Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2023

Nâng cao nhận thức và cảnh giác với những chiêu trò lợi dụng mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước

 Nâng cao nhận thức và cảnh giác với những chiêu trò lợi dụng mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước

 Hiện nay, mạng xã hội bùng nổ với số lượng người tham gia ngày càng lớn. Đặc biệt là các trang mạng như: Facebook, Zalo. Vì vậy, các thế lực thù địch triệt để lợi dụng các công cụ này để đẩy mạnh các hoạt động chống phá từ bên ngoài, tạo dựng lực lượng chống đối từ bên trong. Các phần tử phản động xuyên tạc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; thổi phồng những hạn chế, yếu kém trong quản lý, những sơ hở, thiếu sót trong thực hiện chính sách, pháp luật hoặc những vụ việc phức tạp nảy sinh trong lĩnh vực dân tộc, tôn giáo. Đồng thời móc nối, cấu kết với những cán bộ, đảng viên có biểu hiện suy thoái, biến chất nhằm lôi kéo, mua chuộc, tạo lực lượng chống phá từ bên trong. Trong đó, số hoạt động ở nước ngoài chỉ đạo, hỗ trợ kinh phí hoạt động, các đối tượng trong nước tích cực tập hợp lực lượng, thu thập tin tức để cung cấp cho bên ngoài vu cáo, xuyên tạc tình hình đất nước. Lợi dụng internet, mạng xã hội để lan truyền các clip, tài liệu xuyên tạc, bôi nhọ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và địa phương nhằm gây hoang mang, hoài nghi, suy giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước.

Trong thời gian qua lợi dụng tình hình chiến sự Nga - Ucraina diễn biến phức tạp, làm giá cả thị trường leo thang, nhất là giá xăng dầu tăng cao; một số cán bộ, đảng viên cấp cao của Đảng bị bắt, khai trừ Đảng do liên quan đến công tác phòng, chống dịch Covid-19. Các thế lực thù địch, phản động lưu vong nước ngoài thường xuyên cập nhật thông tin, viết bài chia sẻ những hình ảnh về chiến sự Nga – Ucraina, sự ưu việt về chính sách của các nước phương tây, thiệt hại của người dân Ucraina, sự tàn phá của Nga liên quan đến dân thường,… hay làm nhiều phóng sự, video về những quan chức cấp cao của Đảng suy thoái, biến chất vì tham nhũng, một số nội dung liên quan đến tôn giáo, dân chủ, từ đó đăng lên Youtube, Facebook, Zalo,… với mục đích lôi kéo cán bộ, đảng viên, nhân dân xem, thích, bình luận, chia sẻ, gây rối loạn thông tin, tạo tâm lý hoang mang, ngờ vực trong cán bộ, đảng viên, nhân dân về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hầu hết thông tin được đăng tải sai sự thật, pha lẫn với một số sai phạm của một số cán bộ, đảng viên nên cán bộ, đảng viên, người dân khi cập nhật thông tin, không sáng suốt, không có lập trường, quan điểm vững vàng sẽ rơi vào âm mưu chống phá của bọn chúng.

Để làm tốt nhiệm vụ đấu tranh chống lại các luận điệu sai trái, các quan điểm xuyên tạc, chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta của các thế lực phản động trong và ngoài nước trên mạng xã hội, mỗi cán bộ đảng viên cần: Nâng cao khả năng nhận diện với các thông tin xấu, độc, nguy hại đối với bản thân và xã hội; Xây dựng phong cách văn hóa khi tham gia trên không gian mạng; Có ý thức cảnh giác, không đăng tải hoặc để lộ, lọt thông tin, tài liệu liên quan đến bí mật quốc gia; Phát hiện kịp thời âm mưu, thủ đoạn, phương thức hoạt động của các thế lực thù địch trên không gian mạng, chỉ cập nhật những thông tin chính thống, không xem và chia sẻ những thông tin chưa được kiểm chứng, kịp thời phát hiện, góp ý, phê bình; Không để đồng nghiệp, người nhà của mình bị lôi kéo, dụ dỗ mà cố ý hoặc vô tình ủng hộ, chia sẻ, lan truyền những thông tin phản động, độc hại trên mạng xã hội; Cán bộ, đảng viên cần sử dụng trang mạng xã hội như một kênh thông tin, tuyên truyền những thông tin chính thống về chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Đồng thời, chủ động và thường xuyên tham gia bình luận, chia sẻ các bài viết về những điển hình tiên tiến, gương người tốt, việc tốt, những mô hình mới, cách làm hay của các cơ quan, đơn vị, địa phương và cá nhân trong tham gia thực hiện các phong trào thi đua yêu nước.

Đấu tranh phòng, chống hoạt động lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá sự nghiệp cách mạng nước ta là công việc khó khăn, phức tạp, lâu dài. Vì vậy, hơn bao giờ hết, mỗi cán bộ, đảng viên cần phải tỉnh táo, sáng suốt trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình; phải luôn xây dựng khối đại đoàn kết ngày càng vững mạnh, nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp để ngăn chặn, đẩy lùi những thông tin sai lệch trên không gian mạng.

 

Thấm nhuần vai trò của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

 Thấm nhuần vai trò của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay

Với tâm địa đen tối, cái nhìn hằn học, các thế lực thù địch thường xuyên chống phá cách mạng nước ta, nhất là trên một số đài, báo nước ngoài thiếu thiện chí với Việt Nam như: BBC, RFA, RFI, VOA... và các trang mạng xã hội phản động, nhất là tổ chức Việt Tân luôn xuyên tạc rằng, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở Việt Nam là “thanh trừng phe phái” hay “tính hiệu quả không thể cao khi người dân đứng ngoài cuộc chiến chống suy thoái”, cho rằng việc xử lý cán bộ vi phạm để “tăng cường quyền lực cho khối nội chính, tuyệt đối hóa quyền lực của Đảng”, v.v.. Thực ra, những nhận định này là hồ đồ và xuyên tạc vì công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng là việc làm thường xuyên, liên tục của Đảng để “cơ thể Đảng” thường xuyên khỏe mạnh, có sức “đề kháng”, “miễn dịch” trước sự chống phá của các thế lực thù địch.

Từ lý luận và thực tiễn đều chứng minh một vấn đề có tính nguyên tắc và mang tính chiến lược, đó là Đảng phải thường xuyên được xây dựng, chỉnh đốn để Đảng thực sự là đạo đức, là văn minh, đủ sức và xứng đáng với vai trò lãnh đạo sự nghiệp cách mạng của đất nước, dân tộc.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ của sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh ngày càng cấp thiết, bởi lẽ, đất nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới. Điều đó càng đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đổi mới, vươn tầm trí tuệ, Đảng phải được xây dựng vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, tổ chức, đạo đức và cán bộ. Do vậy, không thể có chuyện việc xây dựng, chỉnh đốn Đảng ở nước ta là “giật gấu vá vai” như ai đó đã từng rao giảng. Thực tiễn đã chứng minh, càng làm tốt công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng bao nhiêu thì Đảng ta ngày càng vững mạnh bấy nhiêu, luôn xứng đáng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.

Kết quả đã đạt được trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng thời gian qua là niềm tin để mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần đề cao cảnh giác trước những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch; kiên quyết đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, vững tin xây dựng nước ta ngày càng giàu mạnh.

 

Trung tâm Huấn luyện Vùng 2 Hải quân tổ chức phát động trồng và chăm sóc cây xanh làm đẹp cảnh quan đơn vị.

 Cán bộ, chiến sĩ đã trồng thêm 150 cây dầu, keo, chuông vàng; dọn vệ sinh môi trường quanh doanh trại và khu vực chuẩn bị đón nhận chiến sĩ mới năm 2023. Hiện khuôn viên Trung tâm Huấn luyện Vùng 2 Hải quân có hệ thống cây xanh, cảnh quan xanh, sạch, đẹp, góp phần nâng cao chất lượng đời sống văn hóa tinh thần của cán bộ, chiến sĩ. 

* Học viện Phòng không-Không quân vừa tiến hành trồng được 1.100 cây xanh, trong đó có 1.045 cây lấy gỗ, cây bóng mát và 55 cây ăn quả tại khu trận địa, xung quanh các doanh trại và vườn cây ăn quả. Tết trồng cây là hoạt động thường niên của Học viện, qua đó góp phần giáo dục, nâng cao nhận thức cho cán bộ, chiến sĩ về vai trò, lợi ích của việc trồng cây, tạo bóng mát, giảm nhẹ thiên tai; cải tạo cảnh quan môi trường, xây dựng khuôn viên của Học viện ngày càng chính quy, xanh-sạch-đẹp. 

* TP Phổ Yên (tỉnh Thái Nguyên) đã trồng 10 cây sang tại khu vực xây dựng trụ sở làm việc khối các cơ quan của thành phố. Các cây xanh đều được gắn mã QR để truy xuất thông tin và quản lý theo quy định. Với quyết tâm xây dựng TP Phổ Yên trở thành đô thị thông minh dựa trên sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế-xã hội gắn với bảo vệ môi trường. Năm 2023, TP Phổ Yên phấn đấu trồng 80ha rừng tập trung và hơn 50.000 cây phân tán.

TIẾP TỤC GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

 TIẾP TỤC GIƯƠNG CAO NGỌN CỜ ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

         Chủ nghĩa Mác - Lênin khẳng định: Dân tộc và giai cấp có mối quan hệ biện chứng với nhau. Dân tộc bao giờ cũng mang bản chất của một giai cấp nhất định, không có dân tộc chung chung, dân tộc phi giai cấp. Mỗi giai cấp có quan điểm riêng của mình về vấn đề dân tộc và ở mỗi một thời đại lịch sử, đều có giai cấp đứng ở vị trí trung tâm của thời đại đó. Từ giữa thế kỷ XVI đến thế kỷ XVIII, giai cấp tư sản đứng ở vị trí trung tâm của thời đại, giai cấp tư sản giương cao ngọn cờ dân tộc, chống chế độ phong kiến lỗi thời. Sau thắng lợi của Cách mạng tháng Mười Nga (1917), giai cấp vô sản đại biểu cho phương thức sản xuất mới, phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, là giai cấp duy nhất có khả năng nắm vững ngọn cờ dân tộc, giải quyết đúng đắn vấn đề dân tộc, đưa dân tộc tiến lên.

Cách mạng tháng Mười Nga (1917) thắng lợi đã chặt đứt khâu yếu nhất trong sợi dây chuyền của chủ nghĩa đế quốc, báo hiệu sự sụp đổ của chủ nghĩa đế quốc; đồng thời, đã mở ra thời đại mới, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Cách mạng tháng Mười mở ra con đường giải phóng cho các dân tộc và cả loài người, mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội. Do đó, cách mạng Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản - con đường của Cách mạng tháng Mười Nga, giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hoàn toàn phù hợp với xu thế của thời đại.

