gìn giữ hòa bình trên thực địa đã góp phần đưa hình ảnh, đất nước, con người của Việt Nam ra với cộng đồng, bạn bè quốc tế về một dân tộc Việt Nam giàu lòng nhân ái, thủy chung, chân tình và qua đó thúc đẩy mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước ngày càng phát triển và tốt đẹp hơn và vì một cộng đồng quốc tế, một thế giới hòa bình và ổn định, qua đó nâng cao sức mạnh mềm của Việt Nam.


PV: Việt Nam từng là thành viên của Hội đồng nhân quyền và đã để lại dấu ấn rõ nét và một lần nữa chúng ta lại ứng cử cho vị trí này nhiệm kỳ 2023-2025, vậy chúng ta có thể đóng góp như thế nào cho cơ quan này, thưa Đại sứ?


Đại sứ Đặng Hoàng Giang: Việc tham gia Hội đồng nhân quyền của LHQ thể hiện rõ khả năng đóng góp của chúng ta cho cơ chế này. Với những thành tựu của chúng ta trong việc bảo vệ quyền con người trong những chính sách của chúng ta tất là vì người dân và do dân, với những kinh nghiệm như vậy trong suốt thời kỳ kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước cũng như công cuộc phát triển ngày nay, chúng ta thấy rằng chúng ta hoàn toàn có thể đóng góp cho LHQ, cho Hội đồng nhân quyền với những giá trị phổ quát trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người trên cơ sở bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không can thiệp công việc nội bộ của nhau và trên cơ sở đó thì các nước cùng chung tay, cùng thúc đẩy và xây dựng những chuẩn mực chung về bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, phấn đấu vì một thế giới nơi tất cả con người được hưởng các quyền và lợi ích bình đẳng như nhau.

ST

ĐỐI TÁC TIN CẬY VÌ HÒA BÌNH, HỢP TÁC VÀ PHÁT TRIỂN

 

Nhân dịp kỷ niệm 45 năm Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc (20/9/1977-20/9/2022), Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Ngoại giao Bùi Thanh Sơn đã có bài viết “45 năm quan hệ Việt Nam-Liên hợp quốc: Đối tác tin cậy vì hòa bình, hợp tác và phát triển”. Báo Nhân Dân xin giới thiệu toàn văn bài viết tới bạn đọc.


Liên hợp quốc là tổ chức đa phương lớn nhất thế giới với sứ mệnh duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, thúc đẩy hợp tác hữu nghị và phát triển của các quốc gia trên thế giới. Hợp tác với Liên hợp quốc luôn giữ một vị trí quan trọng trong đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, phản ánh ý chí và nguyện vọng của nhân dân ta cùng nhân dân thế giới phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển.


Ngày 20/9/1977, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 149 của Liên hợp quốc. Kể từ đó, Việt Nam luôn là một đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có nhiều đóng góp quan trọng vào thực hiện các sứ mệnh của Liên hợp quốc.


Tháng 1/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân danh Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã gửi thư đến Chủ tịch Đại hội đồng Liên hợp quốc bày tỏ nguyện vọng Việt Nam gia nhập Liên hợp quốc. Trải qua thăng trầm lịch sử, ngày 20/9/1977, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ 149 của Liên hợp quốc. Kể từ đó, Việt Nam luôn là một đối tác tin cậy, là thành viên tích cực và có nhiều đóng góp quan trọng vào thực hiện các sứ mệnh của Liên hợp quốc.


Trong công cuộc đổi mới, hợp tác giữa Việt Nam và Liên hợp quốc phát triển mạnh mẽ, sâu rộng và hiệu quả. Các chương trình, dự án của Liên hợp quốc đã đóng góp quan trọng vào quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế của Việt Nam, nhất là phát triển hạ tầng kinh tế-xã hội, giáo dục, y tế, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường, chia sẻ kinh nghiệm phát triển trong nhiều lĩnh vực. Phát huy tinh thần tự lực, tự cường đi đôi với sử dụng hiệu quả các nguồn lực bên ngoài, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu phát triển quan trọng, được Liên hợp quốc và cộng đồng quốc tế đánh giá cao.


Điển hình là việc đã hoàn thành trước thời hạn 5 trong số 8 Mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDG), triển khai tốt sáng kiến “Thống nhất hành động” về cải tổ hệ thống phát triển Liên hợp quốc, đang nỗ lực hoàn thành Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững, quyết tâm thực hiện cam kết trung hòa khí thải vào năm 2050,v.v. Vào thời điểm khó khăn nhất của đại dịch Covid-19, Việt Nam đã nhận được sự hỗ trợ to lớn về vaccine và thiết bị y tế của Liên hợp quốc, trực tiếp thông qua Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Chương trình COVAX, góp phần quan trọng kiểm soát hiệu quả, thích ứng an toàn, tiến tới đẩy lùi đại dịch Covid-19. Thông qua mô hình hợp tác ba bên với sự hỗ trợ của Liên hợp quốc, Việt Nam tích cực chia sẻ tri thức, kinh nghiệm có được từ công cuộc đổi mới với các nước đang phát triển, nhất là kinh nghiệm về đổi mới kinh tế, hội nhập quốc tế, phát triển nông nghiệp, y tế, giáo dục,v.v.


Trải qua nhiều năm chiến tranh, Việt Nam hết sức trân trọng giá trị của hòa bình. Như Tổng Thư ký Liên hợp quốc Antonio Guterres đã từng đánh giá, Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp cho hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới. Chúng ta luôn kiên trì đề cao luật pháp quốc tế và các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc, nỗ lực thúc đẩy việc tìm kiếm giải pháp lâu dài, toàn diện cho các xung đột.


Tại Liên hợp quốc, đặc biệt là trong các nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an (2008-2009 và 2020-2021), Việt Nam đã đề xuất nhiều sáng kiến, giải pháp cho các vấn đề toàn cầu như sáng kiến Ngày quốc tế phòng chống dịch bệnh 27/12, thành lập Nhóm bạn bè của Công ước Luật biển, giải quyết hậu quả bom mìn, bảo vệ cơ sở hạ tầng thiết yếu trong xung đột, thúc đẩy hợp tác giữa Liên hợp quốc và ASEAN trong duy trì hòa bình và an ninh khu vực,v.v.


Đến nay, Việt Nam đã cử 512 lượt sĩ quan quân đội và 4 lượt sĩ quan công an tham gia lực lượng gìn giữ hoà bình Liên hợp quốc tại châu Phi và tại trụ sở Liên hợp quốc, không chỉ khẳng định trách nhiệm của mình đối với an ninh quốc tế, mà còn góp phần tô thắm hình ảnh cao đẹp của Bộ đội Cụ Hồ trong thực hiện nhiệm vụ “sứ giả của hòa bình, hữu nghị”.


Trong lĩnh vực quyền con người, Việt Nam đề cao đối thoại và hợp tác, thúc đẩy tinh thần nhân văn, nhân ái, đặt con người vào trung tâm của phát triển, chia sẻ thành tựu, kinh nghiệm về bảo vệ các quyền cơ bản của con người, bảo đảm công bằng và tiến bộ xã hội. Sau nhiệm kỳ thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc 2014-2016, Việt Nam đang ứng cử nhiệm kỳ 2023-2025 để tiếp tục đóng góp vào thúc đẩy quyền con người trên thế giới.


Với thành tựu của công cuộc đổi mới và những đóng góp tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, Việt Nam đã được tín nhiệm bầu vào nhiều tổ chức quan trọng của Liên hợp quốc như Hội đồng Bảo an (2008-2009, 2020-2021), Hội đồng Kinh tế-Xã hội (1998-2000, 2016-2018), Hội đồng Nhân quyền (2014-2016), Ủy ban Luật pháp Quốc tế (2017-2021, 2023-2027), Hội đồng Chấp hành Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) và Quỹ Dân số Liên hợp quốc (UNFPA) (2000-2002), Hội đồng Chấp hành Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) (1978-1983, 2001-2005, 2009-2013, 2015-2019, 2021-2025)...

Với tinh thần trách nhiệm cao, đóng góp thực chất vào công việc chung của Liên hợp quốc, Việt Nam đã thực sự thể hiện rõ tâm thế, bản sắc và bản lĩnh của ngoại giao Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, lan tỏa mạnh mẽ thông điệp về một quốc gia độc lập, tự chủ, đổi mới, yêu chuộng hòa bình, tôn trọng luật pháp quốc tế, tin cậy, chân thành và có trách nhiệm với cộng đồng quốc tế.


Đối tác vì hòa bình, phát triển bền vững và tương lai tốt đẹp hơn của nhân loại


Quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và Liên hợp quốc trong 45 năm qua đã góp phần quan trọng củng cố môi trường hòa bình, ổn định, thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, tranh thủ được các nguồn lực bên ngoài cho phát triển đất nước, nâng cao vị thế, uy tín Việt Nam trên trường quốc tế. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục khẳng định vị trí quan trọng của Liên hợp quốc trong đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta; theo đó, nâng tầm đối ngoại đa phương, chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương, đặc biệt là ASEAN, Liên hợp quốc và các khuôn khổ, cơ chế hợp tác quan trọng có tầm chiến lược, phù hợp với yêu cầu, khả năng và điều kiện đất nước.


Thực hiện chủ trương đúng đắn đó, Việt Nam tiếp tục coi trọng và tăng cường hợp tác với Liên hợp quốc; kiên định độc lập, tự chủ, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở Hiến chương Liên hợp quốc và các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng, hợp tác, cùng có lợi; nỗ lực phát huy vai trò nòng cốt, dẫn dắt, hòa giải trong các vấn đề quốc tế trong điều kiện cho phép; tiếp tục thúc đẩy hợp tác đa phương, hợp tác giữa Liên hợp quốc và các tổ chức khu vực, trong đó có ASEAN, để cùng tìm giải pháp lâu dài cho xử lý các thách thức an ninh và phát triển trên thế giới. Chúng ta chủ động, tích cực thực hiện tốt trọng trách tại các tổ chức, cơ quan Liên hợp quốc mà Việt Nam trúng cử, đồng thời có kế hoạch, lộ trình chuẩn bị cho ứng cử các vị trí quan trọng của Liên hợp quốc.


Bên cạnh tiếp tục hoàn thiện thể chế, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị, một điều hết sức quan trọng là cần chú trọng đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực và xây dựng đội ngũ cán bộ đối ngoại đa phương toàn diện, chuyên nghiệp, hiện đại, đồng thời có chính sách phù hợp tăng cường cán bộ Việt Nam làm việc trong các tổ chức Liên hợp quốc.


Tình hình thế giới biến chuyển nhanh chóng, phức tạp, song xu thế lớn và nguyện vọng thiết tha của các quốc gia, dân tộc vẫn luôn là giữ vững hòa bình, mở rộng hợp tác phát triển. Với phương châm chủ động, tích cực, chân thành, tin cậy và có trách nhiệm, Việt Nam tiếp tục nỗ lực hết sức mình đóng góp vào củng cố vai trò trung tâm của Liên hợp quốc trong hệ thống quản trị toàn cầu, cùng phấn đấu vì hòa bình bền vững, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội.

ST

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 20 THÁNG 9 NĂM 1951!

         “Cán bộ cần hoan nghênh ý kiến và những lời phê bình của dân, để sửa chữa sai lầm”!
Lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trích trong thư thăm hỏi các đại biểu và tất cả các cán bộ và nhân viên mậu dịch, Người viết ngày 20/9/1951.
     Đây là thời điểm nền kinh tế nước ta gặp rất nhiều khó khăn do chiến tranh kéo dài, hàng hoá, nhu yếu phẩm rất khan hiếm và được phân phối cho cán bộ và nhân dân theo chế độ tem phiếu thông qua hệ thống các cửa hàng mậu dịch Nhà nước. Do vậy, đã nẩy sinh rất nhiều bất cập, khó khăn cho cả phía cán bộ, nhân viên mậu dịch và nhân dân. Để khắc phục những hạn chế, yếu kém trên Bác Hồ đã gửi thư và căn dặn cán bộ, nhân viên ngành mậu dịch, theo Bác việc tự phê bình và tiếp thu phê bình đối với người cán bộ, đảng viên như việc rửa mặt hằng ngày. Cấp trên phê bình, chưa đủ. Đồng chí, đồng sự phê bình, chưa đủ. Phải hoan nghênh quần chúng phê bình nữa, thì sự phê bình mới hoàn toàn.
     Bởi lẽ, nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ là bản chất của Đảng và Nhà nước ta, cùng cơ chế: “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” luôn được quan tâm xây dựng, bổ sung, hoàn thiện. Nhân dân cũng là lực lượng đông đảo, rộng khắp, họ thấy rõ, thấy đầy đủ những thiếu sót cần phải phê bình, góp ý cụ thể cho cán bộ, đảng viên. Trong cuộc đấu tranh chống các nguy cơ đối với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của đất nước hiện nay, một vũ khí không thể thiếu đó là công luận và tiếng nói của nhân dân. Học tập và làm theo Bác, những năm qua, Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đã tạo môi trường, có các chủ trương, chính sách, cơ chế, pháp luật để nhân dân tham gia giám sát, phê bình cán bộ, đảng viên. Những ý kiến đóng góp của nhân dân đối với tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ “có chức, có quyền” là kênh thông tin quan trọng để họ vươn lên tự hoàn thiện bản thân, có trách nhiệm với công việc, là cơ sở đề ra chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật đúng đắn với lợi ích của đất nước và phù hợp với tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.
     Thấu triệt lời Bác Hồ dạy, cấp uỷ, chỉ huy các cấp trong Quân đội luôn đề cao và duy trì nền nếp, không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên. Định kỳ sáu tháng, một năm, tổ chức đảng tổ chức để mỗi cán bộ, đảng viên trên cương vị, chức trách nhiệm vụ được giao thực hiện việc tự phê bình trước chi bộ, lấy ý kiến phê bình của các tổ chức quần chúng trong đơn vị; ý kiến nhận xét của cấp uỷ, chi bộ nơi cư trú theo đúng Quy định 76-QĐ/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về việc đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với chi ủy, đảng ủy cơ sở và gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Nội dung phê bình toàn diện trên các mặt tư tưởng chính trị, việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực; giữ gìn đoàn kết nội bộ, đoàn kết quân dân và các quy định của địa phương, nơi cư trú. Tôn trọng ý kiến đóng góp của quần chúng, cán bộ, đảng viên phải nghiêm túc tiếp thu, nhận khuyết điểm, định rõ thời gian, biện pháp khắc phục sửa chữa khuyết điểm, phát huy ưu điểm, phấn đấu hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao./.
Môi trường ST.

GIÁ TRỊ CỦA HOÀ BÌNH

 


Trong muôn vàn những điều tốt đẹp mà cuộc đời mang lại cho mỗi người thì hòa bình chính là món quà vô giá nhất. Chỉ khi có được hòa bình thì con người mới có thể sống một cuộc sống yên ổn hạnh phúc không phải chịu nỗi đau mất mát chia li như trong chiến tranh. Vì vậy hoà bình luôn là điều mong muốn của những con người chân chính trên trái đất này, đặc biệt là dân tộc Việt Nam ta. 


Dân tộc ta đã phải trải qua hơn 4000 năm lịch sử dựng nước và giữ nước, hàng trăm năm chiến tranh triền miên, gánh chịu bao mất mát đau thương nên thấu hiểu sâu sắc giá trị của hoà bình. Tuy rằng chiến tranh đã đi vào quá khứ mất mát đau thương đã nhường chỗ cho một Việt Nam tự hào và phát triển, nhưng mỗi hình ảnh, mỗi câu chuyện được kể lại khiến cho chúng ta hình dung được những tháng năm bi hùng của dân tộc. 


Chúng ta có thể khép lại quá khứ, nhưng không có nghĩa được phép quên đi lịch sử. Khi nói về lịch sử, đại văn hào Victor Hugo từng khẳng định: "Lịch sử là tiếng vọng của quá khứ trong tương lai và là phản chiếu tương lai trên quá khứ. Lịch sử là những gì diễn ra trong quá khứ, nhưng nó luôn có mối quan hệ mật thiết với hiện tại và tương lai". Lịch sử chính là thước đo chân lý và bác bỏ mọi sự xuyên tạc của các thế lực thù địch, vì vậy những trang sử hào hùng của dân tộc Việt Nam sẽ mãi trường tồn cho dù thời gian trôi qua. 


Nhìn về quá khứ không phải là để nung nấu hận thù, càng không phải để kích động tư tưởng bài ngoại, mà nhớ về quá khứ chính là cơ sở để xây dựng lòng tự tôn, tự hào dân tộc trong mỗi người, từ đó suy nghĩ sáng suốt, hành động hiệu quả để không làm tổn thương cha ông ta những người đã không ngại gian khổ hy sinh để giành nền độc lập tự do cho dân tộc. Quá khứ-hiện tại- tương lai là dòng chảy liên tục của lịch sử. Tương lai không thể tươi sáng, cuộc sống hòa bình, ấm no, tự do - hạnh phúc không thể vững bền nếu như chúng ta quên đi quá khứ…


Hà Thanh

TẤM LÒNG CỦA BÁC HỒ VỚI CHIẾN SĨ


Đối với chiến sĩ là những người hy sinh nhiều nhất cho dân tộc, Bác Hồ thường dành cho anh em sự chăm lo, săn sóc ân tình, chu đáo nhất.


 

Mùa đông, thương anh em chiến sĩ rét mướt ở rừng núi hay bưng biền, Bác đem tấm áo lụa của mình được đồng bào tặng, bán đấu giá để lấy tiền mua áo ấm gửi cho các chiến sĩ.

 

Bác thường nói: “Chiến sĩ còn đói khổ, tôi ăn ngon sao được!”. “Chiến sĩ còn rách rưới, mình mặc thế này cũng là đầy đủ lắm rồi!”.

 

Mùa hè năm ấy (1967), trời Hà Nội rất nóng. Sức khỏe Bác Hồ đã kém, thần kinh tuổi già cũng suy nhược, dễ bị toát mồ hôi, ướt đầm, có ngày phải thay mấy lần quần áo, có khi hong tại chỗ, rồi lại thay ngay. Bác không cho dùng máy điều hoà nhiệt độ. Bác bảo: Mùi nó hôi lắm, Bác không chịu được! (Bác không dùng nên nói vậy thôi).

 

Thấy trời oi bức quá, Bác nói với đồng chí Vũ Kỳ:

 

- Nắng nóng thế này, các chú bộ đội trực phòng không trên nóc hội trường Ba Đình thì sao chịu được? Các chú ấy có đủ nước uống không? Chú thử lên tìm hiểu xem thế nào, về cho Bác biết.

 

Đồng chí Vũ Kỳ lên, được biết trên đó có một tổ súng 14 ly 5. Ụ cát sơ sài, nêu địch bắn vào thì chỉ có hy sinh, rất nguy hiểm.

 

Trời nắng chói, đứng một lúc mà hoa cả mắt. Đồng chí Vũ Kỳ hỏi:

 

- Các đồng chí có nước ngọt uống không?

 

- Nước chè thường còn chưa có, lấy đâu ra nước ngọt!

 

Đồng chí Vũ Kỳ về nói lại với Bác, Bác gọi điện ngay cho đồng chí Văn Tiến Dũng:

 

- Sao các chú không lo đủ nước uống cho các chiến sĩ trực phòng không? Nghe nói ụ súng trên nóc hội trường rất sơ sài, chú phải lo sửa ngay để đảm bảo an toàn cho chiến sĩ trong chiến đấu!

 

Sau đó Bác bảo đồng chí Vũ Kỳ đi lấy sổ tiết kiệm của Bác, xem tiền tiết kiệm của Bác còn bao nhiêu.

 

Tại sao Bác có tiền tiết kiệm? Lương Bác cao nhất nước, nhưng hàng tháng cũng chỉ đủ tiêu. Mọi chi phí sinh hoạt của Bác, từ cái chổi lông gà, đều ghi vào lương cả.

 

Tiền tiết kiệm của Bác là do các báo trả nhuận bút cho Bác. Bác viết báo nhiều, có năm hàng trăm bài. Các báo gửi đến bao nhiêu, văn phòng đều gửi vào sổ tiết kiệm của Bác. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Bác cũng đã có tiền tiết kiệm. Đến dịp Tết Nguyên đán, Bác lại đem chia cho cán bộ các cơ quan chung quanh Bác mua lợn để đón xuân.

 

Đồng chí Vũ Kỳ xem sổ và báo cáo:

 

- Thưa Bác, còn lại tất cả hơn 25.000 đồng (lúc đó là một món tiền rất lớn, tương đương với khoảng 60 luợng vàng).

 

Bác bảo:

 

- Chú chuyển ngay số tiền đó cho Bộ Tổng tham mưu và nói: “Đó là quà của Bác tặng để mua nước ngọt cho anh em chiến sĩ trực phòng không uống, không phải chỉ cho những chiến sĩ ở Ba Đình, mà cho tất cả các chiến sĩ đang trực chiến trên mâm pháo ở khắp miền Bắc. Nếu số tiền đó không đủ thì yêu cầu địa phương nào có bộ đội phòng không trực chiến góp sức vào cùng lo!”.

 

Về sau, Bộ Tư lệnh Phòng không quân báo cáo lại cho Văn phòng Phủ Chủ tịch biết: Số tiền của Bác mua nước uống cho bộ đội phòng không, không quân được một tuần.


Theo 117 Chuyện kể về tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh (Ban Tuyên giáo TW, Nxb. CTQG - 2007)

Bảo tàng Hồ Chí Minh

GIA ĐÌNH LÀ ĐỘNG LỰC LỚN LAO


Nhắc đến Thượng tá Trần Quốc Trung, Trợ lý Phòng Kế hoạch tổng hợp, Cục Quản lý công nghệ, Tổng cục Công nghiệp Quốc phòng (CNQP), đồng đội luôn dành cho anh những tình cảm yêu thương và trân trọng người đồng đội dù gặp hoàn cảnh đặc biệt nhưng luôn nhiệt huyết, năng nổ, tận tình, trách nhiệm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.

Trong câu chuyện với chúng tôi, Thượng tá Trần Quốc Trung không nói về những thành tích bản thân từng đạt được mà khiêm tốn chia sẻ: "Truyền thống gia đình là động lực lớn lao để tôi cố gắng và phấn đấu trưởng thành như ngày hôm nay. Cùng với đó là sự quan tâm tạo điều kiện của lãnh đạo, chỉ huy các cấp; chính sách của Đảng, Nhà nước dành cho thân nhân gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng".


Hồi tưởng lại những tháng ngày ấu thơ, Trần Quốc Trung không giấu được dòng cảm xúc trào dâng. 18 tháng tuổi, Trần Quốc Trung đã chịu cảnh mồ côi mẹ. Đến bây giờ, hình ảnh về người mẹ thân yêu chỉ được lưu giữ trong ký ức qua những câu chuyện mà người thân kể lại và bức ảnh đặt trang trọng trên ban thờ. Mẹ anh - bà Hoàng Thị Nguồn (sinh ngày 21-9-1949) khi ấy là cán bộ Công ty xăng dầu Hà Bắc (thuộc Công ty Xăng dầu khu vực phía Bắc). Theo lời người thân và các nhân chứng kể lại, tháng 9-1972, đế quốc Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, chúng điên cuồng rải thảm bom bằng máy bay B52 tại các điểm trọng yếu nhằm phá hủy và cắt đứt mọi chi viện cho chiến trường miền Nam; trong đó, có hệ thống kho, trạm vật tư, xăng dầu. Ngày 15-9-1972, trong khi làm nhiệm vụ, mẹ anh và một đồng đội đã hy sinh ngay tại kho xăng dầu Bắc Giang. Theo lời người thân kể lại, mẹ anh và đồng đội đã được đơn vị tổ chức chôn cất tại nghĩa trang nhân dân (gần công ty, thuộc phường Lê Lợi, thành phố Bắc Giang ngày nay), sau đó mới cử người đến gia đình thăm hỏi và làm công tác tư tưởng trước khi báo tin.


Chuyện mẹ Trần Quốc Trung hy sinh cho đến bây giờ mỗi khi nhắc lại, nhiều người vẫn không giấu được sự xót xa, bởi hai tuần sau khi bà mất, người thân trong gia đình mới lên thắp hương tại mộ được. Cũng trong thời điểm đó, cha Trần Quốc Trung (là sĩ quan tên lửa được đào tạo tại Nga) đang tham gia chiến đấu tại trung đoàn tên lửa phòng không đóng quân ở Thanh Hóa, bảo vệ sân bay Sao Vàng và đánh chặn B52 từ xa để bảo vệ Hà Nội... Khi nhận được tin vợ mất, ông cũng không thể về thắp cho vợ nén nhang mà chỉ gửi lời nhắn qua đồng đội nhờ bố mẹ chăm sóc cậu con trai bé bỏng.


Vậy là sau ngày mẹ mất, Trần Quốc Trung được ông bà nội đón về quê ở xã Hưng Đạo (Tiên Lữ, Hưng Yên) để nuôi dưỡng. Có lẽ bản tính tự lập đã thấm vào con người anh từ lúc ấu thơ, để rồi Trần Quốc Trung luôn nỗ lực hết mình trong học tập. Anh luôn cố gắng đạt kết quả cao trong học tập và coi đó là món quà dành khoe với ông bà và bố khi có dịp ghé qua nhà. Tốt nghiệp lớp 12, theo định hướng của người chú ruột, Trần Quốc Trung nộp đơn thi vào Trường Cao đẳng kỹ thuật Hóa chất 1 (nay là Trường Đại học công nghiệp Việt Trì) học chuyên ngành máy hóa. Năm 1993, tốt nghiệp ra trường, Trần Quốc Trung được tuyển vào làm công nhân quốc phòng tại Xưởng A4, Xí nghiệp 92 thuộc Ban Quản lý công trình 3 (tiền thân của Nhà máy Z195, Tổng cục CNQP).


Vốn có ý chí, nghị lực và quyết tâm vươn lên trong cuộc sống, quá trình công tác, Trần Quốc Trung luôn nỗ lực phấn đấu. Được sự tin tưởng của đảng ủy, chỉ huy các cấp, năm 2002, Trần Quốc Trung được đơn vị cử đi thi và đỗ vào Học viện Kỹ thuật Quân sự. Năm 2005, tốt nghiệp kỹ sư ngành cơ khí, chuyên ngành đạn của Học viện Kỹ thuật Quân sự với tấm bằng khá, Trần Quốc Trung lại trở về công tác tại Nhà máy Z195. Trong 7 năm công tác trên cương vị là Tổ trưởng Tổ Đo lường, Phòng KCS của Nhà máy Z195, bằng nhiệt huyết, tinh thần trách nhiệm cùng thái độ cầu thị, anh luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Tháng 11-2012, anh được điều chuyển công tác về Ban Kế hoạch tổng hợp, Cục Quản lý công nghệ, Tổng cục CNQP.


Ngót 29 năm công tác, dù ở bất kỳ cương vị nào, Trần Quốc Trung luôn tận tâm, hết mình trong thực hiện nhiệm vụ. Bản thân anh đã tham gia nhiều đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở; có nhiều sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được đưa vào ứng dụng trong quá trình sản xuất, góp phần làm lợi kinh tế cho đơn vị. Với sự nỗ lực phấn đấu của bản thân, Thượng tá Trần Quốc Trung được các cấp ghi nhận và tặng nhiều bằng khen, giấy khen, tiêu biểu là Bằng khen của Tổng cục CNQP về thành tích xuất sắc 3 năm thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” giai đoạn 2014-2017; 3 năm liền đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cơ sở (2014-2016); Chiến sĩ thi đua toàn quân năm 2017.


Kết thúc câu chuyện với chúng tôi, không nói về những thiệt thòi, vất vả của bản thân khi thiếu vắng bàn tay chăm sóc của mẹ thuở ấu thơ, Thượng tá Trần Quốc Trung dành nhiều tình cảm khi nói về bố. Anh bảo: "Bố mới là người chịu thiệt thòi nhiều nhất. Khi ông về hưu (năm 1982) cho đến khi mất (năm 2017), tôi không có nhiều thời gian ở gần để chăm sóc bố. Tôi phải cảm ơn bố bởi ông là người biết “biến” những thiệt thòi, mất mát của tôi thành động lực để tôi luôn cố gắng, nỗ lực như hôm nay".


Báo QĐND.

NGƯỜI LÃNH ĐẠO VÀ BÀI HỌC TU DƯỠNG, TRÁNH CÁM DỖ

 

Không chỉ đề cao vai trò, tầm quan trọng của người lãnh đạo: “Một người lo bằng kho người làm”, triết lý người Việt còn nhắc nhở những ai ở cương vị đó phải biết giữ gìn nhân cách, bởi “nhà dột từ nóc”.


Lại có câu ca dao: “Người trên ở chẳng chính ngôi/ Để cho bề dưới chúng tôi hỗn hào” là chân lý cũng là đạo lý, vì người lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao không chỉ phải “lo” đường lối chiến lược, hoạch định chính sách... mà còn phải là mẫu mực nhân cách có ảnh hưởng lớn trong cộng đồng.


Thế nhưng vừa qua, có không ít vị lãnh đạo cấp cao lại “nhúng chàm” để rồi đang ở đỉnh cao quyền lực rơi xuống đáy thân phận bị cáo, trở thành “tấm gương mờ” để người đời bêu riếu... “Tài” và “đức” là hai phạm trù cơ bản cấu thành nhân cách người lãnh đạo. Họ có thể có “tài” nhưng còn thiếu “đức”. Bác Hồ từng dạy người cách mạng phải lấy đức là nguồn, là gốc: “Sức có mạnh mới gánh được nặng và đi được xa. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng, mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang”(1). Những “tấm gương mờ” kia còn thiếu đạo đức cách mạng nên sức yếu, không “gánh được nặng” và chẳng “đi được xa”.


Bốn cái cột chống vững chắc của ngôi nhà đạo đức cách mạng, theo Bác Hồ là “cần, kiệm, liêm, chính”. Ngày Quốc khánh 2-9-1947, Người viết bài "Cán bộ và đời sống mới" giải thích rõ vấn đề, đặc biệt nhấn mạnh đến sự “thực hành”: “Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. Nếu không thực hành bốn điều đó, mà muốn được lòng dân, thì cũng như bắc dây leo trời”(2). Câu nói mang ý nghĩa thời sự sâu sắc, như là nói với hôm nay!


