Không công nhận Việt Nam là quốc
gia độc lập, có chủ quyền là cách nhìn phiến diện, không có cơ sở khoa học của
các thế lực thù địch, phản động hòng âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước và sự
nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam.
Với những luận điệu xuyên tạc, chiêu trò
chống phá, họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam thì do nước ngoài tạo ra, CNXH
cũng do nước ngoài thiết kế. Vậy hiện nay, chúng ta đang đi theo con đường của
người nước ngoài vẽ ra cho chúng ta đi, thì sao gọi là đất nước độc lập”.
Vì vậy, cần nhận thức đầy đủ
về độc lập dân tộc. Đó là quyền tự chủ, tự quyết của một dân tộc, quốc gia
trong việc tổ chức các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội, quốc
phòng, an ninh, đối ngoại… trong phạm vi lãnh thổ của mình, không chịu sự tác
động, ép buộc, chi phối, thao túng của nước ngoài. Độc lập dân tộc phải trên cơ
sở bảo đảm chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng trong quan hệ
quốc tế, được luật pháp quốc tế thừa nhận và được khẳng định trên thực tế.
Nói cách khác, quốc gia độc
lập là quốc gia phải hội tụ đầy đủ các yếu tố: Quốc gia đó có chủ quyền, thống
nhất, toàn vẹn lãnh thổ; hệ thống hành chính do người của quốc gia đó điều
hành; nhà nước đó phải có thẩm quyền hành xử chủ quyền lãnh thổ; nhà nước đó sở
hữu quyền tài phán, thuế quan... trên lãnh thổ và sở hữu quyền ngoại giao;nhà
nước đó phải được cộng đồng quốc tế công nhận. Nếu thiếu một trong các yếu tố
đó thì không phải quốc gia độc lập, có chủ quyền.
Thật vậy! Đối chiếu với yếu
tố thứ nhất, cho thấy, Việt Nam hiện đang là quốc gia độc lập, thống nhất, toàn
vẹn lãnh thổ trên đất liền, trên biển, trên không và trên không gian mạng. Với
yếu tố thứ hai, đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị Việt Nam được pháp luật
quy định là chỉ có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam. Cụ thể là hệ thống hành
chính của Việt Nam do người Việt Nam điều hành.
Với yếu tố thứ ba, Người phát
ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam luôn khẳng định về chủ quyền của quốc gia mình, lên
tiếng phản đối nước nào đó vi phạm chủ quyền của Việt Nam, bất kể đó là quốc
gia lớn hay nhỏ. Mọi hoạt động của nước khác trên lãnh thổ Việt Nam phải được
sự đồng ý của Nhà nước Việt Nam thì họ mới được hành động và phải chấp hành
pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam có liên quan. Điều đó cho thấy, Nhà
nước Việt Nam có đầy đủ thẩm quyền hành xử chủ quyền lãnh thổ của mình.
Với yếu tố thứ tư, mọi hoạt
động của các tổ chức, cá nhân nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam đều phải chấp
hành pháp luật Việt Nam. Các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài hoạt động
trên lãnh thổ Việt Nam đều phải đóng thuế cho Nhà nước Việt Nam. Các cá nhân là
người Việt Nam hay người nước ngoài sinh sống ở Việt Nam đều có nghĩa vụ đóng
các loại thuế theo quy định của pháp luật Việt Nam. Cộng hòa XHCN Việt Nam là
tổ chức hợp pháp duy nhất có đầy đủ thẩm quyền ký kết các văn bản ngoại giao
với các tổ chức, quốc gia trên thế giới.
Hiện nay, Việt Nam đã thiết
lập quan hệ ngoại giao với hầu hết các quốc gia trên thế giới (189/200 quốc
gia); thiết lập khuôn khổ quan hệ ổn định, lâu dài với 30 đối tác chiến lược và
toàn diện, tạo nền tảng vững chắc để Việt Nam cùng các nước nâng tầm hợp tác vì
lợi ích của mỗi nước và vì hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên
thế giới. Như vậy, Cộng hòa XHCN Việt Nam đã sở hữu quyền tài phán, thuế
quan... trên lãnh thổ và sở hữu quyền ngoại giao.
Với yếu tố thứ năm, nhà nước
đó phải được cộng đồng quốc tế công nhận thì Việt Nam đã được các nước trên thế
giới công nhận; trong đó, 189/200 nước (gồm đủ cả 5 nước Ủy viên Thường trực
Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc) trên thế giới thiết lập quan hệ ngoại giao. Việt
Nam gia nhập Liên hợp quốc ngày 20/9/1977, là Ủy viên không thường trực của Hội
đồng Bảo an Liên hợp quốc 2 nhiệm kỳ và tham gia một số ủy ban của Liên hợp
quốc: Nhân quyền, Pháp luật… Như vậy, các nước trên thế giới đều công nhận Cộng
hòa XHCN Việt Nam là quốc gia độc lập, có chủ quyền. Đó là thực tế không thể
chối cãi.
Thế còn, “Đảng Cộng sản Việt
Nam thì do nước ngoài tạo ra, CNXH cũng do nước ngoài thiết kế. Vậy hiện nay,
chúng ta đang đi theo con đường của người nước ngoài vẽ ra cho chúng ta đi” như
luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động rêu rao thì sao?
Đảng Cộng sản Việt Nam không
phải “do nước ngoài tạo ra” mà chỉ thành lập tại Hương Cảng (Trung Quốc) trên
cơ sở thống nhất 3 tổ chức đảng, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.
Nói “Đảng Cộng sản Việt Nam thì do nước ngoài tạo ra” là chưa nghiên cứu lịch
sử Đảng. CNXH có phải do nước ngoài thiết kế không? Mục đích của CNXH, chủ
nghĩa cộng sản là giống nhau, nhưng cách thức xây dựng là khác nhau ở mỗi nước
tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh để lựa chọn cách thức phù hợp.
Thế nên, Trung Quốc mới xây
dựng CNXH mang đặc sắc Trung Quốc. Việt Nam xây dựng CNXH phù hợp với thực tiễn
nước mình, chắc chắn sẽ không giống nước khác. Bởi các nước khác nhau thì có
thực tiễn khác nhau. Thế nên, các luận điệu nói trên đã cho thấy cách nhìn
phiến diện và thiếu hiểu biết của những kẻ phản động, đi ngược lại với lợi ích
quốc gia, dân tộc.
“Nước Việt Nam là một khối thống
nhất về mặt dân tộc, lịch sử và kinh tế, và không một lực lượng nào trên thế
giới có thể chia cắt được Việt Nam”. Đây là khẳng định của Chủ tịch Hồ Chí Minh
trong “Diễn từ tiệc chiêu đãi ở Bêôgrát (Nam Tư)”, Báo Nhân dân đăng trên số
1248, ngày 8/8/1957. Tinh thần đoàn kết toàn dân tộc đã giúp chúng ta vượt qua
những thách thức, cam go của lịch sử, đánh thắng các kẻ thù xâm lược, bảo vệ và
xây dựng đất nước đi lên CNXH. Thế nhưng, các thế lực thù địch chống phá Việt
Nam lại không mong muốn điều đó, họ luôn ra sức tung hô, cổ xúy cho các hành vi
kích động bạo lực, gây hận thù dân tộc, chia rẽ đồng bào lương giáo, ngăn cách
đồng bào các dân tộc thiểu số, phá vỡ sự kết nối giữa lòng dân với ý Đảng.
Giáo
sư, Tiến sĩ Mạch Quang Thắng, giảng viên cao cấp Học viện Chính trị Quốc gia Hồ
Chí Minh cho rằng, trong mọi thời điểm, mọi hoàn cảnh phải luôn giữ vững được
niềm tin của nhân dân, đó là cơ sở cho sự đoàn kết, thống nhất trong toàn dân.
“Tài sản lớn nhất của Đảng là niềm tin của dân. Mất niềm tin là mất tất cả”.
Ở
nước ta, nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, các thế lực thù địch, phản
động xoáy sâu vào những điểm nóng, tập trung mũi nhọn chống phá vào các vấn đề
dân tộc, tôn giáo. Thời gian gần đây, các đối tượng nước ngoài liên tục tung
tiền, chi phối, giật dây điều khiển các đối tượng cơ hội chính trị trong nước,
kích động, lôi kéo nhân dân, tập hợp lực lượng để thành lập các Nhà nước tự
xưng như Nhà nước của người Mông, Nhà nước Đề Ga tự trị, Nhà nước của đồng bào
Khmer…
Đại
tá, Phó Giáo sư, Tiến sĩ Lê Xuân Thủy, Chủ nhiệm Khoa Chủ nghĩa xã hội khoa
học, Học viện Chính trị phân tích: “Chúng kích động mâu thuẫn giữa các dân tộc,
lôi kéo quần chúng, chống đối chính quyền, kích động đồng bào dân tộc thiểu số
di cư trái phép, gây mất ổn định về chính trị xã hội, từ đó, tạo cớ để các lực
lượng chính trị bên ngoài can thiệp. Chúng lợi dụng những vấn đề có tính lịch
sử để lại để đòi li khai tự trị, tìm cách luật pháp hóa, quốc tế hóa những vấn
đề dân tộc, tôn giáo để từ đó tiếp cận chỉ đạo bọn phản động trong nước và
ngoài nước kết hợp với nhau hỗ trợ bọn phản động cực đoan trong nước để chống
phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta”.
Thực
tế cho thấy, đồng bào các dân tộc, tôn giáo trên lãnh thổ Việt Nam đều được
chung sống hòa bình, bình đẳng và tích cực đóng góp cho công cuộc đổi mới, xây
dựng và phát triển đất nước. Các đồng bào tôn giáo đều một lòng hướng thiện,
sống tốt đời đẹp đạo, kính chúa yêu nước, chỉ những người nhẹ dạ, cả tin hoặc
những chức sắc tôn giáo bị tác động, chi phối bởi các thế lực thù địch mới luôn
có tư tưởng và âm mưu chia rẽ đồng bào lương giáo. Đại đức Thạch Dương Trung,
Trụ trì chùa Cót Đôn, tỉnh Bạc Liêu và Linh mục Vũ Thanh Lịch, thuộc Giáo phận
Buôn Mê Thuột, tỉnh Đắk Lắk khẳng định như vậy.
“Đảng,
Nhà nước chúng ta luôn hỗ trợ, ủng hộ các tôn giáo đều sinh hoạt tín ngưỡng
bình đẳng với nhau. Các dân tộc đều có quyền sinh sống bình đẳng, không có sự
đàn áp một dân tộc nào. Không chỉ dân tộc Khmer, các dân tộc khác cũng đều như
vậy, đều sống bình đẳng” - Đại đức Thạch Dương Trung nói.
Linh
mục Vũ Thanh Lịch nhấn mạnh: “Đạo công giáo với tinh thần bác ái, yêu thương,
phục vụ và ai cũng có trách nhiệm đối với quê hương, đất nước. Và đặc biệt là
người Việt Nam chúng ta, bất kể tôn giáo nào đều có lòng yêu nước thiết tha và
sẵn sàng đóng góp mọi mặt cho quê hương mình”.
Theo
phân tích của nhà báo Hồng Thanh Quang, nguyên Tổng Biên tập Báo Đại đoàn kết,
một số quốc gia hiện nay đang rơi vào chiến tranh, ly khai, loạn lạc đều có bàn
tay can thiệp, đạo diễn từ các thế lực bên ngoài. Thông qua đồng tiền, các thế
lực bên ngoài khống chế, hà hơi tiếp sức cho các thế lực đối lập, phản động
trong nước, thổi bùng lên thành những mâu thuẫn và sau đó dẫn đến sự can thiệp
của nước ngoài, dưới hình thức bảo vệ nhân quyền, bảo vệ dân chủ, nhưng kết cục
thì hoàn toàn ngược lại.
Cộng
đồng 54 dân tộc Việt Nam là một thực thể thống nhất, đồng bào các dân tộc, tôn
giáo đều là người dân nước Việt Nam, được quan tâm, chăm lo và bình đẳng trước
pháp luật. Mỗi người dân đều có trong mình lòng yêu nước và tinh thần tự tôn
dân tộc. Giáo sư Hoàng Chí Bảo cho rằng, lòng yêu nước và truyền thống yêu nước
của dân tộc từ bao lâu nay trong lịch sử đã trở thành tài sản, giá trị thiêng
liêng, cao quý của dân tộc Việt Nam. Mỗi người dân Việt Nam, không chỉ ôm giữ
niềm tự hào, mà cần phải đánh thức, làm sống dậy niềm tự hào đó. Trước hết đó
là, bảo vệ tinh thần đoàn kết dân tộc, không nghe theo những xúi giục, kích
động của các phần tử bất mãn và các thành phần chống phá chế độ.
“Người
dân thì có thể do thiếu hiểu biết, thiếu thông tin, thiếu cân nhắc, tỉnh táo
khi quyết định hành vi ứng xử của mình, nhưng kẻ xấu thì làm việc này có tính
toán. Chúng chống phá sự phát triển tốt đẹp, bình yên của đất nước chúng ta,
chống phá chế độ và muốn chúng ta đi chệch con đường mà Đảng ta, nhân dân ta đã
lựa chọn, đó là con đường CNXH” - Giáo sư Hoàng Chí Bảo khẳng định.
Cách
đây 6 thế kỷ, sau khi đập tan ách thống trị, đô hộ 20 năm của giặc Minh, Nguyễn
Trãi đã viết trong Bình Ngô đại cáo: “Nhân dân bốn cõi một nhà, dựng cần trúc
ngọn cờ phấp phới/ Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt
ngào”. Tinh thần và tư tưởng đoàn kết toàn dân, đoàn kết quân dân và binh sĩ đã
trở thành mạch nguồn làm nên sức mạnh để chúng ta đương đầu vượt qua mọi khó
khăn, thách thức.
Trong
bối cảnh tình hình thế giới và khu vực có những diễn biến phức tạp như hiện
nay, cùng với việc nâng cao tinh thần chủ động phát hiện, đấu tranh với các âm
mưu, thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch, cũng cần huy động sự vào cuộc
tích cực của nhân dân. Đây sẽ là “bức tường” vững chắc để ngăn chặn mọi âm mưu,
thủ đoạn chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với
CNXH là chủ trương nhất quán, đúng đắn của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, với
mưu đồ chống phá đất nước, không ít đối tượng xấu đang cố tình rêu rao đòi từ bỏ
việc xây dựng CNXH, chỉ giữ lại nhiệm vụ độc lập dân tộc.
Trong nhiều năm qua, các thế lực thù địch, phản động,
chống đối, cơ hội chính trị liên tục tấn công mục tiêu xây dựng CNXH tại Việt
Nam. Chúng cho rằng: “Xã hội XHCN là một xã hội không tưởng, được Đảng Cộng sản
vẽ ra để mị hoặc, ru ngủ quần chúng”; “Việc lựa chọn con đường xây dựng CNXH là
đi theo vết xe đổ của Liên Xô và Đông Âu”; “Việt Nam đang chuyển hướng theo mô
hình tư bản, CNXH chỉ còn là danh nghĩa”…
Cùng với đó, lợi dụng những mặt trái của xã
hội, những hạn chế, khuyết điểm trong công cuộc xây dựng và phát triển đất
nước, đặc biệt là vấn nạn tiêu cực, tham nhũng trong bộ máy công quyền, các đối
tượng xấu đã “tát nước theo mưa”, ra sức bôi đen, vấy bẩn chế độ. Từ đây, những
kẻ này đòi Việt Nam phải thay đổi mục tiêu phát triển, từ bỏ việc xây dựng
CNXH, chỉ giữ lại nhiệm vụ bảo vệ độc lập dân tộc. Đây là những luận điệu vô
cùng độc hại, ẩn chứa ý thức chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch,
phản động.
Phải khẳng định rõ, việc giữ vững mục tiêu
độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là điều kiện tiên quyết để bảo đảm thắng lợi
của cách mạng nước ta. Đây là bài học xương máu được Đảng, Nhà nước ta rút ra
từ cuộc đấu tranh vệ quốc vĩ đại và công cuộc xây dựng, bảo vệ, phát triển Tổ
quốc.
Độc lập dân tộc và CNXH có mối quan hệ biện
chứng, gắn bó với nhau. Độc lập dân tộc là sự không lệ thuộc, không phụ thuộc,
không chịu sự chi phối, hướng lái từ bên ngoài; là việc bất khả xâm phạm của
quốc gia trên tất cả các lĩnh vực; là quyền tự quyết định tương lai, vận mệnh
của chính dân tộc mình. Trong khi đó, CNXH mà chúng ta đang xây dựng là xã hội
do nhân dân lao động làm chủ; con người được giải phóng khỏi áp bức, bóc lột,
bất công, làm theo năng lực, hưởng theo lao động, có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện cá nhân; có nền kinh tế phát triển
cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp;
có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; các dân tộc trong cộng đồng
Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển… Độc
lập dân tộc là điều kiện tiền đề để xây dựng CNXH. Ngược lại, CNXH là cơ sở bảo
đảm vững chắc cho độc lập dân tộc.
Vậy vì sao các đối tượng xấu lại ra sức tấn
công mục tiêu xây dựng CNXH của Việt Nam? Suy cho cùng, câu trả lời vẫn là vấn
đề lợi ích. Trong thời đại ngày nay, mâu thuẫn giữa CNXH và chủ nghĩa tư bản
(CNTB) vẫn tồn tại và có mặt ngày càng gay gắt, quyết liệt hơn. Điều này bắt
nguồn từ bản chất của hai xã hội. Trong xã hội XHCN, quần chúng lao động là
người nắm giữ quyền lực Nhà nước, lợi ích được chia sẻ một cách hài hòa, công
bằng và bình đẳng. Trong khi đó, ở xã hội tư bản, mặc dù chấp nhận đa nguyên
chính trị, đa đảng đối lập nhưng quyền lực phần lớn vẫn thuộc về gia cấp tư
sản; những mâu thuẫn, bất đồng, bất công trong xã hội vẫn tồn tại dai dẳng và
trở thành nguồn gốc của xung đột.
Theo quy luật vận động và phát triển của
các hình thái kinh tế - xã hội, xã hội XHCN sẽ là hình thái phủ định xã hội tư
bản. Thực tế cũng chứng minh, từ khi chủ nghĩa Mác ra đời, dưới sự lãnh đạo của
các Đảng Cộng sản, giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới đã
đứng lên đấu tranh, khiến cho CNTB chịu những thiệt hại hết sức nặng nề, làm
cho lợi ích của giai cấp tư bản bị lung lay, đảo lộn. Chính vì vậy, để bảo vệ
lợi ích của mình, để duy trì “trật tự vĩnh hằng của CNTB”, các thế lực thù địch
đã ra sức tấn công vào mục tiêu xây dựng CNXH của Việt Nam.
Con đường đi lên CNXH là không dễ dàng. Đã
có lúc phong trào cộng sản trên thế giới lâm vào khủng hoảng, thoái trào với sự
sụp đổ của hệ thống XHCN ở Liên Xô và Đông Âu. Vậy nhưng phải thẳng thắn nhìn
nhận, đây là sự sụp đổ của một mô hình cụ thể của CNXH đã lạc hậu. Việc chúng
ta kiên định đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tiến hành xây dựng CNXH là hoàn toàn
đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển. Xây dựng CNXH là một sự nghiệp lâu dài,
vô cùng khó khăn và phức tạp. Tuy nhiên, những kết quả mà Việt Nam đã đạt được
trong thời gian qua là minh chứng rõ ràng nhất khẳng định CNXH không phải là
“mộng tưởng” như những gì các đối tượng chống phá đưa ra.
Trong đó, một số nét chính có thể phác họa
như: Tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2016-2020 đạt khoảng 6%/năm; quy mô
nền kinh tế và thu nhập bình quân đầu người tăng lên (năm 2020, GDP đạt 271,2
tỉ USD và thu nhập bình quân đầu người đạt 2.779 USD/người); năng suất lao động
tăng từ 4,3%/năm giai đoạn 2011-2015 lên khoảng 6%/năm giai đoạn 2016-2020;
mạng lưới cơ sở giáo dục và đào tạo tiếp tục được mở rộng về quy mô, giáo dục
và đào tạo ở những vùng khó khăn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số được chú
trọng, chất lượng giáo dục ngày càng tăng; đời sống nhân dân được cải thiện, tỉ
lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm còn dưới 3%; quốc phòng, an ninh
không ngừng được củng cố; quan hệ hợp tác quốc tế ngày càng mở rộng và đi vào
chiều sâu…
Dĩ nhiên, trong quá trình phát triển, nước
ta cũng phải đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Trong đó, tham nhũng
được Đảng ta xác định vẫn là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của
Đảng và chế độ. Tuy nhiên, cũng cần nói rõ, tham nhũng là vấn nạn chung của
toàn thế giới, không phải là “sản phẩm riêng” của chế độ XHCN. Thời gian qua,
Đảng, Nhà nước Việt Nam đã nhìn thẳng vào sự thật và kiên quyết xử lý nghiêm
đối với các trường hợp sai phạm. Công tác phòng, chống tham nhũng được lãnh
đạo, chỉ đạo và thực hiện quyết liệt, toàn diện, với quyết tâm chính trị rất
cao. Đặc biệt, với việc thống nhất thành lập Ban Chỉ đạo phòng, chống tham
nhũng cấp tỉnh, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng sẽ được triển khai
ngày càng bài bản hơn, ngày càng đi vào chiều sâu, qua đó, bịt kín sơ hở có thể
nảy sinh tham nhũng.
Độc lập dân tộc gắn liền với CNXH là mong
muốn, nguyện vọng của quần chúng nhân dân, là sự lựa chọn của lịch sử. Biết bao
thế hệ cha ông đã anh dũng hi sinh để có được độc lập, tự do, hòa bình, ổn
định, làm cơ sở tiến lên CNXH. Vì vậy, việc tấn công, đòi từ bỏ mục tiêu xây
dựng CNXH là hành động vô ơn với các thế hệ đi trước, là sự thụt lùi trong tiến
trình phát triển, là sự thất hứa với quần chúng nhân dân lao động. Vì vậy,
Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ từ bỏ mục tiêu xây dựng
CNXH.
Trước ngày Đại hội đồng Liên
hợp quốc bầu thành viên Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) Liên hợp quốc, một số nhà
dân chủ, nhân quyền tự xưng lại càng ra sức cản trở Việt Nam ứng cử thành viên
HĐNQ Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025. Hành động vu khống, phá hoại của những
kẻ chống phá mù quáng không chỉ đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc, mà còn
khiến dư luận trong nước và quốc tế phẫn nộ, phản đối. Bởi những đóng góp và
thành tựu của Việt Nam về quyền con người luôn được cộng đồng quốc tế ghi nhận,
đánh giá cao.
Vài nét về Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc
HĐNQ Liên hợp quốc trực thuộc Đại hội đồng Liên hợp quốc, được
thành lập năm 2006, là cơ chế quan trọng nhất về quyền con người trong hệ thống
Liên hợp quốc; là diễn đàn đối thoại, hợp tác và thúc đẩy cân bằng tất cả các
quyền con người; hoạt động trên cơ sở khách quan, hợp tác và đối thoại, trên
tinh thần xây dựng, không thiên vị, chọn lọc, chính trị hóa và tiêu chuẩn kép.
HĐNQ Liên hợp quốc có các nhiệm vụ: Thảo luận tình hình, đề cập
các vi phạm quyền con người và đưa ra các nghị quyết, khuyến nghị về các vấn đề
quyền con người, hàng năm có báo cáo trình Đại hội đồng Liên hợp quốc; ngăn
chặn các vi phạm quyền con người thông qua hợp tác và đối thoại; hợp tác chặt
chẽ với các chính phủ, tổ chức khu vực, cơ quan nhân quyền quốc gia, các tổ
chức phi chính phủ…; thúc đẩy giáo dục, đào tạo, hỗ trợ kỹ thuật, nâng cao năng
lực cho các nước; thúc đẩy các nước thực hiện nghĩa vụ và cam kết về quyền con
người; kiểm định định kỳ việc thực hiện các nghĩa vụ, cam kết của tất cả các
nước về quyền con người dựa trên các thông tin khách quan, tin cậy, thông qua
một cơ chế kiểm điểm định kỳ 4-5 năm một lần, trên cơ sở hợp tác và đối thoại.
HĐNQ Liên hợp quốc có 47 nước thành viên, phân bổ cân bằng theo
khu vực địa lý (châu Á 13 thành viên, châu Phi 13, Đông Âu 6, Mỹ La tinh và
Caribe 8, Tây Bắc Âu và các nước khác 7). Tất cả các nước thành viên Liên hợp
quốc đều có quyền ứng cử vào HĐNQ Liên hợp quốc. Đại hội đồng Liên hợp quốc sẽ
bầu các thành viên HĐNQ Liên hợp quốc bằng bỏ phiếu kín.
Với vị trí và tầm quan trọng của mình, HĐNQ cùng với Hội đồng
Bảo an trở thành những cơ quan trong hệ thống Liên hợp quốc được các nước quan
tâm ứng cử nhiều nhất. Mục đích chính của các nước tham gia HĐNQ là đề cao
đường lối, chính sách, thành tựu về quyền con người, thúc đẩy các ưu tiên, sáng
kiến phù hợp với lợi ích của mình; tranh thủ thông tin, giải thích, vận động,
đấu tranh, phản bác các quan điểm chỉ trích của các cơ chế nhân quyền Liên hợp
quốc hoặc của các nước khác về tình hình nhân quyền ở nước mình.
Việt Nam tham gia tích cực và có trách nhiệm vào các hoạt động nhân quyền
Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò thành viên HĐNQ Liên
hợp quốc nhiệm kỳ 2014-2016, góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia, nâng cao vị thế,
uy tín của đất nước. Việt Nam tham gia tích cực các hoạt động của HĐNQ, thúc
đẩy các sáng kiến thể hiện dấu ấn, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao như tham
gia Nhóm nòng cốt tại HĐNQ về “Biến đổi khí hậu và quyền con người”, trực tiếp
là tác giả một số nghị quyết được HĐNQ thông qua bằng đồng thuận về ảnh hưởng
của biến đổi khí hậu đối với các nhóm dễ bị tổn thương (phụ nữ, trẻ em…).
Việt Nam cũng là đồng tác giả, đồng bảo trợ hàng chục nghị quyết
của HĐNQ Liên hợp quốc trong giai đoạn này. Đồng thời, làm cầu nối thúc đẩy hợp
tác và đối thoại giữa các nước, các nhóm nước nhằm thúc đẩy cách tiếp cận cân
bằng, tiến bộ, hướng tới con người của HĐNQ trên những vấn đề còn khác biệt như
về quyền sức khỏe sinh sản, chống bạo hành với phụ nữ, xóa bỏ phân biệt đối xử
và bạo lực… Việt Nam cũng đã thúc đẩy đối thoại trong khuôn khổ HĐNQ giữa các
nước liên quan, các tổ chức khu vực và các cơ chế của Liên hợp quốc về quyền
con người nhằm giải quyết những quan tâm cụ thể về các vấn đề liên quan đến
nhân quyền, nhân đạo; phối hợp với các nước đang phát triển đấu tranh để bảo
đảm HĐNQ hoạt động đúng nguyên tắc, thủ tục, không chính trị hóa, không can
thiệp công việc nội bộ các nước.
Từ năm 2014 đến 2016, Việt Nam được tín nhiệm bầu làm Điều phối
viên ASEAN tại HĐNQ Liên hợp quốc đã góp phần thúc đẩy quan hệ song phương giữa
Việt Nam với các nước và nâng cao vị thế quốc tế của đất nước. Việc Việt Nam
tiếp tục ứng cử vào HĐNQ Liên hợp quốc, nhiệm kỳ 2023-2025 sẽ góp phần khẳng
định nỗ lực, cam kết và thành tựu cũng như khả năng đóng góp của Việt Nam trong
bảo vệ và thúc đẩy quyền con người; chủ động phòng ngừa, phát hiện đấu tranh phản
bác các luận điệu xuyên tạc, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền để chống phá.
Đồng thời, tranh thủ sự ủng hộ của các nước để tăng cường công tác tuyên truyền
về thành tựu, thực tế tình hình bảo đảm quyền con người tại Việt Nam.
Cùng với đó, nâng cao vị thế, hình ảnh một nước Việt Nam chủ
động, tích cực hội nhập quốc tế, thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc
tế; góp phần tăng cường quan hệ hợp tác song phương với các nước bạn bè, các
nước đối tác, kể cả những nước có quan điểm khác biệt về quyền con người. Thúc
đẩy các sáng kiến cụ thể, trong đó tiếp tục đẩy mạnh sáng kiến về “Biến đổi khí
hậu và quyền con người”; thúc đẩy hợp tác, đối thoại trên các vấn đề mà quốc tế
quan tâm, phù hợp với lợi ích của ta. Tiếp tục nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ,
hoàn thiện cơ chế phối hợp, nâng cao hiệu quả sự tham gia của Việt Nam vào các
cơ chế đa phương, tạo tiền đề để đưa cán bộ của ta vào làm việc tại các cơ quan
của Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác.
Như vậy, khi Việt Nam tham gia HĐNQ Liên hợp quốc sẽ giúp các
nước, các tổ chức quốc tế có nhận thức đúng hơn về nhân quyền ở nước ta; đồng
thời, Việt Nam cũng có điều kiện thuận lợi góp phần vào việc bảo đảm thực thi
nhân quyền trên thế giới. Qua đó, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của Việt Nam
trên trường quốc tế.