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một trong những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh, là tư tưởng cốt lõi xuyên suốt toàn bộ hệ thống quan điểm của Người về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam; là một trong các nhân tố quan trọng, góp phần quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong hơn 90 năm qua. Theo Người, độc lập dân tộc là điều kiện, tiền đề không thể thiếu để tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là sự bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Trên cơ sở đó, Người cũng chỉ ra những điều kiện để đảm bảo cho độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội của cách mạng Việt Nam, như: có sự lãnh đạo của Đảng; có khối đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh công - nông - trí thức; có sự ủng hộ, giúp đỡ của các lực lượng cách mạng, hòa bình, dân chủ và tiến bộ trên thế giới…

­Thực tiễn cách mạng thế giới cũng đã chứng minh, cách mạng giải phóng dân tộc muốn đi đến thắng lợi triệt để tất yếu phải do giai cấp công nhân lãnh đạo và phải phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa. Tất cả các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, như: Cách mạng tư sản Mỹ (1776), Cách mạng tư sản Pháp (1789)… dù tiến bộ đến đâu cũng vẫn là các cuộc cách mạng chưa triệt để, nhân dân lao động vẫn cực khổ và họ luôn hướng tới một cuộc cách mạng khác. Cách mạng Việt Nam không thể đi theo con đường của các cuộc cách mạng ấy. Trên thế giới, chỉ có Cách mạng tháng Mười Nga (1917) là cuộc cách mạng triệt để nhất, cuộc cách mạng đã “thành công đến nơi”. Bởi vì, nó đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp.

Xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng lãnh đạo. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định con đường của cách mạng Việt Nam là giành độc lập dân tộc đi lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản. Đây là yêu cầu khách quan của lịch sử, là đòi hỏi tất yếu của của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới. Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã xác định con đường cách mạng Việt Nam là: “Tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Con đường đó biểu hiện sự thống nhất giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hơn 90 năm qua, nhờ đi theo con đường đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã trở thành bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

 

TÍCH CỰC HỌC TẬP VÀ VẬN DỤNG TẤM GƯƠNG TỰ HỌC CỦA BÁC HỒ

 TÍCH CỰC HỌC TẬP VÀ VẬN DỤNG TẤM GƯƠNG TỰ HỌC CỦA BÁC HỒ

Với Chủ tịch Hồ Chí Minh, học tập trong đó tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những yếu tố quyết định tạo nên trí tuệ của Người. Tự học tập và học tập suốt đời là một luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục. Bác chính là một tấm gương sáng về tự học tập, tự rèn luyện để chúng ta noi theo.

Bác Hồ đã dạy: “Học để làm việc. Làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể”. Học phải có ý chí quyết tâm để phục vụ nhân dân, chứ không phải học để thăng quan, tiến chức. Đối với Bác, học tập chính là một nhu cầu mà ngay từ thời trẻ đến mãi sau này, khi đã tuổi cao, sức yếu, Người vẫn thường xuyên học tập không chút lơ là.

Ngày 05 tháng 6 năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thànhlấy tên là Văn Ba làm phụ bếp cho một tàu buôn của Pháp, rời bến Nhà Rồng ra nước ngoài bắt đầu một hành trình lâu dài, gian khổ tìm đường cứu nước. Nguyễn Tất Thành ra đi với hành trang trên vai là chủ nghĩa yêu nước, mang theo một chí hướng lớn với một niềm tin sắt đá: Hẹn ngày trở về giải phóng Tổ quốc và đem lại tự do cho đồng bàoNgười đã đến nhiều đất nước khác nhau, đã gặp nhiều màu da, tiếng nói khác nhau, đó là cuộc sống tăm tối cực khổ của nhân dân các nước thuộc đia. Chính từ đây, những nhận thức về giai cấp, tình cảm giai cấp và tinh thần quốc tế vô sản đầu tiên đã hình thành ở Người: "Dù màu da có khác nhau, trên đời này chỉ có hai giống người: giống người bóc lột và giống người bị bóc lột. Mà cũng chỉ có một mối tình hữu ái là thật mà thôi: tình hữu ái vô sản". Lòng yêu nước của Người được thể hiện qua quá trình tìm tòi, nghiên cứu và hoạt động cách mạng. Yêu nước, Người đã tự nguyện chấp nhận cuộc sống làm thuê với đồng tiền công ít ỏi, rẻ mạt để kiếm sống, để hoạt động chính trị. Trong suốt hành trình tìm đường cứu nước, i sản duy nhất và quý báu nhất của Người lúc đó là hai bàn tay, đôi mắt và con tim, khối óc cùng với khát vọng giải phóng dân tộc. Chính khát vọng đó đã hun đúc cho người thanh niên mảnh khảnh một sức mạnh phi thường, bền bỉ tự học, tự đào tạo để có đủ khả năng cứu nước, cứu dân. Đến đâu, Người cũng học, tìm mọi cách để học. Người tìm hiểu phong tục tập quán ở những nơi mình đi qua để nâng cao tri thức; học nghề để kiếm sống, kiếm sống để hoạt động cách mạng. Bác đã học và làm rất nhiều nghề khác nhau, bắt đầu từ việc làm thợ đốt lò trên tàu viễn dương, làm đầu bếp ở Mỹ, quét tuyết ở Anh, bốc thuốc ở Thái Lan, viết báo, viết truyện, viết kịch, làm thợ chụp ảnh, thợ sửa đồng hồ… Làm rất nhiều việc, nhưng nhờ tự học mà Bác làm việc gì cũng giỏi. Danh họa Picaso đã nhận xét về những bức tranh do Bác vẽ trên báo “Người cùng khổ”: “Chỉ mấy nét vẽ này thôi, ta đã thấy một tư tưởng lớn, một tâm hồn lớn tiềm ẩn bên trong. Nếu tác giả tiếp tục con đường hội họa thì ắt sẽ trở thành một đại danh họa!”. Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho chúng ta một sự nghiệp văn chương phong phú và vô giá, tiêu biểu là tập thơ Nhật ký trong tùNhư chúng ta đã biết, học chữ Hán cực kỳ khó, để nắm vững nó và làm thơ thì lại khó hơn gấp bội. Chắc chắn, nếu Bác không có quá trình nỗ lực tự học thì sẽ không làm được điều đó.

Cuộc đời của Bác là một quá trình vừa học tập vừa hoạt động cách mạng. Học tập để hoạt động cách mạng, đạt được mục đích, lý tưởng của mình; qua hoạt động cách mạng, không ngừng học tập, hoàn thiện tri thức và nhân cách của bản thân. Quá trình ấy đã tạo nên Hồ Chí Minh, một thầy giáo mẫu mực, một nhà giáo dục vĩ đại. Người đã để lại tấm gương cao đẹp về tinh thần tự học và học tập suốt đời mà chúng ta phải noi theo. Trong bản lý lịch đại biểu dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII tại Mát-xcơ-va vào tháng 8 năm 1935, Bác đã khai rõ trong lý lịch: “Họ và tên: Lin. Trình độ học vấn: Tự học”. “Biết các thứ tiếng: Pháp, Anh, Trung Quốc, Ý, Đức, Nga”. Trên thực tế, dựa vào những lần Bác đi thăm nước ngoài, cũng như những lần đón tiếp các phái đoàn ngoại giao tới thăm Việt Nam, chúng ta còn được biết vốn ngoại ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh không dừng lại ở đó, Người còn có thể sử dụng thông thạo khá nhiều ngoại ngữ khác nữa như: Tiếng Thái Lan, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Ả Rập, tiếng của rất nhiều dân tộc thiểu số Việt Nam… vốn ngoại ngữ đó của Bác không phải do tự nhiên mà có, mà chính là cả một quá trình khổ công rèn luyện, học tập của Người.

Việc tự học của Bác Hồ có mục đích cuối cùng là làm cách mạng, giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Người đã đưa cách mạng Việt Nam đến thắng lợi bằng sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam. Vận dụng sáng tạo chính là quá trình tự thích nghi, tự tìm tòi thâm nhập thực tiễn, đúc rúc kinh nghiệm, phát huy nội lực. Sâu xa hơn, đó là quá trình tự học, tự giáo dục để làm cho nhân cách và năng lực của mình phù hợp với mục tiêu, lý tưởng, phù hợp với yêu cầu công việc. Việc tự học của Bác diễn ra suốt cả cuộc đời cách mạng của mình, cho tới khi tuổi cao, sức yếu, Bác vẫn giữ được tinh thần tự học như xưa. Đại tướng Hoàng Văn Thái lại, năm 1969, mỗi lần đến làm việc, ông thường thấy trên chiếc bàn nhỏ cạnh giường của Bác để nhiều sách báo. Ông lo lắng đến sức khỏe của Bác, nên đề nghị: “Thưa Bác, Bác mệt, Bác nên đọc ít, để nhiều thời gian nghỉ ngơi thư thả cho lại sức”. Bác trả lời, giọng như tâm sự mà dứt khoát từng lời: “Chú bảo Bác không đọc sách báo ư? Dù già yếu cũng phải học, phải đọc sách báo nâng cao hiểu biết và nhất là vấn đề nắm vững tình hình chứ!”.

Có thể nói, Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương mẫu mực về tinh thần tự học, lấy tự học làm cốt, làm phương thức chủ yếu để nâng cao trình độ mọi mặt của bản thân. Song tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh không phải là một sự ngẫu hứng, tùy ý vô nguyên tắc… mà tự học ở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, một triết lý nhân văn sâu sắc với một kế hoạch cụ thể, chặt chẽ, khoa học; với một ý chí và quyết tâm bền bỉ, dẻo dai, tinh thần sáng tạo, tranh thủ mọi lúc, mọi nơi để học. Đặc biệt, Người tự học với một động cơ trong sáng với ý nguyện cao cả là tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, làm cho đất nước độc lập, nhân dân được tự do, ấm no, hạnh phúc. Tấm gương tự học của Chủ tịch Hồ Chí Minh, soi xét trong thực tiễn đã qua, hiện nay và cả mai sau, vẫn còn nguyên giá trị, có ý nghĩa giáo dục hết sức sâu sắc; đó mãi là một tấm gương sáng ngời, một di sản vô giá đối với sự nghiệp đào tạo, bồi dưỡng, giáo dục của Đảng và nhân dân ta. Mỗi cán bộ, đảng viên và quần chúng cần ghi sâu những lời dạy của Bác về nghị lực học tập, rèn luyện để có đủ đức, đủ tài phục vụ nhân dân. Tấm gương tự học và những tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vấn đề tự giáo dục mãi mãi tỏa sáng, soi rọi cho mỗi chúng ta phấn đấu, rèn luyện, tự vươn lên trong tu dưỡng bản thân để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

 

CẦN TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI TRÊN INTERNET CỦA BÁO CHÍ, TRUYỀN THÔNG

 CẦN TIẾP TỤC ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG PHẢN BÁC CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI TRÊN INTERNET CỦA BÁO CHÍ, TRUYỀN THÔNG

 Inetnet đang trở thành phương tiện hiện đại và phương thức mang lại hiệu quả cao cho các cơ quan báo chí, truyền thông trong việc tuyên truyền, phổ biến và góp phần đưa các nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống. Bởi vậy, báo chí, truyền thông phải là lực lượng đi đầu, công cụ sắc bén trong công tác đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch trên internet. Thông qua internet, các cơ quan báo chí, truyền thông phải tích cực khẳng định những giá trị bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam của cách mạng Việt Nam và tính đúng đắn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết để hoàn thành mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Đồng thời, làm rõ cơ sở khoa học của đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về đoàn kết dân tộc, dân chủ, nhân quyền, về hệ thống chính trị - Nhà nước của dân, do dân và vì dân; những thành tựu, hạn chế cũng như những bài học kinh nghiệm đổi mới và hội nhập quốc tế.

Lợi dụng chủ trương đổi mới, mở cửa, các thế lực thù địch tấn công vào định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường, khuyến khích xu hướng thị trường tự do và tư nhân hoá tràn lan, tách rời sự quản lý của Nhà nước, từng bước làm cho nền kinh tế nước ta lệ thuộc vào nước ngoài. Vì thế, báo chí, truyền thông phải là những kênh thông tin đa dạng, nhiều chiều, với phạm vi thông tin rộng, lượng thông tin lớn và kịp thời, phù hợp, góp phần đắc lực vào việc nâng cao hiệu quả quản lý kinh tế, quản lý xã hội; giữ gìn và phát huy truyền thống văn hoá dân tộc, làm cho truyền thống ấy được hoà nhập và nâng cao, trên cơ sở tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, tạo động lực mạnh cho sự phát triển và hội nhập của đất nước.

Trong cuộc đấu tranh này, đội ngũ phóng viên báo chí và cộng tác viên của các cơ quan báo chí, truyền thông là những “chiến sĩ xung kích” cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, lòng dũng cảm, ý chí chiến đấu bảo vệ lợi ích dân tộc và công cuộc đổi mới, hội nhập của đất nước. Cùng với đó, hiệu quả của cuộc đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch còn phụ thuộc phần lớn vào tài trí của đội ngũ những người tác nghiệp trên internet. Điều đó được thể hiện ở chỗ, những bài viết vạch trần được bản chất, thủ đoạn thâm độc của kẻ thù, góp phần đắc lực và hiệu quả cho việc triển khai chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế trên tinh thần Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy, thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực. Muốn vậy, lực lượng này cần được thường xuyên trau dồi kiến thức, nâng cao trình độ lý luận, chuyên môn, bồi dưỡng nghiệp vụ, trước hết là được trang bị đầy đủ, vững chắc lý luận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước. Các thông tin được đưa ra và đăng tải trên internet, các trang mạng hay blog phải trung thực, khách quan; cách tiếp cận sự kiện, nêu vấn đề cần phải đứng trên lợi ích lâu dài của đất nước, dân tộc, mang tính xây dựng, nói cái xấu để khắc phục, nêu cái tốt để khuyến khích phát triển.

Về lâu dài, Nhà nước cần xây dựng hệ thống truyền thông phong phú, đa dạng, đảm bảo đủ sức mạnh và khả năng đáp ứng một cách tích cực các nhu cầu thông tin ngày càng tăng của nhân dân; có đủ khả năng và sức mạnh tham gia vào hoạt động giao lưu quốc tế. Nó phải có khả năng tiếp nhận, xử lý và khuếch tán vào dòng thông tin truyền thông quốc tế một lượng thông tin đủ lớn, đủ mạnh để tạo ra một tiếng nói công bằng, hiểu biết lẫn nhau giữa nhân dân các nước, phát huy và bảo vệ những lợi ích kinh tế, định hướng chính trị, giá trị văn hoá của dân tộc, quốc gia và chế độ. Muốn vậy, cần tăng cường, đổi mới cơ sở vật chất, kỹ thuật, bảo đảm phát huy tính hiệu quả cao của các cơ quan báo chí, truyền thông; hoà nhập vào trình độ kỹ thuật thông tin thế giới và khai thác hiệu quả các loại hình báo chí, đặc biệt là các loại hình thông tin đang bùng nổ trên internet. Các báo, trang thông tin điện tử phải không ngừng hoàn thiện, nâng cao chất lượng, tăng tính hấp dẫn nhằm thu hút lượng truy cập ngày càng nhiều hơn; chú trọng đổi mới, với nhiều địa chỉ để tạo ra nhiều kênh tiếp xúc khác nhau; xây dựng giao diện riêng cho điện thoại di động, tạo điều kiện cho số đông cư dân mạng, nhất là giới trẻ thường xuyên truy cập internet qua mạng di động có thể sử dụng dễ dàng trong việc khai thác, tìm kiếm thông tin chính thống. Mặt khác, có biện pháp kỹ thuật để ngăn chặn các website, blog, báo, thư điện tử độc hại trên internet và trên mạng điện thoại di động, nhằm hạn chế những thông tin xấu, độc tác động đến quần chúng nhân dân

Đấu tranh chống các quan điểm sai trái, thù địch trên internet là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng đối với mỗi cán bộ, đảng viên và cả hệ thống chính trị, cần được triển khai đồng bộ các chủ trương, giải pháp. Thực hiện tốt những vấn đề cơ bản trên, sẽ góp phần hữu hiệu ngăn chặn, bác bỏ các luận điệu tuyên truyền, xuyên tạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng, đường lối, quan điểm của Đảng, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa - chế độ tốt đẹp mà Đảng và nhân dân ta đang xây dựng.

 

Tổ chức công đoàn của người lao động, do người lao động, vì người lao động

 Tổ chức công đoàn của người lao động, do người lao động, vì người lao động

93 năm xây dựng và phát triển, trải qua 12 kỳ đại hội, với các tên gọi khác nhau: Công hội Đỏ, Nghiệp đoàn ái hữu, Hội công nhân phản đế, Hội công nhân cứu quốc, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Tổng Công đoàn Việt Nam và nay là Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, tổ chức Công đoàn và giai cấp công nhân Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh. Từ chỗ chỉ chiếm số ít trong cơ cấu lao động của đất nước, chủ yếu là công nhân làm việc trong các đồn điền, hầm mỏ, công xưởng nhỏ, ngày nay, giai cấp công nhân đã trở thành lực lượng tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thời kỳ đấu tranh giành chính quyền 1930-1945, Công đoàn Việt Nam là trung tâm tập hợp, vận động giáo dục, tổ chức công nhân, viên chức, lao động tham gia tích cực vào công cuộc cách mạng và có những đóng góp cụ thể, thể hiện xuất sắc vai trò, sứ mệnh lịch sử là giai cấp tiên phong lãnh đạo cách mạng Việt Nam, góp phần không nhỏ vào thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ những năm 1945-1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam cùng với nhân dân trong cả nước, luôn thể hiện tinh thần cách mạng quật cường, dũng cảm, hy sinh, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng là đội quân chủ lực của cách mạng Việt Nam. 

Sau Đại thắng mùa Xuân năm 1975 - giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, tổ chức Công đoàn Việt Nam đã phát huy vai trò của mình, ra sức động viên giai cấp công nhân và người lao động thi đua lao động, sản xuất, phát triển kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá trong cả nước, quyết vượt qua mọi khó khăn, tìm mọi cách để ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, của công nhân lao động.

35 đổi mới đất nước, tổ chức Công đoàn Việt Nam luôn gắn bó máu thịt với giai cấp công nhân, đồng hành với dân tộc và tuyệt đối trung thành với đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Phương thức hoạt động công đoàn có những đổi mới quan trọng. Đoàn Chủ tịch, Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn, lãnh đạo các cấp công đoàn đã phát huy vai trò trách nhiệm trước đoàn viên, người lao động; đổi mới công tác chỉ đạo điều hành, lề lối làm việc theo hướng dân chủ, sâu sát hơn với cơ sở, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với phát huy vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu…

Các cấp công đoàn hướng trọng tâm hoạt động vào thực hiện tốt nhiệm vụ đại diện, bảo vệ quyền lợi người lao động, đẩy mạnh thương lượng, ký kết thỏa ước lao động tập thể và đối thoại tại nơi làm việc. Cùng với đó là quan tâm lựa chọn những vấn đề cụ thể, bức xúc, cấp thiết của đoàn viên, người lao động ở cơ sở để nghiên cứu ban hành văn bản, tập trung chỉ đạo và tổ chức thực hiện, đạt kết quả, tạo chuyển biến, được đoàn viên, người lao động và xã hội ghi nhận. Điển hình như Nghị quyết số 07c/NQ-BCH ngày 25/2/2016 về chất lượng bữa ăn ca của người lao động; các văn bản chỉ đạo thực hiện các giải pháp hỗ trợ đoàn viên, người lao động trong bối cảnh của dịch bệnh Covid - 19; kiến nghị Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc thực hiện chính sách hưởng Bảo hiểm xã hội một lần đối với người lao động…

Những năm gần đây, đội ngũ cán bộ công đoàn, đoàn viên, công nhân lao động phát triển lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng. Tính đến đến hết tháng 6.2022, tổng số đoàn viên cả nước là hơn 10,8 triệu đoàn viên, sinh hoạt trong hơn 125.821 CĐCS. Đội ngũ công nhân lao động và đoàn viên công đoàn nhận thức rõ bản chất giai cấp tiên phong, là chỗ dựa vững chắc của Đảng, góp phần quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ ổn định chính trị và phát triển KT-XH của đất nước. Đặc biệt là đã từng bước hình thành một bộ phận công nhân lao động có năng lực chuyên môn, có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện đại tiên tiến ở một số ngành nghề theo định hướng cơ cấu kinh tế của cả nước.

Công tác cán bộ công đoàn có nhiều đổi mới, được thực hiện nghiêm túc, bài bản hơn. Việc thay đổi tư duy hoạt động công đoàn trong bối cảnh mới của một bộ phận cán bộ công đoàn đang tạo sức bật mới, là tiền đề xây dựng tổ chức công đoàn vững mạnh và đổi mới hoạt động Công đoàn Việt Nam.

Trong bối cảnh tình hình mới, Công đoàn Việt Nam đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, nâng cao vị thế và khẳng định vai trò của tổ chức Công đoàn Việt Nam trên trường quốc tế. Đến nay, toàn hệ thống đã thiết lập quan hệ đối tác với khoảng 150 đối tác song phương và đa phương, là thành viên tích cực và có trách nhiệm đối với Liên hiệp Công đoàn thế giới, là đối tác của Tổng Công đoàn quốc tế. Trong quan hệ song phương, Công đoàn Việt Nam tiếp tục củng cố, tăng cường mối quan hệ hữu nghị, đoàn kết với các đối tác truyền thống; thiết lập quan hệ với nhiều đối tác mới. Tích cực tham gia các diễn đàn quốc tế và tăng cường vận động, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế; tham gia Đoàn đàm phán của Chính phủ về các nội dung liên quan đến lao động trong hiệp định TPP và CPTPP, góp ý kiến với cơ quan có thẩm quyền về việc nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, các công ước quốc tế, nhất là công ước trong lĩnh vực lao động. Thông qua hoạt động hợp tác quốc tế, Công đoàn Việt Nam đã được chia sẻ nhiều kinh nghiệm hoạt động công đoàn, tranh thủ quảng bá đất nước, con người, môi trường đầu tư và tổ chức Công đoàn Việt Nam với cộng đồng thế giới; đấu tranh ngăn chặn âm mưu chống phá Việt Nam và Công đoàn Việt Nam.

 

 ĐIỂM ĐẶC BIỆT CỦA CUỘC TỔNG TIẾN CÔNG VÀ NỔI DẬY TẾT MẬU THÂN


Đến nay đã có khá nhiều công trình, bài viết, cũng như các ý kiến tương đồng, khác biệt của các học giả, nhà nghiên cứu… đối với các nội dung xoay quanh sự kiện Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968. Bài viết dưới đây đề cập tới một số điểm đặc biệt của sự kiện trên


Ý tưởng mở một cuộc tổng tiến công với mục tiêu chủ yếu nhằm vào đô thị để giành thắng lợi quyết định được Đảng Lao động Việt Nam đặt ra từ năm 1961, sau thắng lợi của phong trào Đồng khởi năm 1960. Đầu năm 1965, khi chiến lược “chiến tranh đặc biệt” của Mỹ đứng trước nguy cơ bị phá sản hoàn toàn, quân chiến đấu Mỹ nhanh chóng được đưa vào miền Nam Việt Nam với số lượng lớn nên thời cơ để mở cuộc tổng tiến công, giành thắng lợi quyết định không còn thuận lợi.


Hội nghị Bộ Chính trị ngày 28/12/1967 thông qua Kế hoạch chiến lược năm 1968, nhiệm vụ của quân, dân ta và hạ quyết tâm chuyển cuộc chiến tranh cách mạng ở miền Nam sang một thời kỳ mới, thời kỳ tiến công và nổi dậy giành thắng lợi quyết định… Chủ trương bất ngờ đánh thẳng vào các mục tiêu mạnh nhất, kiên cố nhất của đối phương ở các thành phố, thị xã như Đại sứ quán Mỹ, Đài phát thanh Sài Gòn, căn cứ quân sự, kho tàng, sân bay, bến cảng… nhằm xoay chuyển cục diện chiến tranh theo hướng có lợi cho Việt Nam và để Mỹ hiểu không thể thắng được Việt Nam bằng quân sự, cần phải tìm giải pháp khác để kết thúc chiến tranh.


Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân 1968 (TTC&ND) của Việt Nam được mở ra trên cơ sở lực lượng, thế trận của cách mạng miền Nam đã có bước phát triển; nhận thức của Đảng về những thuận lợi, khó khăn của tình hình quốc tế và điểm mạnh, điểm yếu của đối phương; kinh nghiệm Đảng lãnh đạo chiến đấu ở các đô thị trong kháng chiến chống thực dân Pháp (1945-1954). Bên cạnh đó, Đảng nhận định năm 1968 là năm diễn ra sự kiện bầu cử Tổng thống Mỹ, trong đó việc giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam như thế nào có ảnh hưởng lớn đến kết quả cuộc bầu cử… Cuộc TTC&ND nổ ra đúng 0h ngày 30/01/1968 với một số nét đặc biệt:


SỰ KIỆN CÓ TÍNH BÍ MẬT, BẤT NGỜ NHẤT


Sự bí mật, bất ngờ của TTC&ND thể hiện ở quy mô, thời gian chuẩn bị và không gian diễn ra chiến sự. Để chuẩn bị cho một cuộc tổng tiến công lớn như Mậu Thân 1968, việc bảo đảm bí mật là vấn đề hết sức khó khăn và có ý nghĩa quyết định quan trọng. Điều bất ngờ thể hiện ở việc quân và dân miền Nam “đã mở được cùng một lúc nhiều trận tiến công mãnh liệt đến như thế”.


Điều ngạc nhiên thú vị là ngay cả các quan chức Mỹ, Việt Nam Cộng hoà dù đã ít nhiều có sự nghi ngờ nhưng đều không thể tin nổi lại có thể xảy ra cuộc TTC&ND của Việt Nam. Một sĩ quan tình báo của Westmoreland cho biết “đã biết chính xác điều gì sẽ xảy ra nhưng nó vô lý đến mức tôi không thể báo cho bất kỳ ai”. Đại tướng Mỹ Maxwell Taylor cho biết chính ông đã từng khẳng định Việt Nam không đủ khả năng giải quyết nổi những khó khăn về hậu cần. Còn Westmoreland trước lúc giao thừa vẫn đinh ninh đòn tiến công chủ yếu của đối phương sẽ tập trung tại Khe Sanh, nhưng mọi nhận định của ông được chứng minh là hoàn toàn sai lầm.


Dư luận chính giới Mỹ xác nhận “trong cuộc chiến tranh đó tạo ra quá nhiều sự bất ngờ, không có sự bất ngờ nào làm cho mọi người sửng sốt nhiều hơn cuộc tiến công Tết, đặc biệt là cuộc tiến công tiêu biểu nhằm vào Đại sứ quán Hoa Kỳ, một cơ quan đã từng tuyên bố nhiều lần tình hình tồi tệ nhất đã qua rồi”


Yếu tố bí mật, bất ngờ của TTC&ND vừa chứng tỏ bản lĩnh quyết đoán, táo bạo, nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh xuất sắc, sáng tạo của Đảng, vừa phản ánh sự thất bại của Mỹ trong chương trình bình định. Mỹ, Việt Nam Cộng hoà không chiếm được trái tim, khối óc của người dân. Mỹ thừa nhận “… không bẻ gãy được tinh thần và hiệu lực chính trị của đối phương. Chính quyền Nam Việt Nam dường như cũng chẳng ổn định hơn trước, bình định thì không tiến mà còn thụt lùi…”.


CỐ GẮNG QUÂN SỰ LỚN NHẤT CỦA VIỆT NAM KỂ TỪ ĐẦU CUỘC CHIẾN TRANH VỚI QUYẾT TÂM CAO NHẤT ĐỂ GIẢNH THẮNG LỢI QUYẾT ĐỊNH


Những năm 1965-1968, mật độ quân Mỹ, quân Đồng minh của Mỹ và quân Sài Gòn trên diện tích 1km2 trong cuộc chiến tranh Việt Nam là mật độ cao nhất chưa có cuộc chiến tranh nào trước đó đạt tới”.


Đảng nhận định, Mỹ tăng cường lực lượng trong bối cảnh chiến lược chiến tranh đặc biệt đang có nguy cơ bị phá sản hoàn toàn và để cứu nguy cho chính quyền và quân đội Sài Gòn đang có nguy cơ sụp đổ. Điều này chứng tỏ Mỹ đang ở thế thua, thế bị động nên so sánh lực lượng trên chiến trường cơ bản không có sự thay đổi lớn. Đồng thời, thắng lợi ở Núi Thành, Quảng Nam (26/5/1965), Vạn Tường, Quảng Ngãi (18/8/1965)… đến chiến dịch Plây me (cuối tháng 10 đến cuối tháng 11/1965)… giúp Việt Nam tìm được cách đánh phù hợp, củng cố quyết tâm “động viên những nỗ lực cao nhất của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ở cả hai miền, đưa cuộc chiến tranh cách mạng của ta lên bước phát triển cao nhất, dùng phương pháp tổng công kích, tổng khởi nghĩa để giành thắng lợi quyết định”. Từ đó quyết tâm tập trung toàn bộ lực lượng bất ngờ mở cuộc tấn công có quy mô lớn nhất, có lực lượng tham gia đông nhất, đánh vào nhiều mục tiêu mạnh nhất của đối phương và trên phạm vi rộng lớn nhất.


Giáo sư sử học của Trường đại học Kentucky (Mỹ) George C.Herring nhận xét: “Trong 24 giờ sau khi Tết bắt đầu, ngày 30/01/1968, Việt cộng mở hàng loạt cuộc tấn công từ khu phi quân sự đến mũi Cà Mau. Họ đánh 36 trong số 44 tỉnh lỵ, 5 trong 6 thành phố lớn, 64 huyện lỵ và 50 ấp. Ngoài trận đánh táo bạo vào Toà đại sứ, các đơn vị Việt cộng đã đánh sân bay Tân Sơn Nhất, dinh Tổng thống và trụ sở Bộ Tổng Tham mưu. Ở Huế, 7.500 quân giải phóng đã đánh như vũ bão và cuối cùng chiếm được thành cổ, nội đô”.


ĐÂY LÀ MỘT TRONG NHỮNG SỰ KIỆN HIỆN CÒN NHIỀU TRANH LUẬN NHẤT CỦA CHIẾN TRANH VIỆT NAM


Chỉ xét riêng việc đánh giá kết quả, tầm ảnh hưởng của TTC &ND cũng có nhiều ý khác nhau.


Henri Kissinger cho rằng “Cuộc Tổng tấn công dịp Tết Mậu Thân năm 1968 của Việt Cộng đã bị đánh bại, nhưng đã phá hại sự ủng hộ của dân chúng Mỹ đối với cuộc chiến ở Việt Nam”.


Còn Jeff Stein và Marc Leepson khẳng định: “Mặc dù Cộng sản bị thiệt hại về mặt quân sự và chịu tổn thất to lớn, nhưng đó là sự tuyên cáo của lịch sử là họ đã giành được thắng lợi chiến lược có ý nghĩa quyết định. Người Mỹ đã bị mất niềm tin vào những dự đoán tốt đẹp của chính quyền Giônxơn và đi đến kết cục là cuộc chiến sẽ phải kéo dài trong nhiều năm nữa”.


Đại tướng Văn Tiến Dũng nhận định phía Mỹ không những “không thắng” được mà đang thực sự “bị thua”.


Bí thư thứ nhất Lê Duẩn khẳng định: “Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy dịp Tết Mậu Thân, ta đã thắng rất to, địch đã thua rất nặng. Rõ ràng trận này đã mở ra một bước ngoặt chiến lược đánh dấu thời kỳ Mỹ phải xuống thang chiến tranh do bị thất bại trong chiến lược chiến tranh cục bộ”.

30A ST



Thứ Bảy, 28 tháng 1, 2023

ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, SÁNG TẠO - QUAN ĐIỂM NHẤT QUÁN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM

 

Trong suốt chiều dài lịch sử lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong việc hoạch định đường lối chiến lược cũng như trong tổ chức tổ chức thực hiện đường lối đó. Độc lập tự chủ, sáng tạo không chỉ là truyền thống, mà còn là nét nổi bật thuộc về bản lĩnh chính trị của Đảng. Bản lĩnh chính trị độc lập, tự chủ, sáng tạo biểu hiện rõ nhất ở những lúc cách mạng gặp khó khăn, trước những bước ngoặt của lịch sử.  Từ đó tạo ra cao trào cách mạng rộng khắp để đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, hoàn thành cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt trong công cuộc đổi mới, nhờ có tư duy độc lập tự chủ, sáng tạo, Đảng đã có đường lối cách mạng đúng đắn, luôn chủ động, sáng tạo để đề ra những quyết sách đúng đắn, phù hợp, đưa sự nghiệp đổi mới vượt qua những khó khăn thử thách, đi đến thắng lợi. Tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng được xuất phát từ lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, từ yêu cầu khách quan của tình hình thế giới cũng như thực tiễn cách mạng nước ta. Nhưng một điều không thể phủ nhận, đó chính là bản lĩnh chính trị, năng lực thiên tài của Đảng ta khi đứng trước những khó khăn thử thách, trước những bước quanh của lịch sử.

Lênin đã từng chỉ rõ: “Một trong những nghệ thuật của cách mạng là sự mềm dẻo, linh hoạt, khi điều kiện khách quan đã thay đổi thì người cách mạng phải nhanh chóng thay đổi sách lược”. Lênin còn nhấn mạnh, chúng ta phải: “Chọn một con đường khác để đi tới đích...nếu con đường cũ, trong một thời gian nhất định nào đó, xem ra không thích hợp nữa, không đi theo được nữa”.

Trung thành với lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, trong suốt quá trình cùng Đảng ta lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện sâu sắc tư tưởng đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Đồng thời Người cũng nêu cao tư tưởng độc lập tự chủ, với phương châm: “Đem sức ta mà giải phóng cho ta”; “ Muốn người giúp mình thì trước hết mình phải tự giúp mình đã”. Người cũng hết sức phê phán tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào bên ngoài, tư tưởng không dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm. Người nói: “ Một dân tộc không tự lực cánh sinh mà cứ ngồi chờ dân tộc khác giúp đỡ, thì không xứng đáng được hưởng độc lập”.

Đảng ta, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, luôn quán triệt, vận dụng sáng tạo quan điểm độc lập, tự chủ, sáng tạo của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, luôn xuất phát từ thực tiễn cách mạng. Trên cơ sở đó, Đảng luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo trong hoạch định đường lối lãnh đạo, trong phát động phong trào cách mạng, để từ đó tạo nên sức mạnh của toàn dân tộc, bất chấp những khó khăn thử thách, bất chấp sự can thiệp, chi phối từ bên ngoài, đem lại thắng lợi cho cách mạng.

Thực tiễn quá trình đấu tranh cách mạng của Đảng cho thấy, trong suốt 90 năm qua, Đảng ta luôn nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo, để có đường lối cách mạng đúng đắn, đưa cách mạng đi đến thắng lợi. Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, nhờ có đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo, mà Đảng ta ngay từ khi mới ra đời đã có Cương lĩnh, đường lối cách mạng đúng đắn, đưa cách mạng phát triển vào trào lưu tiến bộ nhất của nhân loại, để cách mạng phát triển đúng hướng từ đó về sau. Khi đó, nếu không có tính độc lập tự chủ, sáng tạo, thì Đảng ta sẽ chấp nhận sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản một cách thụ động. Nhưng nhờ có tính độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng đã đưa ra Cương lĩnh, đường lối phù hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam. Đó chính là việc Đảng xác định con đường tiến lên của cách mạng, phải trải qua hai giai đoạn, trước hết là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Từ đó Đảng phát động được cao trào rộng khắp, thu hút, tập hợp được lực lượng cách mạng to lớn, mặc dù phải đương đầu với không ít khó khăn thử thách, song với niềm tin mãnh liệt vào phương hướng mục tiêu đã định, Đảng đã lãnh đạo, xác định mục tiêu đấu tranh phù hợp cho từng giai đoạn, xác định đúng đắn kẻ thù của giai cấp và của dân tộc, đó là đặt nhiệm vụ đánh đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu, từ đó đoàn kết, tập hợp được lực lượng cách mạng to lớn, giành thắng lợi qua các cao trào 1930- 1931; 1936- 1939 đặc biệt cao trào 1939- 1945, để đưa cách mạng Tháng Tám đến thành công. Nghệ thuật khởi nghĩa tháng Tám là một điển hình về tính chủ động, sáng tạo của Đảng. Nhiều nơi chưa nhận được lệnh khởi nghĩa của Trung ương, nhưng nhận thấy những chuyển biến mau lẹ của thời cuộc, căn cứ vào Chỉ thị “ Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” của Đảng để kịp thời phát động quần chúng nhân dân khởi nghĩa, giành chính quyền.

Sau cách mạng Tháng Tám thành công, chính quyền cách mạng trong tình thế “ ngàn cân treo sợi tóc”. Các thế lực đế quốc kấu kết với nhau, định thủ tiêu chính quyền non trẻ, tiêu diệt Đảng Cộng sản. Đảng hết sức sáng tạo trong chính sách hoà hoãn, nhân nhượng kẻ thù, khi thì hoà Tưởng để chống Pháp như Đảng tuyên bố tự giải tán ( thực chất là Đảng rút vào hoạt động bí mật), chấp nhận nhường 70 ghế đại biểu Quốc hội không qua bầu cử cho bọn Việt quốc, Việt cách...khi thì hoà với Pháp để gạt Tưởng, tránh cho nhân dân ta cùng một lúc phải đương đầu với nhiều kẻ thù. Đó là những biện pháp cực kỳ sáng suốt, nhưng Đảng vẫn giữ vững nguyên tắc đó là độc lập, thống nhất tổ quốc.

 Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ cũng vậy, nhờ đường lối độc lập, tự chủ, sáng tạo, Đảng đưa ra đường lối đấu tranh đúng đắn, vừa tranh thủ được sự giúp đỡ của quốc tế, nhưng không phụ thuộc vào sự chỉ đạo của họ, để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi. Nhìn lại cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc, chúng ta hoàn toàn có quyền tự hào về Đảng. Mặc dù khi đó bạn bè quốc tế đều khuyên ta không nên đánh Mỹ, trong đó vừa có ý kiến lo lắng cho cuộc chiến không cân sức giữa ta và Mỹ, vừa có ý kiến vì lợi ích cá nhân  họ khuyên ta không nên đánh Mỹ “sợ một đám lửa làm cháy cả một cánh rừng”, nhưng Đảng ta vẫn quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ. Khi đó Liên Xô, Trung Quốc giúp đỡ ta rất lớn về vật chất, tinh thần, nhưng chúng ta không vì thế mà phụ thuộc vào họ, điều đó vừa chứng tỏ bản lĩnh kiên định, vừa thể hiện tư duy độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta.

Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, một lần nữa, tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng được phát huy. Mặc dù đất nước mới cơ bản hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Bắc, miền Nam tiếp tục cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà. Nhưng Đảng đã độc lập, sáng tạo trong việc đề ra đường lối đúng đắn, đưa miền Bắc đi lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Chính sự đúng đắn, sáng tạo đó đã giúp cho cách mạng Việt Nam phát triển đúng quĩ đạo, đi đến thắng lợi. Miền Bắc đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội nhanh chóng đạt được những thành tựu to lớn trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, đồng thời là hậu phương lớn chi viện sức người, sức của cho cách mạng miền Nam, để hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, cả nước thống nhất đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Tại Đại hội VI, Đảng ta đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật, để từ đó đưa ra đường lối đổi mới. Trong bối cảnh đó các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới cũng đang đứng trước khó khăn trên con đường cải tổ, cải cách. Thực hiện đường lối đổi mới, với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo, từ đó đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đạt được nhiều thành quả khả quan, đưa tên tuổi của Việt Nam ngày càng lan tỏa rộng hơn trên bản đồ thế giới.

Tính độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng trong hoạch định đường lối đổi mới còn được thể hiện Đảng luôn bám sát thực tế, tôn trọng qui luật  khách quan, vừa tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm cải cách, cải tổ của các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới, nhưng không chịu sức ép, sự áp đặt, không dập khuôn máy móc, không giáo điều bảo thủ. Điều đó được thể hiện trong những năm cuối của thế kỷ XX, tình hình thế giới có những chuyển biến mau lẹ. Xu hướng đối đầu đã được thay thế bằng đối thoại, hoà bình hợp tác đã trở thành xu thế khá phổ biến trong quan hệ quốc tế. Những thành tựu trong lĩnh vực khoa học công nghệ đã thúc đẩy nền kinh tế thế giới phát triển, đồng thời đặt ra cho các nước, các dân tộc muốn phát triển phải biết tranh thủ thời cơ, vận dụng thành tựu khoa học. Trong bối cảnh đó, tình hình cải cách, cải tổ của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng, thế giới mất đi lực lượng đối trọng với Mỹ. Chủ nghĩa đế quốc điên cuồng chống phá cách mạng thế giới, trong đó có Việt Nam, bằng chiến lược diễn biến hoà bình, nhằm làm chuyển hoá dần dần đi đến xoá bỏ hoàn toàn chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trước tình hình đó, Đảng ta đã có sự điều chỉnh kịp thời, bằng những chủ trương đúng đắn, phù hợp, từ đó đưa sự nghiệp đổi mới đạt được những thành tựu to lớn, trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Tính độc lập tự chủ, sáng tạo của Đảng ta còn được thể hiện, trong quá trình đổi mới Đảng đã thực sự lột xác, kể cả trong tư duy cũng như trong hành động. Tuy nhiên, Đảng luôn quán triệt quan điểm biện chứng, đó chính là phát triển nhưng có kế thừa, Đảng không phủ nhận sạch trơn, mà biết kế thừa những thành tựu, những yếu tố tích cực mà nhân dân ta đã đạt được trong thời gian trước đó. Đồng thời Đảng cũng không phủ nhận lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin, không phủ nhận những qui luật phổ biến, trái lại, Đảng luôn quán triệt và vận dụng sâu sắc các nguyên lý, qui luật của chủ nghĩa Mác vào thực tiễn quá trình đổi mới, từ đó đem lại thành tựu to lớn cho công cuộc đổi mới...

Quá trình đổi mới, Đảng chủ trương phải toàn diện, triệt để, đồng bộ trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng phải có hình thức, bước đi thích hợp. Đây chính là bí quyết riêng đi đến thành công của Đảng ta trong công cuộc đổi mới. Sau đường lối đổi mới mà Đại hội VI của Đảng đề ra, chúng ta đã tiến hành đổi mới trên mọi mặt của đời sống xã hội. Đây là cuộc cách mạng, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện trên mọi mặt của đời sống xã hội. Nhiều vấn đề mới mẻ đặt ra kể cả về lý luận cũng như thực tiễn cần được giải quyết, chúng ta vừa đổi mới, vừa tổng kết, rút kinh nghiệm, từng bước tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, từng bước hoàn thiện đường lối đổi mới, sao cho đi đúng qui luật khách quan, phát triển vững chắc cho cách mạng.

