Thứ Ba, 11 tháng 10, 2022

Nhức nhối điệp khúc “đi lạc”, “vào nhầm”

 

          Thực tế chứng minh, sự thật nói lên tất cả. Đâu đó những câu chuyện tiêu cực, ăn chặn, bớt xén tiền, hàng của người nghèo, đối tượng xứng đáng thụ hưởng đang được dư luận đặt tên một cách mỹ miều kiểu như “dê vào nhầm nhà” ở Thanh Hóa, “gà vào nhầm chuồng” ở Quảng Nam hay “tiền đi lạc” ở Cà Mau.

          Phải khẳng định một điều rằng những việc làm nói trên là hoàn toàn trái với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trái đạo lý xã hội và đạo đức người cán bộ - “đầy tớ của Dân”, nhất là trong bối cảnh đất nước đã và đang trải qua những thời điểm khó khăn do thiên tai, lũ lụt, dịch bệnh.

          Chuyện vừa mới xảy ra ở xã Khánh Hội, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau, địa bàn có nhiều người bị thất nghiệp do ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19. Thông tin mỗi người sẽ nhận được 1,5 triệu đồng tiền hỗ trợ theo chính sách của Nhà nước mang tới bao niềm vui. Lạ thay, đợi mãi chẳng thấy ai gọi đi nhận, dân mệt bở hơi tai hỏi khắp nơi nhưng không nhận được lời giải thích thoả đáng. Chuyện vỡ lở khi “ai đó” đã ký hộ từ lâu số tiền đáng ra họ được nhận. Chỉ tính riêng ở ấp 3 đã có 24 người bị giả chữ ký để nhận 36 triệu đồng. Theo người dân thì không chỉ có 24 người bị ăn chặn như vậy, còn nhiều nữa.

          Lãnh đạo xã tá hỏa đi xác minh. Người chủ trương giả chữ ký được xác định là ông Lư Công Vinh, cán bộ thương binh - xã hội của xã, còn người thực hiện là bà Lý Hồng Mận, Trưởng ấp 3. Cả hai sau đó thú nhận đã nhờ 2 người dân giả chữ ký của 24 người khác ký vào danh sách nhận tiền.

          Cùng thời điểm, Thanh tra TP HCM cũng đang làm rõ việc Giám đốc Sở LĐ-TB&XH Lê Minh Tấn cùng 20 người khác là lãnh đạo các đơn vị thuộc Sở đã nhận gần 100 triệu đồng từ Quỹ hỗ trợ COVID-19. Mỗi người “được” 4,6 triệu đồng. Số tiền nói trên được trích ra từ hơn 460 triệu đóng góp của nhiều người lao động thuộc Sở LĐ-TB&XH TP HCM, lẽ ra phải được chuyển tới trung tâm bảo trợ người bại liệt và cơ sở cai nghiện. Dư luận đang tương đối bức xúc cho dù các cán bộ đều đã “vui vẻ” trả lại.

          Diễn ra ở địa phương khác nhau nhưng cơ bản cho thấy một điều rằng trong lúc những người có hoàn cảnh khó khăn cần giúp đỡ nhất thì sự hỗ trợ không đến được tay họ, mà lại “lạc lối” vào túi cán bộ.

          Thực tế khi trao đổi vấn đề tương đối nhạy cảm này (liên quan tới chính sách, chế độ, đối tượng…), khi mà đâu đó một vài công bộc của dân hay đầy tớ của dân (cụm từ chỉ một trong các quan niệm khác nhau về trách nhiệm và nghĩa vụ của người lãnh đạo, hoặc mở rộng là của cán bộ, công chức, viên chức nhà nước) cố tình hay vô ý làm chưa “đúng vai, tròn bài” thì vẫn có những hình ảnh đẹp, ví dụ cụ thể đầy tính nhân văn của hàng nghìn hộ nghèo, cận nghèo tự nguyện kí đơn không nhận tiền hỗ trợ để ưu tiên cho những hộ khó khăn hơn trên nhiều tỉnh thành, nét đẹp truyền thống "lá lành đùm lá rách" của dân tộc Việt được tôn vinh.

          Chẳng phải ngẫu nhiên mà hàng trăm công nhân viên chức, người lao động ở TP HCM đã đóng góp số tiền lớn như thế. Hẳn nhiều người không dư dả gì nhưng họ sẵn sàng hưởng ứng khi được kêu gọi… để rồi cuối cùng tiền không đến được đích cuối. 

          Số tiền không phải quá lớn song trải qua 4 đợt dịch, đời sống của người dân, sức khỏe của doanh nghiệp đã bị ảnh hưởng quá lớn.

          Sự thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những hoàn cảnh khó khăn hay đây là một trong những hành động thể hiện lối tư duy đã ăn sâu trong suy nghĩ của một bộ phận không nhỏ cán bộ bấy lâu nay?

          Người Anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi đã khẳng định” Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân, sức dân như nước”, còn Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng cho rằng “Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của Nhân dân”.

          Công nghệ thông tin phát triển, thời đại 4.0 rồi nên cán bộ cứ làm việc thật nghiêm túc xem, ai làm tốt ai làm chưa tốt dân biết hết cả đó./

                                                                                                          PQ.St

"Chạy" điều chuyển!

 

          Vừa qua dư luận đặc biệt quan tâm đến câu chuyện được cho là rất "lạ" xảy ra tại tỉnh An Giang. Đó là vụ giám đốc doanh nghiệp chi 20 tỷ đồng để "chạy" điều chuyển Đại tá Đinh Văn Nơi, Giám đốc Công an tỉnh An Giang đi nơi khác vì chuyện "làm ăn".

          Đại tá Đinh Văn Nơi về làm Giám đốc Công an tỉnh An Giang đã chỉ đạo các đơn vị nghiệp vụ tăng cường, kiên quyết tấn công, trấn áp các loại tội phạm, làm trong sạch địa bàn, trong đó có tội phạm về hàng gian, hàng giả. Trước sự quyết liệt không khoan nhượng với tội phạm của Công an tỉnh An Giang nên Trần Trí Mãnh (42 tuổi, ngụ tại phường Châu Phú A, TP Châu Đốc), giám đốc doanh nghiệp rất “run sợ”.

          Theo cơ quan điều tra, Trần Trí Mãnh sợ hành vi phạm tội của mình bị Đại tá Đinh Văn Nơi phát hiện, xử lý làm ảnh hưởng đến việc làm kinh doanh phi pháp nên đã nảy sinh ý định dùng tiền tìm cách “điều chuyển” Đại tá Đinh Văn Nơi Giám đốc Công an tỉnh An Giang đi nơi khác. Cũng như đưa Giám đốc Công an tỉnh khác về An Giang để thay thế Đại tá Đinh Văn Nơi. Điều "lạ" đáng nói ở đây là "chạy" điều chuyển cán bộ đi nơi khác để dễ bề làm ăn.

          Theo cơ quan chức năng, ông Đào Ngọc Cảnh biết rất rành mạch về quy trình công tác cán bộ, biết khả năng mình không làm được việc điều động, nên tìm một tài xế là Trọng để giới thiệu cho Trần Trí Mãnh. Ông Đào Ngọc Cảnh thừa nhận nếu vụ việc trót lọt thì bị can Trọng sẽ cho ông ta một khoản tiền. Ông Đào Ngọc Cảnh ý thức được đây là số tiền thu lợi bất chính, vi phạm pháp luật.

          Bàn về chuyện chạy thì đương nhiên phải chạy người có quyền quyết định. Còn ai chạy đó là người có nhu cầu. Đó là những phần tử cơ hội, ngoài ra cũng có những người không cơ hội tí nào, nhưng họ có nhu cầu, họ muốn cống hiến, thậm chí có những anh cảm thấy mình có đủ năng lực, đủ tiêu chuẩn đấy, nhưng bây giờ cả làng chạy, mình không chạy cũng không yên tâm. Việc “chạy” đã kéo cả những người nghiêm túc và như vậy là rất nguy hiểm. Nạn “chạy” góp phần làm hình thành, nuôi dưỡng một loại cán bộ cơ hội, thăng tiến bằng “chạy” và cũng làm xuất hiện một bộ phận cán bộ không lo làm tốt chức trách nhiệm vụ mà chỉ lo “đầu tư” xây dựng các “quan hệ” để “chạy” khi cần.

          Bình thường thì chuyện “chạy” chức là như thế, nhưng giờ đây, câu chuyện này lại cho thấy người chạy có mục đích cũng vì lợi ích của cá nhân mình mà thù ghét không muốn người cản trở công việc làm ăn của mình ở lại địa phương. Do đó họ đã tìm đủ mọi mánh khóe để tác động “chạy” để người có quyền điều chuyển Đại tá Đinh Văn Nơi, Giám đốc Công an tỉnh An Giang đi nơi khác. Đây có thể nói là chuyện “lạ” về “chạy” điều chuyển trong công tác cán bộ.

          Nếu như chuyện này xảy ra sẽ dẫn đến hậu quả tệ hại là làm vô hiệu hóa đường lối, chủ trương, chính sách và các quy định đúng đắn trong công tác cán bộ của Đảng; gây nhức nhối dư luận; làm lũng loạn công tác cán bộ; làm mất niềm tin của nhân dân và lung nay ý trí của cán bộ tốt. Đây cũng là bài học trong công tác cán bộ về tinh thần cảnh giác trong công tác bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới.

          Thời gian qua để ngăn chặn các hành vi, hiện tượng tiêu cực trong công tác cán bộ, Đảng ta đã ban hành nhiều quy định như: Quy định những điều đảng viên không được làm; Quy trình 5 bước về luân chuyển cán bộ…; gần đây nhất, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 205-QĐ/TW “về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Đó là những cơ sở để chúng ta kiểm soát chặt chẽ quyền lực theo hướng đa chiều về công tác cán bộ. Đó là kiểm soát bằng thể chế kết hợp với kiểm soát bằng đạo đức, trách nhiệm; kiểm soát bên trong của tổ chức kết hợp với kiểm soát bên ngoài của nhân dân, xã hội; kiểm soát của bên trên đối với bên dưới kết hợp với kiểm soát của bên dưới đối với bên trên; kiểm soát trong Đảng đồng bộ với kiểm soát của mỗi tổ chức trong hệ thống chính trị, trong mọi tổ chức của xã hội. Trong đó, cần chú trọng kiểm soát quyền lực của cấp ủy, thường trực cấp ủy.

                                                                                                PQ.St

Kiếm tiền theo cách nào?

 

          Có lẽ câu chuyện về tiền bạc được bàn nhiều, không ngừng nghỉ và nó lại tiếp tục nóng khi ông Trịnh Văn Quyết - Chủ tịch FLC và Đỗ Anh Dũng - Chủ tịch Tập đoàn Tân Hoàng Minh bị khởi tố, bắt giam theo đó là em và con mình là đồng phạm. Dư luận đặc biệt quan tâm đặt câu hỏi có nên kiếm tiền theo cách đưa người thân vào vòng lao lý như ông Trịnh Văn Quyết và ông Đỗ Anh Dũng hay không?

          Ngày 29/3/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CQCSĐT) Bộ Công an đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, các Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt tạm giam đối với Trịnh Văn Quyết - Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty CP Tập đoàn FLC để điều tra hành vi “thao túng thị trường chứng khoán”, hành vi trên của ông Trịnh Văn Quyết được cơ quan điều tra nhận định đã “gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà đầu tư, ảnh hưởng đến hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam”.

          Ngày 04/4 đến lượt bà Trịnh Thị Minh Huế, cán bộ Ban kế toán Công ty CP tập đoàn FLC bị bắt với vai trò là đồng phạm, giúp sức ông Trịnh Văn Quyết thực hiện hành vi “thao túng thị trường chứng khoán”. Bà Trịnh Thị Minh Huế vừa là thuộc cấp vừa là em gái của ông Trịnh Văn Quyết.

          Sau một ngày, chiều 5/4, CQCSĐT Bộ Công an tiếp tục khởi tố, Lệnh bắt bị can tạm giam bà Trịnh Thị Thúy Nga, Phó Tổng giám đốc Công ty Chứng khoán BOS, vai trò đồng phạm giúp sức cho Chủ tịch FLC Trịnh Văn Quyết thực hiện hành vi phạm tội “thao túng thị trường chứng khoán”. Bà Trịnh Thị Thúy Nga cũng là thuộc cấp và là em gái của ông Trịnh Văn Quyết.

          Trong một trường hợp khác là tối ngày 05/4, CQCSĐT Bộ Công an khởi tố, Lệnh bắt bị can để tạm giam với ông Đỗ Anh Dũng - Chủ tịch Tập đoàn Tân Hoàng Minh và 6 đồng phạm để điều tra về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo Điều 174, Bộ luật Hình sự, trong số đó có Đỗ Hoàng Việt, Phó Tổng Giám đốc Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Khách sạn Tân Hoàng Minh. Đỗ Hoàng Việt sinh năm 1994, là con trai thứ hai của ông Đỗ Anh Dũng.

          Theo kết quả điều tra xác định: Trong thời gian từ tháng 7/2021 đến tháng 3/2022, ông Đỗ Anh Dũng và các cá nhân tại Tập đoàn Tân Hoàng Minh đã có hành vi gian dối, sử dụng 03 công ty thành viên gồm Công ty TNHH Đầu tư bất động sản Ngôi Sao Việt, Công ty CP Đầu tư và Dịch vụ Khách sạn Soleil, Công ty CP Cung điện Mùa Đông và các công ty liên quan, phát hành 09 đợt trái phiếu trái quy định pháp luật, tổng trị giá 10.300 tỷ đồng, để huy động tiền của nhà đầu tư nhưng không sử dụng vào các hoạt động kinh doanh theo hồ sơ phát hành trái phiếu.

          Chủ tịch Tân Hoàng Minh ông Đỗ Anh Dũng được biết đến là một “đại gia” trong giới bất động sản. Tập đoàn do ông đứng đầu thực hiện nhiều dự án sang trọng nằm ở các vị trí “đắc địa”. Tuy nhiên, đi liền với tên tuổi đó là những lùm xùm liên quan đến các dự án.

          Cuối năm 2021, Công ty TNHH đầu tư bất động sản Ngôi Sao Việt thuộc Tập đoàn Tân Hoàng Minh gây xôn xao dư luận, khi mua trúng đấu giá lô đất ở Thủ Thiêm với giá 24.500 tỷ đồng/m2, “đắt nhất hành tinh”. Tuy nhiên sau đó Tân Hoàng Minh đã “bỏ chạy” khỏi lô đất “vàng” ở Thủ Thiêm và ông Đỗ Anh Dũng có tâm thư xin chấm dứt hợp đồng mua bán đấu giá lô đất 3-12 khu chức năng số 3, khu đô thị mới Thủ Thiêm.

          Lý do mà ông Đỗ Anh Dũng đưa ra để giải thích cho việc bỏ cọc đấu giá lô đất trên là để “bảo đảm một phần ổn định thị trường kinh doanh bất động sản, lợi ích của tập thể, của xã hội lên trên...”.

          Việc ông Trịnh Văn Quyết và Đỗ Anh Dũng bị khởi tố, bắt tạm giam theo lệnh của cơ quan điều tra cho chúng ta thấy đây là nỗi đau, mất mát quá lớn về uy tín, danh dự trong một gia đình khi mà cả ba anh em, cha con vướng vào vòng lao lý với vai trò đồng phạm, giúp sức chỉ vì kiếm tiền, làm giàu!

          Ước muốn làm giàu là chính đáng, không của riêng ai và hai ông Trịnh Văn Quyết và Đỗ Anh Dũng cũng là như vậy và họ đã dành toàn bộ công sức, tâm huyết để gây dựng cơ nghiệp rồi trở thành những người giàu, có nổi tiếng trên thương trường. Chỉ cần nghe thấy tên tuổi của họ qua các dự án “khủng”, “đắc địa” ở khắp nơi nhiều người đã trầm trồ “ngưỡng mộ, kính nể” về độ giàu có. Với ông Trịnh Văn Quyết, khởi nghiệp từ năm 14 tuổi đi lên bắt đầu từ một văn phòng tư vấn luật, đến năm 2017 Chủ tịch FLC Trịnh Văn Quyết từng lọt top 5 người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam. Tháng 3/2017, Chủ tịch FLC Trịnh Văn Quyết sở hữu gần 2 tỉ USD trên sàn chứng khoán Việt Nam có thể nói là giàu nhất, nhì sàn chứng khoán Việt Nam.

          Còn Chủ tịch Tân Hoàng Minh ông Đỗ Anh Dũng, cũng tâm sự qua "tâm thư" gửi lãnh đạo Đảng, Nhà nước rằng, được sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống cách mạng, từng bươn trải từ Bắc đến Nam, từ Hà Nội đến thành phố Hồ Chí Minh với nhiều nghề khác nhau, từ kinh doanh dịch vụ xe taxi đến bất động sản, trái phiếu, chứng khoán… để “đóng góp công sức và trí tuệ dù là nhỏ nhất cho sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước với tôn chỉ thượng tôn pháp luật”. Có thể nói ông Đỗ Anh Dũng là người rất giàu có với nhiều công ty và nắm trong tay nhiều bất động sản hạng sang, được coi là “ông trùm” bất động sản với thương vụ “đình đám” tạo “địa chấn” khi trúng đấu giá 2,4 tỷ đồng/m2 đất tại Thủ Thiêm.

