Bản chất của quá độ dân số là khi các xã hội
chuyển từ thời kỳ có cả mức sinh và mức chết đều cao sang thời kỳ mức sinh và
mức chết đều thấp. Ở hầu hết các nước đang phát triển trong thời kỳ sau chiến
tranh thế giới lần thứ II, đã thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia
đình nhằm thúc đẩy giảm mức sinh nhanh hơn, bởi vì mức sinh tương đối cao trong
thời kỳ đó đã cản trở nghiêm trọng tới việc thực hiện các mục tiêu phát triển
kinh tế- xã hội ở các quốc gia này. Hàn Quốc và Sinh ga po là những quốc gia đã
sớm thực hiện thành công chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình (đạt mức
sinh thay thế trong những năm đầu của thập niên 1980. Đây là một yếu tố quan
trọng góp phần đưa hai nước này trở thành những con Rồng (kinh tế) của Châu Á
từ những năm 1980.
Quy mô dân số ở Việt Nam đã tăng liên
tục từ khoảng hơn 30 triệu lên 96 triệu từ năm 1960 – 2019. Hiện nay dân số
Việt nam là gần 96.208.984 người (Nam: 47.881016; Nữ: 48.327.932, Đứng thứ 3
khu vực sau Inđônễia, PhiLípphin, đứng thứ 15 thế giới. Mật độ dân số là 290
người/km2, tăng 31người/km2 so với năm 2009 (Philippin 363người/km2; Xinh ga po
8.292 người/km2 (việt Nam đứng thức 3 khu vực đông nam á). Đồng bằng sông Hồng:
1.060 người/km2; Đông Nam Bộ:757 người/km2; Trung Du và Miền núi Băc Bộ: 132
người/km2; Tây Nguyên 107 người/km2. Tốc độ tăng quy mô dân số ở nước ta có xu
hướng chậm dần do mức sinh giảm liên tục trong giai đoạn 1960-2005. Số con
trung bình của một phụ nữ giảm từ khoảng 7 con/1960, xuống còn 2.1 con (mức
sinh thay thế) vào năm 2005.Tổng hộ dân cư 26.870.079 tăng 4,4 triệu hộ so với
năm 2009. Bình quân mỗi hộ có 3,6 người thấp hớn 0,2 người/hộ so với năm 2009.
Tỷ lệ tăng bình quân số hộ dân là 1,8%/năm, thấp hơn 1,2 điểm phần trăm so với
gia đoạn 1999-2009 (là giai đoạn có số hộ dân cư thấp nhất trong vòng 40 năm
qua).
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét