Thứ Tư, 21 tháng 9, 2022

TÍCH CỰC TUYÊN TRUYỀN VIỆT NAM THAM GIA HOẠT ĐỘNG GÌN GIỮ HÒA BÌNH LIÊN HỢP QUỐC

 Trong bối cảnh đất nước đang hội nhập quốc tế sâu rộng, công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại góp phần quảng bá hình ảnh về một Việt Nam ổn định, phát triển, yêu chuộng hòa bình, thân thiện, kiên trì chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế, trong đó có việc tham gia các hoạt động hợp tác ở mức cao hơn, như hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.

Theo Thiếu tướng Lê Xuân Sang, Phó Cục trưởng Cục Tuyên huấn, thành viên Ban Chỉ đạo Bộ Quốc phòng về tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, những năm qua, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, trực tiếp là Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện cho các đơn vị, cơ quan báo chí trong và ngoài Quân đội tiến hành tốt các nội dung thông tin, tuyên truyền đối ngoại quốc phòng. Công tác tuyên truyền đối ngoại quốc phòng và Quân đội tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc được triển khai đồng bộ, thống nhất, góp phần tích cực vào việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng và đường lối đối ngoại của Đảng.

Quán triệt các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về hội nhập quốc tế, đối ngoại quốc phòng và Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam đã tham mưu với Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng ban hành Đề án “Tuyên truyền về Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc đến năm 2020 và những năm tiếp theo” kèm theo Quyết định số 2285/QĐ-BQP ngày 17/6/2017 của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng; đồng thời ban hành Hướng dẫn công tác đảng, công tác chính trị trong thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.

Bên cạnh đó, Cục Tuyên huấn (Tổng cục Chính trị) chủ trì, phối hợp với các cơ quan chức năng biên soạn 5 chuyên đề về Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc; về quan điểm, chủ trương, nguyên tắc của Đảng và Nhà nước về tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, bồi dưỡng cho báo cáo viên toàn quân; biên soạn 8 chuyên đề giáo dục chính trị cho lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.

Đồng thời, Bộ Quốc phòng thường xuyên chỉ đạo, tạo điều kiện cho các đơn vị, cơ quan báo chí trong và ngoài Quân đội tuyên truyền cho cán bộ, chiến sỹ và nhân dân nhận thức đầy đủ về xu thế hội nhập quốc tế, về việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Qua đó, nâng cao vai trò, vị thế, hình ảnh thân thiện của Việt Nam với cộng đồng quốc tế, góp phần khẳng định chủ trương, cam kết và những đóng góp của Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế, là thành viên tích cực và có trách nhiệm đối với các vấn đề quốc tế và khu vực.

Các đơn vị của Bộ Quốc phòng đã phối hợp với các cơ quan chức năng của Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Ngoại giao, hướng dẫn và tạo điều kiện cho hơn 10.000 lượt phóng viên cơ quan thông tấn, báo chí trong nước và cơ quan báo chí nước ngoài thường trú tại Việt Nam đến các cơ quan, đơn vị quân đội tuyên truyền về hoạt động đối ngoại quốc phòng và Quân đội tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc.

Từ năm 2014 đến nay, đã có trên 21.000 tin, bài, phóng sự, ảnh... đăng trên các báo in, báo điện tử, phát sóng trên các kênh, sóng truyền hình trong nước tuyên truyền các hoạt động tham gia gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc. Trong đó, 12 tác phẩm báo chí tham dự Giải báo chí toàn quốc về thông tin đối ngoại lần thứ VI năm 2020, lần thứ VII năm 2021 và Giải báo chí quốc gia lần thứ XVI năm 2021 đoạt giải cao.

Thông qua công tác tuyên truyền Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc trên các phương tiện truyền thông, cán bộ, chiến sỹ, quần chúng nhân dân và bạn bè quốc tế nắm bắt, theo dõi kịp thời sự tham gia và đóng góp của Việt Nam tại các phái bộ. Hình ảnh chiến sỹ mũ nồi xanh Việt Nam hướng dẫn cho người dân bản địa tự trồng rau xanh, nấu các món ăn Việt Nam, hỗ trợ giúp đỡ phụ nữ các kỹ năng chăm sóc gia đình; mở các lớp dạy học cho trẻ em; phối hợp tổ chức các hoạt động thiện nguyện, văn hóa, văn nghệ; may khẩu trang tặng lực lượng tham gia gìn giữ hòa bình tại Phái bộ Cộng hòa Trung Phi và người dân trong phòng, chống dịch COVID-19... được lan tỏa rộng rãi.

Cử các lực lượng tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là một nhiệm vụ quan trọng nhằm thực hiện các cam kết, trách nhiệm của Việt Nam với cộng đồng quốc tế về bảo vệ hòa bình trên thế giới. Do đó, tăng cường công tác tuyên truyền về việc Việt Nam tham gia hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc là hết sức cần thiết, qua đó  giới thiệu đến bạn bè quốc tế về đất nước, con người Việt Nam có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, đóng góp hiệu quả, thiết thực vào việc duy trì, bảo vệ hòa bình, ổn định an ninh khu vực và thế giới.


LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 22 THÁNG 9 NĂM 1962!

         “Thanh niên phải luôn luôn rèn luyện đạo đức cách mạng ”!
Đây là lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đến thăm và phát biểu tại “Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam toàn miền Bắc” ngày 22 tháng 9 năm 1962.
     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc giáo dục đạo đức cho đoàn viên, thanh niên, thấy rõ vị trí, vai trò "Là người tiếp sức cho thế hệ thanh niên già, đồng thời là người phụ trách dìu dắt thế hệ thanh niên tương lai". Do vậy, Người đặc biệt quan tâm tổ chức, bồi dưỡng đoàn viên, thanh niên thành đội xung kích cách mạng, lực lượng hậu bị của Đảng nhằm kế tục trung thành và xuất sắc sự nghiệp của giai cấp và dân tộc. Người yêu cầu mỗi đoàn viên, thanh niên phải tự giác rèn luyện, không ngừng học tập, gương mẫu xung phong trong mọi công việc. Đi đôi với việc giáo dục trí lực, nâng cao trình độ chuyên môn, nắm vững khoa học kỹ thuật, mỗi đoàn viên, thanh niên phải thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng để trở thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội “vừa hồng, vừa chuyên”.
     Đảng và Nhà nước ta luôn đề cao vai trò của đoàn viên, thanh niên. Coi đây là lực lượng xung kích, là đội dự bị tin cậy của Đảng và coi công tác thanh niên là vấn đề được đặc biệt quan tâm chỉ đạo. Do vậy, phải chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hoá, sức khoẻ, nghề nghiệp, giải quyết việc làm, phát triển tài năng - sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích…của đoàn viên, thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
     Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Bác Hồ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, với tinh thần "Không có việc gì khó, chỉ sợ lòng không bền, đào núi và lấp biển, quyết chí ắt làm nên", thanh niên Việt Nam đã phát huy truyền thống, hăng hái, sôi nổi hưởng ứng các cuộc vận động, các phong trào thi đua, cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
     Thanh niên Quân đội là bộ phận ưu tú của thanh niên Việt Nam, lực lượng đông đảo, trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Quân đội, thấu triệt lời Bác dạy, tích cực hưởng ứng thực hiện các phong trào do Trung ương Đoàn phát động, gắn với cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” và phong trào thi đua Quyết thắng. Các phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ toàn quân, nòng cốt là hai phong trào lớn: “Thanh niên Quân đội vươn tới những đỉnh cao”, “Thanh niên Quân đội tiến quân vào khoa học và công nghệ”… đã xuất hiện nhiều mô hình hay tấm gương điển hình tiêu biểu. Qua đó, phát huy hiệu quả vai trò xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ trong thi đua rèn đức, luyện tài, xung kích thực hiện việc khó, việc mới, việc quan trọng, xác lập những đỉnh cao, kỷ lục mới trên từng lĩnh vực hoạt động xứng đáng với danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ”./.
Môi trường ST.