          Có thể thấy họ cũng từ gian khó mà đi lên, tuy nhiên trong cơ chế kinh tế thị trường vô cùng khắc nghiệt, thương trường là “chiến trường” không cho phép những ai làm giàu bằng hành vi gian dối chỉ vì lợi ích cá nhân mà quên đi lợi ích tập thể, lợi ích quốc gia. Kinh tế thị trường mà thuộc tính vốn có của nó là lợi nhuận và lợi nhuận, nhưng ở Việt Nam nền kinh tế chúng ta xây dựng là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa lấy lợi ích tập thể, quốc gia dân tộc lên hàng đầu.

          Qua vụ việc của ông Trịnh Văn Quyết và Đỗ Anh Dũng cho chúng ta bài học lớn về quản lý Nhà nước đối với nền kinh tế thị trường hiện nay, nhất là thị trường chứng khoán. Ngẫm về góc độ kiếm tiền về lợi nhuận có rất nhiều điều đáng bàn nhưng kiếm tiền mà đưa cả những người thân yêu nhất của mình vướng vào vòng lao lý và đưa nhau ra tòa thì có ai dám làm không?.

          Trường hợp ông Đặng Lê Nguyên Vũ (Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Tập đoàn cà phê Trung Nguyên) là một ví dụ xót xa; trong phiên tòa xét xử ly hôn với bà Lê Hoàng Diệp Thảo (Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng giám đốc Công ty cà phê hòa tan Trung Nguyên) trong lúc hai bên không ngừng tranh cãi gay gắt về vấn đề tài sản và trách nhiệm. Quá bực bội và thất vọng, ông chủ Trung Nguyên đã lớn tiếng thốt lên với vợ: “Tiền để làm gì? Tiền nhiều để làm gì mà để ngày hôm nay ngồi như thế này?”, thật là chua chát, đau đớn. Trong thực tế còn nhiều những ví dụ khác đau xót nữa khi mà thủa hàn vi khó khăn thì họ rất hạnh phúc nhưng khi có đồng tiền dư giả thì hạnh phúc bị đe dọa và thậm chí tan vỡ…

          Sống trên đời, ai mà không hy vọng bản thân có thể kiếm được nhiều tiền và trở nên giàu có, nhưng giữa tiền bạc và tự do, tiền nhiều mà làm gì khi bản thân bị bắt, người thân cũng vướng vòng lao lý?. Thế nhưng, khi đã đạt được điều ấy, chúng ta không nên đắm chìm vào giá trị vật chất mà chúng đem lại, vì sự thỏa mãn từ việc tiêu tiền chỉ như một món thức ăn nhanh, đến nhanh đi càng nhanh chứ không tồn tại lâu dài. Thay vào đó, chúng ta vẫn tiếp tục tạo ra giá trị có ích cho xã hội, cho người thân, cho bạn bè xung quanh theo cách riêng của mình. Khi các giá trị được thỏa mãn, tự dưng ta sẽ nhận ra tiền bạc cũng không quá quan trọng đến mức “bất chấp” để kiếm tiền như vậy.

          Ngẫm lại câu nói của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng càng thấm thía về chuyện kiếm tiền: “Đời người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho có ý nghĩa, để không phải xót xa ân hận vì những việc làm ti tiện, đớn hèn, vô liêm sỉ; tiền bạc lắm làm gì, chết có mang theo được đâu. Danh dự mới là điều thiêng liêng, cao quý nhất!”.

                                                                                                PQ.St

“Liều thuốc” đặc trị bệnh… chạy chức chạy quyền

  

          Nhiều người cho rằng, Quy định 69-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm là một bước tiến về công tác xây dựng Đảng, công tác cán bộ, đáp ứng đòi hỏi của tình hình mới. Nhân dân cũng kỳ vọng đây sẽ là những “liều thuốc” đặc trị căn bệnh chạy chức chạy quyền gây nhức nhối trong xã hội.

          Thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng đã ký ban hành Quy định 69-QĐ/TW về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm. Quy định mới thay thế Quy định số 7-QĐi/TW năm 2018 của Bộ Chính trị khóa XII về xử lý tổ chức đảng vi phạm và Quy định số 102 năm 2017 của Bộ Chính trị khóa XII về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm.

          Quy định gồm 4 chương, 58 điều được hệ thống và đặt trong một Quy định thống nhất, đồng bộ để soi chiếu, xác định mức độ vi phạm của tổ chức đảng, đảng viên. Trong đó, Quy định bổ sung nhiều nội dung, quy định mới nhằm phù hợp với tình hình thực tiễn, đồng thời cụ thể hóa các hình thức kỷ luật đối với những vi phạm mà thời gian vừa qua nổi lên như một xu hướng, một mối đe dọa, một thách thức nguy hiểm.

          Cụ thể, Quy định 69 nêu rõ, về nguyên tắc xử lý kỷ luật: Tất cả tổ chức đảng và đảng viên bình đẳng trước kỷ luật của Đảng. Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm chủ trương, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước đều phải xem xét thi hành kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời.

          Đặc biệt, Quy định 69 ra đời đánh dấu việc, đây là lần đầu tiên có văn bản về xử lý kỷ luật đảng đề cập đến mức kỷ luật khi đảng viên chạy chức chạy quyền. Trước đây, hành vi chạy chức của đảng viên chỉ là một hành vi bị xử lý kỷ luật trong vi phạm công tác tổ chức, cán bộ mà thôi. Hơn nữa các văn bản hướng dẫn thi hành quy định kỷ luật đảng viên cũng không hướng dẫn nhiều về hành vi chạy chức này. Tuy nhiên, theo Quy định 69/QĐ-TW năm 2022 đã mang hành vi chạy chức, chạy quyền thành một Điều kỷ luật riêng. Cụ thế, tại Điều 30 đã tách hành vi chạy chức, chạy quyền của đảng viên thành một hành vi bị kỷ luật riêng biệt. Đây là điểm mới so với trước đây.

          Theo đó, đảng viên vi phạm tùy từng mức độ sẽ bị kỷ luật khiển trách, cảnh cáo, cách chức (nếu có chức vụ), khai trừ ra khỏi Đảng. Quy định cũng nêu rõ, nếu không chỉ đạo xem xét, xử lý kiến nghị của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội về hành vi tiêu cực trong công tác cán bộ hoặc bao che, tiếp tay cho hành vi tiêu cực, cũng sẽ bị kỷ luật cảnh cáo hoặc cách chức (nếu có).

          Chưa hết, kỷ luật với tổ chức đảng phải xem xét rõ trách nhiệm của tổ chức, đồng thời xem xét trách nhiệm của từng cá nhân liên quan, nhất là trách nhiệm người đứng đầu. Với cá nhân, trong thời gian đảng viên đang bị xem xét xử lý kỷ luật thì không điều động, luân chuyển, bổ nhiệm, phong, thăng quân hàm; không phong, tặng, công nhận các danh hiệu của Đảng, Nhà nước với đảng viên đó.

          Hay Điều 39 cũng quy định rất rõ kỷ luật bằng hình thức khai trừ khỏi Đảng nếu: Mở tài khoản chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài; mua, bán tài sản ở nước ngoài trái quy định; tổ chức, tham gia hoạt động rửa tiền dưới mọi hình thức; chủ trì, tham mưu, đề xuất, tham gia ban hành chế độ, chính sách, quy trình, thủ tục.. trái quy định, tạo lợi ích nhóm hoặc lợi ích cục bộ... nhằm mục đích trục lợi; tẩu tán tài sản nhằm trốn tránh việc kê khai tài sản, thu nhập; đối phó, cản trở việc kiểm tra, giám sát, xác minh tài sản, thu nhập….

          Có thể nói, với vấn nạn chạy chức, chạy quyền, lần này quy định của Đảng là rất rõ ràng khi chỉ ra từng hành vi cụ thể. Đây cũng được xem là một trong những vấn đề mấu chốt của công tác cán bộ, nhằm chặn đứng ngay từ đầu những phần tử cơ hội không thể “chui” vào hàng ngũ để có thể “leo cao, luồn sâu”.

          Chưa hết, Quy định 69 còn bổ sung hàng loạt những trường hợp đảng viên có thể vi phạm trong các lĩnh vực như quản lý, sử dụng đất đai, nhà ở; quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, khoa học công nghệ, chuyển giao công nghệ, và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực…

          Quy định cũng nhấn mạnh hơn tới khía cạnh đạo đức, lối sống khi bổ sung các hành vi vi phạm về tu dưỡng, rèn luyện; hay cá nhân đảng viên, cũng như vợ, chồng, con cái có lối sống xa hoa, lãng phí, gây dư luận xấu trong xã hội…

          Một điểm nhấn quan trọng không thể không nhắc đến trong Quy định 69 là là bên cạnh các hình thức kỷ luật, Quy định cũng nhấn mạnh việc bảo vệ cán bộ, đảng viên dám nghĩ dám làm, vì lợi ích chung mà thực hiện đổi mới, sáng tạo (theo Kết luận số 14 của Bộ Chính trị). Theo đó, nếu cán bộ thực hiện đúng chủ trương, có động cơ trong sáng vì lợi ích chung thì miễn kỷ luật hoặc giảm nhẹ trách nhiệm. Vấn đề này chắc chắn sẽ góp phần không nhỏ vào việc khích lệ đổi mới tư duy, đột phá, sáng tạo trong đội ngũ cán bộ lãnh đạo; khắc phục tư tưởng sợ sai, sợ bị kỷ luật, sợ bị xử lý bằng pháp luật dẫn đến né tránh những đổi mới, đột phá chưa có tiền lệ, thậm chí là đùn đẩy, công việc, “đá bóng” trách nhiệm cho người khác…

          Với 58 điều quy định rất cụ thể, rõ ràng, có thể nói, Quy định 69 của Bộ Chính trị một lần nữa cho thấy sự nghiêm minh của Đảng, không dung túng cho bất cứ sai phạm nào của mỗi đảng viên cũng như tổ chức đảng và cũng để các cơ quan chức năng, người dân có công cụ để giám sát các hành vi vi phạm.

          Những quy định mới, với tính răn đe mạnh mẽ, được kỳ vọng đóng vai trò như một chốt chặn, khiến cán bộ, đảng viên nhìn thấy mà chùn tay, không thể, không dám, không muốn vi phạm, những phần tử cơ hội biết sợ; vừa là “lá chắn” bảo vệ những cán bộ, đảng viên, dám nghĩ dám làm, biết đặt quyền lợi của Đảng, của dân, của nước lên trên hết, trước hết. Từ đó tạo nên những dấu mốc mới trong công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng, cũng như công tác phòng chống tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên, tạo niềm tin vững chắc của Nhân dân đối với Đảng, với chế độ./.

                                                                                                PQ.St

Hòa bình chỉ có được khi tất cả đều chung sức

 

Trong lễ thỉnh chuông hòa bình khai mạc Ngày quốc tế Hòa bình (21/9/2022), được cử hành đúng vào tuần lễ diễn ra kỳ họp cấp cao Đại hội đồng Liên hợp quốc (LHQ) khóa 77, Tổng thư ký LHQ Antonio Guterres đã đưa ra lời kêu gọi xây dựng một thế giới hòa bình cho tất cả mọi người: "Hơn bao giờ hết, bây giờ là lúc chúng ta cần phát huy tinh thần đoàn kết toàn cầu, cùng hành động tập thể, cam kết và tin tưởng lẫn nhau. Hãy bắt đầu tại đây và ngay bây giờ!”

Ngày quốc tế Hòa bình được LHQ khởi xướng năm 1981 và lần đầu tiên được tổ chức tháng 9/1982. Đến năm 2002, Năm 2002, Đại hội đồng chính thức quyết định ngày 21/9 hàng năm là Ngày quốc tế Hòa bình.

Về ý nghĩa của ngày này, LHQ mong muốn thúc đẩy hơn nữa những lý tưởng hòa bình, đồng thời khuyến khích toàn nhân loại cùng hành động và hợp tác để đem lại hòa bình cho mọi quốc gia, dân tộc.

Năm nay, Ngày quốc tế Hòa bình diễn ra trong bối đặc biệt hơn mọi năm.

Thế giới đang ngày càng bộc lộ sự chia rẽ do những hệ quả của xung đột và đại dịch Covid-19 đối với mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội.

LHQ cho rằng, “thúc đẩy sự hòa hợp và lòng khoan dung để chấp nhận sự khác biệt về giới tính, sắc tộc và biên giới là quan trọng hơn bao giờ hết và điều này đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn là chỉ hạ vũ khí.”

Với tinh thần này, LHQ đã chọn chủ đề cho Ngày quốc tế Hòa bình năm nay là “Chấm dứt phân biệt chủng tộc. Kiến tạo hòa bình”.

Nạn phân biệt chủng tộc đang "đầu độc" thế giới

Phân biệt chủng tộc có xu hướng gia tăng trên toàn thế giới trong những năm trở lại đây và trở nên nghiêm trọng hơn sau khi đại dịch Covid-19 bùng phát, làm kéo dài tình trạng bất bình đẳng.

Theo đó, những người thuộc các nhóm sắc tộc, cộng đồng thiểu số, người bản địa và người không phải là công dân sở tại dễ bị tổn thương hơn và chịu tác động nhiều hơn của đại dịch Covid-19, một phần do bị phân biệt đối xử trong các chương trình chăm sóc sức khỏe.

Ngoài ra, thành kiến về màu da và chủng tộc cũng là yếu tố chính gây bất hòa trong xã hội.

Báo cáo của Ủy ban LHQ về xóa bỏ phân biệt chủng tộc (CERD) công bố tháng trước cho thấy tình trạng gia tăng đáng kể tội ác thù hận cũng như các phát ngôn thù hận nhằm vào các cộng đồng thiểu số và các nhóm sắc tộc tại Mỹ.

Đặc biệt, cộng đồng người Mỹ gốc châu Á tiếp tục đối mặt với những hành vi thù ghét, phân biệt chủng tộc và bài ngoại, do những thành kiến cho rằng, họ phần nào chịu trách nhiệm gây ra Covid-19.

Tháng 3 vừa qua, Tổng thống Joe Biden đã phải ký ban hành luật quy định hành động tư hình do phân biệt chủng tộc là tội ác hận thù liên bang. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ ban hành luật liên bang chống tư hình do phân biệt chủng tộc.

Trong khi đó, ở Đức, cứ 5 người thì có 1 người từng có trải nghiệm liên quan phân biệt chủng tộc.

Ở Anh, tâm lý kỳ thị chủng tộc len lỏi cả vào nơi công sở, với khoảng 41% số lao động là người da màu và dân tộc thiểu số cho biết họ đã bị đối xử bất công tại nơi làm việc trong 5 năm qua.

Các hành vi phân biệt chủng tộc và bài ngoại cũng đang xảy ra hằng ngày hằng giờ ở khu vực biên giới những quốc gia chứng kiến xung đột khiến nhiều người dân phải di tản sang những nước láng giềng.

Nhiều người di cư và người xin tị nạn phải sống trong điều kiện khổ sở, bị đe dọa tính mạng, không được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe và giáo dục.

Tổng thư ký LHQ Guterres cho biết, chủ nghĩa chủng tộc đang “đầu độc” các thiết chế và cấu trúc xã hội, tiếp tục gây ra bất bình đẳng và khước từ quyền cơ bản của con người.

Chủ nghĩa chủng tộc còn phá hủy các xã hội, làm suy yếu các nền dân chủ, xói mòn tính hợp pháp của các chính phủ và cản trở quá trình phục hồi bền vững và toàn diện sau đại dịch Covid-19.

Tổng thư ký kêu gọi cộng đồng quốc tế cùng hành động để đẩy lùi nạn phân biệt chủng tộc cũng như những thách thức chung khác như nghèo đói, bất bình đẳng, biến đổi khí hậu và mất đa dạng sinh học...

Ngày quốc tế Hòa bình hằng năm là dịp để nhắc nhở rằng chúng ta đang sống dưới một “mái nhà chung”, vì vậy hòa bình có ý nghĩa và tầm quan trọng đối với toàn thế giới.

Tuy nhiên, chỉ khi mọi quốc gia, dân tộc và người dân cùng nỗ lực và quyết tâm xóa bỏ sự phân biệt, vượt qua ranh giới về chủng tộc và tầng lớp để tất cả có quyền bình đẳng như nhau, hòa bình mới có thể đạt được. Như Tổng thư ký LHQ Guterres nhấn mạnh, “thúc đẩy hòa bình là nhiệm vụ hàng đầu của LHQ, nhưng kiến tạo hòa bình là nghĩa vụ của mỗi người”.

Trong cuộc đấu tranh chống phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa bài ngoại và các hình thức phân biệt chủng tộc khác, Việt Nam luôn quyết tâm song hành cùng với cộng đồng quốc tế.

Năm 1981, Việt Nam đã trở thành thành viên của Công ước ngăn ngừa và loại bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc. Tiếp đó, Việt Nam gia nhập Công ước quốc tế về ngăn ngừa và trừng trị tội diệt chủng và Công ước quốc tế về ngăn chặn và trừng trị tội phân biệt chủng tộc.

Chính sách và pháp luật Việt Nam cho thấy tinh thần tiến bộ, bình đẳng, công bằng. Nhờ đó, Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc cả ở trong và ngoài nước./.

Chủ tịch Hồ Chí Minh với câu nói “Dĩ bất biến ứng vạn biến”

 

Ngày 31/5/1946, trước khi sang Pháp dự Hội nghị Fontainebleau, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với cụ Huỳnh Thúc Kháng: “Tôi vì nhiệm vụ quốc dân giao phó phải đi xa ít lâu, ở nhà trăm sự khó khăn nhờ cậy ở Cụ cùng anh em giải quyết cho. Mong cụ dĩ bất biến ứng vạn biến”. Câu nói tưởng chừng đơn giản ấy của Người trên thực tế lại là kết tinh từ hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của cha ông và giờ đây, một lần nữa trở thành “nguyên tắc vàng”, kim chỉ nam cho nền ngoại giao Việt Nam hiện đại. Vậy “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” là gì?

Cụm từ này xuất phát từ tiếng Hán, là một vế của câu đối hoàn chỉnh, với vế thứ hai là: “Dĩ chúng tâm, vi kỷ tâm” - lấy tình cảm, ý chí của quần chúng làm tình cảm, ý chí của mình. Theo nhà ngoại giao Vũ Dương Huân, “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” không có nguyên trong sách cổ mà được suy ra từ Ngô Khởi binh pháp, thiên thứ 5 về ứng biến. Đây là triết lý binh pháp bắt nguồn từ khái niệm “dùng tĩnh chế động”, nghĩa là “Lấy cái bất động để đối phó với nhiều cái manh động”.

Trong tư tưởng triết học cả phương Đông lẫn phương Tây, cái bất biến được coi là cái bản thể còn cái vạn biến là những hiện tượng. Trong mối quan hệ giữa bản thể và hiện tượng thì bản thể là bất biến, không sinh không diệt; còn các hiện tượng biến chuyển không ngừng nay còn mai mất.

Quan hệ biện chứng giữa cái bất biến và cái vạn biến trong triết học phương Đông đã in sâu trong triết lý hành động của nhiều nhà cầm quyền lớn. Vua Lý Thánh Tông, khi đi lo việc biên cương ở phương Nam, dẹp loạn Chiêm Thành có dặn nhiếp chính Ỷ Lan: “Vạn biến như lôi, nhất tâm thiền định”, ý nói cứ lấy cái nhất tâm - “bất biến”, ở đây được hiểu là lo việc giữ nước, để đối phó với vạn biến.

Kế thừa tinh hoa về tư tưởng biện chứng của các bậc tiền nhân, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng triết lý “dĩ bất biến, ứng vạn biến” đặc sắc và uyên thâm, góp phần đưa sự nghiệp cách mạng đi đến thắng lợi.

Quan điểm “bất biến” được thể hiện ở câu nói của Người lúc ra đi tìm đường cứu nước: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được độc lập, dân ta hoàn toàn được tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”.

Trong khi đó, với Người, cái “vạn biến” là khả năng ứng phó linh hoạt, mềm dẻo để phục vụ mục tiêu “bất biến”, cao nhất là cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn: “Mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ. Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt”./.

Diễn “tròn vai”

 

Kiểu diễn “tròn vai” vốn từ một vài cá nhân nhỏ, lẻ tẻ, giờ đã thành một cách sống, cách tồn tại của không ít người trong tập thể. Oái oăm là vẫn còn những người làm lãnh đạo lại thích những “diễn viên” này. Bởi họ ưa được “tiền hô, hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, họ muốn cấp dưới “gọi dạ, bảo vâng”, họ ghét những lời tham mưu, can gián phải – trái, thiệt hơn vì “thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng”.

Trong giới biểu diễn, hễ cứ nhắc tới hai tiếng “tròn vai”, đồng nghĩa với cô đào hay anh kép đã hoàn thành vai của mình một cách “tròn trịa”, không quá xuất sắc, nhưng cũng không mắc lỗi gì. Đôi khi trong những chương trình truyền hình thực tế, trước màn thể hiện của thí sinh, các giám khảo đưa ra bình luận, rằng “tròn vai” là tốt rồi, nhưng nếu thêm chút bứt phá nội lực để tạo ra một lối trình diễn “góc cạnh” chắc chắn sẽ có những phút giây “cháy” hết mình khó quên.

Trong thực tế, có một cách dùng khái niệm “tròn vai” khác, mang nghĩa thiếu tích cực, thậm chí là tiêu cực. Đó là những vai diễn “tròn trịa” nơi công sở, cơ quan của một bộ phận cán bộ, công chức. Họ luôn thể hiện “tròn vai” đủ 8 tiếng/ngày, giao việc gì, làm việc đó, làm cốt cho đủ, cho xong. Khi triển khai công việc, họ luôn “vo tròn”, “thu mình”, khéo léo, tránh né tranh luận để khỏi đụng độ, va chạm với đồng nghiệp. Đó đây, họ “nỗ lực” diễn “tròn vai” làm “cấp dưới”, sếp bảo sao nghe vậy, sếp bảo gì làm đấy, sếp nói hay là hay, nói dở là dở, đợi sếp cho ý kiến là “vun vào”, bợ đỡ, nịnh nọt. Họ giữ “tròn vai” để khỏi phải nghe lời mắng mỏ, phàn nàn, chê bai của sếp, tiếng xì xào của những người chung quanh. Để “tròn vai”, họp hành họ chẳng hơi đâu mà nêu ý kiến, góp ý, kẻo lại “chưa được vạ, má đã sưng”.

Những “diễn viên” này luôn rỉ tai nhau rằng nên chọn cách “vo tròn” mà sống. Họ bao biện: Đề xuất ư? Phản biện ư? Chớ mà làm, kẻo rồi cuối năm, anh em họ ghét, rồi họ chẳng cho mình lá phiếu “Lao động tiên tiến”, sếp cũng chẳng ưa gì người hay cãi lại, rồi kẻo mà đến cái danh “hoàn thành tốt nhiệm vụ” cũng chẳng có mà “chốt” vào kiểm điểm cá nhân. Nói chung, chẳng cần phải làm gì quá tốt, quá xuất sắc, nhưng tất nhiên, cũng đừng để quá dở, cứ “vừa vừa”, “tà tà” là được. Và hơn cả, phải "tròn vai" làm "tôi trung" với sếp, có sếp thì mới có mình. Thế nên với họ, cứ diễn “tròn vai”, “an phận thủ thường” mới là thượng sách!

Thật đáng buồn, bởi cách diễn “tròn vai” vốn từ một vài cá nhân nhỏ, lẻ tẻ, giờ đã thành một cách sống, cách tồn tại của không ít người trong tập thể. Oái oăm là vẫn còn những người làm lãnh đạo lại thích những “diễn viên” này. Bởi họ ưa được “tiền hô, hậu ủng”, “nhất hô bá ứng”, họ muốn cấp dưới “gọi dạ, bảo vâng”, họ ghét những lời tham mưu, can gián phải – trái, thiệt hơn vì “thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng”.

Thực tế ấy đã và đang làm triệt tiêu, xói mòn nhiệt huyết của những ai muốn nỗ lực cống hiến, tâm huyết phục vụ công việc chung.

Điều may mắn là, đó đây ở các cơ quan, công sở vẫn còn những cá nhân luôn tâm niệm “hết việc chứ không hết giờ”, tâm huyết, lăn xả với công việc. Dù có thể, lúc này, lúc khác, thời điểm này, giai đoạn nọ, họ đã trở thành những người “cô đơn”, nhưng luôn tự nhủ với lòng, họ đang là những “công bộc” của dân, thực hiện đúng theo lời Bác Hồ dạy lúc sinh thời “Với công việc, phải tận tụy”. Họ nhất quyết chống thói diễn “tròn vai”, họ “cháy” hết mình trong công việc, sáng tạo, tìm tòi trong từng phút giây nơi công sở. Họ sẵn sàng “góc cạnh” trong góp ý phê bình, tham mưu thủ trưởng. Họ không ngại phê, tự phê thẳng thắn, nhưng rất mực chân thành. Họ luôn kiên quyết chống thói hình thức, nịnh bợ, xuê xoa, một chiều trong tập thể.

Ấy nên, vẫn còn những hy vọng, rằng những con người tâm huyết, lăn xả, cống hiến ấy sẽ là hạt nhân nòng cốt dẹp bỏ cho được những tư tưởng diễn “tròn vai”, làm nửa vời, “sáng cắp ô đi, tối cắp ô về” đang “lan rộng” trong không ít cơ quan, đoàn thể.

Chắc chắn tương lai sẽ ít dần và không còn những kẻ diễn “tròn vai”!

Tin là thế!

Lợi dụng vấn đề ngôn ngữ để chống phá, chia rẽ khối Đại đoàn kết dân tộc

 

Thời gian qua, bên cạnh việc bịa đặt, vu khống về tình hình tôn giáo và nhân quyền ở Việt Nam để chống phá Đảng, Nhà nước ta, một số cá nhân, tổ chức phản động, cực đoan, thiếu thiện chí còn thường xuyên lợi dụng và đẩy mạnh việc chính trị hóa, quốc tế hóa các vấn đề dân tộc, nhằm tạo cớ gây sức ép và can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Trong đó, chúng lợi dụng những bất cập trong vấn đề bảo tồn và phát triển ngôn ngữ của các tộc người ở một vài địa phương, kêu gọi việc cần phải tổ chức hội thảo quốc tế về người dân tộc thiểu số (DTTS) nhằm khơi gợi, kích động tư tưởng dân tộc chủ nghĩa và ly khai tự trị ở một số tộc người. Nhiều nội dung xuyên tạc đã được chúng đăng tải trên một số tạp chí hải ngoại, mạng xã hội để kêu gọi dư luận quốc tế “lên tiếng” về vấn đề người DTTS tại Việt Nam.

Chẳng hạn, các đối tượng phản động đã đứng ra thành lập những hội nhóm trái pháp luật với khẩu hiệu “Bảo tồn và phát triển lịch sử, tôn giáo và văn hóa người Khmer” nhưng thực chất hoạt động chủ yếu là tuyên truyền, xuyên tạc, chia rẽ đồng bào dân tộc Khmer Nam Bộ với người Kinh, bôi nhọ, hạ thấp uy tín những chức sắc, sư sãi yêu nước, tiến bộ, từ đó kích động ly khai, kêu gọi người dân tham gia đấu tranh thành lập cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm”...

Hay thông qua các chương trình về tiếng nói và chữ viết của người DTTS tại khu vực Tây Bắc và Tây Nguyên, một số đối tượng chống đối đã thực hiện thủ đoạn “diễn biến hòa bình” bằng việc bóp méo, xuyên tạc tình hình bảo tồn văn hóa của người DTTS; xuyên tạc những vấn đề lịch sử để chia rẽ người DTTS với người Kinh. Thâm độc hơn, chúng còn thường xuyên dùng các thủ đoạn mua chuộc, lôi kéo Người có uy tín trong đồng bào DTTS để qua đó tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước bằng chính tiếng nói của họ.

Đặc biệt, một số đối tượng được hậu thuẫn bởi các tổ chức phản động ở nước ngoài đã sử dụng các đài phát thanh bằng tiếng DTTS ở hải ngoại, in ấn phát hành các văn hóa phẩm bằng ngôn ngữ, chữ viết của các DTTS nhằm truyền đạo và lan truyền thông tin chống đối Đảng, Nhà nước, chia rẽ khối Đại đoàn kết dân tộc. Chúng khai thác các hiện tượng riêng lẻ về vấn đề dân tộc như tiếng nói, chữ viết hay bảo tồn văn hóa của các tộc người thiểu số rồi thổi phồng lên thành mâu thuẫn dân tộc và kêu gọi cần phải có biện pháp “bảo vệ quyền con người”, “bảo vệ quyền của người DTTS”... để kích động, dẫn dắt một số người nhẹ dạ, cả tin hoặc thiếu hiểu biết.

Thực tế, từ khi thành lập nước đến nay, chính sách về bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của các DTTS của Đảng, Nhà nước luôn nhất quán trong công tác chỉ đạo và thực hiện. Tại Điều 15, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (năm 1946) nêu rõ: “Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp”.

Điều này được khẳng định trong Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013 cũng như nhiều văn bản pháp luật của Quốc hội và Chính phủ. Tại khoản 3 Điều 5 Hiến pháp năm 2013 quy định “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”.

Năm 1980, Hội đồng Bộ trưởng đưa ra chủ trương đối với chữ viết của các DTTS trong Quyết định số 53-CP ngày 22/2/1980, trong đó xác định: “Tiếng nói và chữ viết của mỗi DTTS ở Việt Nam vừa là vốn quý của các dân tộc đó, vừa là tài sản văn hóa chung của cả nước. Ở các vùng DTTS, tiếng và chữ dân tộc được dùng đồng thời với tiếng và chữ phổ thông”. Luật Phổ cập giáo dục tiểu học năm 1991 cũng quy định rõ các DTTS có quyền sử dụng tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình cùng với tiếng Việt để thực hiện giáo dục tiểu học.

Trong Luật Giáo dục được ban hành sau đó vào các năm 1998 và 2019 đều khẳng định Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện để người DTTS được học tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình, qua đó phát huy những phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mỗi dân tộc, góp phần tạo ra giá trị văn hóa đa màu sắc của dân tộc Việt Nam.

Số liệu thống kê cho thấy, đến năm 2020, tại Việt Nam, hơn 90% hộ gia đình vùng đồng bào DTTS được nghe các chương trình Đài Tiếng nói Việt Nam và trên 80% số hộ được xem truyền hình. Các chương trình phát thanh và kênh truyền hình từ Trung ương đến địa phương được phát sóng với 26 thứ tiếng dân tộc đã đến được với bản làng xa xôi.

Hiện nay, cả nước đã có 30 tỉnh triển khai với 700 trường học tiếng DTTS; phát hành 8 chương trình tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Gia Rai, Ba Na, Ê Đê, Mông, Mnông, Thái); và 6 bộ sách giáo khoa tiếng dân tộc (Chăm, Khmer, Gia Rai, Ba Na, Mông, Ê Đê); 23 tỉnh, thành phố thực hiện dạy học tiếng dân tộc trong trường phổ thông... Trong đó, nổi bật là việc dạy tiếng Khmer (có khoảng 1,3 triệu người Khmer, chiếm 7% dân số). Việc truyền bá thông tin bằng tiếng dân tộc, đưa tiếng dân tộc vào chương trình giáo dục vừa giúp cho đồng bào DTTS duy trì nét văn hóa của mình, vừa bảo đảm sự bình đẳng trong việc hưởng thụ các giá trị văn hóa và giáo dục.

Bên cạnh đó, phong trào “cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc, cùng nói tiếng dân tộc” được triển khai rộng rãi. Điều 21 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa ban hành năm 2009 đề ra yêu cầu: “Dạy tiếng nói, chữ viết của DTTS cho cán bộ, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân công tác ở vùng đồng bào DTTS theo yêu cầu công việc”.

Thực tế cho thấy việc hiểu được ngôn ngữ, tiếng nói của người DTTS vừa giúp cho công tác phát hiện, nắm tình hình địa bàn, kịp thời đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực, góp phần giữ vững an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội; vừa hỗ trợ công tác tuyên truyền, giáo dục, vận động để đồng bào DTTS hiểu đúng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo trong tình hình mới.

Ngoài ra, để bảo đảm quyền của người DTTS được sử dụng tiếng nói của mình khi tham gia tố tụng, pháp luật Việt Nam quy định về việc cho phép người tham gia tố tụng dân sự, hình sự và hành chính có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình. Theo đó trong các trường hợp cần thiết, Tòa án sẽ mời người phiên dịch đến để hỗ trợ. Quy định này vừa mang ý nghĩa chính trị - xã hội, thể hiện sự bình đẳng giữa các dân tộc, vừa bảo đảm công tác xét xử được chính xác, minh bạch.

Thời gian tới, để tiếp tục phòng ngừa, đấu tranh hiệu quả với việc lợi dụng vấn đề dân tộc thực hiện âm mưu chống phá của các tổ chức, đối tượng phản động, thù địch, mỗi người dân chúng ta cần không ngừng tăng cường khối Đại đoàn kết dân tộc.Bên cạnh việc chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ người DTTS, các cấp ủy đảng và chính quyền cần tập trung xây dựng và bảo đảm đội ngũ cán bộ công tác tại các vùng có đồng bào DTTS am hiểu ngôn ngữ, tiếng nói và văn hóa của đồng bào, từ đó góp phần tạo sự đồng thuận, niềm tin của người dân.Chú trọng làm tốt công tác tuyên truyền đường đối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về vấn đề dân tộc, không để đồng bào bị các đối tượng xấu lôi kéo, lợi dụng và kích động. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện chính sách dân tộc, từng bước nâng cao đời sống kinh tế, thu hẹp khoảng cách phát triển vùng, miền; đồng thời thực hiện hiệu quả nhiệm vụ bảo tồn, phát triển văn hóa của đồng bào DTTS./.

Nhận thức về An ninh phi truyền thống trong giai đoạn hiện nay

 

An ninh phi truyền thống (ANPTT) là một khái niệm tương đối mới trong ngành khoa học nghiên cứu an ninh và nghiên cứu quan hệ quốc tế của các học giả trên thế giới, khái niệm an ninh phi truyền thống phản ánh nhận thức mới về an ninh quốc gia và thay đổi căn bản về chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia theo mục tiêu hướng đến các mối đe dọa đối với an ninh quốc gia

Trong suốt các chương trình nghị sự, hội nghị diễn đàn mang tầm khu vực, quốc tế, trong các cuộc gặp song phương, đa phương giữa các quốc gia khái niệm ANPTT xuất hiện thường xuyên với các vấn đề điển hình như: Biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, bênh truyền nhiễm… Tuy nhiên xuất phát từ nhiều góc độ như: Thể chế chính trị, lập pháp, thách thức về an ninh, quân sự đối với từng quốc gia, khu vực mà mỗi quốc gia có cách nhìn, đánh giá khác nhau về ANPTT.

