Chủ Nhật, 8 tháng 1, 2023

Việt Nam đảm bảo mức sinh tháy thế trước 10 năm so với chỉ tiêu đặt ra

 


Mức sinh thay thế là mức sinh mà một đoàn hệ phụ nữ trung bình có vừa đủ số con gái để “thay thế” họ trong quá  trình tái sinh sản dân số; tương ứng với tổng tỷ xuất sinh TFR)/ trên số con trung bình là 2,10 con/phụ nữ.Quá độ dân số ở Việt Nam bắt đầu vào từ khoảng cuối những năm 1950 và kéo dài cho đến năn 2005.Từ năm 2005 đến nay, mức sinh biến động không đáng kể và dao động quoanh mức sinh thay thế

Con số trung bình của phụ nữ ở Việt Nam giai đoạn 2005-2019

 

Năm 2005

2007

2008

2009

2010

2012

2013

2016

2017

2019

2,11 con

2,09

2,07

2,03

2,00

1,99

2,05

2,10

2,09

2,09

 

ĐẤU TRANH CHỐNG NHỮNG LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

 


Xuyên tạc, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, phủ nhận nền dân chủ XHCN và Nhà nước pháp quyền XHCN là những trọng tâm chống phá “không ngừng nghỉ” của các đối tượng và thế lực phản động, thù địch, đặc biệt là trong bối cảnh hiện nay. Đấu tranh phòng chống các quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc trong thời gian tới cần chú trọng:

Một là, đấu tranh với quan điểm “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”.

Nhằm phủ nhận nền dân chủ XHCN và Nhà nước XHCN, các quan điểm, luận điệu chống phá “khẳng định” rằng chế độ dân chủ tư sản như nó đang tồn tại ở phương Tây là chế độ dân chủ cao nhất, là thiên đường vĩnh hằng; rằng “không có đa nguyên, đa đảng thì không bao giờ có dân chủ”, “đa đảng, đa nguyên là thành tố quan trọng nhất để xây dựng nên một quốc gia dân chủ”, và “đa đảng sẽ bảo đảm quyền làm chủ đất nước của nhân dân”(5); rằng CNXH là chuyên chính, không có dân chủ. Theo đó, những “nhà dân chủ” đòi chúng ta phải sửa đổi Hiến pháp năm 2013, sửa đổi thể chế Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam theo mô hình tam quyền phân lập, đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ vai trò lãnh đạo đối với xã hội, nhất là đối với Nhà nước. Để “cộng hưởng” cho những giọng điệu đó, họ “minh họa” bằng một số bất cập, thiếu sót trong thực tiễn lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, nhất là những khiếm khuyết liên quan đến quản lý cán bộ, đảng viên dẫn đến tình trạng tham nhũng, tha hóa...

Cần khẳng định rằng, đa nguyên, đa đảng không phải là yếu tố duy nhất, nền tảng duy nhất bảo đảm cho một nền dân chủ đích thực mà bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Dân chủ là một giá trị xã hội, được hình thành và bảo đảm bởi nhiều yếu tố, trong đó có lực lượng cầm quyền xã hội, cơ chế quản lý xã hội và trình độ làm chủ của người dân… Vì vậy, một đảng lãnh đạo không đồng nhất với độc tài lãnh đạo và càng không đồng nhất với mất dân chủ. Theo đó, không nhất thiết cứ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập mới có dân chủ thật sự. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, quyền và lợi ích của Đảng hoàn toàn thống nhất với nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước là để cho nền dân chủ XHCN cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân luôn được bảo đảm.

Hai là, đấu tranh với quan điểm lợi dụng “xã hội dân sự” để âm mưu gây chuyển hóa chính trị ở Việt Nam.

Bằng nhiều chiêu bài, các thế lực thù địch và thành phần “ngụy dân chủ” thường không ngừng rêu rao về cái gọi là ranh giới giữa “xã hội dân sự” với nhà nước, giữa “công” và “tư”, giữa “chính trị” và “phi chính trị”. Theo đó, họ “thổi lên tận mây xanh”, tuyệt đối hóa, coi “xã hội dân sự” là mô hình xã hội nhân đạo nhất, tốt đẹp nhất, dân chủ nhất và ngược lại, nhà nước là cơ quan bảo thủ, chuyên chế và cưỡng bức. Theo đó, họ “kêu gọi” Đảng Cộng sản Việt Nam phải thúc đẩy “xã hội dân sự” chứ không nên và càng không thể lãnh đạo xây dựng được Nhà nước pháp quyền, của dân, do dân và vì dân.

“Xã hội dân sự” còn là cái “cớ” để các thế lực chống phá đòi dân chủ hóa bất chấp pháp luật, đòi Nhà nước phải bảo đảm tự do vô giới hạn trong các lĩnh vực; cổ súy cho sự “vượt ngưỡng” và thái quá trong tự do cá nhân; đưa ra tự do ngôn luận và nhân quyền để đòi lập hội, nhóm bất chấp quy định, kêu gọi biểu tình, kích động trái phép. Bên cạnh đó, họ lợi dụng vấn đề viện trợ, quan hệ kinh tế, thương mại, ngoại giao để gây sức ép với Đảng và Nhà nước ta về cái gọi là “vi phạm dân chủ, nhân quyền”, hòng làm thay đổi đường lối, chính sách, hệ thống pháp luật và lĩnh vực tư pháp của chúng ta.

Không phải ngẫu nhiên mà một số tổ chức phi chính phủ nước ngoài thường rất quan tâm đến những địa bàn trọng điểm về an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội ở nước ta. Phát triển các tổ chức “xã hội dân sự” luôn được không ít “đối tác hai mặt” coi như một phương thức để “diễn biến hòa bình” tiến tới “diễn biến không hòa bình” hòng triệt tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ta.

Ba là, đấu tranh với quan điểm “Chỉ có thể chống được tham nhũng khi thực hiện thể chế tam quyền phân lập để kiểm soát quyền lực”.

Về thực chất, quan điểm này không hướng đến mục tiêu phòng, chống tham nhũng mà muốn nhân danh chống tham nhũng, lợi dụng đấu tranh chống tham nhũng để kích động đòi thay đổi thế chế chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, lật đổ Nhà nước XHCN.

Các nước tư bản hầu như đều vận dụng thuyết tam quyền phân lập trong xây dựng, tổ chức bộ máy chính quyền nhà nước với nhiều biến thể khác nhau, tuy nhiên, thực tế cho thấy, ở không ít quốc gia tư bản, thể chế này không thể ngăn chặn được sự chuyên quyền. Theo đó, có thể nói, “tam quyền phân lập” không phải là mấu chốt để giải quyết vấn đề tham nhũng. Bởi, tham nhũng xảy ra ở những nơi mà hệ thống pháp luật, cơ chế, quy chế còn bất cập, thiếu kín kẽ, thiếu chặt chẽ, không công khai, minh bạch; sự kiểm tra, giám sát chưa được duy trì có hiệu quả; vai trò của nhân dân, của dư luận xã hội chưa được phá huy đầy đủ; các hoạt động quản lý, giáo dục bị buông lỏng… Chính vì vậy, “tam quyền phân lập” không phải là “chìa khóa vạn năng” để xóa bỏ được nguồn gốc, nguyên nhân dẫn đến tham nhũng; không thể là phương thức và giải pháp duy nhất để đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.

 

Quá độ dân số ở Việt Nam hiện nay

 


 Bản chất của quá độ dân số là khi các xã hội chuyển từ thời kỳ có cả mức sinh và mức chết đều cao sang thời kỳ mức sinh và mức chết đều thấp. Ở hầu hết các nước đang phát triển trong thời kỳ sau chiến tranh thế giới lần thứ II, đã thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình nhằm thúc đẩy giảm mức sinh nhanh hơn, bởi vì mức sinh tương đối cao trong thời kỳ đó đã cản trở nghiêm trọng tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội ở các quốc gia này. Hàn Quốc và Sinh ga po là những quốc gia đã sớm thực hiện thành công chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình (đạt mức sinh thay thế trong những năm đầu của thập niên 1980. Đây là một yếu tố quan trọng góp phần đưa hai nước này trở thành những con Rồng (kinh tế) của Châu Á từ những năm 1980.

          Quy mô dân số ở Việt Nam đã tăng liên tục từ khoảng hơn 30 triệu lên 96 triệu từ năm 1960 – 2019. Hiện nay dân số Việt nam là gần 96.208.984 người (Nam: 47.881016; Nữ: 48.327.932, Đứng thứ 3 khu vực sau Inđônễia, PhiLípphin, đứng thứ 15 thế giới. Mật độ dân số là 290 người/km2, tăng 31người/km2 so với năm 2009 (Philippin 363người/km2; Xinh ga po 8.292 người/km2 (việt Nam đứng thức 3 khu vực đông nam á). Đồng bằng sông Hồng: 1.060 người/km2; Đông Nam Bộ:757 người/km2; Trung Du và Miền núi Băc Bộ: 132 người/km2; Tây Nguyên 107 người/km2. Tốc độ tăng quy mô dân số ở nước ta có xu hướng chậm dần do mức sinh giảm liên tục trong giai đoạn 1960-2005. Số con trung bình của một phụ nữ giảm từ khoảng 7 con/1960, xuống còn 2.1 con (mức sinh thay thế) vào năm 2005.Tổng hộ dân cư 26.870.079 tăng 4,4 triệu hộ so với năm 2009. Bình quân mỗi hộ có 3,6 người thấp hớn 0,2 người/hộ so với năm 2009. Tỷ lệ tăng bình quân số hộ dân là 1,8%/năm, thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với gia đoạn 1999-2009 (là giai đoạn có số hộ dân cư thấp nhất trong vòng 40 năm qua).

 

Quá độ dân số trong quá trình hiện đại hóa

 


 Hiện đại hóa là thời kỳ quá độ các xã hội nông nghiệp chuyển đổi lên các xã hội công nghiệp. Trong xã hội nông nghiệp truyền thống, khi năng xuất lao động thấp và trình độ khoa học chưa phát triển cả mức sinh và mức chết đều rất cao. Con người sống hầu như lệ thuộc vào tự nhiên, phương thức sản xuất, canh tác lạc hậu, lối sống du canh, du cư, nghèo đói và mức sống thấp, dịch bệnh nhiều khi y học chư phát triển nên tỷ lệ tử vong cao. Khi xã hội bước vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, trước hết làm mức chết giảm, trong khi đó, mức sinh vẫn ở mức cao, nên đã dẫn tới bủng nổ dân số, làm tăng nhanh quy mô dân số.Mức chết giảm là do: Xã hội bước vào quá trình CNH-HĐH năng xuất lao động trong sản xuất nông nghiệp được nâng cao nhờ áp dụng KHKT; sản lượng lương thực tăng lên đã cơ bản đẩy lùi các nạn đói và cải thiện chế độ dinh dưỡng, góp phần  giảm tỷ lệ tử vong.Với các thành tựu y học (thuốc kháng sinh, vắc xin tiêm chủng) giảm nmạnh tỷ lệ tử vong của các nhóm dân số đặc biệt là trẻ em. Giai đoạn tiếp theo của hiện đại hóa: Sau khi mức chết đã giảm mạnh, mức sinh cũng có xu hướng giảm theo tương tự. Nguyên nhân: (giảm con số trung bình trên 1 bà mẹ: Phổ cập giáo dục là bắt buộc trong xã hội hiện đại; Đi học làm tăng độ tuổi kết hôn của thế hệ cha mẹ; Con cái đi học làm tăng chi phí tài chính của cha mẹ, không hỗ trợ cha mẹ tăng thu nhập; Việc sinh nhiều con không có lợi về mặt kinh tế; Các yếu tố xã hội khác: di dân, mong muốn và khẳ năng tìm kiếm việc làm ổn định dẫn đến tuổi kết hôn, tuổi sinh con và khoảng cách giữa các lần sinh đều tăng lên, dó đó có tác động làm mức sinh giảm mạnh.

MỤC TIÊU XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

 


Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội; từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản...

Cho đến nay, mặc dù vẫn còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta đã hình thành nhận thức tổng quát: Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam đang phấn đấu xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới.

 

NÊU CAO CẢNH GIÁC VỚI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC KHI CÁN BỘ BỊ XỬ LÝ VI PHẠM PHÁP LUẬT

 


Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội XII của Đảng, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã được lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, bài bản, đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể rất quan trọng, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội và thực sự "đã trở thành phong trào, xu thế", được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, đánh giá cao, được quốc tế ghi nhận.

Trong quá trình đó, một số cán bộ, Đảng viên do thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sa vào chủ nghĩa cá nhân vi phạm đường lối cương lĩnh của Đảng, vi phạm pháp luật của nhà nước. Với phương châm tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật, mọi người đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hành vi của mình…chúng ta tiến hành xử lý những cán bộ, Đảng viên vi phạm pháp luật, bất kể họ là ai, cương vị, chức trách gì. Vậy mà, những phần tử chống đối, thù địch lại đưa ra những luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, cố tình hướng lái việc xử lý cán bộ sai phạm và công tác cán bộ nhằm gây chia rẽ trong Đảng, làm suy giảm lòng tin của người dân đối với Đảng với âm mưu gây mơ hồ, hoài nghi, tác động vào niềm tin của cán bộ, đảng viên, nhân dân về vai trò lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước; chia rẽ nội bộ, gây mất đoàn kết trong Đảng, trong dân, thâm độc hơn là nhằm gây bất ổn chính trị xã hội, lật đổ chế độ ta.

Phải thấy rằng,việc xử lý nghiêm minh những cán bộ sai phạm pháp luật là lẽ rất đương nhiên, và đó là quan điểm nhất quán rõ ràng: ai vi phạm pháp luật nhà nước, quyền, lợi ích của nhà nước, tập thể, lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền, lợi ích hợp pháp của người khác thì đều phải bị xử lý nghiêm minh. Việc xử lý các vụ án được tiến hành kỹ lưỡng và trên tinh thần thượng tôn pháp luật, căn cứ vào hành vi phạm tội của các bị cáo, hậu quả gây ra đối với Đảng, Nhà nước, nhân dân, căn cứ vào quy định, Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước. Thực tế việc xử lý đó đã được cán bộ, đảng viên, nhân dân đồng tình, đánh giá cao. Toàn dân hãy cảnh giác trước những luận điệu sai trái, tuyên truyền bóp méo sự thật. Chúng ta hãy vững tin và tích cự tham gia đấu tranh với mọi biểu hiện sai trái của các thế lực thù địch.

Giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân số và phát triển trong tình hình hiện nay

 


Dân số Là những người cùng cư trú trên một vùng lãnh thổ nhất định gọi là dân cư của vùng đó.Lãnh thổ ở đây có thể là xã, huyện, tỉnh, cả nước, một châu lục hay toàn bộ trái đất. Dân cư của một vùng lãnh thổ có thể được xem xét trên nhiều góc độ: như số dân, cơ cấu, phân bố, sức khỏe, lịch sử, kinh tế, ngôn ngữ, thời trang, phong tục, tập quán, dân tộc, tôn giáo…

 Phát triển: là quá trình một xã hội đạt đến mức thỏa mãn các nhu cầu mà xã hội coi là thiết yếu như: dinh dưỡng, giáo dục, sức khỏe, vệ sinh, cung cấp nước sạch và nhà ở…Ví dụ: Vắc xin tiêm phòng COVID-19

Nếu coi phát triển là đối lập với nghèo khổ thì phát triển được coi là quá trình giảm dần, đi đến loại bỏ nạn đói ăn, bệnh tật, mù chữ, tình trạng mất vệ sinh, thất nghiệp và mất bình đẳng . Phát triển bền vững: là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Trên thực tế, dân số ổn định thì phát triển kinh tế- xã hội bền vững, đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt cho cộng đồng. Dân số và phát triển tác động qua lại chặt chẽ, biện chứng với nhau. Bước tiến của lĩnh vực này thúc đẩy, tạo thuận lợi cho lĩnh vực kia và ngược lại. Dân số có tác động qua lại đến kinh tế, giáo dục, xã hội, môi trường, y tế và ngược lại sự phát triển bền vững của các yếu tố đó sẽ đảm bảo nâng cao chất lượng dân số. Dân số và phát triển có liên quan chặt chẽ tới tang trưởng kinh tế, phát triển xã hội và bền vững về môi trường. Những biến đổi về quy mô, cơ cấu và phân bố dân số chính là sự thay đổi những chiều cạnh về dân số- kinh tế, dân số - xã hội và dân số- môi trường liên quan đến các mục tiêu phát triển bền vững.

 

         

Nhận thức đúng đắn về dân số làm cơ sở để thực hiện tốt chính sách dân số ở Việt Nam hiện nay

 


 Dân số Là những người cùng cư trú trên một vùng lãnh thổ nhất định gọi là dân cư của vùng đó.Lãnh thổ ở đây có thể là xã, huyện, tỉnh, cả nước, một châu lục hay toàn bộ trái đất. Dân cư của một vùng lãnh thổ có thể được xem xét trên nhiều góc độ: như số dân, cơ cấu, phân bố, sức khỏe, lịch sử, kinh tế, ngôn ngữ, thời trang, phong tục, tập quán, dân tộc, tôn giáo…Quy mô dân số (số dân): Là số người sống trên một vùng lãnh thổ tại thời điểm nhất định. Quy mô dân số được xác định thông qua tổng điều tra dân số hoặc thống kê dân số thường xuyên. Ví dụ: Quy mô dân số Việt Nam  từ 0 giời ngày 01/4/ 2019 là 96.208.984 người. Cơ cấu dân số: Là tổng số dân được phân chia theo giới tính, tuổi, dân tộc, tôn giáo, học vấn, nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân…(chuyên đề: nghiên cứu biến động dân số theo tuổi, giới tính). Phân bố dân số: Là sự phân chia tổng số dân theo địa bàn hành chính, khu vực địa lý, khu vực kinh tế. Ví dụ Dân số ở Việt Nam sống ở khu vực Đồng bằng chiếm khoảng 75% dân số; các vùng miền núi, trung du chỉ chiếm 25% dân số.

Quyền con người là quan hệ giữa cá nhân với nhà nước, con người với quyền lực xã hội

 


Quyền con người đòi hỏi các nhà nước phải hoàn thành nghĩa vụ tôn trọng ở khắp mọi nơi, tuân thủ và bảo vệ tất cả các quyền cho mọi người, mọi công dân, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc, Bộ luật quốc tế về quyền con người và các văn kiện quốc tế khác về quyền con người. Trong Tuyên bố Viên và chương trình hành động (1993) nhấn mạnh: “Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc, khu vực và bối cảnh khác nhau về lịch sử, văn hóa, tôn giáo, các quốc gia không phân biệt hệ thống chính trị, kinh tế, văn hóa có nghĩa vụ đề cao và bảo vệ các quyền và tự do cơ bản”.

Các quyền cơ bản của con người

 

Các quyền con người, quyền công dân đều là những quyền không thể chuyển nhượng (tự nhiên) vì nó thuộc sở hữu vốn có của con người. Các quyền này không phải là sự ban phát hay tùy tiện tước đoạt. Các quyền và tự do cơ bản như đã được ghi nhận trong bộ luật quốc tế về quyền con người đều là các quyền bình đẳng và không thể chuyển nhượng. Những vi phạm về quyền con người, quyền công dân cần được các quốc gia xử lý bằng những cơ chế, biện pháp kịp thời, hữu hiệu.

Những quyền con người được hưởng do xã hội tạo nên (hay nói cách khác là do mối quan hệ của con người với xã hội tạo nên) Quyền xã hội của con người luôn phụ thuộc vào từng giai đoạn lịch sử, vào từng trình độ văn minh của từng nhà nước. Quyền xã hội được phân loại theo chủ thể quyền; theo lĩnh vực và theo thế hệ quyền

Quyền con người đồng nghĩa với tự do của con người

 


 Nhân quyền là tổng hợp các quyền tự do của con người. Phản ánh nguyện vọng toàn nhân loại muốn có tất cả điều kiện, tiền đề cho cuộc sống đầy đủ của con người; đó còn là nhân phẩm, giá trị làm người. Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền (Đại Hội đồng LHQ thông qua ngày10/12/48) công nhận 26 quyền cơ bản của con người gồm 3 nhóm: Các quyền dân sự: là những quyền tự do cơ bản của cá nhân như quyền sống, quyền tự do thân thể và quyền không bị xâm phạm cá nhân, quyền bảo vệ danh dự, bí mật cá nhân và gia đình, bí mật về thư tín, trao đổi thông tin, tự do di chuyển chỗ ở, quyền tự do đi lại và cư trú, quyền có quốc tịch và thay đổi quốc tịch, quyền kết hôn và lập gia đình, quyền sở hữu, quyền được xét xử công khai, độc lập và công bằng khi bị ra tòa. Các quyền về chính trị: đó là quyền tự do khẳng định nhân cách của mình trong đời sống chính trị; quyền tham gia vào công việc quản lý Nhà nước và đời sống xã hội nói chung. Quyền được bầu cử, ứng cử; quyền được lập hội và gia nhập hội; quyền tự do ngôn luận và phát biểu chính kiến của mình; quyền được thông tin và xuất bản, quyền tự do tín ngưỡng. Các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa: đó là các quyền về sở hữu tài sản, quyền trao đổi, quyền lao động và tự do thể hiện năng lực của mình trong lao động, quyền được bảo vệ về mặt xã hội, được sống đầy đủ, được chăm sóc sức khỏe, được học tập và sử dụng các giá trị văn hóa.

ĐẤU TRANH VỚI THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHIA RẼ MỐI QUAN HỆ ĐẢNG VỚI NHÂN DÂN

 Hiện nay các thế lực thù địch chúng dùng nhiều phương thức, thủ đoạn để chống phá cách mạng nước ta, tiến hành chống phá trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, một trong những nội dung chống phá là chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân.

Chúng xuyên tạc thể chế chính trị một đảng cầm quyền ở Việt Nam là đi ngược lại quy luật phổ biến trong quan hệ “kinh tế quyết định chính trị” là đa thành phần kinh tế thì phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập.

Chúng nâng hiện tượng lên thành bản chất, quy kết hành vi sai phạm của một bộ phận cán bộ, đảng viên thành chủ trương của các cấp ủy, chính quyền trong thực hiện quyết sách chính trị của Đảng. 

Chúng xuyên tạc mô hình và cơ chế vận hành của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ là không phù hợp, làm sao nhân dân làm chủ được khi Đảng ra chủ trương, đường lối, rồi người của Đảng được bố trí vào các cơ quan nhà nước, giữ các vị trí trọng yếu, quyết định hết các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Chúng bóp méo, làm giả sự việc, hình ảnh của các lực lượng chức năng trong thực hiện nhiệm vụ rồi vu cáo đàn áp nhân dân. Đây là thủ đoạn rất phổ biến, gây hoang mang trong nhân dân, để một bộ phận người dân vì nhẹ dạ, cả tin mà bị kích động, lôi kéo vào các hoạt động chống phá chính quyền

Trước những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch nhằm chia rẽ mối quan hệ Đảng với nhân dân, chúng ta cần nhận diện thủ đoạn của chúng, đồng thời, kiên quyết đấu tranh, bằng nhiều giải pháp phù hợp, chủ động làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch.

NHẬN DIỆN CÁC THÔNG TIN XẤU ĐỘC TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Mạng xã hội giúp chúng ta có thể tiếp cận với thông tin nhanh nhất của mọi mặt dời sống xã hội, xong, các thế lực thù địch đã lợi dụng để làm công cụ để đưa ra các luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, những quan điểm sai trái để chống phá cách mạng nước ta.

Chúng tuyên truyền để tấn công, đả kích trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chúng đưa các thông tin phủ nhận những thành tựu to lớn đã đạt được của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế. Lợi dụng, cường điệu hóa những hạn chế, khuyết điểm của Đảng và hệ thống chính trị trong lãnh đạo, quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội.

 Chúng cố tình đưa thông tin bịa đặt, sai sự thật lên mạng xã hội, hành vi xuyên tạc đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước, xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, phá hoại quan hệ quốc tế của đất nước.

Các thế lực thù địch đưa ra quan điểm đồng nhất đổi mới chính trị với thay đổi chế độ chính trị. cường điệu, thổi phồng, khoét sâu những tiêu cực, khuyết tật, khiếm khuyết tạo cái nhìn bi quan, đen tối về tình hình đất nước.

Các thế lực thù địch, phản động đưa lên mạng xã hội những mặt trái của xã hội, khai thác những thông tin tiêu cực, không chính thống, sai trái để dẫn dắt dư luận theo chiều hướng tiêu cực, làm cho người đọc mơ hồ, mất cảnh giác nhằm mục đích tạo nên sự hoài nghi, phản kháng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước

Những thông tin với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là thủ đoạn hết sức nguy hiểm, chúng ta cần nhận diện âm mưu, thủ đoạn chống phá của chúng. Tích cực đấu tranh, phản bác có hiệu quả làm thất bại âm mưu của các thế lực thù địch.

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM THÙ ĐỊCH BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 Hiện nay, các hoạt động của các thế lực thù địch tấn công chính trị trên không gian mạng nhằm vào Việt Nam ngày càng nguy hiểm, khó lường với những phương thức, thủ đoạn hết sức tinh vi, nhằm xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

 Các tổ chức phản động lưu vong và số đối tượng chống đối trong nước cũng triệt để sử dụng không gian mạng, lấy đó làm công cụ để chống phá Đảng ta, chúng tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nội dung thông tin xuyên tạc, sai trái, thù địch hết sức đa dạng, phức tạp, trên tất cả các lĩnh vực: tư tưởng, chính trị, xây dựng Đảng, kinh tế, văn hóa, xã hội…, trong đó tập trung tấn công vào một số nội dung cốt lõi thuộc hệ tư tưởng, đường lối của Đảng ta:

Chúng công kích tình trạng tham nhũng của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Ra sức xuyên tạc sự thật, bôi nhọ hình ảnh của các lãnh đạo, nhất là lãnh đạo cấp cao của Đảng nhằm tạo nên sự hoài nghi, mất niềm tin của nhân dân,

Các tin, bài chống phá được các thế lực thù địch tung lên không gian mạng, gây nhiễu loạn thông tin, hướng lái công chúng truyền thông hiểu sai lệch, gia tăng sự bất đồng thuận, kích động những tư tưởng bất mãn, phản kháng, chống đối với Đảng, Nhà nước.

Chúng cường điệu, thổi phồng, khoét sâu những tiêu cực, thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào mục tiêu, con đường tiến liên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta.

Từ những thủ đoạn chống phá của các thế lực phản động, cơ hội chính trị trong và ngoài nước. Chúng ta cần nhận diện và tích cực đấu tranh phản bác làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, bảo vệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

ĐẤU TRANH BẢO VỆ CHỦ QUYỂN BIỂN ĐẢO CỦA TỔ QUỐC

 Biển Đông có vị trí chiến lược trong khu vực và quốc tế, có tầm ảnh hưởng của các quốc gia trong và ngoài khu vực, đặc biệt là các nước lớn. Vùng biển này luôn là địa chỉ trên bàn cờ chính trị của khu vực. Do đó, các thế lực phản động đã triệt để lợi dụng không gian mạng để tung ra những thông tin sai sự thật nhằm xuyên tạc, chống phá vấn đề chủ quyền biển, đảo của Việt Nam.

Các tổ chức phản động lợi dụng những diễn biến phức tạp tại Biển Đông cũng như đường lối đối ngoại, hướng giải quyết các vụ việc của Việt Nam để đưa ra những luận điệu xuyên tạc, suy diễn, xem đó là “ngòi nổ” để phá hoại sự nghiệp bảo vệ chủ quyền biển, đảo Tổ quốc.

 Chúng lợi dụng các vấn đề Biển Đông để xuyên tạc, chống phá sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về chủ quyền biển, đảo; từ đó chia rẽ mối quan hệ mật thiết của Đảng với nhân dân; hạ uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam với cộng đồng quốc tế.

Chúng kích động gây chia rẽ, bất ổn trong nước, gây mất ổn định an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, xuyên tạc đường lối đối ngoại của Việt Nam với các nước có liên quan. xuyên tạc đường lối đối ngoại hòa bình, độc lập, tự chủ; chính sách quốc phòng của Việt Nam và khả năng chiến đấu của Quân đội, gây tâm lý bất an, hoài nghi trong quần chúng nhân dân.

Với thủ đoạn chống phá chủ quyền biển đảo của Tổ quốc của các thế lực thù địch, chúng ta phải tích cực tuyên truyền cho mọi người nắm rõ được đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Việt Nam và nhận rõ âm mưu chống phá của các thế lực thù địch. Từ đó, kiên quyết đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Quyết tâm bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. 

NHẬN DIỆN THỦ ĐOẠN CHỐNG PHÁ CỦA ĐỊCH TRÊN LĨNH VỰC TƯ TƯỞNG VĂN HÓA

 Các thế lực thù địch bằng nhiều thủ đoạn, vừa công khai, trắng trợn, vừa ngấm ngầm hòng phá hoại, bôi nhọ, công kích chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, nền văn hóa mới của dân tộc hòng chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam.

Chúng cho rằng, vấn đề trước tiên, cốt yếu nhất là phải xóa bỏ nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, xây dựng hệ thống lý luận khác, có khả năng triệt tiêu chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lấy đó làm nền tảng tư tưởng cho việc xây dựng một xã hội mới, theo mong ước của chúng.

Với nhiều thủ đoạn và chiêu thức khác nhau nhằm quảng bá hình ảnh, giá trị tư bản chủ nghĩa; chủ động tiếp cận móc nối, hỗ trợ, mua chuộc, lôi kéo các đối tượng, nhất là những phần tử có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, thoái hóa, biến chất, hữu khuynh, cực đoan, thân phương Tây, tạo lực lượng nòng cốt cho “chuyển hóa” và “tự chuyển hóa” tư tưởng ngay từ bên trên, bên trong...

Chiêu thức mới của chúng là, “mềm dẻo” hơn, thân thiện hơn, hợp tác toàn diện, thâm nhập sâu vào các lĩnh vực của đời sống xã hội, từ đó tác động, phá hoại nền tảng tư tưởng, bản sắc văn hóa dân tộc, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.

Chúng lợi dụng những tồn tại, vướng mắc trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để xuyên tạc, phủ nhận đường lối lãnh đạo, thành tựu phát triển kinh tế của Đảng, Nhà nước, kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội, thiết lập hệ thống và cơ cấu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa tại Việt Nam.

Trước tình hình chống phá hiện nay của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng, văn hóa, chúng ta cần nhận diện và kiên quyết đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái của địch để làm thất bại âm mưu thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng trong điều kiện mới

TIẾP TỤC ĐẤU TRANH PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 Tham nhũng là một vấn nạn của xã hội, gây ra hệ lụy xấu trong xã hội. Trong thời gian vừa qua, Đảng ta và Nhà nước ta đã kiên quyết xử lý vấn đề tham nhũng và bước đầu đã hạn chế và có kết quả nhất định, được nhân dân đồng tình, ủng hộ thế giới đánh giá cao Việt Nam.

Chúng ta đã huy động được sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị và sự đồng tình, ủng hộ của nhân dân vào cuộc tham gia đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, đã xây dựng được một cơ chế phòng ngừa và kiểm soát chặt chẽ, một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc. Công tác ngày càng đi vào chiều sâu, có bước tiến mạnh, đạt nhiều kết quả cụ thể, rất quan trọng, toàn diện, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội.

Nhưng các thế lực thù địch cố tình xuyên tạc nhằm phủ nhận những kết quả tích cực trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng và nhân dân ta trong thời gian qua, chúng tung ra các luận điệu sai trái hòng xuyên tạc công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam hiện nay.

Chúng suy diễn rằng “việc xử lý các vụ tham nhũng vừa qua vẫn là “giơ cao đánh khẽ”, thực chất đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam chỉ là sự “thanh trừng phe phái” lẫn nhau. Đây là những luận điệu hết sức thâm độc nhằm chia rẽ nội bộ Đảng, Nhà nước; giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta; gieo rắc tâm lý hoài nghi, dao động, làm cho nhân dân mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới, chúng ta cần tiếp tục cùng với toàn Đảng và toàn dân phòng chống tham nhũng kiên quyết hơn nữa, đẩy lùi tệ tham nhũng, tiêu cực của xã hội, đấu tranh làm thất bại sự xuyên tác của các thế lực thù địch, góp phần xây dựng và phát triển đất nước.

ĐẤU TRANH VỚI CÁC THỦ ĐOẠN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH CHỐNG PHÁ QUÂN ĐỘI

 Để chống phá cách mạng nước ta, mục tiêu quan trọng của các thế lực thù địch là chống phá nhằm vào Quân đội. Hiện nay, các thế lực thù địch phát động nhiều chiến dịch với nhiều đợt tấn công vào quân đội với tần suất ngày càng tăng, mục đích nhằm làm giảm sức chiến đấu của Quân đội, tiến tới phi chính trị hóa Quân đội.

Chúng tấn công vào mục tiêu lý tưởng chiến đấu, bản chất, truyền thống, chức năng, nhiệm vụ của quân đội. Chúng tán phát trên không gian mạng nhiều tài liệu, bài viết, tuyên truyền, thổi phồng những hạn chế, khuyết điểm, suy diễn “mục tiêu lý tưởng chiến đấu của quân đội.    

Đồng thời đăng tải các thông tin nói xấu, xuyên tạc bản chất cách mạng, chức năng, nhiệm vụ của quân đội, lợi dụng các vấn đề nhạy cảm dễ gây bức xúc trong đời sống xã hội liên quan đến quân đội, để phát tán tài liệu trên không gian mạng nói xấu nội bộ, lãnh đạo, chỉ huy quân đội, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của quân đội ta, làm tác động vào nhận thức, tình cảm, gây hoài nghi trong cán bộ, chiến sĩ, với mục đích làm cho nội bộ dao động về tư tưởng, giảm sút ý chí chiến đấu của Quân đội. 

          Chúng đăng tải các thông tin bịa đặt có liên quan đến mối quan hệ hệ quân - dân, nhằm mục đích tác động, tạo tâm lý lo lắng, gây dư luận trái chiều trong xã hội, làm ảnh hưởng uy tín của nhân dân đối với Quân đội.

Từ những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch đối với Quân đội hiện nay, chúng ta cần xây dựng lập trường vững vàng trước những thủ đoạn của chúng. Có những giải pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn của địch, bảo vệ truyền thống tốt đẹp của Quân đội, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh trong thời kỳ mới. 

 10 DẤU ẤN VÀ SỰ KIỆN NỔI BẬT 2022

- Tăng trưởng GDP cao kỷ lục, kinh tế - xã hội phục hồi và phát triển mạnh mẽ;

- Ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, kiểm soát lạm phát;

- Dịch bệnh COVID-19 được kiểm soát tốt, chắc chắn trên phạm vi toàn quốc, không để "dịch chồng dịch";

- Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực;

- Tập trung xử lý các vấn đề tồn đọng kéo dài, đạt hiệu quả bước đầu và giải quyết, ứng phó kịp thời những vấn đề mới phát sinh; 

- Đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện thể chế - khâu đột phá chiến lược;

- Công tác an sinh xã hội được triển khai thiết thực, kịp thời, hiệu quả;

- Dấu ấn ngoại giao Việt Nam;

- Thúc đẩy các dự án hạ tầng giao thông vận tải chiến lược;

- Tăng tốc chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo.


NHẬN DIỆN QUAN ĐIỂM SAI TRÁI TRÊN MẠNG XÃ HỘI

 Để chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch lợi dụng không gian mạng để tuyên truyền những quan điểm sai trái, thù địch với nhiều thủ đoạn, ngày càng tinh vi, xảo quyệt, thâm độc và nguy hiểm hơn, có tác động đến mọi tầng lớp xã hội.

Chúng tấn công, đả kích trực diện nền tảng tư tưởng của Đảng, vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, mục tiêu, con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội, công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chúng phủ nhận những thành tựu to lớn đã đạt được của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng trong quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế. Tuyên truyền những tư tưởng độc hại, nhằm phá vỡ niềm tin giữa Đảng với nhân dân; xuyên tạc, phủ nhận những thành quả cách mạng trong công cuộc đổi mới ở nước ta…

Chúng đưa lên mạng xã hội những mặt trái của xã hội, khai thác những thông tin tiêu cực, không chính thống, sai trái để hướng lái, dẫn dắt dư luận theo chiều hướng tiêu cực, làm cho người đọc mơ hồ, mất cảnh giác nhằm mục đích tạo nên sự hoài nghi, phản kháng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Các bài viết bài phát tán nhằm làm sâu sắc hơn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân để thông qua các đối tượng này trực tiếp phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, vào mục tiêu, con đường tiến liên chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta.