LỜI BÁC HỒ DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 21 THÁNG 9 NĂM 1954!

         Mỗi người sẽ tùy theo sức mình tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà”!
     Là lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong “Thư gửi bộ đội, cán bộ và gia đình cán bộ miền Nam ra Bắc”, Báo Nhân dân đăng số 229, từ ngày 21 đến ngày 22 tháng 9 năm 1954.
     Sau những chiến thắng của quân và dân ta trên các mặt trận quân sự, ngoại giao, Hiệp định Giơnevơ về lập lại hòa bình ở Đông Dương đã được ký kết. Đây là một thắng lợi to lớn, có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với cách mạng nước ta. Với tầm nhìn xa, trông rộng, thấy trước âm mưu của địch phá hoại Hiệp định Giơnevơ, đàn áp, trả thù những người kháng chiến, Đảng, Nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ đạo khẩn trương bố trí một bộ phận cán bộ, đảng viên ở lại miền Nam để lãnh đạo cuộc chiến đấu và chuyển hàng vạn đồng bào và con em các gia đình cách mạng đi cùng với bộ đội và cán bộ tập kết ra Bắc để đào tạo đội ngũ cán bộ vừa góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa chuẩn bị lực lượng cho cuộc đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Để kịp thời động viên bộ đội, cán bộ và các gia đình từ miền Nam ruột thịt tập kết ra Bắc trong những ngày đầu còn nhiều bỡ ngỡ, Bác Hồ đã gửi thư thăm hỏi, động viên và căn dặn.
     Học tập và làm theo lời Bác dạy, những cán bộ, chiến sĩ, học sinh, các gia đình miền Nam tập kết ra Bắc đã nỗ lực vượt mọi khó khăn, sớm ổn định cuộc sống và có nhiều đóng góp cho công cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong đó, nhiều người đã trở thành cán bộ, lãnh đạo các cấp; các tướng lĩnh, sĩ quan cao cấp, các nhà khoa học đầu ngành ở nhiều lĩnh vực, các văn nghệ sĩ, nhạc sĩ, họa sĩ, nhà báo nổi tiếng, nhiều doanh nhân tài ba, nhiều người đã trở thành Anh hùng lực lượng vũ trang, Anh hùng lao động… góp phần làm rạng danh quê hương, đất nước.
     Quân đội nhân dân Việt Nam được Đảng, Bác Hồ trực tiếp tổ chức, giáo dục và rèn luyện, được nhân dân tin yêu, đùm bọc và nuôi dưỡng, thấu triệt lời Bác dạy, Quân đội ta không ngừng phát huy bản chất cách mạng tốt đẹp, xây đắp nên truyền thống vẻ vang “Trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”. Truyền thống tốt đẹp của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng đã kết tinh thành giá trị và biểu tượng “Bộ đội Cụ Hồ”.
     Không chỉ trong chiến đấu, trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới, cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn thi đua huấn luyện giỏi, sẵn sàng chiến đấu cao, kỷ luật nghiêm, đoàn kết, hiệp đồng, quyết tâm hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Đồng thời, làm tốt công tác dân vận, tích cực tham gia xóa đói, giảm nghèo, chung sức xây dựng nông thôn mới, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, đóng góp to lớn cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cán bộ, chiến sĩ Quân đội luôn xung kích ở những nơi xảy ra thiên tai, bão lũ…, giúp đỡ, cứu chữa nhân dân vượt qua khó khăn, hoạn nạn…; nhiều cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu hi sinh vì sự bình yên của đất nước, vì cuộc sống của nhân dân, xứng đáng với sự tin yêu của Đảng, Bác, Nhà nước và nhân dân./.
Môi trường ST.

NHẬN DIỆN ĐÚNG NHỮNG QUAN ĐIỂM SAI TRÁI CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ ĐẢNG, NHÀ NƯỚC TA!

     Thời gian gần đây, các thế lực thù địch đã và đang tăng cường chống phá cách mạng nước ta bằng nhiều thủ đoạn tinh vi, trá hình. Cùng với các hoạt động tuyên truyền xuyên tạc chống phá nội bộ Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
     Mỗi chúng ta đều hiểu rằng, chiêu bài “chuyển hóa” chính sách pháp luật Việt Nam chỉ là một trong những âm mưu, thủ đoạn diễn biến hòa bình mà các thế lực thù địch đã và đang áp dụng nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tiến tới thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.
      Đất nước đã trải qua hai cuộc chiến tranh đầy gian khổ và khó khăn, tự giải phóng mình nên càng thấu hiểu thế nào là tự do độc lập, thế nào là toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ. Vì thế, đương nhiên, nhân dân ta sẽ biết nhìn nhận ai là bạn, ai là thù.
     Vì thế đấu tranh với các quan điểm sai trái, bảo vệ đường lối của Đảng, chủ trương chính sách pháp luật của nhà nước chúng ta phải nhìn nhận một cách toàn  diện, khách quan cụ thể với những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch nhằm kích động quần chúng nhân dân, không tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng ta và pháp luật của nhà nước; những nội dung nào thực hiện chưa tốt cần phải chấn chỉnh, thực hiện tốt hơn để giải tỏa bức xúc của nhân dân và cán bộ, những nội dung nào có vấn đề hoặc chưa rõ cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu để làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, qua đó hoàn thiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước./.


Môi trường ST.