Tuy nhiên xuất phát từ thực tế và quá trình phát triển trong giai đoạn hiện nay, các nghiên cứu về an ninh phi truyền thống chỉ mới được phát triển, trong khi đó ANPTT lại liên quan nhiều lĩnh vực, bao hàm nhiều thách thức an ninh mới như tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia, khủng bố, an ninh mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao, biến đổi khí hậu, thiên tai, an ninh năng lượng, an ninh tài chính tiền tệ, an ninh lương thực, an ninh thông tin… Các thách thức ANPTT đặt ra nhiều khó khăn cho công tác quản trị của tất cả quốc gia trên thế giới; các thách thức này đang hàng ngày đe dọa trực tiếp, nghiêm trọng đến sự tồn tại và phát triển bền vững, đến công tác bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.

Do đó cho đến nay các nhà nghiên cứu tại Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung cho đến nay vẫn chưa đưa ra được định nghĩa đồng nhất về an ninh phi truyền thống. Trên các diễn đàn, nghị sự hay trong các nghiên cứu riêng lẻ của các học giả trên thế giới nói chung mới chỉ để cập đến các khía cạnh của ANPTT. Tuy nhiên tựu chung lại thì ANPTT có thể được đánh giá như sau: “An ninh phi truyền thống không phải là an ninh quân sự, mà là an ninh tổng hợp, bao gồm: các mối đe dọa đến an ninh con người và xã hội một cách toàn diện cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh và môi trường sinh thái… Tổng hợp từ nhiều nghiên cứu khác nhau, nội dung an ninh phi truyền thống bao gồm: Thiếu hụt tài nguyên, bùng phát dân số, môi trường sinh thái suy giảm, xung đột tôn giáo, sắc tộc, bạo loạn và ly khai trong nước, khủng hoảng kinh tế và tài chính tiền tệ, chủ nghĩa khủng bố, tin tặc, phổ biến vũ khí giết người hàng loạt, nghèo đói, tội phạm ma túy, tội phạm xuyên quốc gia, tội phạm mới nổi, tội phạm mạng, di dân, tị nạn kinh tế, dịch bệnh, tội phạm rửa tiền”.

An ninh phi truyền thống tại khu vực Đông Nam Á và Việt Nam mang một tính chất rất khác so với các khu vực khác trên thế giới do đây là khu vực có địa chính trị đặc biệt quan trọng, trong đó sự tranh chấp ảnh hưởng giữa các cường quốc là yếu tố chính ảnh hưởng đến toàn khu vực; kết hợp với nội tại khu vực Đông Nam Á là khu vực có nhiều quốc gia đang phát triển, tiềm ẩn nhiều yếu tố bất ổn định dễ tác động đến an ninh quốc gia của mỗi nước.

Việt Nam là một trong những quốc gia chịu ảnh hưởng mạnh, trên phạm vi rộng của các nguy cơ, thách thức ANPTT. Các thách thức ANPTT hiện hữu ngày càng rõ nét hơn và tác động trực tiếp đến mọi lĩnh vực từ kinh tế, xã hội, văn hóa đến quốc phòng an ninh. Các nguy cơ, thách thức ANPTT ở Việt Nam đang có những biến đổi theo chiều hướng bất lợi đối với cuộc sống con người, thách thức sự phát triển bền vững của đất nước.

Các thách thức ANPTT phổ biến ở Việt Nam hiện nay gồm: Biến đổi khí hậu, thiên tai, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh mạng và tội phạm sử dụng công nghệ cao, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia… Nhận thức được vấn đề ANPTT từ rất sớm Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm thể chế, lãnh đạo, chỉ đạo và cảnh báo các vấn đề này như tại Nghị quyết số 08/NQ-TW, ngày 17/12/1998 của Bộ Chính trị khóa VIII; đồng thời thể chế vào Nghị quyết Đại hội thứ XI, XII và đặc biệt, tại Đại hội XIII của Đảng nhấn mạnh “Những vấn đề toàn cầu như: Bảo vệ hòa bình, an ninh con người, thiên tai, dịch bệnh, an ninh xã hội và an ninh phi truyền thống, nhất là an ninh mạng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, ô nhiễm môi trường… tiếp tục diễn biến phức tạp”. Từ đó đặt ra yêu cầu “sẵn sàng ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống…”. Điều này thể hiện tư duy, nhận thức vừa mới, vừa sâu sắc và toàn diện của Đảng ta về vai trò, vị trí của ANPTT đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phù hợp với chủ trương “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ nước từ khi nước chưa nguy”.

Biểu hiện rõ ràng nhất của ANPTT trong thời gian vừa qua là cách thức các quốc gia ứng phó với “Đại dịch Covid-19” điển hình như hầu hết các quốc gia đều hạn chế tự do đi lại, tiếp xúc, thiết lập các khu cách ly, khu điều trị trên diện rộng từ đó kéo theo một loạt các vấn đề về an sinh xã hội, phát triển kinh tế, thâm hụt GDP… dẫn đến nguy cơ mất an ninh quốc gia luôn hiện hữu nếu khống chế không thành công đại dịch. Tại Việt Nam, ANPTT tại các khu công nghiệp trong thời gian chống dịch Covid-19 và phục hồi sau dịch là vấn đề rất nóng, các cuộc biểu tình, đình công, lãn công của công nhân diễn ra dưới sự tác động, tiếp sức của các thế lực bên ngoài thực hiện diễn biến hoà bình tại các khu công nghiệp cũng thể hiện phần nào một khía cạnh của ANPTT trong tình hình hiện nay.

Trong tương lai dự báo các thách thức ANPTT sẽ ngày càng gia tăng nghiêm trọng, sẽ có những diễn biến tiêu cực, khó lường, khó kiểm soát. Chính vì vậy, để giảm thiểu tối đa những tác động do ANPTT có thể gây ra yêu cầu phát hiện, xử lý, khắc phục kịp thời các vấn đề nội tại là yêu cầu cao nhất với tôn chỉ “giữ vững bên trong là chính” bảo đảm an ninh quốc gia từ sớm, từ xa, an ninh chủ động. Đồng thời cấp uỷ, chính quyền các cấp cần sâu sát với nhân dân, xây dựng tổ chức cơ sở Đảng từ cơ sở đảm bảo trong sạch, vững mạnh. Phải chủ động, tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế để nâng cao hiệu phát hiện, nhận diện các thách thức ANPTT, các yếu tố tác động từ sớm, từ xã để phối hợp, khắc phục, giải quyết triệt để các vấn đề ANPTT trong tình hình mới./.

ÂM MƯU, THỦ ĐOẠN CHIẾN LƯỢC “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH” CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 

Hiện nay, các thế lực thù địch thường xuyên thay đổi các chiến lược, thể hiện tính chất tinh vi, xảo quyệt và sự nguy hiểm, thâm độc của nó đã và đang không ngừng tăng lên. Trong bối cảnh đó, đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” luôn là nhiệm vụ cấp cách, cần làm ngay và thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam. Vậy “diễn biến hòa bình” là gì? “diễn biến hòa bình” có sự nguy hiểm ra sao? Âm mưu, thủ đoạn chiến lược “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trong tình hình mới như thế nào?.

“Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản nhằm lật đổ chế độ chính trị của các nước tiến bộ, trước hết là các nước xã hội chủ nghĩa từ bên trong bằng biện pháp phi quân sự do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động tiến hành. “diễn biến hòa bình” có nhiều cách gọi khác nhau như: “chuyển hóa hòa bình”, “biến đổi hòa bình”,“cạnh tranh hoà bình”, “vượt trên hòa bình”, “chính sách giải phóng”, “chiến thắng không cần chiến tranh”, “chiến tranh không có tiếng súng”, “phương pháp phi vũ trang”.

Các thế lực thù địch điều chỉnh thủ đoạn chống phá, bằng cách ngoài việc công kích trực diện vào nền tảng tư tưởng, chúng tuyên truyền kích động gây mâu thuẫn, chia rẽ trong nội bộ. Với mưu đồ gây chia rẽ nội bộ, làm cho Đảng ta “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong, chúng ra sức tuyên truyền, bịa đặt về các phe phái trong Đảng, nhất là lợi dụng việc đấu tranh chống tham nhũng. tiêu cực để xuyên tạc là thanh trừng nội bộ. Chúng còn thường xuyên dựng chuyện, thổi phồng những sai lầm, thiếu sót của một số cán bộ, đảng viên, qua đó gây hoang mang, tạo bức xúc trong dư luận xã hội, kích động người dân gây mất an ninh, trật tự...

Đáng chú ý, thời gian gần đây, các thế lực thù địch đẩy mạnh một số thủ đoạn chống phá mới, đó là: Tìm cách đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, đưa ra những luận điệu lập lờ, lẫn lộn giữa hai mặt tích cực và tiêu cực, giữa tư tưởng xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa đến đảng viên và nhân dân. Khuyến khích những quan điểm lệch lạc và những khuynh hướng xã hội “dân chủ” kiểu Mỹ và phương Tây hòng làm cho người dân thấy hoài nghi về “xã hội Việt Nam” và mơ tưởng về một “xã hội khác” được cổ xúy là tốt đẹp hơn.

Chúng còn sử dụng nhiều cách thức tác động tinh vi, xảo quyệt đối với từng đối tượng cụ thể, trong đó đối với các tầng lớp nhân dân, chúng lợi dụng việc tiếp cận thông tin còn hạn chế, đưa những thông tin sai lệch, nhằm tạo khoảng trống trong tư tưởng nhân dân, làm cho nhân dân hoài nghi, mất niềm tin với chế độ, Đảng và Nhà nước, từ đó chúng kích động các hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Các thế lực thù địch vẫn không từ bỏ âm mưu “diễn biến hoà bình” đối với Việt Nam. Chúng đặc biệt coi trọng phá hoại tư tưởng, coi đó là mũi nhọn, là con đường ngắn nhất dẫn tới sự xói mòn về niềm tin của nhân dân với Đảng, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh các đặc trưng chủ yếu như: Tuyên truyền xuyên tạc nhằm phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đẩy mạnh hoạt động xuyên tạc lịch sử; thực hiện âm mưu “phi chính trị hóa” quân đội và công an…

Âm mưu, thủ đoạn của chúng còn xuyên tạc, bóp méo các sự kiện chính trị, các vụ việc phức tạp, nhạy cảm. Lợi dụng các sự kiện chính trị quan trọng liên quan đến các vấn đề phân định biên giới, lãnh thổ, tranh chấp Biển Đông, ô nhiễm môi trường, hay những vấn đề liên quan đến công tác cứu trợ bão lụt, công tác phòng chống COVID-19 lợi dụng tung tin thất thiệt trên các trang mạng xã hội gây hoang mang trong dư luận, tạo nên sự hiểu nhầm của người dân, sự hoài nghi vào cấp ủy, chính quyền các cấp.

Để đấu tranh có hiệu quả với âm mưu hoạt động của các thế lực thù địch, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, giữ vững lập trường, tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, chủ động phòng chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa. Phải luôn tỉnh táo, nhận diện đúng, bình tĩnh xem xét, phân tích, để vạch trần bản chất và có biện pháp phòng, chống hiệu quả. Tuyệt đối không được mơ hồ, mất cảnh giác, dẫn tới bị động, lúng túng trong cuộc chiến “không khói súng” nhưng đầy cam go, quyết liệt này./.

KHÔNG CÓ VIỆC MẠNG XÃ HỘI BỊ ĐÀN ÁP Ở VIỆT NAM

 

Hiện nay, các phần tử phản động, chống phá tiếp tục sử dụng luận điệu xuyên tạc về tình hình tự do thông tin, tự do Internet, mạng xã hội ở Việt Nam nhằm mục đích chống phá nền dân chủ, kích động, chia rẽ trong xã hội, tạo cớ để các thế lực bên ngoài can thiệp vào nước ta. Chúng cho rằng, ở Việt Nam không có tự do thông tin, tự do mạng xã hội, mạng xã hội bị kiểm duyệt gắt gao…

Ở Việt Nam, mạng xã hội bắt đầu du nhập vào từ những năm 2000 dưới hình thức các trang nhật ký điện tử (blog). Đến nay, có khoảng hơn 300 trang mạng xã hội khác nhau đã đăng ký hoạt động và có khoảng trên 76 triệu người dùng mạng xã hội. Trong đó, Facebook là mạng xã hội phổ biến nhất vì nhờ có thiết kế thuận lợi cho người sử dụng khi tạo lập tài khoản cá nhân, cũng như những tính năng trao đổi thông tin, bày tỏ cảm xúc, quan điểm cá nhân với những người cùng nhóm, cùng sở thích... nên đã thu hút được nhiều thành viên tham gia. Tiếp sau Facebook là các trang My Space, Twitter, các blog…

Với cơ chế hoạt động của mạng xã hội có tính chất tương tác cao, “cư dân mạng” dễ dàng chia sẻ những thông tin cá nhân với nhau, nên đã thu hút số người tham gia ngày càng đông, trong đó có giới trẻ. Điều này đã tạo ra những mặt thuận lợi cho mọi thành viên khi tham gia mạng xã hội, đó là có thể chia sẻ cũng như tìm kiếm những thông tin cần thiết phục vụ nhu cầu hoạt động riêng của mỗi người. Tuy nhiên, bên cạnh những thông tin chính thống, bổ ích, có tính giáo dục, còn có các thông tin không chính thống, sai sự thật, xuyên tạc, cổ xúy cho lối sống lệch chuẩn cũng được đưa lên mạng xã hội với các mục đích khác nhau. Thời gian gần đây, tình trạng sử dụng mạng xã hội để lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vu khống, nói xấu, kích động… diễn ra ngày càng phức tạp và tinh vi, gây mất trật tự xã hội, ảnh hưởng đến uy tín, danh dự và công việc của cán bộ, công chức, viên chức. Ngoài ra, qua công tác nắm tình hình, ghi nhận thông tin hành chục vụ việc liên quan đến tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua mạng viễn thông, mạng xã hội với phương thức, thủ đoạn hoạt động mới, ngày càng tinh vi, gây thiệt hại lớn về tài sản của người dân, gây bức xúc trong dư luận xã hội…

Mạng xã hội đã và đang trở thành công cụ hàng đầu để các thế lực thù địch lợi dụng tiến hành phá hoại tư tưởng; làm gia tăng nguy cơ lộ lọt bí mật nhà nước và mạng xã hội tác động tiêu cực đối với sự phát triển văn hóa, nguy cơ làm xói mòn bản sắc văn hóa dân tộc. Vì vậy, cùng với việc phát triển mạng xã hội, cần phải có sự quản lý để phát huy tốt nhất những mặt tích cực mà mạng xã hội mang lại.

Các thế lực thù địch với cách nhìn phiến diện cho rằng, ở Việt Nam mạng xã hội bị đàn áp và mạng xã hội không có tự do thông tin, người dùng mạng xã hội không được bày tỏ chính kiến, suy nghĩ của mình... Đây là thông tin hoàn toàn bịa đặt và sai sự thật, bởi vì Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán chủ trương, chính sách tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do thông tin, tự do Internet. Thực tế, chúng ta đạt được những thành tựu trong phát triển kinh tế như ngày nay, một phần là nhờ chúng ta tận dụng tốt cơ hội từ Internet, chính điều kiện phát triển tự do về Internet và mạng xã hội đã góp phần quan trọng trong xây dựng, phát triển đất nước; điều này đã là “một phần tất yếu” của các tầng lớp xã hội.

Thông qua các trang mạng xã hội, người dân có thể bày tỏ thông tin và chính kiến của mình; không những thế còn có nhiều cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã sử dụng Internet, mạng xã hội để làm việc, giải quyết các thủ tục hành chính và liên hệ trực tiếp với người dân... Những việc đang diễn ra hằng ngày, hằng giờ ở Việt Nam đã chứng minh rằng ở Việt Nam không có chuyện đàn áp mạng xã hội, mà trái lại còn được Đảng, Nhà nước bảo đảm sự phát triển tự do. Thực hiện quyền tự do Internet, mạng xã hội luôn được đặt trong khung khổ pháp luật. Nhờ đó mới bảo đảm an ninh mạng, phòng ngừa, ngăn chặn các hoạt động lợi dụng mạng xã hội, Internet để vi phạm pháp luật Việt Nam.

Nhận rõ các quan điểm sai trái cho rằng Việt Nam không có dân chủ, nhân quyền, không có tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, đàn áp mạng xã hội và đưa ra các luận cứ khoa học để phê phán, bác bỏ những quan điểm sai trái đó là việc làm cần thiết. Đồng thời, qua đó cũng tự xem lại chính mình, xem lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước chỗ nào chưa thực hiện tốt, chỗ nào chưa phù hợp để từng bước hoàn thiện, nhằm thực sự đem lại quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho Nhân dân. Như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “... Đảng cách mạng cần phê bình và tự phê bình cũng như người ta cần không khí”, “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, mỗi ngày phải tự kiểm điểm, tự phê bình, tự sửa chữa như mỗi ngày phải rửa mặt. Được như thế thì trong Đảng sẽ không có bệnh mà Đảng sẽ mạnh khoẻ vô cùng”./.