Một phẩm chất hàng đầu của người lãnh đạo là uy tín. Tham ô, đục khoét tức “vô liêm”, không trong sạch thì làm sao “được lòng dân”. Người xưa rất coi trọng chữ “liêm”. Cụ Khổng Tử mỉa mai: “Người mà không liêm, không bằng súc vật”. Cụ Mạnh Tử trăn trở: “Ai cũng tham lợi, thì nước sẽ nguy”. Bác Hồ kế thừa các tinh hoa tư tưởng ấy và minh họa một trường hợp cụ thể. Trong "Nhật ký hành trình của Hồ Chủ tịch bốn tháng sang Pháp", Người có nói về “tấm gương” của Napoléon “đại tài nhưng tham lam”, từ một anh lính làm đến tổng tư lệnh rồi hoàng đế, vẫn chưa thấy đủ, ông còn muốn làm chúa cả thế giới: “Nếu ông Napoléon mà biết dè dặt, không tham muốn quá chừng, thì chắc nước Pháp lúc đó không đến nỗi vì chiến tranh mà chết người, hại của. Mà ông Napoléon cũng giữ được địa vị thiên tử trong một nước giàu mạnh ở Âu châu. Nhưng ông Napoléon đã làm con giời lại muốn làm cả giời, kết quả bị rơi xuống đất... Xưa nay đã nhiều người vì không “tri túc” (chừng mực) mà thất bại”(3). Là người có tài, lại ở vị trí lãnh đạo cao nhất nhưng “kết quả bị rơi xuống đất”, theo Bác Hồ có 3 lý do là “tham lam”, “không khiêm tốn”, “không biết lượng sức mình”. Vì thế mà ông ta mắc bệnh cuồng vọng “đã làm con giời lại muốn làm cả giời”. Hậu quả do người lãnh đạo gây ra, không chỉ mình người đó mà còn cả cộng đồng phải gánh chịu, có khi rất nặng nề.


Soi vào một vài trường hợp cán bộ lãnh đạo cấp cao vừa rồi bị kỷ luật, không thể so sánh về tài năng, nhưng về nguyên nhân và “kết quả” thì thấy họ cũng gần giống như Napoléon vậy!  


Phật giáo coi tính “tham” là nguyên nhân đầu tiên dẫn con người đến “bể khổ”. Khổng Tử coi sự “tham lợi” chỉ có ở kẻ “tiểu nhân”. Bác Hồ dạy cán bộ phải biết: “Ít lòng tham muốn về vật chất”! Mọi cán bộ đều phải thế, cán bộ lãnh đạo càng phải thế!


Về giải pháp ngăn chặn, căn cứ vào tư tưởng biện chứng của Lenin từ “trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng”, đối chiếu với quan niệm về đặc trưng tâm lý người lãnh đạo mới nhất của thế giới hiện nay, thì lời Bác Hồ dạy vẫn là bài học đúng đắn, thiết thực. Cụ thể nhất là lấy gương người tốt-việc tốt hằng ngày để giáo dục lẫn nhau. Đây là một truyền thống văn hóa phương Đông mà chính Bác Hồ giải thích: “Nói chung thì các dân tộc phương Đông đều giàu tình cảm, và đối với họ, một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Ở phương Tây, một số vị tổng thống khi nhậm chức thường đặt tay lên cuốn Kinh Thánh là một cách “hứa” sẽ làm theo những lời dạy mẫu mực, tức cũng coi đó là tấm gương. Vấn đề ở chỗ “làm gương” như thế nào, bằng cách nào?


Ở ngay lĩnh vực giáo dục cán bộ, đảng viên, Bác Hồ đã là nhà giáo dục lớn với tư tưởng và các biện pháp mang tính hệ thống, toàn diện, phù hợp. Theo Người, lấy những tấm gương “đảng viên đã vì Đảng, vì giai cấp, vì dân tộc mà oanh liệt hy sinh như đồng chí Lê Hồng Phong, Trần Phú, Hoàng Văn Thụ, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Văn Cừ, Lương Khánh Thiện, Minh Khai, cùng trăm nghìn đồng chí khác... Máu xương của các tiên liệt đã thấm nhuần gốc rễ của Đảng ta, làm cho cây nó càng vững, ngành nó càng to, và kết quả khai hoa ngày càng rực rỡ”(4). Hình tượng ẩn dụ “cây” Đảng ta tươi tốt là nhờ “gốc rễ” được “thấm nhuần” máu xương của các bậc tiền bối thật giàu ý nghĩa biểu cảm này được Người nhiều lần nhắc lại. Thế hệ lãnh đạo đầu tiên ấy đã hy sinh trọn vẹn, tuyệt đối cho dân tộc, xứng đáng là tấm gương cho mọi thế hệ kế tục học tập, noi theo.


Bác Hồ từng nhấn mạnh những cán bộ chủ chốt, cấp cao phải tiên phong trong việc nêu gương. Trong "Bài nói chuyện tại phiên họp cuối năm của Hội đồng Chính phủ năm 1963", Người nhắc nhở: “Một điều rất quan trọng nữa là các đồng chí bộ trưởng, thứ trưởng và cán bộ lãnh đạo phải luôn luôn gương mẫu về mọi mặt, phải nêu gương sáng về đạo đức cách mạng: Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, phải giữ gìn tác phong gian khổ phấn đấu, phải không ngừng nâng cao chí khí cách mạng trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Có như thế mới xứng đáng với đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng chống đế quốc Mỹ và tay sai của chúng để giải phóng miền Nam và hòa bình thống nhất nước nhà. Nhân dân ta rất tốt. Nếu chúng ta làm gương mẫu và biết lãnh đạo thì bất cứ công việc gì khó khăn đến đâu cũng nhất định làm được”(5). Không chỉ là lời dạy về nội dung, còn là vấn đề phương pháp luận: Phải lấy tấm gương sáng nhất, cụ thể mà gần gũi để giáo dục. Thời điểm ấy, với các bộ trưởng, thứ trưởng... thì có tấm gương nào “sáng” hơn “đồng bào miền Nam đang chiến đấu vô cùng anh dũng”.


Một số cán bộ lãnh đạo mắc khuyết điểm vừa qua có nguyên nhân là phai mờ lý tưởng cộng sản, nhạt phai tinh thần tự nguyện cống hiến, hy sinh vì cách mạng, vì dân nên sa vào chủ nghĩa cá nhân, đúng như Bác nói, họ “coi Đảng như một cái cầu thang để thăng quan phát tài”(6). Xa dân nên thành “quan cách”, không đoái hoài đến đời sống của dân, không chỉ không “cần kiệm” mà còn xa hoa, lãng phí. Do vậy quy trình bổ nhiệm cán bộ cấp cao cần hết sức chặt chẽ. Nhất thiết cán bộ đó phải kinh qua những cương vị lãnh đạo gần với dân, hiểu dân. Bởi có vậy họ mới thấm thía “một hột gạo, một đồng tiền, tức là một số mồ hôi nước mắt của đồng bào” nên có ý thức chi tiêu, sử dụng bất cứ cái gì cũng phải nghĩ đó là của dân. Chỉ khi nghĩ được như lời Bác dạy “hoang phí là một tội ác” thì mới biết trân trọng, giữ gìn tài sản của dân và danh dự của mình.


Những vụ việc ấy cho thấy bài học là còn nhiều cơ quan, tổ chức đảng coi nhẹ công tác tự phê bình và phê bình. Điều ấy có lý do từ căn tính tiểu nông cả nể đã ngàn xưa, với cán bộ chủ chốt thì sự cả nể càng tăng lên nhiều. Lại thêm tâm lý “chín bỏ làm mười”, “xuê xoa”, “an phận thủ thường”, “đấu tranh là... tránh đâu”... nên lãnh đạo mắc khuyết điểm ngày thêm nặng mà không được góp ý, chỉ ra, ngăn chặn.


Rất nhiều lần Bác Hồ nhắc cán bộ phải “gương mẫu”, “nêu gương”, phải là “đầu tàu”... Không ít lần, Người mượn lời Khổng Tử dạy cán bộ mình có đứng đắn, trong sáng mới tề được gia, trị được quốc, bình được thiên hạ... Những lời dạy ấy không chỉ đúng với đạo lý mà còn là khoa học, biện chứng. Để có uy tín, để là tấm gương sáng, với người lãnh đạo-theo lời Bác dạy là phải “thực hành trước” các nguyên tắc “Cần, kiệm, liêm, chính”, “chí công”, “vô tư” . Một phương pháp sư phạm đã trở thành chân lý: Cách tốt nhất để giáo dục, thuyết phục người khác là giáo dục, thuyết phục bằng chính nhân cách mình!


PGS, TS NGUYỄN THANH TÚ

Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc


Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhât và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đã được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XII, Đại hội XIII. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng một lần nữa đã khẳng định và luận giải rõ hơn từ lịch sử, bối cảnh tình hình và nội dung của quan điểm.

Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng. Bài viết có kết cấu, cách tiếp cận nội dung rất cơ bản, hệ thống và khoa học, nội dung được đề cập tới các lĩnh vực như: Phát triển kinh tế thị trường; xây dựng nền văn hóa; thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa…


Đặc biệt bài viết khẳng định: “Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội”, “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Điều này đã phản ánh đúng lý luận, thực tiễn và cả những vấn đề đặt ra cần phải tiếp tục giải quyết đối với cách mạng Việt Nam.


Nội hàm bài viết đã thể hiện rõ quan điểm: Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.


Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền thống nhât và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc đã được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội XII, Đại hội XIII. Tuy nhiên, trong bài viết của Tổng Bí thư một lần nữa đã khẳng định và luận giải rõ hơn từ lịch sử, bối cảnh tình hình và nội dung của quan điểm.


Thứ nhất, quan điểm kiên quyết, kiên trì trong bài viết là sự tiếp nối truyền thống của cha ông ta.


Thật vậy, bài viết khẳng định, để có được Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa ngày nay, “Nhân dân Việt Nam đã trải qua một quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài, khó khăn, đầy gian khổ hy sinh để chống lại ách đô hộ và sự xâm lược của thực dân, đế quốc để bảo vệ nền độc lập dân tộc và chủ quyền thiêng liêng của đất nước”.


Suốt chiều dài lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, ông cha ta luôn phải chống lại kẻ thù xâm lược mạnh hơn nhiều lần về quân sự, kinh tế. Song với tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường, với cách đánh mưu trí sáng tạo, ông cha ta đã đánh thắng tất cả kẻ thù xâm lược, viết nên những trang sử hào hùng của dân tộc. Lịch sử, truyền thống đánh giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam đã để lại bao chiến công hiển hách. Nếu như thế kỷ XI, dòng sông Như Nguyệt vang lên bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, khẳng định chủ quyền “Sông núi nước Nam vua Nam ở…/Cớ sao lũ giặc sang xâm phạm/Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” thì thế kỷ XIII, vó ngựa giặc nguyên Mông tràn khắp châu Á, châu Âu nhưng ba lần bị quân dân nhà Trần đánh bại. Đến thế kỷ XVIII, Quang Trung đại phá quân Thanh để rồi “sử tri Nam Quốc Anh hùng chi hữu chủ”. Vì vậy, Bác Hồ đã dạy “Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.


Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, tinh thần yêu nước và truyền thống đánh giặc của dân tộc ta lại được phát huy lên một tầm cao mới. Dân tộc ta đã đánh thắng hai kẻ thù xâm lược có tiềm lực kinh tế, quân sự mạnh là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Quân ta có thể ít về số lượng, vũ khí không hơn địch, có thể là một cuộc chiến tương quan chênh lệch lực lượng, ta ít, địch nhiều, nhưng cha ông ta đã đánh bại nhiều kẻ thù xâm lược mạnh hơn gấp nhiều lần. Có được chiến công đó chính là sức mạnh của ý chí kiên quyết, kiên trì đánh giặc ngoại xâm với tinh thần triệt để nhất.


Từ thực tiễn chống giặc ngoại xâm của dân tộc, các thế hệ ông cha đã viết nên truyền thống vẻ vang rất đáng tự hào và những bài học quý báu đối với các thế hệ mai sau. Bước ra từ các cuộc chiến tranh giữ nước, dân tộc Việt Nam luôn khát vọng hòa bình mãnh liệt cho dân tộc mình, nhưng chúng ta cũng kiên quyết, kiên trì tiếp nối truyền thống cha ông để bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Thứ hai, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh “tình hình khu vực và quốc tế diễn biến phức tạp, có nhiều bất lợi cho ta”


Từ sau khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và nhiều nước Đông Âu sụp đổ, cách mạng thế giới lâm vào thoái trào. Thế giới từ lưỡng cực thành đơn cực, rồi nay lại thành đa cực. Các nước thuộc các chế độ chính trị, xã hội khác nhau đều tham gia toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, vừa cạnh tranh, vừa hợp tác dưới nhiều cung bậc khác nhau. Các thế lực thù địch đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá.


Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của chính trị thế giới kéo theo thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân thế giới, nhưng đó là tạm thời chứ không phải tất yếu. Các nước xã hội chủ nghĩa còn lại đã, đang và sẽ giữ vững trận địa. Các đảng cộng sản và phong trào công nhân sẽ khôi phục hoạt động trong điều kiện mới, và xu thế xã hội chủ nghĩa sẽ tiếp tục phát triển dưới hình thức này hay hình thức khác.


Tình hình thế giới diễn biến phức tạp khó lường nhưng Đảng ta đã kiên quyết, kiên trì, kiên định chủ nghĩa Mác- Lênin, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội và đạt được nhiều thành tựu rất đáng tự hào, và “chưa bao giờ đất nước ta có được tiềm lực và cơ đồ như ngày hôm nay”.


Thứ ba, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, trước hết là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh


Đây vừa là bài học vừa là quan điểm được Đảng ta khẳng định từ Đại hội XII, cho đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Bài viết làm rõ thêm về tính chất kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc. Trước hết và quan trọng là “luôn luôn kiên định và vững vàng trên nền tảng tư tưởng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê-nin - học thuyết khoa học và cách mạng của giai cấp công nhân và quần chúng lao động. Tính khoa học và cách mạng triệt để của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh là những giá trị bền vững, đã và đang được những người cách mạng theo đuổi và thực hiện”.


Bài viết còn thể hiện quan điểm kiên quyết, kiên trì còn là sự kiên định và vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ ra cơ sở khoa học của quan điểm về bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa: Với tư cách là người đại diện cho dân tộc, giai cấp công nhân là người đại diện cho Tổ quốc, phải “bảo vệ những thành quả cách mạng đã đạt được, bảo vệ Tổ quốc của mình”. Giai cấp công nhân từng bước giành được những thắng lợi và phải biết bảo vệ, phát huy những thành quả, tiến tới thắng lợi cuối cùng.


“Kiên quyết, kiên trì” thể hiện rõ ý chí quyết tâm chiến lược, sự nhất quán, trước sau như một, trước mắt cũng như lâu dài, khi thuận lợi cũng như lúc khó khăn, là bằng mọi cách phải bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.


Cụm từ “kiên quyết” thể hiện quyết tâm dứt khoát, sự đồng thuận cao hơn trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân về yêu cầu bảo vệ chủ quyền, lợi ích của đất nước; kiên quyết giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc, bảo vệ đến cùng lợi ích quốc gia - dân tộc, với quyết tâm cao nhất. Cụm từ “kiên trì” bao hàm ý nghĩa cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền, lợi ích của đất nước sẽ còn lâu dài, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân không lơi lỏng, không được mất cảnh giác, không nản lòng, phải nuôi dưỡng ý chí quyết tâm thật cao. Phải kiên trì giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, trên mọi lĩnh vực, mọi mặt trận trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc.


Như vậy, “kiên quyết, kiên trì” là thể hiện quyết tâm cao độ, ý chí sắt đá, bản lĩnh trước sau như một của nhân dân ta, vừa thể hiện tính chất lâu dài, phức tạp của cuộc đấu tranh. Đây cũng là đối sách mềm dẻo, linh hoạt, sáng tạo, không chủ quan, manh động trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu bảo vệ Tổ quốc trong bối cảnh lịch sử mới, mà trước hết là bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng.


Thứ tư, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.


Bài viết đã khái quát nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc - một trong những giải pháp có ý nghĩa chiến lược góp phần hiện thực hóa mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay là phải: “Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội”. Cả lý luận và thực tiễn cho thấy, luận điểm của Tổng Bí thư thể hiện một tầm nhìn mới, bản lĩnh mới, sức sáng tạo mới, có tính toàn diện và giá trị chỉ đạo thực tiễn sâu sắc. Luận điểm khẳng định điều kiện tiên quyết để thực hiện thắng lợi mục tiêu đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, được dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc.


Đồng thời, khẳng định tinh thần đoàn kết, trên dưới đồng lòng: “các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước” với tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. Quán triệt sâu sắc và phát triển quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong giai đoạn cách mạng mới, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh mối quan hệ biện chứng, thống nhất, không thể tách rời giữa bảo đảm vững chắc quốc phòng và bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


Thứ năm, kiên quyết, kiên trì bảo vệ Tổ quốc trên cơ sở phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc


Trong xã hội, con người với bản sắc văn hóa giữ vị trí trung tâm. Phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc đổi mới. Phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn, là tiêu chí để phát triển bền vững; xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ làm tế bào lành mạnh, vững chắc của xã hội, thực hiện bình đẳng giới là tiêu chí của tiến bộ, văn minh. Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, dựa trên nền tảng lợi ích chung của toàn xã hội hài hòa với lợi ích chính đáng của con người, khác hẳn về chất so với các xã hội cạnh tranh để chiếm đoạt lợi ích riêng giữa các cá nhân và phe nhóm, do đó cần và có điều kiện để xây dựng sự đồng thuận xã hội thay vì đối lập, đối kháng xã hội. Chúng ta luôn luôn chăm lo thúc đẩy sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc, tôn giáo. Xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng ở Việt Nam…


Trước đây, Hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ nhất, ngày 24-11-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh: “Lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi”. Có nghĩa là, dân tộc Việt Nam muốn giải phóng, xây dựng và phát triển đất nước, nhất định phải phát triển văn hóa. Ngày nay, bài viết tiếp nối và khẳng định, văn hóa là toàn bộ giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo, phát minh ra, theo đó lẽ tất nhiên, văn hóa xuất phát từ con người và phải đem văn hóa để giải phóng con người, trước hết là giải phóng con người thoát khỏi áp bức, bóc lột, bất công và được phát triển toàn diện. Nội dung cốt lõi trong bài viết thể hiện: Văn hóa là nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, mục tiêu của sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Muốn có chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa, phải giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Văn hóa là một mặt trận, mỗi văn nghệ sĩ là một chiến sĩ trên mặt trận ấy. Văn hóa phục vụ quần chúng nhân dân, xây dựng nền văn hóa Việt Nam “dân tộc - khoa học - đại chúng”…


Bài viết của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam có giá trị lý luận, thực tiễn sâu sắc, tiếp tục chỉ đạo nhiệm vụ quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng trong đời sống. Những nội dung cơ bản của bài viết cần tiếp tục được nghiên cứu, luận giải, làm cơ sở cho quá trình quán triệt, tổ chức thực hiện. Đường lối, quan điểm của Đảng chỉ trở thành lực lượng vật chất khi được thâm nhập, quán triệt sâu sắc và tổ chức trong hoạt động thực tiễn ở mỗi tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và Nhân dân.


Chúng ta tin tưởng rằng, với trí tuệ, bản lĩnh chính trị vững vàng, đường lối lãnh đạo công cuộc đổi mới đúng đắn, sáng tạo của Đảng, khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hùng cường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì hạnh phúc của Nhân dân sẽ trở thành hiện thực./.

-------

Thượng tá, ThS Nguyễn Đức Vinh (Khoa Khoa học xã hội và Nhân văn- Trường Quân sự -Quân khu 7)

Can thiệp sai trái là vi phạm các nguyên tắc trong bảo đảm quyền con người

 Ngày 7/9, Cơ quan An ninh điều tra Công an TP Đà Nẵng đã ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và bắt tạm giam Bùi Tuấn Lâm (trú tại phường Thanh Bình, quận Hải Châu) để điều tra, làm rõ hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN  Việt Nam”, quy định tại Điều 117, BLHS.

Cơ hội để tiếp tục đóng góp cho các vấn đề toàn cầu

 

Những đóng góp và thành tựu của Việt Nam sau hơn 4 thập kỷ là thành viên của Liên hợp quốc không chỉ khẳng định vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế, mà còn là cơ sở để chúng ta tiếp tục thúc đẩy hợp tác quốc tế nhằm ứng phó hiệu quả hơn với các thách thức toàn cầu, từ đó góp phần duy trì hòa bình, hợp tác và phát triển trên thế giới.

Hãy để người tài có đất dụng võ

 

Thu hút nhân tài hay cầu hiền tài là chuyện của mọi thời đại, mọi quốc gia. Ở đâu và thời nào người tài được trọng dụng thì ở đó, thời đó cảnh thái bình, thịnh trị in dấu son trong sử sách ngàn năm không cần tô vẽ và cũng chẳng thể mờ phai...Việc cầu hiền tài là mong muốn có thực của những người đứng đầu một quốc gia, đứng đầu một vùng đất, một địa phương. Tuy nhiên, cầu hiền tài khác với cầu trong kinh tế thị trường. Trong kinh tế thị trường, theo quy luật có cầu ắt có cung, thậm chí có cung ngay tức khắc bằng trăm phương ngàn kế, không loại trừ cả mưu hèn, kế bẩn, lừa dối để cung cho kịp! Cầu hiền tài không có cung theo kiểu ấy. Bởi cung theo kiểu ấy thì còn gì là hiền tài?


Xét trong nhiều năm nay, nhiều địa phương có chính sách "chiêu hiền đãi sĩ", thoạt nghe bùi tai bởi các gói quà “dụ” nhân tài không phải nhỏ, xét về phương diện vật chất. Chẳng hạn một căn hộ hạng sang, hay mới đây TP Hồ Chí Minh đặt mức lương chót vót (150 triệu Việt Nam đồng/tháng) để thu hút người tài về làm việc. Nhưng với cách “dụ” nhân tài như thế chắc khó có nhân tài phụng sự hiệu quả như mong muốn. Phần vì người ham tiền của chưa chắc đã phải nhân tài đích thực. Phần khác, vì người nghĩ ra “chiêu dụ” nhân tài chỉ chăm chăm vào việc có được nhân tài mà chưa nghĩ, thậm chí không cần nghĩ dùng nhân tài vào việc gì. Sở hữu được nhân tài như là một thành công, nó làm “đẹp đội hình” mình đang có trong tay. Và kết quả là rất nhiều người không phải là tài đã mất hút theo thời gian, nhưng cũng có đất để “im hơi lặng tiếng” xoay xở, toan tính, chờ thời. Cũng có người chẳng may bị báo chí “bóc mẽ” làm khổ cả mình mà khổ cả người “tưởng là mình tài”! Cũng có những người tài về cái gì đó nhưng cái tài đó không phát huy được rồi đành dứt áo ra đi không kèn không trống.

Vậy chuyện đãi ngộ người hiền tài là thế nào? Có nên làm hay không nên làm? Và làm thì có được hoan nghênh không? Nếu cứ nói khơi khơi như thế thôi thì chẳng biết đường nào mà lần. Nói thu hút nhân tài nhưng hút nhầm nhân không tài thì sao? Hút được tài nhưng không phát huy được, chẳng có công trạng gì thì hoan nghênh cái gì? Thế nên phải xem cho kỹ, nghe cho thấu và làm một cách chân thành, nghiêm cẩn mới có kết quả.

Hãy học tập cách Bác Hồ "chiêu hiền đãi sĩ" làm cách mạng, xây dựng Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Về số lượng, chắc không thể biết hết và cũng không thể liệt kê cho đủ được. Chỉ biết rằng, một loạt các nhân sĩ, trí thức trong nước cũng như ở nước ngoài, Bác đã mời và họ đã nhận lời tham gia cách mạng để đồng cam cộng khổ, để cống hiến, để đóng góp to lớn cho cách mạng, cho dân tộc. Nhiều người đã trưởng thành, nhiều vị đã ghi danh trong sử sách và được đồng chí, đồng bào ngưỡng mộ, kính trọng.

Bác không hứa đãi ngộ gì cho họ cả, chỉ nói rõ cách mạng cần họ, và khi họ về với cách mạng, ai cũng được giao việc với niềm tin và sự trân trọng, mong chờ. Những người Bác mời toàn là những người đã nổi tiếng, đã thành tài và ở những nơi sung sướng hơn nhiều so với chiến khu cách mạng. Thậm chí còn sướng hơn cả khi cách mạng thành công, được thăng cấp, thăng chức, được về sống giữa Thủ đô. Vấn đề lớn ở đây là người tài được trân trọng và giao việc xứng tầm, đúng sở trường, hay nói một cách dễ hình dung là có đất dụng võ. Người thực tài cần đất dụng võ chứ không cần sự đãi đằng quá mức, nhất là khi chưa làm việc gì.

Ngày xưa, những người tài được Bác mời rất nhiều và ai cũng có những cống hiến to lớn cho cách mạng. Hai trong số những người đó phải kể đến là cụ Huỳnh Thúc Kháng và Anh hùng Trần Đại Nghĩa. Một người là chí sĩ yêu nước, chưa hiểu nhiều về Việt Minh. Một người là kỹ sư quân khí đang sống và làm việc ở nước ngoài. Cụ Huỳnh bộc bạch chân thực rằng cụ ít biết về cách mạng nhưng cụ rất tin Hồ Chí Minh, nên khi được mời là nhận lời ngay. Bác Hồ tin tưởng cụ Huỳnh như thế nào nên khi đi Pháp mới giao việc nước cho cụ với dặn dò “dĩ bất biến, ứng vạn biến”! Còn Anh hùng Trần Đại Nghĩa thì đã xây dựng quân khí cách mạng Việt Nam từ những lán trại và công cụ thô sơ trở thành quân khí lớn mạnh, sản xuất được nhiều loại vũ khí khiến kẻ thù khiếp sợ. Bài học ở đây là mời đúng người, giao đúng việc và tuyệt đối tin tưởng...Trở lại với cách thu hút nhân tài bằng căn hộ hay tiền lương cao bất thường. Với người thực tài, điều quan trọng là được giao việc gì; có đúng sở trường của họ hay không? Và họ có thể “trổ tài” được không? Vậy đối với công việc quản lý nhà nước ở cấp thực thi, giả sử một người có tài thực sẽ “trổ tài” như thế nào? Và có thể “trổ tài” được không khi đã nhận một khoản ưu đãi mà vì nó người tài khó có thể hòa đồng cùng những người xung quanh? Quản lý thời nào cũng không thể làm một mình được. Nhất là ngày nay, đất nước đang phát huy dân chủ cao, quản lý nhà nước cần sự phối hợp hài hòa của cả hệ thống chính trị, của các cấp, các ngành, người tài không thể phát huy được nếu bị tách ra bởi những ưu đãi khác thường so với người xung quanh. Người tài thực trong quản lý đã khó, người chỉ tài học đến tiến sĩ mà chưa từng có kinh nghiệm trong cuộc sống, trong quản lý thì còn khó hơn nhiều! Xem vậy, việc cầu người tài cho quản lý nhà nước thật quá khó để thành công. Tốt nhất là hãy chọn đúng người, giao đúng việc vừa hiệu quả mà không “rùm beng” đánh trống to mà hiệu quả thấp.


Khó thế chẳng lẽ thôi không cầu hiền tài sao? Có người cho rằng, hãy để cho các tổ chức kinh tế, nghề nghiệp... nơi có những việc cụ thể cần chuyên gia, cần người tài về việc nào đó có lẽ hợp lý hơn. Cũng có người cho rằng, cần cơ chế bộc lộ nhân tài chứ không phải tuyển chọn, bồi dưỡng nhân tài với lý do mình không tài làm sao chọn được nhân tài, bồi dưỡng lại càng không thể! Cụ thể về bộc lộ nhân tài là người tự nguyện nhận việc khó và cam kết hoàn thành việc đó, và chỉ nhận phần thưởng về tinh thần và vật chất khi hoàn thành nhiệm vụ. Có nghĩa là, người tài đang ẩn khuất đâu đấy trong cộng đồng, khi thấy việc cụ thể dù rất khó nhưng mình có thể làm được thì xung phong làm. Đương nhiên phải trình bày cách thức triển khai việc (trừ bí quyết có thể có) và phải cam kết chịu trách nhiệm, thậm chí đặt cược về vật chất và tinh thần để được giao việc. Trong trận mạc xưa đã có tướng lĩnh xung phong làm tướng tiên phong và sẵn sàng lấy đầu mình để cam kết chiến thắng.

Với cách làm ấy, người ta gợi ý TP Hồ Chí Minh và nhiều thành phố khác có thể đưa ra những điều kiện hỗ trợ pháp lý, tài chính, nhân lực và quyền hạn hợp lý để người tài xung phong chấm dứt tình trạng ngập úng. Đương nhiên, khi giao quyền phải kèm theo cam kết về vật chất và tinh thần của cả đôi bên. Bên xung phong phải cam kết hoàn trả chi phí nếu không thành công, bên giao việc phải cam kết trọng thưởng về tinh thần, vật chất. Người tài ở đây có thể hiểu là một người hoặc một nhóm người.

Mong sao người tài còn ẩn khuất đâu đó hiện diện giúp thành phố mà cũng là giúp dân, giúp nước. Hoàn thành việc này chắc chắn sẽ được nhớ mãi trong công chúng và bền mãi với thời gian còn hơn bia đá, bảng vàng. Và nếu có người tài giúp cho việc này thì các ngành, các cấp của thành phố khỏi phải kêu khó, rồi thanh minh thanh nga những giải pháp cực hay của mình nhưng chưa có kết quả vì rất, rất nhiều những nguyên nhân... khách quan.

Vậy là chuyện thu hút, bồi dưỡng nhân tài có thể chưa có hồi kết. Người viết chỉ mong có tổng kết về việc này rồi hãy phát động tiếp. Tránh “phát” mà không “động”, hoặc có “động” mà lại “động trời” bởi những việc “cười ra nước mắt”!

TS NGUYỄN VIẾT CHỨC