109 năm ngày mất đại thần Tôn Thất Thuyết, linh hồn phong trào Cần Vương

Ton That Thuyet.jpg

 Tôn Thất Thuyết là một trong những quan nhà Nguyễn chống thực dân Pháp tiêu biểu nhất, là người cùng vua Hàm Nghi phát động phong trào Cần Vương.

Cuộc đời gắn liền với binh nghiệp

Tôn Thất Thuyết sinh ngày 29 tháng 3 năm Kỷ Hợi (12/5/1839) tại làng Phú Mộng, bên bờ sông Bạch Yến, kinh thành Huế nay là thôn Phú Mộng, phường Kim Long, TP Huế. Ông là con thứ hai của Đề đốc Tôn Thất Đính và bà Văn Thị Thu và là cháu 5 đời của Hiền vương Nguyễn Phúc Tần (1620 - 1687).

Cuộc đời Tôn Thất Thuyết gắn liền với binh nghiệp. Năm 1869, ông giữ chức Án sát tỉnh Hải Dương. Tháng 7/1870 được sang làm biện lý Bộ Hộ và sau đó giữ chức Tán tương giúp Tổng thống quân vụ đại thần Hoàng Tá Viêm "dẹp loạn" ở các tỉnh phía Bắc. Sau chiến dịch này, Tôn Thất Thuyết được phong chức "Quang lộc tự khanh" và làm Tán lý quân thứ Thái Nguyên. Tháng 12/1870, ông chỉ huy đánh dẹp nhóm Đặng Chí Hùng ở Thái Nguyên, đánh tan quân Tàu Ô ở Hải Dương (1872); đánh thắng toán giặc khách ở Quảng Yên tháng 8/1872; tháng 12/1873 ông cùng Hoàng Tá Viêm phục binh tại Cầu Giấy (Hà Nội) giết chết viên chỉ huy quân sự trong đợt thực dân Pháp tiến đánh miền Bắc lần thứ nhất là đại úy Francis Garnier.

Với những chiến công này, Tôn Thất Thuyết được vua Tự Đức cho thăng tiến nhanh. Tháng 4/1874, ông giữ chức Tuần vũ tỉnh Sơn Tây kiêm Tham tán đại thần; Hiệp đốc quân vụ Đại thần; Thượng thư Bộ Binh. Năm 1883, Tôn Thất Thuyết được cử vào Cơ mật viện. Ngày 19/7/1883, trước khi băng hà, vua Tự Đức chọn Tôn Thất Thuyết làm Đệ tam phụ chính đại thần cùng với Nguyễn Văn Tường và Trần Tiễn Thành để giúp Dục Đức kế vị ngôi vua.

Với chức Phụ chính đại thần, Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường đã nhiều lần làm việc phế lập. Phế Dục Đức, đưa Hiệp Hòa, Kiến Phúc và Hàm Nghi lên ngôi chỉ trong một thời gian ngắn nhằm tìm ra những thủ lĩnh tinh thần cùng chí hướng kháng thực dân Pháp. Tôn Thất Thuyết trở thành đối tượng cần thanh toán số một của người Pháp. Trong tình thế luôn bị thực dân Pháp loại bỏ, Tôn Thất Thuyết đã chủ động ra tay trước bằng cuộc tấn công quân Pháp tại Huế đêm ngày 4/7/1885, khi quan Pháp đang chiêu đãi Tòa khâm sứ Pháp, tuy nhiên cuộc đánh úp đã bị thất bại. Sau đó, ông đưa Vua Hàm Nghi ra thành Tân Sở ở Quảng Trị, giúp Vua ban dụ Cần Vương. Lời dụ nhấn mạnh "người giàu đóng góp tiền của, người mạnh khoẻ đóng góp sức lực, người can đảm đóng góp cánh tay, để lấy lại đất nước trong tay quân xâm lược".


Mọi hoạt động chấm dứt vì bị quản thúc

Em trai ông là Tôn Thất Lệ và hai người con trai của ông là Tôn Thất Đàm và Tôn Thất Thiệp cũng theo phò Vua Hàm Nghi và trở thành những nhân vật lịch sử hàng đầu trong phong trào Cần Vương. Tháng 2/1886, Tôn Thất Thuyết giao cho hai con mình là Tôn Thất Đàm, Tôn Thất Tiệp trực tiếp bảo vệ và giúp Hàm Nghi trong mọi việc. Còn ông tìm đường sang cầu viện nhà Thanh. Nhưng cuộc cầu viện không thành, ông đành tìm các người bạn lưu vong cố gắng liên hệ với phong trào trong nước tiếp tục đánh thực dân Pháp... Đến năm 1888, được tin thuộc hạ của ông là Trương Quang Ngọc làm phản bắt vua Hàm Nghi giao nộp cho thực dân Pháp, hai con ông là Tôn Thất Đàm và Tôn Thất Tiệp tuẫn tiết, ông vô cùng phẫn nộ và thương tiếc.

Năm 1889, Tôn Thất Thuyết cử người về Hà Tĩnh và phong cho Phan Đình Phùng làm Bình Trung tướng quân lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hương Khê. Nghĩa quân Phan Đình Phùng đã đánh một trận lớn ở Vụ Quang và giành được thắng lợi lớn. Đây là đỉnh cao nhất trong phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp cuối thế kỷ XIX.

Năm 1895, chiến tranh Trung - Nhật nổ ra, biên giới Việt Trung bị kiểm soát, người Pháp yêu cầu nhà Mãn Thanh quản thúc Tôn Thất Thuyết và theo dõi Lưu Vĩnh Phúc nên mọi hoạt động của ông chấm dứt. Tôn Thất Thuyết bị quản thúc, không được đi lại bất cứ đâu. Tương truyền trong những năm cuối đời, ông như điên dại, thường múa gươm chém đá. Ông mất tại Trung Quốc ngày 22/9/1913.




Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ đạo "nóng" điều hành kinh tế trong bối cảnh mới

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính chỉ đạo "nóng" điều hành kinh tế trong bối cảnh mới

 
 Sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất, sáng 22/9, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã chỉ đạo "nóng" các nhiệm vụ, giải pháp để ứng phó với tình hình.

Sáng 22/9, tại phiên họp Chính phủ chuyên đề về xây dựng pháp luật tháng 9 năm 2022, sau khi nghe báo cáo tình hình kinh tế thế giới, một số nước tăng lãi suất, tăng giá trị đồng tiền, nhất là sau khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã chỉ đạo "nóng" các nhiệm vụ, giải pháp để ứng phó với tình hình.

 

Thủ tướng Phạm Minh Chính cho biết, do dịch COVID-19, các nước nới lỏng chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa nên lạm phát tăng cao. Do đó, các nước phải sử dụng công cụ lãi suất để hút tiền về, kéo theo hệ lụy là tăng giá trị đồng tiền của các nước, làm giảm giá trị đồng tiền của các nước khác.
Đối với Việt Nam, nền kinh tế Việt Nam có độ mở lớn, quy mô nền kinh tế nhỏ, sức chống chịu của nền kinh tế không lớn, một biến động nhỏ trên thế giới cũng tác động tình hình trong nước; trong khi đó, thị trường lớn của Việt Nam như Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc… đều có xu hướng bị thu hẹp lại do khó khăn của nền kinh tế.

Tình hình thế giới như trên đã ảnh hưởng tiêu cực tới tỷ giá, lãi suất, tăng trưởng tín dụng, giá trị đồng tiền, tác động quỹ điều hoà ngoại hối của Việt Nam.
Trước tình hình đó, Thủ tướng chỉ đạo, chúng ta không được hoang mang, dao động; không lơ là, chủ quan mất cảnh giác; chủ động nắm bắt tình hình, bình tĩnh, tự tin, linh hoạt, sáng tạo trong chỉ đạo, điều hành kinh tế. Theo đó, tiếp tục mục tiêu giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế.

Thủ tướng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện thật tốt Chỉ thị 15/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 15/9. Trong đó có các đánh giá, nhận định, dự báo tình hình; các quan điểm, mục tiêu chỉ đạo; các nhiệm vụ, giải pháp trước mắt và lâu dài, phân công cụ thể cho từng bộ, ngành, từng cấp thực hiện.
Thủ tướng lưu ý các quan điểm phải bảo đảm ổn định trong điều kiện bất định; giữ thế chủ động trước diễn biến phức tạp, khó lường, bất ngờ của thế giới; kiên định, nhất quán, phù hợp, hiệu quả trước sự tác động nhiều chiều từ thế giới, trong nước; kiểm soát rủi ro, kịp thời ứng phó nguy cơ suy thoái và khủng hoảng; tạo dựng phòng tuyến hợp tác cạnh tranh kinh tế quốc tế trong điều kiện hội nhập hiện nay.
Về định hướng chính sách, Thủ tướng nhấn mạnh phải thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, chắc chắn, bảo đảm tính chủ động, linh hoạt, hiệu quả.

Ngân hàng Nhà nước phải điều hành chủ động, linh hoạt phù hợp công cụ tỷ giá, lãi suất, tăng trưởng tín dụng, lựa chọn thứ tự ưu tiên, trước mắt nghiên cứu hướng tăng lãi suất huy động; ổn định hoặc giảm lãi suất cho vay; đẩy mạnh triển khai gói hỗ trợ lãi suất 2% cho doanh nghiệp; đẩy mạnh công tác truyền thông, tránh kỳ vọng tiêu cực.Thủ tướng yêu cầu thực hiện chính sách tài khoá phải mở rộng, hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm, bảo đảm hiệu quả. Bộ Tài chính tiếp tục chỉ đạo rà soát giảm thuế, phí, lệ phí, có chính sách hỗ trợ phù hợp cho người dân, doanh nghiệp tiếp tục mở rộng sản xuất, kinh doanh, tạo công ăn việc làm; tăng thu, giảm chi, tiết kiệm tối đa chi thường xuyên.


Người đứng đầu Chính phủ nhấn mạnh, hai chính sách này (tiền tệ và tài khóa) phải phối hợp hài hoà, nhịp nhàng, chặt chẽ, hiệu quả cùng các chính sách để giữ được ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, bảo đảm các cân đối lớn.
Thủ tướng đề nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư theo dõi sát tình hình, kịp thời phản ứng chính sách; đôn đốc đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công của 3 Chương trình mục tiêu, chương trình đầu tư công quốc gia, chương trình phục hồi và phát triển kinh tế; thúc đẩy đầu tư tư.
Bên cạnh đó, phải bảo đảm an ninh, an toàn về tiền tệ, tín dụng, tài chính, nợ công, lương thực, năng lượng và thông tin; làm tốt công tác quy hoạch; rà soát hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách pháp luật để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; xử lý kịp thời phát sinh, giải quyết những vấn đề tồn đọng hiệu quả; tiếp tục đẩy mạnh phát triển công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ tạo nền tảng vật chất ổn định xã hội, phát triển trước mắt và lâu dài.
Thủ tướng giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì bảo đảm tuyệt đối an ninh lương thực, thực phẩm; đẩy mạnh cơ cấu lại phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng kinh tế nông nghiệp hiệu quả, bền vững; thúc đẩy xuất khẩu nông sản; khẳng định chuỗi giá trị toàn cầu của lương thực, trái cây, thuỷ sản; phải "làm đủ ăn và xuất khẩu".
Bộ Công Thương chủ trì thúc đẩy mạnh mẽ thị trường trong nước, mở rộng quốc tế, thúc đẩy cả cung và cầu; đẩy mạnh cơ cấu lại lĩnh vực thương mại, dịch vụ, bảo đảm tuyệt đối an ninh năng lượng, không được để thiếu xăng, dầu, điều hành theo cơ chế kinh tế thị trường có điều tiết của Nhà nước khi cần thiết; bảo đảm "xuất đủ nhập, có thặng dư".
Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội phải chủ trì phát triển thị trường lao động bền vững, an toàn, hiệu quả; bảo đảm đủ lao động, không để thiếu lao động, làm gián đoạn sản xuất, kinh doanh; thúc đẩy mạnh mẽ đào tạo lao động có trình độ tay nghề cao đón xu thế chuyển dịch về đầu tư; làm tốt công tác an sinh xã hội, chú trọng quan tâm người yếu thế, người dân vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn.
Các cơ quan truyền thông, báo chí phải nắm chắc tình hình, phản ánh đúng, trúng, khách quan, chân thực, chính xác tình hình, tạo sự đoàn kết thống nhất trong cả hệ thống chính trị, sự đồng thuận tin tưởng, ủng hộ của nhân dân vào các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, sự điều hành chính sách của Chính phủ, các bộ, ngành; trên tinh thần chia sẻ, cùng vượt qua khó khăn.
Các bộ, ngành, địa phương nắm chắc tình hình, căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chủ động xử lý theo thẩm quyền; nếu vượt thẩm quyền phải báo cáo cấp trên có thẩm quyền; tiếp tục chú trọng phát triển văn hoá, xã hội, môi trường, bảo đảm an sinh xã hội; đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội; đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chống biến đổi khí hậu.
"Đây chính là những yếu tố có tính chất nền tảng để chúng ta bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng, đảm bảo các cân đối lớn; các bộ, ngành, địa phương phải bám sát, thực hiện", Thủ tướng nhắc nhở.

Xác định rõ các tiêu chí, quy định chặt để tránh lạm dụng, thu hồi đất tràn lan

 

Xác định rõ các tiêu chí, quy định chặt để tránh lạm dụng, thu hồi đất tràn lan

Cơ quan thẩm tra Luật Đất đai (sửa đổi) đề nghị xác định rõ các tiêu chí, điều kiện thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng để tránh lạm dụng, thu hồi đất tràn lan.

Sáng 22/9, Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến về dự án Luật Đất đai (sửa đổi). Một trong những điểm mới của dự thảo luật là quy định cụ thể trường hợp thu hồi đất theo tính chất phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng và bổ sung trường hợp thu hồi đất đối với các dự án được trên 80% người có đất thu hồi đồng ý. Theo tờ trình của Chính phủ, đây là một trong những vấn đề lớn còn có những ý kiến khác nhau.

Dự thảo Luật Đất đai (sửa đổi) gồm 16 chương, 240 điều. Trong đó giữ nguyên 48 điều; sửa đổi, bổ sung 156 điều; bổ sung mới 36 điều và bãi bỏ 8 điều.

Loại ý kiến thứ nhất, đa số đồng ý với dự thảo, vì theo Nghị quyết 18 của Trung ương, Nhà nước chủ yếu thực hiện việc giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá, đấu thầu dự án có sử dụng đất. Do đó, cần phải quy định cụ thể các trường hợp thu hồi đất để thực hiện đấu giá, đấu thầu nhằm hạn chế tiếp cận đất đai không thông qua đấu giá, đấu thầu.

Ngược lại, có ý kiến đề nghị cân nhắc, đánh giá kỹ lưỡng để đảm bảo quyền lợi của người sử dụng đất khi thực hiện thu hồi đất để xây dựng dự án đô thị, nhà ở thương mại. Qua đó, nên cho phép chủ đầu tư được thỏa thuận với người sử dụng đất trong việc nhận chuyển nhượng, chuyển mục đích sử dụng đất để thực hiện dự án; hạn chế thực hiện việc thu hồi đất để tránh khiếu kiện về đất đai.

Đại diện cơ quan thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Vũ Hồng Thanh cho biết, thường trực ủy ban này lưu ý quy định Nhà nước thu hồi đất với “dự án khu đô thị, khu nhà ở thương mại” sẽ tác động rất lớn đến quyền của người sử dụng đất. Thường trực Ủy ban Kinh tế cho rằng việc đưa dự án khu đô thị, khu nhà ở thương mại thuộc dự án thu hồi để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng là không phù hợp.

Bên cạnh đó, ủy ban thẩm tra cũng đề nghị xác định rõ các tiêu chí, điều kiện thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng để tránh lạm dụng, thu hồi đất tràn lan, không đúng bản chất, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người có đất thu hồi.

Qua đó, cần làm rõ nội hàm của các trường hợp “thu hồi đất để sử dụng vào mục đích công cộng”. Đặc biệt, cân nhắc trường hợp “các dự án khác được trên 80% người dân có đất thu hồi đồng ý”.

Bổ sung quy định cụ thể

Nêu ý kiến tại phiên thảo luận, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga đề nghị bổ sung quy định về nguyên tắc, điều kiện, tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể việc Nhà nước thu hồi đất để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, tránh việc lạm dụng trong thực tiễn. “Trường hợp thu hồi đất để thực hiện dự án khu đô thị, nhà ở thương mại thì cần áp dụng cơ chế tự thỏa thuận giữa người dân và doanh nghiệp, không đưa vào diện Nhà nước thu hồi đất”, bà Nga nêu.

Về nội dung này, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ nêu, khi còn 20% chưa đồng ý thì áp dụng cơ chế hành chính để thu hồi đất, như vậy là không được. Chủ tịch Quốc hội lưu ý, dân sự là dân sự, hành chính là hành chính, quy định như vậy là chung chung, không đúng tinh thần Hiến pháp và chủ trương của Trung ương.

Về giá đất và cơ chế tài chính về đất đai, Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh đây là việc khó nhất nên cần quy định trong luật làm sao để vận hành được. Khi đã quy định khung giá đất, cần làm rõ vai trò của HĐND địa phương, của các cơ quan tham mưu…

 

Nhà văn Đặng Thai Mai – Bố vợ của ba vị tướng

 

Giáo sư, Nhà nghiên cứu, Nhà văn Đặng Thai Mai (1902 - 1984), chẳng những là một học giả uyên thâm, một trí thức yêu nước, một nhà giáo mẫu mực mà còn là người cha của 6 giáo sư và phó giáo sư, bố vợ của ba vị Tướng lừng danh, là ông ngoại và ông nội của hàng chục tiến sĩ và cử nhân...


bo-vo-1643041527.jpg
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (thứ ba, từ phải sang) và Trung tướng Phạm Hồng Cư (thứ hai, từ phải sang).

 

Đặng Thai Mai là hội viên sáng lập của Hội Nhà văn Việt Nam (1957). Ông đã vinh dự được nhận Huân chương Hồ Chí Minh (1982); Giải A giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1986 (cuốn Hồi ký); Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học - Nghệ thuật (đợt I, 1996).

MỘT GIA ĐÌNH TRÍ THỨC MẪU MỰC

Quê ở làng Lương Điền (nay là Thanh Xuân) huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, Đặng Thai Mai sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học và yêu nước: ông nội là Đặng Thai Mai đỗ cử nhân khai khoa, thường được dân trong vùng gọi kính cẩn là Cụ Huyện. Cụ đã khảng khái từ quan, về nhà dạy học và tìm cách “đánh Tây”. Thân sinh là cụ Đặng Nguyên Cẩn, đỗ Phó bảng, làm Đốc học, tham gia Duy Tân hội của Phan Bội Châu, bạn thân của các bậc chí sĩ như Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng... Chú ruột là Đặng Thúc Hứa, đỗ tú tài đầu xứ, là người giao thiệp rộng, quen biết nhiều, từng giúp cụ Phan Bội Châu tổ chức phong trào Đông Du; cô ruột là Đặng Quỳnh Anh, lão thành cách mạng, từng hoạt động lâu năm tại Thái Lan...

Bởi cả gia đình đều tham gia kháng Pháp nên không tránh khỏi bị giặc trả thù, khủng bố; lên bảy tuổi, Đặng Thai Mai đã phải sống với bà nội, vì cha bị Pháp bắt đi đày. Lớn lên, chàng thanh niên Đặng Thai Mai đã hăng hái hoạt động xã hội từ rất sớm: Năm 1928, sau khi tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương, tham gia phong trào đòi “ân xá” cho Phan Bội Châu, truy điệu Phan Chu Trinh, gia nhập đảng Tân Việt... Đặng Thai Mai làm giáo sư cho Trường Quốc học Huế. Khi đảng Tân Việt bị tan vỡ, ông bị Pháp kết án một năm án treo, rồi vì tham gia phong trào Cứu tế đỏ mà bị tù ở Huế.

gs-dang-thai-mai-1643041575.jpg
Giáo sư, Nhà nghiên cứu, Nhà văn Đặng Thai Mai

Là người theo chủ nghĩa dân tộc, yêu nước và nhân văn, nhưng Đặng Thai Mai đã chuyển sang chủ nghĩa cộng sản rất tự nhiên như bao anh em, bạn bè cùng thời. Ông từng tham gia phong trào mặt trận bình dân, biên tập các báo tiếng Pháp của Đảng Cộng sản Đông Dương và là một rong những người sáng lập Hội Truyền bá Quốc ngữ... Thậm chí năm 1939 Đặng Thai Mai còn được Đảng Cộng sản Đông Dương giới thiệu ứng cử vào Viện Dân biểu Trung kỳ.

Tuy nhiên, nhiều thế hệ học trò lại nhớ đến Đặng Thai Mai trong tư cách một giáo sư văn học, một nhà nghiên cứu xuất sắc của Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, không phải vì ông từng đảm nhiệm những trọng trách như Hội trưởng Hội Văn hóa Việt Nam, Giám đốc trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Giám đốc Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội hay vì nhiều năm là Viện trưởng Viện Văn học, Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học - Nghệ thuật Việt Nam... mà là vì chính vốn kiến thức uyên bác của ông.

Đặng Thai Mai đến với văn học rất muộn. Tuy được học chữ Hán, chữ Quốc ngữ, chữ Tây từ bé, lại ham đọc và nhớ rất nhiều thứ sách đông tây, kim cổ... nhưng khởi đầu Đặng Thai Mai không có ý định viết văn. Ông chỉ thực sự cầm bút vì sự đòi hỏi bức xúc của xã hội và yêu cầu của công việc tuyên truyền cho Cách mạng. Trong cuộc đời cầm bút, Đặng Thai Mai đã cho xuất bản tới mười bốn cuốn sách. Hầu hết chúng đều thuộc dạng tác phẩm nghiên cứu và “phổ biến tri thức”: Văn học khái luận, Triết học phổ thông, Tạp văn trong văn học Trung Quốc ngày nay, Giảng văn Chinh phụ ngâm, Chủ nghĩa nhân văn dưới thời kỳ văn hóa Phục hưng, Lịch sử triết học phương Tây, Lịch sử văn học Trung Quốc, Văn thơ Phan Bội Châu và Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ Hai mươi... Đặc biệt là tác phẩm Trên đường học tập và nghiên cứu từng một thời được coi như loại sách “gối đầu giường” cho các văn nghệ sĩ sáng tác. Đặng Thai Mai cũng là một trong những nhà văn Việt Nam đầu tiên say mê dịch Lịch sử Triết học phương Tây, dịch Lỗ Tấn và Tào Ngu...

Về đời tư, Đặng Thai Mai lập gia đình năm 1926, vợ ông, bà Hồ Thị Toan là con gái cụ Hồ Phi Thống (một nhân sĩ yêu nước, tác giả của cuốn sách “Nhân đạo quyền hành”, rất nổi tiếng trước năm 1945). Ông bà sinh hạ được 6 người con, trong đó có 5 gái và 1 trai, tất cả đều có học hàm cao: Phó Giáo sư Sử học Đặng Bích Hà (sinh năm 1928); Phó Giáo sư Văn học Pháp Đặng Thị Hạnh (sinh năm 1930), Nhà giáo nhân dân, Giáo sư Văn học Việt Nam Đặng Thanh Lê (sinh năm 1932); Nhà giáo Ưu tú, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Văn học phương Tây Đặng Anh Đào (sinh năm 1934); Nhà giáo Ưu tú Phó Giáo sư, kiến trúc sư Đặng Thái Hoàng (sinh năm 1939) và Phó Giáo sư, Tiến sĩ Sinh vật học Đặng Xuyến Như (sinh năm 1945).

Đặc biệt, trong bốn “chàng rể hiền” của Giáo sư, Nhà văn Đặng Thai Mai, thì có đến ba người mang quân hàm tướng: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Phạm Hồng Cư và Trung tướng Phạm Hồng Sơn.

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP (1911 - 2013): VỪA LÀ BẠN, VỪA LÀ RỂ TRƯỞNG

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh năm 1911 (kém Đặng Thai Mai chín tuổi). Trước khi có cuộc hôn nhân lịch sử, hai người vẫn coi nhau như bạn bè. Phần vì tuổi tác chẳng hơn kém nhau là mấy, phần vì họ cùng là đảng viên Tân Việt, cùng bị Pháp bắt giam năm 1930, ra tù họ lại cùng sống bằng nghề dạy học. Đặc biệt, năm 1935 Đặng Thai Mai, Võ Nguyên Giáp, Phan Thanh, Hoàng Minh Giám... cùng là sáng lập viên của Trường Tư thục Thăng Long nổi tiếng. Đấy là chưa nói đến trong những năm 1936 - 1939 họ cùng tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, hăng hái biên tập, viết báo tuyên truyền cho Đảng Cộng sản Đông Dương. Sau Cách mạng Tháng 8-1945, họ cùng được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa I. Trong Chính phủ, Đặng Thai Mai được bổ nhiệm là Bộ trưởng Bộ Giáo dục, còn Võ Nguyên Giáp là Bộ trưởng Bộ Nội vụ...

Cũng thời gian ấy, sau mấy năm xa cách gặp lại Đặng Bích Hà, con gái lớn của giáo sư Đặng Thai Mai đã lớn vổng lên thành một thiếu nữ xinh đẹp. Một tình cảm đẹp đã nảy nở giữa Võ Nguyên Giáp và Đặng Bích Hà. Đó không chỉ là một tình yêu nam nữ đơn thuần mà còn là sự đồng cảm của những tâm hồn cao đẹp, những nhân cách văn hóa. Bởi thế, tình yêu của họ càng đẹp và lãng mạn hơn khi đã được thử thách và chín muồi trong cách mạng và kháng chiến.

Đám cưới của hai người đã được tổ chức giản dị và trang trọng trước ngày cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bùng nổ. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tới dự và chia vui. Vợ chồng Võ Nguyên Giáp - Đặng Bích Hà sinh được 4 người con (2 trai và 2 gái), trong đó có nữ Tiến sĩ khoa học Vật lý Võ Hạnh Phúc.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn được coi là “người anh cả” của Quân đội nhân dân Việt Nam. Liên tục hơn 30 năm (1946 - 1977), ông là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bí thư Quân uỷ Trung ương. Ông là người được Nhà nước ta phong hàm Đại tướng đợt đầu tiên (1948).