Tôn giáo là lĩnh vực nhạy cảm, luôn thu hút sự chú ý của dư luận trong
nước và quốc tế. Do đó, cùng với vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, các thế
lực thù địch đã và đang lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động chống phá Đảng và
chế độ ta.
Các thế lực thù địch âm mưu biến tôn giáo thành “ngòi
nổ” gây mất ổn định chính trị - xã hội hoặc thông qua vỏ bọc tôn giáo để tuyên
truyền luận điệu xuyên tạc kích động, phá hoại tư tưởng, gây chia rẽ khối đại
đoàn kết toàn dân tộc.
Chiêu bài tôn giáo là một phần của chiến lược “diễn
biến hoà bình” mà các tổ chức, cá nhân thù địch, thiếu thiện chí với Việt Nam
thường sử dụng nhằm kích động xu hướng chia rẽ, ly khai, từ đó phát triển thành
các cuộc tuần hành, biểu tình, gây rối an ninh, trật tự, tạo sự bất ổn định về
chính trị - xã hội, ảnh hưởng không nhỏ sự phát triển toàn diện của xã hội. Đây
cũng là cái cớ để họ công khai can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Đáng chú ý, trong giai đoạn hiện nay, ngoài những hoạt động chống phá mang tính
quy luật thì một trong những thủ đoạn mà số đối tượng chống đối cực đoan ở
trong và ngoài nước thường tiến hành là tìm mọi cách lợi dụng vấn đề tôn giáo ở
vùng dân tộc thiểu số nhằm kích động tư tưởng ly khai, tự trị tại các địa bàn
chiến lược về an ninh, quốc phòng.
Thực tế cho
thấy, tại các khu vực trọng yếu của đất nước như miền núi phía Bắc, Tây Nguyên,
Tây Nam Bộ, các thế lực chống phá cực đoan ở trong và ngoài nước đã lợi dụng
vấn đề dân tộc gắn với vấn đề tôn giáo để kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi,
xúi giục người dân di cư tự do, biểu tình, bạo loạn gây mất ổn định chính trị
nhằm tạo cớ can thiệp, phá hoại độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh
thổ Việt Nam.
Nổi lên thời
gian qua là các vụ việc trọng điểm xảy ra trên địa bàn Tây Bắc, trong đó tập
trung ở các tỉnh như Điện Biên, Lai Châu… Dưới sự hậu thuẫn của các thế lực thù
địch, các đối tượng chống đối trong nước ráo riết thực hiện mưu đồ lập ra tôn
giáo riêng ở đồng bào dân tộc như lập ra “đạo Vàng Chứ” để qua đó lôi kéo, tập
hợp lực lượng thành lập cái gọi là “Vương quốc Mông tự trị”. Ở một số địa
phương, tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số khu vực miền núi phía Bắc, các phần
tử xấu còn lợi dụng các hiện tượng tôn giáo mới, tà đạo như Giê Sùa, Bà Cô Dợ,
Hội thánh Đức Chúa trời, Sề Chu Hà Ly Cha và một số hiện tượng tôn giáo liên
quan đến tục lễ thờ cúng các anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng để
tiến hành các hoạt động gây rối an ninh, trật tự. Thực tế, Giê Sùa, Bà Cô Dợ
đều là tà đạo lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tập hợp phát triển lực lượng lập
“Nhà nước Mông”. Thời gian qua, các đối tượng triệt để sử dụng phương thức, thủ
đoạn thông qua điện thoại, mạng xã hội, các phần mềm trực tuyến để chỉ đạo số
đối tượng cốt cán ở trong nước tích cực tuyên truyền, lôi kéo người Mông tại
Việt Nam tham gia tà đạo nhằm kích động lập “Nhà nước Mông” với các luận điệu
như: Đức Chúa trời Giê Hô Va đã chia đất cho người Mông nhưng người Mông không
đoàn kết, nên đất đai đã bị các nước khác xâm chiếm; người Mông không có lãnh
thổ, nhà nước riêng, suốt đời đi làm thuê cho các dân tộc khác…
Những vấn đề
nêu trên đã và đang tiềm ẩn nguy cơ gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn
xã hội trong khu vực, tạo thành những điểm nóng tôn giáo.
Hay như ở
vùng Tây Nguyên trước đây, các đối tượng chống đối, cực đoan trong dân tộc cũng
từng đòi thành lập đạo Tin lành Đề ga của đồng bào dân tộc bản địa để mưu đồ
lập ra cái gọi là Nhà nước Đề ga độc lập. Tương tự ở Tây Nam Bộ, nơi có đông
đồng bào Khmer sinh sống, chúng cũng dựng nên cái gọi là “Nhà nước Khmer Krôm”
với luận điệu vu khống Nhà nước ta đàn áp sư sãi Phật giáo Nam tông Khmer Nam
Bộ. Đây là thủ đoạn rất nham hiểm, trắng trợn của các thế lực thù địch hòng
chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phá hoại an ninh quốc gia, đe dọa độc lập,
chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.
Bên cạnh đó,
thời gian qua, tại một số địa phương xuất hiện những mặt hạn chế, yếu kém trong
quản lý, điều hành xã hội như vấn đề đầu tư, ô nhiễm môi trường, giải phóng mặt
bằng, đền bù giải tỏa… Triệt để lợi dụng vấn đề này, các đối tượng chống đối
cực đoan trong tôn giáo tìm mọi cách để ngụy tạo chứng cứ, thường xuyên tuyên
truyền, xuyên tạc nhằm hạ thấp uy tín và vai trò lãnh đạo của cấp ủy Đảng,
chính quyền các cấp và các ban, ngành chức năng có liên quan. Từ đó tạo tâm lý
tiêu cực, chia rẽ mối quan hệ giữa nhân dân với các cấp uỷ đảng, chính quyền,
phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cao hơn nữa có thể kích động quần
chúng tín đồ tụ tập đông người, gây rối an ninh, trật tự hoặc thực hiện các
hành vi vi phạm pháp luật, chống phá chế độ. Không những vậy, một số đối tượng
cực đoan trong tôn giáo còn lợi dụng tình hình thiên tai hay đại dịch COVID-19
để tuyên truyền xuyên tạc, tạo “chiến tranh tâm lý”, gây hoang mang, lo lắng,
hoài nghi trong nhân dân, nhất là việc xuyên tạc chất lượng của vaccine phòng
COVID-19; xuyên tạc chính sách phòng, chống COVID-19 của Nhà nước ta; bôi nhọ các
lực lượng thực thi pháp luật, hỗ trợ nhân dân chống dịch bệnh; thổi phồng những
mất mát, tổn thất do dịch bệnh gây ra, quy nguyên nhân dịch bệnh do “chính
quyền thờ ơ, vô cảm”, “đường lối của Đảng sai lầm”!
Mới đây, sau
khi một số trang báo điện tử đưa tin về việc Mỹ tiêu hủy gần 400 triệu liều
vaccine COVID-19 do vấn đề chất lượng, các đối tượng lập tức “đánh bùn sang
ao”, cố tình bẻ lái sang vấn đề tiêm vaccine ở Việt Nam với luận điệu hết sức
hoang đường khi ám chỉ Nhà nước ta không coi trọng sức khỏe và tính mạng của
người dân, o ép người dân tiêm vaccine. Trong khi đó, thực tế đã chứng minh
việc tiêm vaccine ở Việt Nam thời gian qua đã đem lại những tín hiệu tích cực,
được nhân dân ủng hộ cao, qua đó đã tạo “tấm lá chắn” hữu hiệu nhất để chúng ta
và nhân loại đẩy lùi dịch bệnh.
Rõ ràng, qua
phân tích những vấn đề nêu trên cho thấy, chiêu bài tôn giáo được các thế lực
thù địch và số đối tượng chống đối ở trong và ngoài nước triệt để lợi dụng để
chống phá Đảng, Nhà nước ta, là vấn đề mang tính quy luật. Hiện nay, thủ đoạn
lợi dụng chống phá của các đối tượng ngày càng tinh vi, xảo quyệt, lại được che
đậy bởi vỏ bọc tôn giáo nên người dân khó phát hiện. Tính chất nguy hiểm ngày
càng cao khi thủ đoạn này đã tác động trực tiếp đến nhận thức, tư tưởng của đồng
bào theo đạo. Đây sẽ là tiền đề để khi có điều kiện, có thời cơ, các đối tượng
sẽ đẩy mạnh các hoạt động tuyên truyền, kích động, lôi kéo quần chúng tín đồ
tham gia vào các hoạt động chống đối, vi phạm pháp luật.
Do đó, mọi
chức sắc, tín đồ tôn giáo nói riêng và mỗi người dân Việt Nam nói chung hãy
luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, chủ động lên án những mưu đồ xấu của kẻ địch.
Đồng thời, tích cực tham gia đấu tranh, đẩy lùi việc lợi dụng vấn đề chính trị
để chống phá ra khỏi đời sống tôn giáo, góp phần làm cho các hoạt động tôn giáo
trở nên thuần khiết, tốt đẹp như bản chất vốn có. Nâng cao nhận thức, tinh thần
cảnh giác của người dân, phân biệt rõ hoạt động tôn giáo đúng nghĩa và hành vi
lợi dụng tôn giáo để kích động chống phá của kẻ xấu. Mọi hoạt động tôn giáo
phải tuân thủ giáo lý, giáo luật, tuân thủ luật pháp, đem lại đời sống đạo pháp
đúng nghĩa, đảm bảo nhu cầu sinh hoạt tôn giáo cho đồng bào trên cơ sở tuân thủ
pháp luật của Nhà nước.
Lợi dụng đời
sống của bà con người Mông ở các tỉnh miền núi còn nhiều khó khăn, trình độ dân
trí thấp… Vừ Thị Dợ, đối tượng cầm đầu đẩy mạnh tuyên truyền về tà đạo “Bà Cô
Dợ”, dưới hình thức biến tướng của tôn giáo. Mục đích của đối tượng là lợi dụng
niềm tin tôn giáo, tín ngưỡng của quần chúng để tuyên truyền, phát triển lực
lượng; lợi dụng mạng Internet để tuyên truyền các nội dung chia rẽ khối đại
đoàn kết dân tộc, kích động tư tưởng ly khai, tự trị, kêu gọi thành lập “Nhà
nước riêng”…
Các
luận điệu hoang đường của tà đạo “Bà Cô Dợ”
Tà
đạo “Bà Cô Dợ” (Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta) do Vừ Thị Dợ, SN 1977, người
Mông, gốc Lào, quốc tịch Mỹ, hiện đang sinh sống tại bang Wiscosin, Mỹ lập ra
và làm Hội trưởng từ cuối năm 2016.
Từ
năm 2017, Vừ Thị Dợ đã sử dụng các đoạn video, clip tuyên truyền, lôi kéo trên
mạng xã hội để lôi kéo người Mông tin theo cái gọi là tà đạo “Bà Cô Dợ” nhằm
lập “Nhà nước riêng” của người Mông.
Tà đạo “Bà Cô Dợ” không có giáo lý, giáo
luật, đối tượng cắt, sửa có sự vay mượn, xuyên tạc giáo lý của Ki tô giáo nhưng
không thừa nhận Chúa Giê-su và tuyên truyền, lừa mị Vừ Thị Dợ là người được
“Đức Chúa Trời” chọn để sinh ra Chúa Giê-su lần thứ hai (tái lâm lần thứ hai)
có tên là Cứ Nu Si Lông (Bố Nù Sì Lông), người này sẽ cai trị thế giới 1000
năm, là Vua của người Mông thống trị thế giới. Khi có chiến tranh, thiên tai,
lũ lụt xảy ra, những người tin theo “Bà Cô Dợ” sẽ được Chúa Cứ Nu Si Lông đưa
lên đất nước của Chúa sinh sống; không tổ chức lễ Lễ phục sinh, chỉ tổ chức lễ
Giáng sinh vào ngày 22/11 hằng năm (không phải ngày 25/12) là ngày sinh của
Chúa Cứ Nu Si Lông; không phải đóng 10% thu nhập, ai theo đạo “Bà Cô Dợ” sẽ
được chia tiền…
Vào sáng chủ nhật hàng tuần, các đối
tượng và những người tin theo tập trung sinh hoạt tại điểm, nhóm. Trong quá
trình giảng dạy, các đối tượng sử dụng các bài hát về Chúa đã được cải biên
trên nền nhạc trẻ, nội dung chủ yếu là tuyên truyền mê tín dị đoan, xuyên tạc
kinh thánh; đả kích các tôn giáo chính thống; chê bai, phỉ báng phong tục
truyền thống của người dân tộc Mông, tuyên truyền về ngày tận thế, việc vua
Mông ra đời, kích động ly khai, tự trị, lôi kéo người theo tổ chức “Bà Cô Dợ”
tham gia thành lập “Nhà nước Mông”.
Đáng
chú ý, vào thời điểm đại dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, trong lúc Đảng, Nhà
nước Việt Nam đang triển khai thực hiện nhiều chương trình phát triển kinh tế -
xã hội, văn hoá vùng dân tộc và miền núi, phòng, chống dịch bệnh COVID[1]19 thì
Vừ Thị Dợ và các đối tượng cầm đầu lại tuyên truyền, xuyên tạc chủ trương,
chính sách của Đảng, Chính phủ Việt Nam như: “Chính quyền không quan tâm đến
chế độ, chính sách đối với nhân dân nên đời sống đồng bào rất khó khăn”; “Không
được đi tiêm phòng dịch bệnh vaccine COVID – 19 vì sẽ làm giảm trí nhớ, gây hại
cho sức khoẻ con người”, đồng thời chỉ đạo, hướng dẫn cách đối phó với công tác
tuyên truyền, phòng, chống dịch của cơ quan y tế.
Để
thực hiện âm mưu và hoạt động của mình, bên cạnh việc kích động các hoạt động
chống đối chính quyền, đối tượng cầm đầu Vừ Thị Dợ đã gửi tiền cho số đối tượng
trong nước để tuyên truyền, lôi kéo người tham gia phát triển tổ chức.
Thời
điểm cao nhất (năm 2017 - 2019), tà đạo “Bà Cô Dợ” có hàng ngàn người tin theo
tại nhiều tỉnh miền núi, vùng dân tộc thiểu số, trong đó tập trung chủ yếu là
khu vực tuyến biên giới Việt - Lào, Việt - Trung nơi có đông đồng bào dân tộc
Mông sinh sống.
Qua
các nội dung của các luận điệu tuyên truyền và hoạt động của các đối tượng tại
địa bàn, chúng ta có thể nhận thấy: Âm mưu xuyên suốt của tổ chức “Bà Cô Dợ” đó
là nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chia rẽ mối quan hệ máu thịt giữa
đồng bào dân tộc thiểu số với Đảng, Nhà nước; kích động tư tưởng ly khai, tự
trị, kêu gọi người Mông trên toàn thế giới đoàn kết, đòi quyền tự quyết, lập
“Nhà nước Mông”.
Đồng
thời tuyên truyền, vu cáo Nhà nước Việt Nam đàn áp người Mông trong lĩnh vực
dân chủ, nhân quyền, tự do tôn giáo; tuyên truyền sai tự thật về chính sách
phát triển kinh tế - xã hội, văn hoá trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số và
miền núi, công tác phòng, chống COVID[1]19; chỉ đạo đối tượng cầm đầu, cốt cán
trong nước đối phó với chính quyền và cán bộ đến tuyên truyền và hỗ trợ kinh
phí cho các đối tượng cầm đầu, cốt cán trong nước để mua, sắm phương tiện hoạt
động. Các đối tượng cầm đầu tà đạo này còn xúc phạm các phong tục, tập quán,
truyền thống của dân tộc và niềm tin của các tôn giáo chính thống.
Để
thực hiện âm mưu trên, các đối tượng triệt để lợi dụng những sơ hở, thiếu sót
trong thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong
vùng dân tộc thiểu số để tuyên truyền, xuyên tạc, vu cáo chính quyền đàn áp dân
tộc, tôn giáo. Bên cạnh đó, Vừ Thị Dợ và các đối tượng cầm đầu đã vay mượn thậm
chí xuyên tạc một cách trắng trợn kinh thánh và các giáo lý của Ki tô giáo như
tự coi mình là Đức Chúa Trời, không thừa nhận Đức Chúa Giê-su… để lừa bịp một
bộ phận quần chúng đồng bào người Mông nhận thức còn thấp, nhất là về các vấn
đề liên quan đến tôn giáo để lôi kéo họ tham gia tổ chức.
Cùng
với đó, các đối tượng cầm đầu cũng đã triệt để lợi dụng sự phát triển của công
nghệ thông tin, thông qua mạng xã hội để tổ chức hội luận, đào tạo trực tuyến,
tuyên truyền, móc nối, lôi kéo, phát triển lực lượng.
Với
những luận điệu tuyên truyền có nội dung rất phản khoa học, bài xích các tôn
giáo chính thống, đả kích phong tục truyền thống của người dân tộc Mông, Vừ Thị
Dợ và cái tổ chức gọi là “Bà Cô Dợ” bị rất nhiều người Mông không chỉ ở Việt
Nam mà cả cộng đồng người Mông quốc tế đấu tranh, phản bác. Ngay cả những người
được coi là “cùng hội, cùng thuyền” với Vừ Thị Dợ, suốt ngày kêu gọi thành lập
“Nhà nước Mông”, vu cáo Việt Nam đàn áp dân tộc, tôn giáo như Vàng Chỉnh Mình ở
Mỹ thông qua tài khoản Youtube Kev Vaam Meej cũng phải thừa nhận: Vừ Thị Dợ là
người không có đức tin về Chúa Giê-su và đã bị các tổ chức Tin lành ở Mỹ đuổi
khỏi Hội Thánh; những ai tin theo Vừ Thị Dợ là những người không hiểu biết nên
mới tin theo. Việc một số người Mông tin theo Dợ đã để lại những hậu quả tai
hại về đời sống và đức tin.
Sự chuyển hoá ở một địa bàn khi
người dân từ bỏ “Bà Cô Dợ”
“Nhờ
được tuyên truyền, giải thích, vợ chồng tôi đã hiểu được cái sai… Bây giờ, tôi
yên tâm lao động sản xuất, phát triển kinh tế của gia đình, không nghe theo lời
của những kẻ xấu”, gặp các cán bộ Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Sơn La,
ông Giàng Khúa Dua (SN 1953), một người dân sinh sống tại huyện Sốp Cộp cho
biết. Ông Giàng A Khua chỉ là một trong nhiều người ở bản Huổi Luông đã từ bỏ
tham gia tà đạo “Bà Cô Dợ”. Trong bản còn có nhiều người khác như anh Vừ A Cho
(SN 1982) và Giàng A So (SN 1987, cùng trú tại bản Huổi Luông, xã Mường Lèo,
huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La)… hiện giờ cũng đã từ bỏ đạo lạ, quay trở lại với
sinh hoạt tôn giáo thuần tuý.
Sơn
La từng là một trong những địa bàn phức tạp về hoạt động của tổ chức “Bà Cô
Dợ”... Qua vận động, tuyên truyền, đến nay có 21 trường hợp từng theo “Bà Cô
Dợ” đã từ bỏ, trở lại với sinh hoạt tôn giáo thuần túy. Một trong những bí
quyết thành công của Công an tỉnh Sơn La là việc vận dụng linh hoạt các biện
pháp công tác; việc vận động, tuyên truyền để người dân hiểu được âm mưu,
phương thức hoạt động của các đối tượng. Từ đó, nhiều người đã chủ động từ bỏ,
không tham gia… Những chia sẻ của những người trong cuộc, phần nào đã cho thấy
một cách làm đúng hướng, sẽ giúp người dân đã và đang lạc lối đi theo luận điệu
tuyên truyền của các đối tượng cầm đầu tổ chức thực sự tỉnh táo, nhận diện đúng
bản chất của tà đạo “Bà Cô Dợ”.