Với tính chất phức tạp của mạng xã hội, do đó, chúng ta cần nhận diện rõ những mặt tiêu cực của nó, từ đó có những giải pháp đấu tranh có hiệu quả để ngăn chặn, làm thất bại âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên không gian mạng.

ĐẤU TRANH BẢO VỆ KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC

 Khối đại đoàn kết dân tộc là sức mạnh của toàn dân tộc, Đảng và Nhà nước ta đã luôn chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, trở thành di sản vô giá, truyền thống cực kỳ quý báu của dân tộc ta, sức mạnh khối đại đoàn kết dân tộc đã góp phần vào sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và công cuộc  phát triển đất nước.

Các thế lực thù địch cho rằng để chống phá Đảng, cách mạng Việt Nam thì phải phá vỡ sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ đó, các thế lực thù địch tìm mọi cách chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc bằng những thủ đoạn, chiêu bài khác nhau, nhằm phá hoại ta từ bên trong. Lợi dụng những yếu kém trong quản lý của các cấp chính quyền rồi thổi phồng, từ cá biệt họ cho là toàn thể,... làm cho người dân từ nghi ngờ đến mất lòng tin vào Đảng, chế độ.

Các thế lực thù địch còn xuyên tạc một số chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta, nhất là chính sách về dân tộc, tôn giáo để gây dư luận xấu trong nhân dân, làm cho người dân hiểu sai lệch vấn đề, nhất là chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta.

Chúng tập trung để phá vỡ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết vùng miền, đoàn kết lương giáo, đoàn kết quân - dân, đoàn kết Đảng với Nhân dân, v.v.dẫn đến suy giảm sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chúng kích động, tập hợp lực lượng, móc nối lôi kéo, tạo dựng ngọn cờ, thực hiện ý đồ biểu tình, bạo loạn lật đổ. chúng kích động, nói xấu Đảng, Nhà nước ta vi phạm “tự do tôn giáo”, chia rẽ đoàn kết lương giáo...

Với âm mưu, thủ đoạn chống phá, của các thế lực thù địch về khối đại đoàn kết dân tộc; chúng ta cần nhận diện rõ những thủ đoạn của chúng. Đồng thời, hủ động phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch bảo vệ khối đại đoàn kết dân tộc trong tình hình mới. 

ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI VỀ NHÂN QUYỀN Ở VIỆT NAM

 Hiện nay các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị đang tìm mọi cách thức, mọi thủ đoạn, tận dụng mạng xã hội để tuyên truyền, chống phá cách mạng Việt Nam, một trong những thủ đoạn của chúng là vu cáo Việt Nam vi phạm nhân quyền.

Chúng xuyên tạc, đưa ra những luận điệu sai trái về tình hình nhân quyền của Việt Nam. Chúng đưa ra mô hình “xã hội dân sự”, Về bản chất của là hình thành nên tính đa nguyên về tư tưởng, chính kiến để hình thành hoặc chuẩn bị hình thành vào các khuynh hướng tư tưởng chính trị khác nhau, từ đa nguyên về tư tưởng, dẫn tới đa nguyên về chính trị và mục đích cuối cùng là đối lập về tư tưởng chính trị.

Chúng lợi dụng các kẽ hở về mặt pháp luật, tập hợp và làm méo mó các vấn đề xã hội như dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo… để xuyên tạc và âm mưu hình thành các tổ chức chính trị đối lập tại Việt Nam. Tiến tới đòi thành lập đảng chính trị đối lập, thậm chí đòi khởi kiện, vu cáo, xuyên tạc Nhà nước ta vi phạm các điều ước quốc tế về quyền dân sự…

Ngoài ra, các thế lực thù địch không ngừng chống phá, không ngại bịa đặt, dựng chuyện. Chúng đăng tải trên mạng xã hội liên tục kích động nhân dân bằng các bài viết xuyên tạc, vu cáo ta “độc đoán”, đàn áp tự do báo chí, che giấu thông tin, hoặc tiếp tục bẻ lái, kích động dư luận chống đối, đi ngược lại quan điểm, chính sách, quy định của Đảng, Nhà nước và các cơ quan chức năng.

Từ những thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch về vấn đề nhân quyền ở Việt Nam hiện nay, chúng ta cần nhận những thủ đoạn của chúng. Đồng thời, có giải pháp đấu tranh làm thất bại âm mưu thủ đoạn của địch, bảo vệ đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước ta về thực hiện nhân quyền ở Việt Nam. 

Vì sao Việt Nam xác định Việt Tân là tổ chức khủng bố, phản cách mạng?

 


Ngày 4-10-2016, căn cứ pháp luật Việt Nam và quốc tế, Bộ Công an đã đưa “Việt Tân” vào danh sách các tổ chức khủng bố, chống Nhà nước Việt Nam. Từ khi thành lập năm 1981 đến nay, tổ chức này đã có nhiều hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, nhiều đối tượng đã bị bắt giữ, xét xử nhưng chúng vẫn không từ bỏ dã tâm lật đổ chính quyền XHCN ở Việt Nam.

Từ tàn quân lưu vong đến khủng bố “chuyển lửa về quê nhà”

Theo thông báo của Bộ Công an, Tổ chức phản cách mạng lưu vong “Việt Tân” là tên viết tắt của cái gọi là “Việt Nam canh tân cách mạng đảng”, trụ sở chính đặt tại 2530 đường Berryessa 234 San Jose, California, Mỹ và "Văn phòng 2" tại Bangkok, Thái Lan. Tổ chức này có cơ quan tuyên truyền là báo "Kháng chiến"; đài "Việt Nam kháng chiến" và "Chân trời mới". Đối tượng cầm đầu là Đỗ Hoàng Điềm, sinh 1963, quốc tịch Mỹ, "Chủ tịch Việt Tân" và Lý Thái Hùng, sinh 1953, quốc tịch Mỹ, "Tổng bí thư Việt Tân".

Năm 1981, Hoàng Cơ Minh (nguyên chuẩn tướng, Phó đề đốc hải quân chính quyền Việt Nam Cộng hòa) và một số đối tượng phản động lưu vong đứng ra thành lập tổ chức phản động "Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam". Cái gọi là mặt trận ấy có cương lĩnh, có con dấu, hiến chương và vẫn một sắc màu ba que được Mỹ nuôi dưỡng, chỉ đạo, nhằm chống phá Việt Nam bằng các hoạt động vũ trang, khủng bố.

Với tham vọng ngông cuồng, đồng thời để lừa mị một bộ phận kiều bào ở hải ngoại, ngày 10-9-1982 tại căn cứ ở Thái Lan, Hoàng Cơ Minh lập ra tổ chức "Việt Nam canh tân cách mạng đảng" - gọi tắt là "Việt Tân", là cơ quan đầu não cực kỳ phản động, chỉ huy mọi hoạt động của “Mặt trận quốc gia thống nhất giải phóng Việt Nam” và một số tổ chức phản động khác tiến hành các hoạt động chống phá, tiến tới lật đổ chính quyền nhân dân ở Việt Nam. Các thành viên của “Mặt trận” này đồng thời là thành viên của “Việt Tân”.   