HAI VỊ TƯỚNG GIỐNG NHAU HỌ VÀ TÊN ĐỆM, CÙNG LÀM RỂ HỌ ĐẶNG SAU CHIẾN DỊCH ĐIỆN BIÊN PHỦ

Vị tướng con rể thứ hai của Giáo sư, Nhà văn Đặng Thai Mai là Phạm Hồng Cư. Tên thực của ông là Lê Đỗ Nguyên, sinh năm 1926, quê ở Đông Cương, Đông Sơn, Thanh Hóa. Ông cũng chính là một trong 3 người anh của nhân vật nữ (Lê Đỗ Thị Ninh) trong bài thơ Màu tím hoa sim nổi tiếng của nhà thơ Hữu Loan (Lê Đỗ Khôi, Lê Đỗ Nguyên và Lê Đỗ An).

Phạm Hồng Cư nhập ngũ tháng 9 năm 1945, được kết nạp vào Đảng năm 1947. Trưởng thành từ những ngày là Đội viên Tự vệ chiến đấu Cứu quốc Hoàng Diệu (Hà Nội), Phạm Hồng Cư đã trực tiếp tham gia nhiều chiến dịch quan trọng của quân đội ta từ chiến dịch Điện Biên Phủ đến chiến dịch Hồ Chí Minh... Năm 1954, sau chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng, Phạm Hồng Cư đã kết hôn với Đặng Thị Hạnh, con gái thứ hai của Giáo sư, Nhà văn Đặng Thai Mai. Vợ chồng họ sinh được 2 trai và một gái. Các con của họ đều đã trưởng thành, được đào tạo rất cơ bản và hầu hết đang làm việc tại nước ngoài.

Những năm 1974-1978, Phạm Hồng Cư là Cục trưởng Cục Văn hóa, Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, sau đó ông đảm nhiệm trọng trách Phó Chính uỷ, rồi Phó Tư lệnh, kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Hai cho tới ngày nghỉ hưu. Phạm Hồng Cư được phong hàm Trung tướng năm 1988.

Vị tướng thứ ba, con rể của giáo sư nhà văn Đặng Thai Mai là Phạm Hồng Sơn. Ông tên thật là Phạm Thành Chính, sinh năm 1923 tại Hưng Khánh, Hưng Nguyên, Nghệ An. Ông là cháu ruột của liệt sĩ Phạm Hồng Thái - người đã dũng cảm hy sinh khi mưu sát toàn quyền Đông Dương Méc-Lanh tại Sa Diện (Trung Quốc) năm 1925. Phạm Hồng Sơn nhập ngũ năm 1945, được phong hàm Trung tướng năm 1982. Tướng Phạm Hồng Sơn từng trực tiếp chỉ huy chiến đấu ở nhiều mặt trận. Trong kháng chiến chống Pháp, ông từng giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36, Sư đoàn 308. Những năm 1955 - 1959, ông làm Tham mưu trưởng Quân khu Hữu Ngạn, tiếp đó là Cục phó Cục Khoa học Quân sự, rồi Cục trưởng Cục Quân huấn, Bộ Tổng Tham mưu. Năm 1967, ông được điều vào chiến trường miền Nam chỉ huy chiến dịch Đường Chín - Nam Lào, rồi Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên. Phạm Hồng Sơn còn được biết đến là một Phó Tiến sĩ khoa học quân sự... Những năm 1971 - 1975 ông từng đảm nhiệm trọng trách Phó Viện trưởng Viện Khoa học Quân sự, Phó Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao...

Năm 1954, Phạm Hồng Sơn kết hôn với Đặng Anh Đào, con gái thứ tư của Giáo sư, Nhà văn Đặng Thai Mai. Đám cưới của họ được tổ chức tại Thanh Hóa, trước ngày hòa bình lập lại trên miền Bắc nước ta. Vợ chồng họ sinh được ba người con, thì hai từng là sĩ quan hải quân, một người là tiến sĩ toán học, cả ba đều tốt nghiệp tại Liên Xô cũ.

NHỮNG THẾ HỆ NỐI TIẾP NHAU VINH DỰ ĐƯỢC LẤY TÊN ĐẶT CHO ĐƯỜNG PHỐ

Qua điện thoại, Phó Giáo sư, Kiến trúc sư Đặng Thái Hoàng, người con trai duy nhất của Giáo sư, Nhà văn Đặng Thai Mai đã mời tôi đến thăm số nhà 30 Nguyễn Huy Tự (Hà Nội). Nơi đây, Giáo sư, Nhà văn Đặng Thai Mai đã sống và làm việc nhiều năm, cho tới những ngày cuối đời.

Trong một căn phòng nhỏ, rộng hai mươi nhăm mét vuông trên lầu hai, nơi được gia đình chọn đặt Phòng lưu niệm Đặng Thai Mai, Phó giáo sư, Kiến trúc sư Đặng Thái Hoàng đã giới thiệu với tôi hàng trăm tư liệu quý chưa được công bố về thân thế và sự nghiệp của Giáo sư, Nhà văn Đặng Thai Mai.

Trong câu chuyện say sưa, kiến trúc sư Đặng Thái Hoàng cho hay: Tên của cụ Đặng Nguyên Cẩn - ông nội của ông - đã được chọn để đặt cho một đường phố của Sài Gòn xưa. Ngày nay, phố Đặng Nguyên Cẩn thuộc Quận Sáu, Thành phố Hồ Chí Minh. Còn thân phụ ông - Giáo sư, Nhà văn Đặng Mai Mai - cũng đã có tên trên một đường phố thuộc quận Tây Hồ của thủ đô Hà Nội, ở thành phố Vinh và cả ở Thành phố Hồ Chí Minh. Thật hiếm có gia tộc nào mà hai cha con cùng vinh dự được đặt tên cho đường phố như trường hợp Đặng Nguyên Cẩn và Đặng Thai Mai.

Kiến trúc sư Đặng Thái Hoàng còn giới thiệu với chúng tôi một số tấm ảnh quý chụp gia đình người anh rể cả của ông - Đại tướng Võ Nguyên Giáp, với một niềm tự hào đặc biệt. Vâng, về vị tướng lừng danh “anh hùng của những anh hùng” này, chắc chắn tên ông không chỉ được đặt ở một nơi, Võ Nguyên Giáp là niềm tự hào khi được đặt cho các đường phố của Việt Nam, mà còn mãi mãi được cả thế giới biết đến

Việt Nam hưởng ứng ngày Quốc tế Hòa Bình

Nỗ lực vì một nền hòa bình cho nhân loại

Ngày Quốc tế hòa bình được Liên hợp quốc khởi xướng vào năm 1981 và lần đầu tiên được tổ chức vào tháng 9/1982. Tới năm 2002, Đại hội đồng Liên hợp quốc chính thức lấy ngày 21/9 hằng năm để kỷ niệm Ngày Quốc tế hòa bình.

Kỷ niệm ngày này, Liên hợp quốc mong muốn và khuyến khích toàn nhân loại cùng hành động và hợp tác vì mục tiêu hòa bình cho mọi quốc gia, mọi dân tộc. Đây cũng là lời nhắn nhủ tới mọi người về vai trò của Liên hợp quốc trong nỗ lực xây dựng hòa bình, đồng thời cũng là tiếng chuông liên tục nhắc nhở tổ chức này về nghĩa vụ thực hiện các cam kết lâu dài để giành lấy hòa bình cho nhân loại.

Chú thích ảnh

Trên thực tế, trong suốt nhiều thập kỷ qua, hoạt động giữ gìn hòa bình đã liên tục được Liên hợp quốc triển khai dưới hình thức các phái bộ. Những người lính thuộc lực lượng giữ gìn hòa bình đầu tiên của Liên hợp quốc đã có mặt tại Palestine vào năm 1948. Kể từ đó đến nay, hình ảnh người lính “mũ nồi xanh” đã không còn xa lạ tại hầu hết các điểm nóng trên thế giới như Đông Timor, Haiti, nhưng chủ yếu vẫn là ở châu Phi và Trung Đông.

Đến nay, đã có hơn 70 phái bộ giữ gìn hòa bình Liên hợp quốc được thành lập, với hơn 1 triệu binh sĩ, dân thường và cảnh sát đến từ 125 nước trên thế giới. Đó là những người lính, quan sát viên quân sự, cảnh sát dân sự, bác sỹ, kỹ sư... với các nhiệm vụ: giám sát việc chấp hành lệnh ngừng bắn giữa các bên xung đột, bảo vệ người dân, tuần tra, rà phá bom mìn, chất nổ, huấn luyện cảnh sát quốc tế, hỗ trợ xây dựng hệ thống tư pháp, đảm bảo môi trường an ninh thuận lợi cho các quá trình chuyển giao chính trị và hỗ trợ cho các thể chế nhà nước còn non trẻ.

Các phái bộ này phải hoạt động trong những môi trường phức tạp, nguy hiểm, do những mối đe dọa từ các tổ chức vũ trang, tội phạm và khủng bố sở hữu vũ khí tối tân… Từ năm 1948 đến nay, đã có hơn 3.500 người thiệt mạng khi phục vụ trong các chiến dịch giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc. Ghi nhận sự nỗ lực, hy sinh và những thành tích to lớn của Lực lượng này, năm 1988, Ủy ban Nobel Na Uy đã trao giải Nobel Hòa bình cho Lực lượng giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc.

Những đóng góp tích cực, hiệu quả của Việt Nam

Ngày 25/5/2014, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam phê duyệt Đề án “Quân đội nhân dân Việt Nam tham gia hoạt động giữ gìn hòa bình Liên hợp quốc giai đoạn 2014-2020 và những năm tiếp theo”. Triển khai đề án này, Trung tâm Giữ gìn hòa bình Việt Nam (nay là Cục Giữ gìn hòa bình Việt Nam) được thành lập.

Năm 2014, hai sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam đầu tiên lên đường làm nhiệm vụ sĩ quan liên lạc tại Phái bộ Nam Sudan, đánh dấu sự tham gia chính thức hoạt động giữ gìn hòa bình Liên hợp quốc của Việt Nam. Đến nay, số lượng sĩ quan được Việt Nam cử đi theo hình thức cá nhân tăng cả về số lượng và lĩnh vực, nhiệm vụ tham gia; và đã được Liên hợp quốc, chỉ huy phái bộ và sĩ quan các nước đánh giá cao cả về trình độ chuyên môn, khả năng tổ chức làm việc và ý thức kỷ luật... Nhiều sĩ quan đã được Liên hợp quốc tặng thưởng huân chương. Các sĩ quan Việt Nam hiện đang hướng tới ứng tuyển vào những vị trí cao hơn ở phái bộ cũng như các vị trí chỉ huy khác nhau.

Cùng với đó, sau hơn 4 năm chuẩn bị, Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 gồm 63 cán bộ, nhân viên đã lên đường làm nhiệm vụ tại Phái bộ giữ gìn hòa bình Liên hợp quốc Nam Sudan vào đầu tháng 10/2018. Bệnh viện đang hoạt động hiệu quả và tạo được những ấn tượng tốt đẹp đối với Liên hợp quốc. Phó Tổng Thư ký Liên hợp quốc và Cố vấn quân sự Liên hợp quốc đã hai lần gửi thư cho Chính phủ Việt Nam để cảm ơn những đóng góp của Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 cho sứ mệnh giữ gìn hòa bình Liên hợp quốc. Hiện nay, Việt Nam đang tích cực chuẩn bị cho Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 2 nhằm sẵn sàng triển khai tới Nam Sudan sau khi Bệnh viện dã chiến cấp 2 số 1 kết thúc nhiệm kỳ hoạt động vào tháng 10 tới.

Việc tham gia, đóng góp ngày càng tích cực, có hiệu quả cho hoạt động giữ gìn hòa bình của Liên hợp quốc đã khẳng định Việt Nam có đầy đủ năng lực trong lĩnh vực này. Với năng lực đó, Cục Giữ gìn hòa bình Việt Nam được lựa chọn là một trong 4 cơ sở huấn luyện của khu vực để huấn luyện cho lực lượng giữ gìn hòa bình theo Dự án hợp tác ba bên của Liên hợp quốc. Đây cũng là nền tảng để đưa Cục Giữ gìn hòa bình Việt Nam thành cơ sở huấn luyện giữ gìn hòa bình mang tầm cỡ khu vực và quốc tế trong tương lai.

Chú thích ảnh

Có thể thấy, so với nhiều quốc gia, quá trình tham gia hoạt động giữ gìn hòa bình Liên hợp quốc của Việt Nam chưa dài, nhưng đã đạt những kết quả rất đáng ghi nhận, thể hiện sự nỗ lực của Việt Nam ở một lĩnh vực hoạt động quan trọng của Liên hợp quốc. Vừa qua, Việt Nam cũng đã tiếp nhận cương vị Chủ tịch Hiệp hội các trung tâm giữ gìn hòa bình châu Á-Thái Bình Dương năm 2020. Đây là cơ hội để Việt Nam nâng cao vị thế, đồng thời tiếp tục đóng góp thiết thực vào hoạt động giữ gìn hòa bình Liên hợp quốc.