Từ
những khó khăn, vất vả được tận mắt nhìn thấy trong những ngày 4 cùng ở địa
bàn, cán bộ đơn vị thấu hiểu hơn tâm tư, tình cảm, nguyện vọng cùng những vướng
mắc trong cuộc sống của người dân để chia sẻ.
Từ
đó, mỗi trinh sát Phòng An ninh nội địa lại tìm tòi, học hỏi những cách làm
hay, sáng tạo trong nông nghiệp. Sau đó, bằng những hiểu biết, kinh nghiệm học
hỏi của mình để hướng dẫn bà con thực hiện việc trồng lúa nương, ngô, sắn đạt
năng suất cao, ít sâu bệnh và chăm bón đúng kỹ thuật, sử dụng đúng các quy định
của nhà sản xuất về thuốc bảo vệ thực vật; kỹ thuật chăn nuôi gia súc, gia cầm
như tiêm, uống thuốc phòng, chống dịch bệnh trong thời gian chuyển mùa và cách
làm chuồng trại hợp vệ sinh; tận dụng phân động vật để làm phân bón, cách thu
hoạch và bảo quản nông sản chất lượng, hiệu quả…
“Lời
nói đi đôi với hành động”, bằng những việc làm tuy nhỏ nhưng đầy thiết thực như
vậy, trinh sát Phòng An ninh nội địa Công an tỉnh Sơn La đã xây dựng hình ảnh
đẹp, ấn tượng sâu sắc trong lòng dân trên địa bàn. Từ sự gắn bó, tình cảm của
người già đến các em nhỏ, phụ nữ và thanh niên trên địa bàn nên công tác tuyên
truyền phổ biến pháp luật, vận động người dân chấp hành các quy định của Đảng,
Nhà nước của trinh sát, đơn vị đã đạt được hiệu quả và mang tính lan tỏa sâu
rộng.
Cùng
với việc tuyên truyền, chính quyền các địa phương đã tiếp tục ưu tiên đầu tư,
phát triển toàn diện các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội ở các địa bàn;
vận động nhân dân tích cực tham gia các chương trình xây dựng nông thôn mới;
đồng thời thực hiện tốt các chính sách dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giữ gìn
và phát huy truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc trên địa bàn; đẩy mạnh
việc phát động phong trào “Bảo vệ an ninh Tổ quốc”, phù hợp thiết thực với từng
địa bàn. Trong đó, đặc biệt chú trọng đến việc phát huy vai trò của người dân
tộc thiểu số, nhất là những người có uy tín trong công tác tuyên truyền.
Ở
mỗi địa bàn lại có những cách làm hay, hiệu quả…
Cùng
với việc vận động, truyên truyền đã xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Trong
thời gian qua, Cục An ninh nội địa đã phối hợp với Công an các địa phương triển
khai đồng bộ các biện pháp nắm tình hình, quản lý, đấu tranh với các đối tượng
cầm đầu, cốt cán. Trong đó, kiên quyết xử lý, răn đe các đối tượng có hoạt động
tuyên truyền sai sự thật về việc phòng, chống dịch bệnh COVID-19, xử lý về hành
vi vi phạm trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin.
Dù
đã đạt được những hiệu quả nhất định nhưng công tác đấu tranh, xoá bỏ tà đạo
này đã và đang đặt ra cho lực lượng chức năng những khó khăn bởi âm mưu của các
đối tượng cầm đầu “Bà Cô Dợ” không thay đổi. Chúng tiếp tục lợi dụng tín
ngưỡng, tôn giáo để tuyên truyền, lôi kéo người Mông tham gia lập “Nhà nước
riêng”. Trong đó, các đối tượng cầm đầu tà đạo “Bà Cô Dợ” từ nước ngoài tiếp
tục tuyên truyền, móc nối, chỉ đạo gửi tiền tài trợ số cầm đầu, cốt cán tại các
địa bàn để lôi kéo đồng bào dân tộc Mông tham gia tổ chức.
Cùng
với đó là địa bàn hoạt động của tà đạo ở các xã vùng sâu, vùng cao, biên giới,
giao thông đi lại khó khăn; đối tượng tin theo phần lớn là người Mông, có cuộc
sống khó khăn; nhận thức của một bộ phận quần chúng nhân dân về pháp luật, giáo
lý và giáo luật còn hạn chế nên dễ bị dụ dỗ, lôi kéo tham gia tà đạo này.
Đảng, Nhà nước tôn trọng, bảo vệ, bảo
đảm và thúc đẩy quyền tự do ngôn luận của công dân. Tuy nhiên, đối với việc sử
dụng mạng xã hội để dàn dựng, xuyên tạc sự thật, tung tin sai trái, thất thiệt
với ngôn ngữ, nội dung phản cảm, thô tục, xuyên tạc, xúc phạm danh dự, nhân
phẩm đến các tổ chức, cá nhân, xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc thì phải
chấn chỉnh, xử lý để răn đe người vi phạm và phòng ngừa chung.
Không chỉ riêng
Việt Nam, mà nhiều quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới đều có các biện pháp
khuyến khích công dân ứng xử có văn minh trên mạng xã hội, bảo đảm cho tự do
ngôn luận đi theo chiều hướng tích cực, có lợi, đáp ứng được những yêu cầu, đòi
hỏi khách quan. Việc xây dựng các quy định luật pháp về tự do ngôn luận của mỗi
quốc gia đều căn cứ truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán, những điều kiện,
bối cảnh lịch sử cụ thể… Như tại Singapore, luật pháp quy định phạt đến 100.000
đôla Singapore hoặc phạt tù tới 3 năm với hành vi nói xấu, phỉ báng, vu khống
trong sinh hoạt hằng ngày và trên mạng xã hội; nếu bị phát hiện đưa tin giả lên
mạng xã hội, khi nhà chức trách yêu cầu cải chính mà không chấp hành, có thể sẽ
bị phạt đến 20.000 đôla Singapore hoặc 12 tháng tù. Luật pháp nước này nghiêm
cấm các hành vi đi ngược lợi ích và ổn định cộng đồng, làm tổn hại an ninh và
an toàn cộng đồng, làm tổn hại sức khỏe, kích động sự hận thù giữa các nhóm xã
hội, suy giảm niềm tin vào chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, làm
tổn hại quan hệ giữa Singapore với các quốc gia khác
Ngay như ở một
số nước tư bản phát triển, quyền tự do ngôn luận không thể bất tuân pháp luật.
Như ở Mỹ, Tối cao pháp viện nước này đã khẳng định, tự do ngôn luận không có
nghĩa là có quyền bịa chuyện vu khống, phỉ báng cá nhân; giới hạn về tự do ngôn
luận thể hiện qua án lệ của tòa án, cho phép chính quyền có quyền ngăn chặn,
trừng phạt phát ngôn có tính khiêu dâm, phỉ báng, tục tĩu, xúc phạm, gây hấn. Ở
Pháp, pháp luật cũng quy định những giới hạn, có các chế tài nghiêm khắc đối
với hành vi lạm dụng tự do ngôn luận xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của
người khác, đồng thời chống lại việc vu khống, bôi nhọ, phân biệt chủng tộc,
tôn giáo, kích động bạo lực, gây hận thù. Bộ luật Dân sự của Pháp cấm xâm phạm
đời tư cá nhân; Luật Hình sự nước này cấm xuất bản một số tài liệu liên quan
đến an ninh quốc gia; Luật Tự do báo chí điều chỉnh hành vi tổ chức, cá nhân
trên mạng internet. Ở Anh ban hành “Quy tắc hành nghề cho các nhà cung cấp nền
tảng truyền thông xã hội trực tuyến” hay ở Australia cũng ra “Bộ Quy tắc ứng xử
trên truyền thông xã hội và bình luận trực tuyến”, điều này cho phép các quốc
gia này kiểm soát vấn đề ngôn luận trên nền tảng mạng xã hội, truyền thông.
Không chỉ
mỗi quốc gia riêng biệt, Liên minh châu Âu (EU) cũng ban hành Bộ Quy tắc ứng xử
trên các nền tảng mạng xã hội như Facebook, Twitter, Google, TikTok; cam kết
bảo đảm các công ty, tổ chức, cá nhân tiếp cận nhanh chóng, đánh dấu và gỡ bỏ
các phát ngôn thù địch cùng nội dung bất hợp pháp trên các nền tảng của họ.
Việc các nền tảng mạng xã hội chủ động tuân theo bộ quy tắc xuất phát từ việc
EU sẽ trực tiếp giám sát hoạt động này. Báo cáo mới nhất của EU đánh giá kết
quả thực thi của Bộ Quy tắc năm 2020 đã ghi nhận 71% nội dung xác nhận là phát
ngôn thù địch bất hợp pháp đã bị gỡ bỏ, tăng so với con số 26% của năm 2016.
Tự do ngôn luận là một trong
các quyền cơ bản của con người, tuy nhiên quyền này không thể đặt ngoài khuôn
khổ pháp luật. Điều 19 Công ước về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 chỉ
rõ: “Việc thực hiện quyền tự do ngôn luận có thể phải chịu một số hạn chế nhất
định và những hạn chế này cần được quy định bởi pháp luật, nhằm: a) Tôn trọng
các quyền hoặc uy tín của người khác; b) Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự
công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội”. Điều 19, Tuyên ngôn quốc tế về
quyền con người năm 1948 xác định mọi người đều có quyền tự do quan niệm, tự do
phát biểu quan điểm, tìm kiếm, tiếp nhận và phổ biến tin tức, ý kiến bằng
phương tiện truyền thông không kể biên giới quốc gia. Đồng thời, Điều 29 Tuyên
ngôn cũng bắt buộc mọi người phải tuân thủ những hạn chế do luật định nhằm bảo
đảm việc thừa nhận, tôn trọng quyền của người khác, đáp ứng các đòi hỏi chính
đáng về đạo đức, trật tự công cộng, phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ.
Hồi tháng 3/2022, Công an TP Hồ Chí Minh
khởi tố vụ án, khởi tố bị can và thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam đối với
bà Nguyễn Phương Hằng, sinh năm 1971, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Đại Nam,
trú tại 17-19 Ngô Đức Kế, phường Bến Nghé, quận 1, TP Hồ Chí Minh với tội danh
“Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp
pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331, Bộ luật Hình sự. Điều đáng nói là dù
việc khởi tố điều tra, tạm giam với bà Nguyễn Phương Hằng là thực hiện theo các
quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự và được thông báo công khai
trên các phương tiện truyền thông, song một số tổ chức, cá nhân lại tìm cách
“bẻ lái, xoay chiều”. Một số tổ chức, hội nhóm phản động như Việt Tân, Hội
Anh em dân chủ; các hãng truyền thông như RFA, RFI, VOA… đã đưa ra nhiều bài
viết, hình ảnh, video có nội dung xuyên tạc, sai trái rồi quy chụp “Ở Việt Nam
này luật pháp không tồn tại”, “quyền tự do dân chủ bị bóp nghẹt”… Số này đưa ra
các bài viết tô vẽ, đánh bóng hình ảnh bị can Nguyễn Phương Hằng như một thần
tượng, từ đó hướng lái dư luận rằng ở Việt Nam, hễ ai “cứ nổi tiếng trên mạng
xã hội thì sẽ bị “diệt”!
Trước đó, sau
khi phiên toà xét xử bị cáo Trương Châu Hữu Danh và đồng phạm kết thúc, trang
BBC giật tít: “Vụ xử “Báo Sạch”: Việt Nam đừng nên coi truyền thông là kẻ thù”.
Bài báo dẫn lời Phó Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi nhân quyền
(Human Rights Watch), ông Phil Robertson nói rằng “Việt Nam không nên coi
truyền thông là kẻ thù của nhà nước, việc bỏ tù thêm nhiều nhà báo công dân sẽ
không ngăn được người dân lên tiếng, hoặc yêu cầu cải cách ở Việt Nam”. Từ đó
kêu gọi “Chính phủ nên công nhận các nhà báo công dân và truyền thông độc lập
là đồng minh của công tác quản trị nhà nước tốt”!
Việc xử phạt vi
phạm hành chính áp dụng đối với những cá nhân vi phạm ít nghiêm trọng, chưa đến
mức truy cứu trách nhiệm hình sự, tuy nhiên việc xử phạt được thực hiện kịp
thời để đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa chung.
Chẳng hạn, ngày
22/8/2022, Công an tỉnh Lâm Đồng có quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối
với H.N.M, chủ tài khoản TikTok H.M số tiền 10 triệu đồng do người này đăng
clip miệt thị người miền Trung. Dư luận cho rằng, những lời lẽ H.N.M đưa ra là
không có cơ sở nhưng đã gây hiệu ứng mạng nguy hiểm, nội dung trong video đã
thể hiện sự phân biệt đối xử, kỳ thị vùng miền, tạo tâm lý đố kỵ, chia rẽ khối
đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam, đi ngược với tinh thần xây dựng nếp sống văn
hoá, đoàn kết toàn dân. Điều đáng nói là dù việc xử phạt đã được tiến hành công
khai và đúng quy định pháp luật, người vi phạm cũng thừa nhận hành vi sai trái,
gây ảnh hưởng xấu đến dư luận xã hội nhưng một số kênh thông tin lại “bẻ lái”,
cho rằng việc đăng clip như vậy “là cần thiết” và việc cơ quan chức năng xử
phạt H.N.M là “bịt miệng người dân, trấn áp vô lý”!
Đặc biệt, đối
tượng mà các thế lực thù địch lợi dụng để chống phá là một số cá nhân nổi tiếng
có lượt người theo dõi, tương tác cao trên các nền tảng mạng xã hội. Khi những
phát ngôn gây sốc, lệch chuẩn, những hành vi vi phạm pháp luật trên mạng xã hội
gây bức xúc trong dư luận được cơ quan chức năng xử lý theo luật định, họ lại
tỏ vẻ bênh vực, cổ xúy cho những hành vi sai trái đó. Đồng thời, họ đưa ra luận
điệu bóp méo, bôi đen bức tranh hiện thực về tình hình tự do ngôn luận ở Việt
Nam, công kích cơ quan chức năng, phủ nhận hệ thống pháp luật liên quan đến vấn
đề tự do ngôn luận trên không gian mạng.
Mục đích của các
thế lực thù địch là đánh tráo bản chất các sai phạm về tự do ngôn luận trên
mạng xã hội, biến đối tượng vi phạm pháp luật từ có sai phạm thành không sai
phạm. Họ thậm chí tán dương cho lối ứng xử thiếu văn hóa, phát ngôn sai trái,
lệch lạc trên mạng xã hội. Thực chất của âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù
địch nhằm gây phân tâm trong cộng đồng xã hội, tạo ra sự hoài nghi về chủ
trương của Đảng, chính sách pháp luật Nhà nước trong bảo đảm quyền tự do ngôn
luận; từ đó, phủ nhận những thành tựu, nỗ lực của Việt Nam trong bảo đảm quyền
con người trên không gian mạng; hạ thấp vị thế, uy tín nước ta trên trường quốc
tế.
Chủ tịch Hồ Chí Minh
cho rằng, không có lý tưởng cách mạng làm hành trang, người cán bộ, đảng viên
mất đi tính tiền phong, gương mẫu, không làm tròn vai trò dẫn dắt phong trào
cách mạng và lãnh đạo nhân dân. Theo Người, Đảng cần phải có những đảng viên
kiên trung với lý tưởng, đường lối của Đảng: “Mỗi cán bộ, mỗi đảng viên, cần
phải có tính đảng mới làm được việc”, nếu “kém tính đảng, thì việc gì cũng
không làm nên”. Cán bộ, đảng viên muốn lãnh đạo vững thì trước hết phải có tư
tưởng, lập trường vững chắc. Bác khẳng định: “Nếu chỉ có công tác thực tế mà
không có lý tưởng cách mạng, thì cũng không phải là người đảng viên tốt”.
Trong buổi lễ kết nạp Đảng,
trước cờ Đảng, cờ Tổ quốc và chân dung Chủ tịch Hồ Chí Minh, các đảng viên mới
đều dõng dạc tuyên thệ: “Tuyệt đối trung thành với mục tiêu, lý tưởng cách mạng
của Đảng, sẵn sàng nhận bất cứ nhiệm vụ gì khi được phân công, hết lòng hết sức
phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân!”. Lời thề đó là thiêng liêng, là danh dự
cao nhất, rất cần thiết đối với người đảng viên cộng sản.
Để lý tưởng cách mạng luôn là
linh hồn sống, là ngọn đuốc soi đường cho cán bộ, đảng viên, giải pháp quan
trọng hàng đầu là cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần tăng cường tuyên truyền,
giáo dục, rèn luyện nâng cao nhận thức về Đảng cho cán bộ, đảng viên; thường
xuyên bồi dưỡng nâng cao nhận thức, hành động thực tiễn cho đảng viên trẻ, đảng
viên mới kết nạp, chủ động đưa họ vào những nơi khó khăn, gian khổ để rèn
luyện, thử thách, qua đó xây dựng, rèn luyện, nâng cao bản lĩnh chính trị và
năng lực thực tiễn.
Chú trọng xây dựng và thực hiện
tốt quy chế làm việc của cấp ủy các cấp là việc làm rất quan trọng, có ý nghĩa
quyết định đối với việc nâng cao chất lượng hoạt động của mỗi tổ chức đảng,
nhằm thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, bảo đảm vai trò lãnh
đạo tập thể của cấp ủy, phát huy trách nhiệm cá nhân cấp ủy viên, nhất là người
đứng đầu và giải quyết tốt các mối quan hệ công tác. Quy chế làm việc của
mỗi cấp ủy là cụ thể hóa các nguyên tắc, quy định của Điều lệ Đảng, các quy
định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư thành các nguyên tắc, chế độ quy định, hoạt
động của mỗi tổ chức đảng. Trong đó quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của tập
thể cấp ủy (thường vụ) và từng cấp ủy viên, cũng như quy định các mối quan hệ
giữa cấp ủy đảng với các tổ chức chính quyền và các tổ chức chính trị-xã hội.
Những điều khoản quy định trong quy chế buộc tất cả thành viên trong cấp ủy
phải chấp hành và thực hiện một cách nghiêm túc, bảo đảm sự lãnh đạo
tập trung, thống nhất của Đảng trong mọi lĩnh vực công tác. Nếu các cấp ủy đảng
luôn siết chặt hoạt động lãnh đạo thông qua quy chế về các lĩnh vực nhạy cảm
như kinh tế, tài chính, nhân sự... thì không một cá nhân nào có thể dễ dàng
lộng hành, thao túng. Giữ vững nguyên tắc Đảng cũng là một cách góp phần bảo
đảm cho cán bộ, đảng viên luôn trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng.
Trong tình hình hiện nay, cần
tăng cường giáo dục, bồi dưỡng lý luận, mục tiêu, lý tưởng của Đảng cho đội ngũ
cán bộ, đảng viên; cùng với đó là nghiêm túc thực hiện kỷ luật Đảng, nhất là
thực hiện Quy định số 37-QĐ/TW ngày 25-10-2021 của Ban Chấp hành Trung ương về
những điều đảng viên không được làm, nhằm tăng cường kỷ cương, kỷ luật của Đảng
và giữ gìn phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, tính tiền phong, gương mẫu
của đảng viên, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng. Đó
là con đường làm cho Đảng ta luôn trong sạch, vững mạnh từ cơ sở. Đó cũng là
con đường cơ bản để mỗi cán bộ, đảng viên rèn luyện, tu dưỡng, gìn giữ phẩm
chất đạo đức trong sáng, luôn lấy lý tưởng cách mạng là linh hồn sống, là kim
chỉ nam, là ngọn đuốc soi đường của mình. Mỗi cán bộ, đảng viên một lòng một dạ
trung thành với lý tưởng, sự nghiệp cách mạng của Đảng là điều kiện tiên quyết
giúp họ có cơ hội học tập, công tác tốt, tích cực cống hiến và trưởng thành,
xứng danh là người chiến sĩ tiên phong ưu tú đứng trong hàng ngũ của Đảng Cộng
sản Việt Nam quang vinh.
Có thể nói rằng, Đảng
ta vĩ đại, Đảng ta phát triển không ngừng lớn mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn
diện như ngày nay là do có đội ngũ đảng viên kiên trung, gương mẫu. Lớp lớp thế
hệ đảng viên luôn thấm nhuần lý tưởng cách mạng của Đảng, của Bác Hồ, trong mọi
lĩnh vực đều thể hiện rõ bản chất cách mạng, tinh thần tiên phong, xông pha, xả
thân vì nghĩa lớn, đồng thời cũng thể hiện rõ vai trò “là người đầy tớ thật
trung thành của nhân dân” như Bác Hồ đã dạy. Đối với những đảng viên chân
chính, trong chiến đấu thì dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì nước, vì dân; trong
xây dựng đất nước thì tận tâm, tận lực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,
hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phẩm chất, tinh thần cao
đẹp đó của đội ngũ đảng viên đã và đang tỏa sáng trong xã hội, được nhân dân
trân trọng, tin yêu, học tập và noi theo.
Tuy nhiên, bên cạnh đội ngũ
tiên phong của hàng triệu cán bộ, đảng viên đó cũng còn không ít cán bộ, đảng
viên đã và đang phai nhạt lý tưởng cách mạng. Nghị quyết Trung ương 4 (khóa
XII) chỉ ra: Phai nhạt lý tưởng cách mạng là biểu hiện đầu tiên của tình trạng
suy thoái về tư tưởng, chính trị. Phai nhạt về lý tưởng cách mạng thường diễn
ra hai khuynh hướng chủ yếu.
Thứ nhất, mơ hồ về nhận thức,
lập trường ngả nghiêng, ngộ nhận về quan điểm giai cấp, hùa theo quan điểm
chống đối của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị, cho rằng đất nước
cần phải đa nguyên, đa đảng. Thực tiễn cho thấy, có những cán bộ, đảng viên
từng vào sống ra chết trong trận mạc, gia đình có truyền thống cách mạng, nhưng
sau này do không làm chủ được bản thân nên đã bị lôi kéo, kích động bởi các
luận điệu tuyên truyền của các thế lực phản động, để rồi quay lại phản bội mục
tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng. Cũng có cán bộ khi đất nước có chiến tranh
vẫn được Đảng, Nhà nước lựa chọn ưu tiên đi đào tạo ở nhiều trường trong nước
và nước ngoài để phục vụ Tổ quốc, nhân dân sau khi đất nước hòa bình, nhưng khi
có học hàm, học vị cao lại đưa ra quan điểm, lập luận xa lạ với quan điểm chính
trị cũng như mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Họ gieo rắc quan điểm cá nhân, tô hồng
chủ nghĩa đa nguyên, đa đảng đối lập. Họ hùa theo những phần tử cơ hội, chống
đối, xuyên tạc Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; nói xấu Đảng, Nhà
nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta hòng làm cho đất nước ta đi chệch hướng
xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, do chủ nghĩa cá nhân
chi phối, vì lợi ích vật chất tầm thường mà bất chấp lý tưởng, mục tiêu phấn
đấu, lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để tham nhũng, làm thiệt hại tài sản
lớn cho đất nước, vi phạm pháp luật, làm ô uế thanh danh người cán bộ, đảng
viên của Đảng. Theo số liệu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, 10 năm qua
(2012-2022), cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 2.700 tổ
chức đảng, gần 168.000 đảng viên, trong đó có hơn 7.390 đảng viên bị kỷ luật do
tham nhũng. Đáng nói là có hơn 170 cán bộ cấp cao diện Trung ương quản lý đã bị
kỷ luật, thậm chí bị truy tố, xét xử theo Bộ luật Hình sự.
Suy cho cùng, số cán bộ, đảng
viên bị kỷ luật, xử lý về tội tham nhũng có căn nguyên từ việc họ bị thẩm thấu
tư tưởng đặc quyền, đặc lợi của chủ nghĩa phong kiến, luôn muốn bản thân an
nhàn mà lại được đãi ngộ, hưởng thụ cao. Khi có vị trí, có điều kiện quyền lực,
bên cạnh bị vật chất, đồng tiền cám dỗ thì họ lu mờ về chính trị, sa ngã vào
chủ nghĩa cơ hội, thực dụng, từ đó xa rời lợi ích tập thể, lợi ích của nhân
dân, của đất nước... Đó là con đường dẫn họ tới xa rời, phai nhạt lý
tưởng cách mạng, đồng nghĩa với “tự triệt tiêu mình”.
Lý
tưởng cách mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng sản,
là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc lập dân tộc, vì
chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.
Những người đảng viên
cộng sản chúng ta rất tự hào được sống, chiến đấu, phấn đấu cho lý tưởng cao cả
đó. Tuy nhiên, những năm gần đây, do cả yếu tố khách quan và chủ quan, một
bộ phận đảng viên có biểu hiện phai nhạt lý tưởng cách mạng, một trong những
biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị đã được
Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII của Đảng chỉ ra.
Trong dịp kỷ niệm 75 năm Ngày
Thương binh-Liệt sĩ (27-7-1947 / 27-7-2022), ông Nguyễn Tiến Hà, 90 tuổi,
Trưởng ban liên lạc chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày tại Nhà tù Hỏa Lò xúc
động kể lại: “Thường ngày từ sáng sớm, các đồng chí bị địch dẫn đi hành quyết.
Trong giây phút ngắn ngủi còn lại của cuộc đời, chuẩn bị bước lên máy chém
nhưng các chiến sĩ vẫn rất kiên cường, hô to: “Thực dân Pháp đưa chúng tôi ra
pháp trường đây. Các đồng chí ở lại mạnh khỏe, chiến đấu bảo vệ quê hương. Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn
năm! Việt Nam độc lập, thống nhất muôn năm!”. Lúc đó, trong nhà tù bừng bừng
khí thế chiến đấu, hô vang những khẩu hiệu: “Phản đối thực dân Pháp”, “Phản đối
án tử hình”...
Hẳn ai nghe lời kể của cựu tù
chính trị Nguyễn Tiến Hà đều thấy khí phách ngời sáng, kiên trung của hàng vạn
chiến sĩ cách mạng trong các ngục tù của thực dân, đế quốc. Họ sẵn sàng chiến
đấu, hy sinh, chấp nhận cái chết một cách thanh thản vì mục tiêu, lý tưởng cách
mạng cao đẹp của Đảng, của dân tộc.
Nói đến lý tưởng cách
mạng là định hướng giá trị cốt lõi, xuyên suốt của người cộng
sản, là mục tiêu phấn đấu của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân vì độc
lập dân tộc, vì chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân. Trung thành với
mục tiêu, lý tưởng cách mạng đó, trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
và đế quốc Mỹ, các thế hệ cán bộ, đảng viên đã không quản ngại hy sinh gian
khổ, quyết chiến và quyết thắng, sẵn sàng xả thân vì độc lập, tự do của Tổ
quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.
Khi đất nước nằm trong ách nô
lệ của thực dân, đế quốc, ai đi theo Đảng, theo cách mạng cũng nhận thấy đó là
con đường gian khổ, phải chấp nhận hy sinh, phải quên mình vì đất nước, vì dân
tộc. Trong cuộc sống, không ai muốn tước bỏ mạng sống của mình. Chỉ có lý tưởng
cách mạng, vì nước, vì dân, người chiến sĩ cộng sản mới chịu mọi cực hình tra
tấn của kẻ thù cho đến hơi thở cuối cùng. Chỉ có lý tưởng chiến đấu cao cả vì
độc lập, tự do của dân tộc mới khiến biết bao chiến sĩ Thủ đô ôm bom ba càng
lao vào xe tăng địch với tinh thần “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”; chiến sĩ
Tô Vĩnh Diện mới lấy thân mình chèn cứu pháo; chiến sĩ Bế Văn Đàn mới lấy thân
mình làm giá súng; chiến sĩ Phan Đình Giót mới lấy thân mình lấp lỗ châu mai...
và cả hàng nghìn cán bộ, chiến sĩ lặng lẽ làm nhiệm vụ trên những con tàu không
số luôn sẵn sàng xả thân trước mọi hiểm nguy giữa trùng khơi biển cả. Giữa cái
sống và cái chết trong tích tắc nhưng các anh vẫn không hề nao núng và không
bao giờ tính toán đến lợi ích, hưởng thụ cho bản thân. Tất cả cho mục tiêu
chiến đấu, chiến thắng kẻ thù xâm lược! Tất cả dâng hiến cho mục tiêu, lý tưởng
cách mạng mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã chọn.
Có thể nói rằng, Đảng ta vĩ
đại, Đảng ta phát triển không ngừng lớn mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện
như ngày nay là do có đội ngũ đảng viên kiên trung, gương mẫu. Lớp lớp thế hệ
đảng viên luôn thấm nhuần lý tưởng cách mạng của Đảng, của Bác Hồ, trong mọi
lĩnh vực đều thể hiện rõ bản chất cách mạng, tinh thần tiên phong, xông pha, xả
thân vì nghĩa lớn, đồng thời cũng thể hiện rõ vai trò “là người đầy tớ thật
trung thành của nhân dân” như Bác Hồ đã dạy. Đối với những đảng viên chân
chính, trong chiến đấu thì dũng cảm, sẵn sàng hy sinh vì nước, vì dân; trong
xây dựng đất nước thì tận tâm, tận lực, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư,
hết lòng hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Phẩm chất, tinh thần cao
đẹp đó của đội ngũ đảng viên đã và đang tỏa sáng trong xã hội, được nhân dân
trân trọng, tin yêu, học tập và noi theo.