Theo tài liệu tố cáo tội ác của “Mặt trận” và các thành viên “Mặt trận” nhận nhiệm vụ xâm nhập về nước hoạt động khủng bố phá hoại (Bộ Công an), Hoàng Cơ Minh từng huênh hoang tuyên bố mục tiêu “kháng chiến giải phóng Việt Nam” gồm các giai đoạn từ 30-4-1975 đến năm 1980, tập hợp lực lượng, đối tượng chủ yếu nhằm vào những người trong chính quyền cũ là sĩ quan cao cấp ở trong nước và những kẻ có nợ máu với nhân dân đang lẩn trốn ở nước ngoài. Năm 1980-1983, tuyển mộ lính đánh thuê ở các trại tị nạn người Việt để đào tạo huấn luyện. Năm 1984-1987, xây dựng cơ sở hạ tầng hạt nhân. Từ năm 1986-1990, là giai đoạn xây dựng vùng giải phóng tạm, lấy chỗ đứng chân đón các “kháng chiến quân” trở về. Đến năm 1992 là giai đoạn lật đổ và giành chính quyền.

Để thực hiện dã tâm đó, Hoàng Cơ Minh phái tay chân sục sạo các trại tị nạn người Việt tuyển mộ lính đưa về căn cứ huấn luyện gián điệp, biệt kích, tiến hành các hoạt động khủng bố, phá hoại, bắt cóc, thủ tiêu con tin. Tuy nhiên, trong suốt 5 năm liền, y chỉ tuyển được 200 quân. Để lòe bịp dư luận và moi đô la từ bà con Việt kiều ở nước ngoài, Hoàng Cơ Minh thuê bọn phỉ Lào đóng giả các “kháng chiến quân”, quay phim gửi về Mỹ và tuyên bố đã dựng được cờ và tập hợp được các tổ chức kháng chiến, với đội quân 10.000 người.

Sự bịp bợm của Hoàng Cơ Minh không chỉ khiến bà con kiều bào mà ngay cả phe đối lập của hắn cũng phải lên tiếng. Chính Trần Văn Liễu, Tổng trưởng Tổng cục Hải ngoại của Minh từng công khai chỉ trích Minh là bọn tống tiền, là bọn buôn kháng chiến, bọn lừa đảo bà con người Việt sống xa xứ sở để móc túi moi đô la và vàng.

Kế hoạch ngông cuồng  

Hoàng Cơ Minh và đồng bọn xác định: Hướng xâm nhập, xây dựng "mật cứ" trong nội địa là các tỉnh miền Trung - Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Chúng hy vọng sẽ móc nối với các tổ chức phản động ở trong nước, đưa người vào rừng huấn luyện rồi tung trở lại thực hiện phương châm "Trong nổi dậy, ngoài đánh vào".

Tư liệu của Bộ Công an cho biết, từ năm 1982 - 1989, "Việt Tân" đã tổ chức nhiều đợt đưa người và vũ khí xâm nhập vào lãnh thổ Việt Nam; tiến hành các chiến dịch "Đông tiến 1", "Đông tiến 2", "Đông tiến 3"… qua đất Lào, Campuchia. Mặc dù Hoàng Cơ Minh cùng những kẻ cầm đầu "Việt Tân" xây dựng kế hoạch công phu, tổ chức xâm nhập với điều kiện, trang bị hoàn hảo, nhưng toán "Kháng quản" là toán xâm nhập mở đường, chưa kịp lập "mật cứ", thì đã bị cơ quan an ninh Việt Nam tóm gọn.

Tiếp đó, chiến dịch "Đông tiến 1" do Dương Văn Tư cầm đầu gồm 51 tên xâm nhập ngày 15-5-1986. Mục đích của chuyến đi mở đường là lập một “mật khu” khô tại Gia Lai-Kon Tum, móc nối với những tên làm việc cho chế độ Mỹ-ngụy chưa chịu cải tạo, tổ chức ám sát cán bộ, đánh phá các đồn biên phòng, các nông, lâm trường, chặn đánh xe vận tải trên các tuyến đường cao nguyên. Tuy nhiên, mọi chuyển động và những hành tung của toán biệt kích này không thoát khỏi tai mắt nhân dân trên đường xâm nhập Việt Nam. Trong suốt hơn 4 tháng hành quân, bọn chúng đi được không quá 300 cây số đường rừng và liên tục bị các lực lượng vũ trang Việt Nam, Lào và Campuchia truy đuổi, bao vây. Một số tên bị tiêu diệt, số còn lại đã giết lẫn nhau để đoạt tiền, vàng rồi bỏ trốn khỏi đội hình.

Đám tàn quân được phái đi nhiều tên bị diệt, một số bị bắt, những tên ngoan cố bỏ chạy cũng bị truy kích và phải đầu hàng, nhưng Hoàng Cơ Minh vẫn hò hét “Đông Tiến” giải phóng Việt Nam để tiếp tục lòe bịp dư luận và bà con kiều bào sống xa quê hương. Ngày 7-7-1987, Hoàng Cơ Minh đích thân chỉ huy toàn bộ lực lược gần 150 tên thực hiện chiến dịch "Đông tiến 2", xâm nhập vào Tây Nguyên để xây dựng "mật cứ". Nhưng khi mới vào đất Lào, chúng bị lực lượng vũ trang Lào phối hợp với bộ đội Việt Nam chặn đánh. Trong trận đánh cuối cùng ngày 28-8-1987, Hoàng Cơ Minh đã phải phơi xác cùng đám tàn quân. Kết cục, "Đông tiến 2" hoàn toàn thất bại với 60 tên bị tiêu diệt, 67 tên bị bắt sống…

Ngày 1-12-1987, Tòa án nhân dân tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mở phiên tòa sơ thẩm đồng thời là chung thẩm xét xử công khai vụ án Hoàng Cơ Minh, với tội danh phản bội tổ quốc và hoạt động phỉ. Hàng ngàn người, trong đó có đoàn đại biểu Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân hai nước bạn Lào, Campuchia cũng có mặt theo dõi phiên tòa.

Mặc dù Hoàng Cơ Minh đã bị tiêu diệt, nhưng ảo vọng “lật đổ và giành chính quyền” vẫn được nhóm tàn quân của Việt Tân nhen nhóm thực hiện bằng chiến dịch "Đông tiến 3", do Trần Quang Đô chỉ huy. Ngày 22-8-1989 Trần Quang Đô cùng 68 tên khác âm mưu xâm nhập Quảng Trị - Quảng Nam - Đà Nẵng - Gia Lai - Kon Tum xây dựng căn cứ, sau đó phát triển lực lượng xuống đồng bằng sông Cửu Long. Tuy nhiên, khi chúng vừa vào đất Lào thì bị quân và dân Lào truy quét quyết liệt phải chịu kết cục bi thảm với 30 tên ngoan cố bị tiêu diệt, 38 tên còn lại bị bắt sống.

Khủng bố “phiên bản 2.0”

Giai đoạn sau năm 1989, Việt Tân tiếp tục tuyển mộ, huấn luyện, chỉ đạo thành viên xâm nhập về Việt Nam kích động biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn, thủ tiêu, bắt cóc con tin; đưa người ra nước ngoài đào tạo, huấn luyện, tổ chức các khóa đào tạo trực tuyến về phương thức, hoạt động khủng bố, phá hoại; tán phát lên mạng Internet hướng dẫn cách chế tạo bom xăng để phục vụ hoạt động khủng bố, phá hoại, ám sát…  Mặc dù năm 1987, Hoàng Cơ Minh bị thương và đã tự sát. Năm 1991, chiến dịch "Đông tiến 3"  cũng bị thất bại nhưng Việt Tân vẫn lừa dối nhiều người Việt Nam ở nước ngoài không công bố thông tin này để vận động quyên góp tiền cho “kháng chiến”, có thông tin cho biết số tiền lên đến hàng trăm triệu USD nhưng chủ yếu rơi vào tay các cá nhân cầm đầu tổ chức này.

Năm 2001, “tổ chức Mặt Trận” chính thức công bố sự thật về cái chết của Hoàng Cơ Minh. Năm 2004, tại Đức, tổ chức Mặt Trận tuyên bố giải tán và công khai hóa Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng (gọi tắt là Việt Tân).

Tháng 8-2006, Việt Tân đã tổ chức nhóm “sang sông”, thực chất là chiến dịch “Đông tiến 7”, và nhóm “liên minh dân tộc” với ý đồ đưa người về nước tiến hành các hoạt động khủng bố. Để thực hiện âm mưu này, Việt Tân đã từng bước công khai hóa tổ chức. Từ tháng  3 đến tháng 11-2007, Nguyễn Kim - chủ tịch “Việt Tân” đã chỉ đạo Nguyễn Hải tên gọi khác là Khunmi Somsak, Nguyễn Quang Phục, Nguyễn Quốc Hải ở Thái Lan 4 lần về Việt Nam khảo sát, thiết lập tuyến đường bí mật xâm nhập vào Việt Nam, móc nối cơ sở, tán phát truyền đơn, thuê nhà tìm địa điểm ẩn náu cho đồng bọn.

Đồng thời, cử Nguyễn Ngọc Đức, Nguyễn Quốc Quân về nước bằng con đường bất hợp pháp; Nguyễn Thị Thanh Vân và Trương Leon về Việt Nam bằng con đường công khai, có nhiệm vụ chỉ đạo số đối tượng trong nước biểu tình, phá rối an ninh, bạo loạn nhằm gây hoang mang, uy hiếp tinh thần của một bộ phận người dân..., nhưng đã bị cơ quan an ninh điều tra của ta phát hiện và xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Nhóm đối tượng này đã được đồng bọn trong nước cung cấp tên 40 công ty và 7.000 địa chỉ người thân nhận thư, 1.000 USD để mua thiết bị máy in, usb, tem, bì thư... để tin 7.000 tờ truyền đơn. 

Một vụ việc khác tinh vi hơn đã được Báo An ninh Thế giới Online đưa tin là việc “Việt Tân” tổ chức cho Phạm Minh Hoàng, thành viên của “Việt Tân” tại Pháp về Việt Nam làm giảng viên hợp đồng của một trường Đại học tại TP Hồ Chí Minh. Dưới bút danh Phan Kiến Quốc, tên Hoàng đã viết nhiều bài. Trong đó, 33 bài viết có nội dung xuyên tạc chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam rồi gửi cho tổ chức khủng bố Việt Tân đăng tin, tán phát trên mạng internet nhằm mục đích kích động, lôi kéo người dân biểu tình. Tháng 8-2011, Tòa án nhân dân TP Hồ Chí Minh đã đưa ra xét xử, tuyên bố Hoàng phạm tội “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Sau khi ra tù, Hoàng tiếp tục hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia nên đã bị Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tước quốc tịch, trục xuất về Pháp vào giữa năm 2017. 

Tiếp đó, từ tháng 8-2009 đến tháng 11-2011, “Việt Tân” tổ chức đưa 17 đối tượng là cơ sở trong nước nhiều lần sang Thái Lan, Campuchia, Lào, Philippines và Mỹ để các thành viên của “Việt Tân” huấn luyện phương thức hoạt động. Ngày 2-8-2011, khi các đối tượng nhập cảnh về Việt Nam thì bị cơ quan an ninh Bộ Công an phát hiện, bắt giữ và khởi tố 17 bị can; đề nghị truy tố 14 bị can, truy nã 3 bị can.

Mới đây nhất là ngày 11-11-2019, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã mở phiên tòa xét xử sơ thẩm 6 bị cáo về các tội: "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân," "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức." Trong vụ án này, 3 bị cáo: Châu Văn Khảm (sinh năm 1949, quốc tịch Việt Nam, Australia), Nguyễn Văn Viễn (sinh năm 1971, trú tại thành phố Tam Kỳ, tỉnh Quảng Nam), Trần Văn Quyền (sinh năm 1999, trú tại huyện Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh) bị truy tố về tội "Khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân" theo quy định tại Điều 113, khoản 2, điểm a, Bộ luật Hình sự năm 2015. Ba bị cáo còn lại là Bùi Văn Kiên, Trần Thị Nhài và Nguyễn Thị Ánh bị truy tố về tội "Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức" do đã có hành vi làm giả nhiều chứng minh nhân dân, hồ sơ xin việc làm cho các đối tượng trong vụ án. Với những bằng chứng xác đáng, Hội đồng xét xử Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt Châu Văn Khảm 12 năm tù; Nguyễn Văn Viễn 11 năm tù và Trần Văn Quyền 10 năm tù (cả hai bị quản thúc 5 năm sau khi mãn hạn tù). Các bị cáo còn lại Bùi Văn Kiên bị kết án 4 năm tù, Nguyễn Thị Ánh 3 năm tù, Trần Thị Nhài 3 năm tù.

Không dừng lại ở đó, trong năm 2019, số cầm đầu “Việt Tân” tại Mỹ còn chỉ đạo số đối tượng tại TP Hồ Chí Minh tính toán khả năng thực hiện một số hoạt động phá hoại ở Việt Nam vào các dịp lễ lớn. Ban đầu, Việt Tân chủ trương tiến hành đặt bom phá hoại một số tượng đài ở TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên, sau đó, các đối tượng đã thay đổi kế hoạch nhằm vào TP Hà Nội theo 3 hướng. Hướng thứ nhất là đặt bom trong thùng rác công cộng ở một số địa điểm quan trọng, tập trung là khu vực trung tâm của Hà Nội. Phương án hai là kích động một số đối tượng cực đoan, quá khích tập trung gây “náo loạn” trước khu vực trung tâm chính trị nhằm tạo điểm nóng, thu hút sự chú ý của lực lượng an ninh để các đối tượng khác tiến hành đánh bom theo kế hoạch. Sau đó, bố trí ghi hình, tung lên mạng xã hội tất cả các hoạt động nhằm gây tiếng vang, vu cáo chính quyền Việt Nam “đàn áp khủng bố” các nhà “hoạt động dân chủ”, “bất đồng chính kiến”.

Đầu tháng 8-2019, trên cơ sở khuyến nghị của lực lượng đặc nhiệm tài chính (FATF) về chống rửa tiền và tài trợ khủng bố và đề nghị của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Bộ Công an đã công bố danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố.

Ngoài danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố, tài trợ khủng bố do Việt Nam chỉ định đã công bố là “Tổ chức khủng bố Việt Tân” và “Chính phủ quốc gia Việt Nam lâm thời”, Bộ Công an bổ sung thêm Danh sách tổ chức, cá nhân liên quan đến khủng bố và tài trợ khủng bố do Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc chỉ định. Danh sách những tổ chức, các nhân này đã được thông báo công khai trên trang web của Bộ Công an./.

XUAN THUY-01.2023