Đổi mới là công việc hệ trọng, mang tính sống còn đối với mỗi quốc gia, là công việc hết sức nhạy cảm, đụng chạm đến tất cả các mối quan hệ xã hội, như mối quan hệ giữa người với người, giữa con người với tổ chức... Nếu tiến hành không thận trọng, không có hình thức, bước đi vững chắc, sẽ dẫn đến đổ vỡ. Một bài học tiền nhãn, đắt giá cho các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô mà Đảng ta cần rút ra trong quá trình đổi mới. Chính vì thế, trong công cuộc đổi mới, Đảng ta đã biết tập trung đột phá đổi mới vào hai lĩnh vực then chốt, trọng yếu nhất, đó là kinh tế và chính trị, đồng thời giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị. Đảng xác định kinh tế và chính trị là hai lĩnh vực lớn, quyết định sự thay đổi bộ mặt đất nước, quyết định đến nhiệm vụ giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh chính trị quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Ngay từ đầu, Đảng ta đã xác định đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị phải được tiến hành đồng thời, nhưng giai đoạn đầu tập trung sức cho đổi mới kinh tế, đồng thời từng bước, thận trọng đổi mới chính trị. Bởi chỉ có như thế chúng ta mới giải quyết được mắt khâu quan trọng nhất của công cuộc đổi mới, xét đến cùng cơ sở kinh tế là nhân tố quyết định sự ra đời và tồn tại của một chế độ xã hội. Kinh tế phát triển sẽ bảo đảm chính trị ổn định, văn hoá, giáo dục phát triển, quốc phòng, an ninh được giữ vững, đời sống nhân dân được cải thiện. Trong đổi mới kinh tế, trước hết tập trung vào lĩnh vực tư duy kinh tế, sau đến thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, làm thay đổi toàn bộ những suy nghĩ, những nhận thức trước kia chưa đúng, chưa đầy đủ. Thay đổi cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp, bằng cơ chế kế hoạch hoá, từ đó khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

Chính quá trình đổi mới kinh tế thành công, đã có tác động tích cực đối với việc đổi mới chính trị, đó là sự giữ vững định hướng chính trị trong quá trình đổi mới kinh tế. Đổi mới kinh tế là mặt trận đấu tranh giai cấp gay go quyết liệt, phức tạp nhất, nếu đổi mới kinh tế đạt kết quả sẽ tạo điều kiện cho đổi mới chính trị thắng lợi. Đồng thời kết hợp với đổi mới kinh tế, đổi mới chính trị sẽ tạo tiền đề thuận lợi cho nền kinh tế phát triển đúng hướng, có hiệu quả. Trong đổi mới chính trị, thể chế chính trị, vai trò của nhà nước có tác động đến năng lực hiện thực hoá đường lối phát triển kinh tế đất nước. Trong đổi mới chính trị, Đảng chủ trương tập trung vào việc xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, đổi mới tổ chức, phương thức hoạt động của hệ thống chính trị. Chính việc giải quyết hài hoà mối quan hệ đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị đã giúp cho nền kinh tế đất nước ta tăng trưởng khá, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, chính trị ổn định, quốc phòng và an ninh được giữ vững.

Đường lối đổi mới độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng, là sản phẩm của sự kế thừa lịch sử, truyền thống tốt đẹp của dân tộc qua hàng ngàn năm dựng nước, giữ nước. Đồng thời còn là sự kế thừa giá trị tinh hoa nhân loại, biết vận dụng cụ thể vào thực tiễn, yêu cầu đòi hỏi của cách mạng. Đảng ta, trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, luôn nêu cao tinh thần độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, trên cơ sở đó đề ra những quyết sách đúng đắn đưa cách mạng đi đến thắng lợi. Chúng ta không trông chờ, ỷ lại vào bên ngoài, chúng ta không bị ép buộc bởi bất cứ một thế lực nào. Đồng thời, Đảng cũng không dập khuôn bất cứ một mô hình nào vào đường lối đổi mới, mà luôn sáng tạo trong đổi mới tư duy, cách nghĩ, cách làm, để công cuộc đổi mới thành công.

Trong quá trình đổi mới, Đảng đã tổng kết, rút ra được những bài học quý giá. Điều đó càng thấy rõ trong quá trình đổi mới, Đảng luôn tìm tòi, sáng tạo tìm ra hướng đi thích hợp nhất cho dân tộc, không lúc nào Đảng bằng lòng với thành quả đã đạt được trong thời gian qua, mà mong muốn đạt kết quả cao hơn nữa trong các giai đoạn tiếp theo. Trong các kỳ Đại hội, Đảng luôn đưa ra các bài học kinh nghiệm, các bài học đó đều được đúc rút từ thực tiễn công cuộc đổi mới đó là:

Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm thích hợp.

Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới.

Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.

Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân.

Trên cơ sở kết quả đã đạt được trong công cuộc đổi mới, bằng những bài học rút ra, đồng thời, Đảng không ngừng tự đổi mới, tự chỉnh đốn. Chính vì thế từ khi khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới đất nước đến nay, Đảng lãnh đạo làm cho đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, kinh tế tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, chính trị ổn định, quốc phòng và an ninh được giữ vững, quan hệ đối ngoại được rộng mở... bởi Đảng luôn có đường lối, phương pháp lãnh đạo đúng đắn, phù hợp qui luật khách quan, hợp lòng dân. Một bài học thành công trong suốt 90 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng, đó chính là việc Đảng luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, sáng tạo trong hoạch định đường lối. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII sắp tiến hành, tinh thần độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường, sáng tạo càng được Đảng cần được phát huy cao hơn nữa, nhằm dự báo chính xác tình hình, đề ra đường lối đổi mới, chủ trương, biện pháp lãnh đạo phù hợp với tình hình thực tiễn cách mạng, xu thế phát triển của quốc tế. Đồng thời biết kế thừa, phát huy kinh nghiệm, kết quả đã đạt được trong công cuộc đổi mới vừa qua, đưa sự nghiệp đổi mới đi đến thắng lợi, phấn đấu vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CHÍNH TRỊ VÀ XÂY DỰNG QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN LÀ TƯ TƯỞNG XUYÊN SUỐT CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH

 

Vận dụng học thuyết Mác -Lênin về chiến tranh và quân đội vào điều kiện cụ thể nước ta, đồng thời kế thừa và phát triển tư tưởng quân sự trong truyền thống đánh giặc giữ nước của dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giải quyết đúng đắn vấn đề xây dựng lực lượng chính trị và xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: bạo lực cách mạng ở Việt Nam là bạo lực của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng, bao gồm hai lực lượng cơ bản: lực lượng chính trị quần chúng và lực lượng vũ trang nhân dân; với hai hình thức đấu tranh cơ bản: đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang. Lực lượng chính trị theo Người, là lực lượng đông đảo của nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, là lực lượng cơ bản, nền tảng của cách mạng và là cơ sở để xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang nhân dân, là nguồn tiếp sức vô tận cho phát triển quân đội nhân dân. Do đó, muốn xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, phải xây dựng lực lượng chính trị vững mạnh. Người khẳng định: Muốn có đội quân vũ trang, trước hết phải có đội quân tuyên truyền vận động, đội quân chính trị, nên phải làm ngay, sao cho đội quân chính trị ngày càng đông, ngày càng mạnh. Phải có quần chúng giác ngộ chính trị, tự nguyện vác súng thì mới thắng được.

Để xây dựng quân đội cách mạng trong điều kiện, hoàn cảnh của Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng ta đã sớm chỉ đạo hình thành các tổ chức, đoàn thể cứu quốc, thông qua hoạt động của các tổ chức, đoàn thể đó lựa chọn những người ưu tú nhất thành lập các đội tự vệ, đội du kích để từ đó chọn lọc số cán bộ và đội viên trung kiên nhất, hăng hái nhất lập ra đội quân chủ lực. Người kêu gọi: Phải nhanh chóng thành lập các tổ chức quần chúng. Nông dân phải vào "Nông dân cứu quốc hội"; trẻ nhỏ vào "Nhi đồng cứu quốc hội"; thanh niên phải vào "Thanh niên cứu quốc hội"; phụ nữ vào "Phụ nữ cứu quốc hội"; công nhân vào "Công nhân cứu quốc hội"… Từ những "hội" đó mà tuyên truyền, giáo dục, thức tỉnh quần chúng đấu tranh, dần dần tổ chức ra các lực lượng vũ trang để bảo vệ cuộc đấu tranh quần chúng, chống đàn áp, khủng bố. Các tổ chức quần chúng cách mạng càng phát triển, phong trào đấu tranh chính trị của quần chúng càng mạnh thì càng có cơ sở vững chắc để tổ chức lực lượng vũ trang, xây dựng quân đội cách mạng và tiến hành đấu tranh vũ trang.

           Được tổ chức và xây dựng trên cơ sở phong trào cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quân đội ta lúc mới hình thành tuy còn non trẻ, biên chế tổ chức còn nhỏ bé, trang bị, vũ khí còn thô sơ, huấn luyện quân sự còn đơn giản, nhưng do bám chắc vào cơ sở lực lượng chính trị quần chúng rộng khắp, được các tổ chức, đoàn thể cách mạng đùm bọc, nuôi dưỡng nên đã trưởng thành nhanh chóng, trở thành lực lượng xung kích đi đầu trong đấu tranh vũ trang và tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Quân đội nhân dân là lực lượng nòng cốt cho toàn dân đánh giặc, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Trong xây dựng quân đội nhân dân, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, cần phải xây dựng về mọi mặt, trong đó đặc biệt coi trọng xây dựng về chính trị, không ngừng tăng cường bản chất cách mạng cho quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân. Người nói: "Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại". Đó vừa là yêu cầu khách quan, vừa là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng tổ chức vũ trang cách mạng, đồng thời là kết quả sự vận dụng sáng tạo lý luận khoa học của học thuyết Mác -Lênin vào xây dựng quân đội cách mạng ở một nước vốn là thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp công nhân còn nhỏ bé. Sở dĩ Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra vấn đề này là vì, theo Người, để làm tròn chức năng của một đội quân chiến đấu, đội quân công tác và lao động sản xuất, quân đội phải được xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ và từng bước hiện đại. Song, sự sống còn của quân đội cách mạng là bản chất chính trị, không chăm lo xây dựng chính trị thì một đội quân dù có chính quy, hiện đại bao nhiêu cũng sẽ mất phương hướng, tan rã trước những diễn biến phức tạp của thời cuộc. Sự mất phương hướng chính trị của quân đội ở một số nước những năm 90 thế kỷ XX đã cho ta bài học kinh nghiệm xương máu. Do đó, phải đặc biệt coi trọng xây dựng quân đội về chính trị, lấy xây dựng quân đội về chính trị làm cơ sở để xây dựng các mặt hoạt động khác, bảo đảm cho quân đội tuyệt đối trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng.

Quá trình xây dựng quân đội về chính trị, thực chất là quá trình tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn trung thành tuyệt đối với mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, với lợi ích của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân lao động. Sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội là nguyên tắc cơ bản nhất trong xây dựng quân đội cách mạng; là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Quân đội ta có sức mạnh vô địch, vì nó là một quân đội nhân dân do Đảng ta xây dựng, Đảng ta lãnh đạo và giáo dục". Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, dù trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, quân đội ta vẫn là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng và Nhà nước. Quyền lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam thuộc về một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam, quyền đó phải luôn được giữ vững và tăng cường, có như vậy mới bảo đảm cho quân đội chiến thắng và trưởng thành. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm chăm lo xây dựng tổ chức Đảng từ trong các tổ chức vũ trang cách mạng đầu tiên đến Quân đội nhân dân Việt Nam ngày nay. Sau khi thành lập các đội du kích, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp chỉ đạo thành lập chi bộ đảng và bầu ra ban chi ủy để lãnh đạo đội. Trong chỉ đạo xây dựng Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Người yêu cầu: Tổ chức của đội phải lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo. Bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào, có đội viên, có bộ đội là có sự lãnh đạo của Đảng. Quân đội ta hơn 76 năm xây dựng và phát triển, chứng minh rằng: Đảng không phải là ở bên ngoài, mà trở thành máu thịt, thành thuộc tính bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Cùng với việc chăm lo xây dựng hệ thống tổ chức Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm tăng cường công tác đảng, công tác chính trị trong quân đội, định ra hệ thống chính ủy, chính trị viên để bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Người nhấn mạnh rằng: trong việc xây dựng và phát triển quân đội, chúng ta phải ra sức đẩy mạnh xây dựng và củng cố công tác chính trị. Nét nổi bật trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng quân đội là "người trước súng sau", "vũ khí là cần, nhưng quan trọng hơn là con người vác súng". Người đã chú trọng chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tri thức quân sự, có trình độ kỹ thuật, chiến thuật, có trình độ văn hoá và sức khoẻ… Nhưng trước hết và trên hết là giáo dục chính trị tư tưởng, làm cho cán bộ, chiến sĩ thấm nhuần sâu sắc tư tưởng trung với nước, trung với Đảng, hiếu với dân, coi đó là bổn phận thiêng liêng, là trách nhiệm nặng nề, nhưng cũng là vinh dự của người chiến sĩ trong đội quân cách mạng. Người yêu cầu, trong xây dựng quân đội nói chung và xây dựng quân đội về chính trị nói riêng, Nhà nước cần phải tăng cường vai trò quản lý của mình; phát huy đầy đủ trách nhiệm của cả hệ thống chính trị.

Từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu là đặc trưng nổi bật, là vấn đề gắn với bản chất của Quân đội nhân dân Việt Nam. Do đó, coi trọng xây dựng quân đội về chính trị theo tư tưởng Hồ Chí Minh còn bao hàm cả vấn đề xây dựng và củng cố mối quan hệ mật thiết giữa quân đội với nhân dân. Quân đội phải giữ nghiêm kỷ luật khi quan hệ với nhân dân, đồng thời phải biết dựa chắc vào dân thì mới hoàn thành nhiệm vụ. Người dạy: Bất kỳ bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích đều phải bám lấy dân, rời dân ra nhất định thất bại. Quân đội mà xây dựng được trận địa lòng dân thì bất kỳ việc gì khó cũng làm được và nhất định thắng lợi. Chính nhờ điều này mà trong suốt quá trình xây dựng và trưởng thành, quân đội ta đã thu hút rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân tự nguyện đóng góp sức người, sức của để xây dựng quân đội.

Hiện nay, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch đang thực hiện âm mưu “Diễn biến hòa bình” với cách mạng Việt Nam, trong đó có âm mưu phi chính trị hóa quân đội. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay đã và đang khẳng định bản chất cách mạng, truyền thống tốt đẹp của quân đội ta, khẳng định nguyên tắc Đảng lãnh đạo "tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt" đối với quân đội là hoàn toàn đúng đắn. Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ mới đặt ra yêu cầu mới đối với việc nâng cao chất lượng xây dựng quân đội, đặc biệt là nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đảng, công tác chính trị, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, bảo đảm cho quân đội luôn vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thực sự là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành và tin cậy của Đảng, của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao trong mọi tình huống.

CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU PHỦ NHẬN VAI TRÒ CHỦ ĐẠO CỦA KINH TẾ NHÀ NƯỚC TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ NƯỚC NHÀ

 

Từ khi sự nghiệp đổi mới đất nước được khởi sướng (Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII-1986), các thành phần kinh tế đã cùng nhau phát triển. Kinh tế tư nhân được Nhà nước chú trọng hỗ trợ bởi các quyết sách, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế nước nhà. Kinh tế nhà nước, trong quá trình phát triển bên cạnh những thành tựu nổi bật cũng bộc lộ những hạn chế nhất định. Thực tế này, là mảnh đất màu mỡ để các thế lực thù địch đưa ra những luận  điệu trái chiều là tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân, phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước.

Từ những cơ sở khách quan chúng ta có thể thấy, kinh tế tư nhân được hình thành trên cơ sở chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Trong gần 35 năm đổi mới, kinh tế tư nhân được khuyến khích phát triển, trở thành lực lượng kinh tế lớn mạnh, đóng vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế, góp phần to lớn vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực tiễn ở các nước tư bản phát triển cho thấy, kinh tế tư nhân bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo, chi phối. Vậy, tại sao trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, kinh tế tư nhân không thể và không bao giờ đóng vai trò chủ đạo? Điều này thuộc về đặc trưng bản chất của chế độ, chủ trương, định hướng phát triển và những vấn đề nội tại của kinh tế tư nhân.

Đặc trưng cơ bản về kinh tế của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng so với các chế độ xã hội khác đó là có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại với chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Trong xã hội tư bản, chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa giữ vai trò thống trị của quan hệ sản xuất, là cơ sở nảy sinh những bất bình đẳng về kinh tế và áp bức về xã hội. Bỏ qua việc xác lập địa vị trí thống trị của quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, từng bước xây dựng quan hệ sản xuất mới dựa trên cơ sở của chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu thể hiện rõ tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng.

Đảng ta chủ trương phát triển kinh tế tư nhân gắn liền với đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là hoàn toàn đúng đắn, hợp quy luật. Kinh tế thị trường phát triển với trình độ cao dưới chủ nghĩa tư bản, song không đồng nhất với chủ nghĩa tư bản và cũng không đối lập với chủ nghĩa xã hội. Kinh tế tư nhân là một chủ thể quan trọng bậc nhất trong nền kinh tế thị trường, và không có khu vực kinh tế tư nhân thì sẽ không có nền kinh tế thị trường đúng nghĩa. Với thành phần kinh tế nhà nước, trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020, Đảng ta khẳng định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô”. Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”. Trên các phương diện kinh tế, chính trị và xã hội đều khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt các hoạt động của nền kinh tế. Kinh tế nhà nước dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất; là chế độ sở hữu phù hợp với xu hướng xã hội hóa của lực lượng sản xuất. Thành phần kinh tế nhà nước có sức mạnh kinh tế các nguồn lực vật chất của nhà nước, từ doanh nghiệp nhà nước; sức mạnh kinh tế đứng sau các chính sách và hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước, sức mạnh từ sự cộng hưởng giữa hệ thống doanh nghiệp nhà nước, tài chính nhà nước, luật pháp và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Với sức mạnh to lớn đó, kinh tế nhà nước có khả năng tạo ra các điều kiện vật chất, làm đầu tàu kéo các thành phần kinh tế khác, thúc đẩy nền kinh tế vận hành và phát triển. Kinh tế nhà nước là lực lượng bảo đảm cho sự phát triển ổn định của nền kinh tế; là lực lượng có khả năng can thiệp, điều tiết, hướng dẫn, giúp đỡ và liên kết, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển. Kinh tế nhà nước còn đảm nhận các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh có tính chiến lược đối với lĩnh vực đòi hỏi vốn đầu tư lớn, những lĩnh vực mũi nhọn, có hệ số rủi ro cao mà các thành phần kinh tế khác kể cả kinh tế tư nhân không có khả năng. Kinh tế nhà nước còn là cơ sở để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong quá trình phát triển. Bởi vì, Nhà nước ta là nhà nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước công nông, nhà nước của những người lao động. Để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, cần thiết phải khẳng định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo và thành phần này phải ngày càng phát triển trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Nếu không củng cố và tăng cường vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thì không thể nói tới định hướng, giữ vững, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Mặt hác, do bản chất về mặt sở hữu nên kinh tế nhà nước gánh vác chức năng và vai trò xã hội to lớn. Điều này thể hiện ở chỗ, các doanh nghiệp nhà nước đảm nhận những ngành ở những địa bàn khó khăn, thực hiện sự bảo đảm cân bằng về đầu tư phát triển theo vùng, miền, đảm nhận các ngành sản xuất hàng hóa công cộng thiết yếu. Đi đầu trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo, gắn tăng trưởng với tiến bộ và công bằng, phát triển nhanh với phát triển bền vững là thước đo để đánh giá sự “chủ đạo”, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác của kinh tế nhà nước.

Thực tế, giai đoạn 2011 - 2022, thành phần kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo, dẫn dắt định hướng nền kinh tế quốc dân trong phát triển kinh tế - xã hội đã đóng góp gần 30% tăng trưởng kinh tế, 1/3 đầu tư toàn xã hội; đã và đang trực tiếp nắm giữ tỷ trọng đa số hoặc có vị trí chi phối một số ngành, lĩnh vực nền tảng của nền kinh tế, có đóng góp quyết định để xây dựng và phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng cần thiết cho hoạt động kinh doanh của các thành phần kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội mà các thành phần kinh tế khác chưa làm được... Tuy nhiên, kinh tế nhà nước vẫn còn những hạn chế, yếu kém nhất định như: Hiệu quả sản xuất, kinh doanh, năng suất của một số tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước còn thấp; sức cạnh tranh của doanh nghiệp còn yếu, thất thoát và thua lỗ còn lớn; tình trạng đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng, độc quyền doanh nghiệp đang hiện hữu... Những yếu kém trên diễn ra trong trong khâu tổ chức, quản lý sản xuất, kinh doanh bắt nguồn từ những sai lầm, yếu kém của một số cá nhân lãnh đạo và nhà quản trị doanh nghiệp,... chứ không phải là sai lầm về quan điểm, chủ trương kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Vậy nên, một số luận điệu cho rằng phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam không nên để thành phần kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo mà hãy để kinh tế tư nhân dẫn dắt, định hướng, kiểu như ở các nước tư bản là hoàn toàn sai trái. Đây là mưu đồ của các thế lực thù địch, sâu xa họ muốn phá hoại thành quả cách mạng, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Những thành tựu phát triển của kinh tế nước nhà trong thời gian gần đây đã thể hiện sự sáng tạo, sáng suốt của Đảng. Lòng tin của nhân dân với Đảng càng được củng cố hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, trước khi Đại hội lần thứ XIII diễn ra, các thế lực thù địch tiếp tục ráo riết chống phá, xuyên tạc Cương lĩnh, đường lối phát triển trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có luận điệu xuyên tạc, tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân, phủ nhận vai trò chủ đạo của kinh tế Nhà nước, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Mỗi chúng ta, hãy cảnh giác, nhận diện và đấu tranh có hiệu quả trước âm mưu phản động của thế lực thù địch, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

CHỬI!

     Có ông bạn nói với tôi, sao ông hay chửi vậy? Tôi nói với bạn ấy rằng, tôi chửi thay cho những người dân chết đói năm 1945; chửi thay cho những người đã chết vì bom đạn của quân xâm lược; chửi thay cho cả gần một trăm triệu dân tôi sống trong nghèo nàn và lạc hậu, hậu quả của nửa thế kỷ chống quân xâm lược, 20 năm bao vây và cấm vận kinh tế; chửi thay cho những đứa trẻ ra đời bị dị tật do cha mẹ của chúng nhiễm phải hàng triệu lít chất độc da cam mà kẻ xâm lược đã rải xuống một nửa nước ta; kế đến tôi chửi những kẻ vong ân bội nghĩa, ăn cháo đá bát.
     Về những gì xảy ra trước đây, mà những kẻ xâm lược đến từ bốn phương tám hướng (đông-Nhật, tây-Pháp Mỹ, nam-Khmer đỏ, bắc-Tàu, đủ cả), đã đem đến cho dân tộc ta, thì toàn dân ta đã chửi chúng rồi. Hôm nay tôi muốn nói đến sự tráo trở đang diễn ra trên thế giới, và nếu như nhà nước ta mất cảnh giác hay mềm lòng một chút thì Việt Nam cũng có thể trở thành nạn nhân.
     Vì sao có cuộc đụng độ giữa Nga và Ukraine thì mọi người đều biết rồi. Cũng là sự tráo trở của Mỹ và các nước phương tây mà thôi. Sau Ukraine sẽ là nước nào? Khả năng lớn là Mỹ sẽ kích động một cuộc chiến giữa Đài Loan và Trung quốc, hay Kosovo với Serbia.
     Còn nhớ năm 1971, ngoại trưởng Kissinger của Mỹ đã có chuyến công du bí mật sang Bắc Kinh. Lúc đó, Mỹ muốn làm tan rã Liên Xô trùng với thời điểm Trung quốc cũng đang muốn làm suy yếu Liên Xô, thế là mạt cưa mướp đắng gặp nhau.
“Tình cờ chẳng hẹn mà nên
“Mạt cưa mướp đắng, hai bên một phường”
(Kiều/Nguyễn Du) 
     Chuyến viếng thăm này đã mở đầu cho chuyến viếng thăm chính thức của tổng thống Mỹ lúc đó là Nixxon vào năm 1972.
     Sau cuộc gặp này, sự tráo trở đã được thể hiện từ cả hai phía. Phía Trung quốc góp một tay với Mỹ làm sụp đổ Liên Xô, làm suy yếu Việt Nam, khuyến khích Mỹ đem máy bay ra đánh phá miền bắc Việt Nam, đặc biệt là đợt B52 đánh phá Hà Nội và Hải Phòng. Sự tráo trở của Mỹ là công nhận một nước Trung Hoa trên bản đồ thế giới và đưa Trung quốc vào là một trong 5 ủy viên thường trực HĐBA Liên hợp quốc, hất đổ chiếc ghế của đại diện Đài Loan, một đồng minh của Mỹ.
     Sau chuyến thăm đến Bắc Kinh, chính quyền Mỹ đã tuyên bố, rằng “Mỹ công nhận một nước Trung Hoa. Chúng tôi (Mỹ) không ủng hộ giải pháp hai nước Trung Hoa”. Cái lắt léo, cái sự tráo trở của người Mỹ ở chỗ “một Trung quốc” nhưng không phải Mỹ tự xác định mà do Thủ tướng Chu Ân Lai nói đó chứ (to be the direction which PM Chou En-lai indicated to me). Điểm thứ hai, Nixxon đã không xác định Trung quốc nào, nước có thủ đô là Bắc Kinh hay nước Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch ở đảo Đài Loan? Vì Tưởng cũng nhận mình là đại diện của Trung Hoa (Dân quốc) có công trong cuộc đánh đổ phong kiến nhà Thanh, và cuộc kháng Nhật (Quốc – Cộng hợp tác). Sự mơ hồ ấy được tạo ra để sau này Mỹ có thể tái vũ trang cho Đài Loan mà vẫn nói rằng, Mỹ công nhận “một nước Trung Hoa”.
     Một khi Liên Xô đã sụp đổ, Mỹ lại mở mặt trận mới ở ngay sát nách nước Nga, đó là kích động một cuộc nổi dậy quần chúng để lập nên một chính quyền tay sai, được Mỹ ủy nhiệm để làm suy yếu Nga. Lần này, sự tráo trở của Mỹ và NATO là ngăn cản Ukraine thực hiện thỏa thuận Minsk để Kiev và phương tây có thời gian chuẩn bị. Điều này đã được bà Angela Merkel, ông François Hollande xác nhận, vì vậy cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine phải tính từ ngày đó, chứ ngày 24/2/2022 chỉ là ngày cái ung nhọt đã vỡ ra thôi.
     Mỹ đã chuẩn bị mặt trận mới sau khi cuộc chiến Nga-Ucà kết thúc, đó là Đài Loan, hay Kosovo, hay Iran? Lần này thì sự tráo trở của Mỹ đã bộc lộ từ ngày bà Chủ tịch Hạ viện Peloisi sang thăm hòn đảo. Mỹ coi cuộc viếng thăm của bà này chỉ là sự tự phát cá nhân, tổng thống là vô can! Sau đó liên tiếp một vài quan chức chính phủ Mỹ sang nhằm mục đích lên giây cót tinh thần cho bà Thái Anh Văn sẵn sàng chống Trung quốc. Đỉnh điểm của sự tráo trở của Mỹ là gần đây Mỹ đã cung cấp vũ khí khí tài cho hòn đảo. Nếu không phải mục đích chuẩn bị chiến tranh thì việc gì Mỹ phải can thiệp vào nội bộ nước khác?
     Đối với các nước EU thì Mỹ cũng chẳng ngại ngần gì mà không thể hiện sự tráo trở. Chúng ta cứ đem món lợi của EU và Mỹ đã thu được qua sự kiện Ukraine mà đặt lên bàn cân thì rõ. Hầu bao của Mỹ mỗi ngày một phồng lên thì của các nước trong EU lại xẹp đi tương ứng.
     Đối với Việt Nam ta, Mỹ đang ve vãn, lôi kéo cũng nhằm mục đích là tham gia vào các hoạt động làm suy yếu Trung quốc. Nhưng dù có che đậy kỹ đến mấy thì sự tráo trở của Mỹ cũng vẫn lòi ra. Một mặt đang muốn Việt Nam nâng cấp quan hệ giữa hai nước lên “đối tác chiến lược toàn diện”, mặt khác vẫn nuôi dưỡng và dung túng cho các thế lực chống phá Việt Nam, dùng chúng làm con bài, một khi quan hệ hai nước xấu đi thì bọn đó sẽ là công cụ để chống phá Việt Nam quyết liệt hơn nữa.
     Chúng ta đều thấy, bất cứ giai đoạn lịch sử nào của thế giới, thì chính quyền Mỹ luôn thể hiện sự ích kỷ, thực dụng, dối trá và lừa lọc. Mục đích chỉ là tạo ra sự hỗn loạn để Mỹ có thể kiếm lợi nhuận từ cuộc chiến tranh đó. Chiến tranh luôn là nguồn sống của nước Mỹ đế quốc.
     Hôm nay chửi thế thôi. Còn đám ăn cháo đá bát, loài vong ân bội nghĩa thì tôi chửi nhiều rồi, song vì mặt chúng dầy quá nên chúng cứ trơ ra như cái phản thịt ngoài chợ./.
Ảnh minh họa: Những ngày còn nồng ấm.
Yêu nước ST.

CHUYỆN GÌ Ở VIỆT NAM, VIỆT TÂN CŨNG XÍ VÀO LÀ SAO?

      Tân đần quá!
     Chuyện chính trị nhạy cảm thì đương nhiên là không nên dính tới.
     Còn môn chính trị thì học cho khôn ra, học mà tiếp thu cái tiến bộ của thời đại. Tân không học môn chính trị thảo nào Tân đần quá.
     Nói chung chuyện chính trị nhạy cảm với học môn chính trị nó chả liên quan gì đến nhau.
     Mà Tân tự vả vào mồm 3 cái đi nha. Tân bảo ghét Kong san, không muốn dính tới Kong san, chừng nào còn Kong san thì Tân không về!
     Vậy thì Tân đừng động tới chuyện của Kong san nữa! 
     Chứ ở bên này có chuyện gì là Tân lại gào um lên, vẽ vời đủ kiểu, có mỗi 1 chuyện mà Tân ngày đăng cả chục bài. Từng giờ, từng phút lại thấy Tân kêu than như khóc thuê gào mướn... Chúng tôi mỏi mắt, điếc tai lắm./.
Yêu nước ST.

QUYẾT Đ.Á.NH, QUYẾT THẮNG QUÂN THANH, Ý CHÍ, TINH THẦN NGHĨA QUÂN TÂY SƠN BẤT DI.ỆT

 


Cách đây 234 năm, vào ngày mùng 5 Tết Kỷ Dậu 1789, nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy của người Anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ đã làm nên chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa, ghi dấu ấn sâu đậm vào trang sử chống giặc ngoại xâ.m của dân tộc.


Hơn hai thế kỷ trước đây, trong hoàn cảnh nước ta có nhiều biến loạn, ở Đàng Ngoài chúa Trịnh lấn át vua Lê; ở Đàng Trong, chúa Nguyễn suy tàn, gian thần lộng hành, nhũng nhiễu; đời sống nhân dân vô cùng khổ cực, lầm than. Lợi dụng tình cảnh ấy, nhà Thanh từ phương Bắc ào ạt đưa 29 vạn quân tràn sang nước ta hòng xâ.m chi.ếm đất đai, đồng hóa dân tộc, biến dân ta thành dân nước họ, biến nước ta thành một quận, huyện của họ.


Trong bối cảnh “nước mất nhà tan”, “triều đình phong kiến suy tàn”, lại bị nguy cơ đồng hóa, Nguyễn Huệ đã làm lễ lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệu Quang Trung, đã nhanh chóng rời Phú Xuân - Bình Định, tiến công ra Bắc. Ngày 20 tháng Chạp năm Mậu Thân, tức 15-1-1789, đại quân của Quang Trung đã ra đến Tam Điệp, Ninh Bình.


Dưới sự chỉ huy của người Anh hùng áo vải Quang Trung - Nguyễn Huệ, nghĩa quân Tây Sơn chia làm 5 đạo quân, từ căn cứ Tam Điệp, đêm 30 Tết năm Kỷ Dậu 1789 đã thần tốc, táo bạo, dũng mãnh tiến công về Thăng Long. Vào lúc rạng sáng - canh Năm, ngày mùng 5 Tết. Quang Trung ra lệnh mở màn và trực tiếp chỉ huy trận đánh vỗ mặt dữ dội vào đại đồn Ngọc Hồi. Với khí thế như chẻ tre, nghĩa quân Tây Sơn tiến thẳng vào Thăng Long, đánh phá “long trời lở đất” đạo quân chốt giữ “xứ Đống Đa” và “đồn Đống Đa”, buộc thái thú Sầm Nghi Đống phải tr.eo c.ổ t.ự t.ử; đội thân binh tinh nhuệ và trung thành của họ Sầm cũng t.ự sá.t theo chủ... Trưa mùng 5 Tết Kỷ Dậu 1789, Hoàng đế Quang Trung ngự trên lưng voi, dẫn đầu đại quân vào Kinh thành trong sự đón chào hoan hỷ của nhân dân Thăng Long.


Những kẻ xâm lược bị tiêu diệt, chiến dịch giải phóng Thăng Long đã đại thắng. Nghĩa quân Tây Sơn đã đánh tan hàng vạn quân Thanh xâm lược, đập tan các thế lực ngoại xâ.m, sự nhu nhược và hèn yếu của các thế lực phong kiến, tay sai; giành lại giang sơn gấm vóc; đem lại hòa bình, độc lập, tự do cho nhân dân; thống nhất đất nước; mở ra một chương mới trong lịch sử phát triển của dân tộc.


Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã hoàn thành sứ mệnh đánh đuổi quân x.âm lư.ợc, cứu giống nòi, giành lại giang sơn gấm vóc. Các thủ lĩnh Tây Sơn, đứng đầu là Quang Trung - Nguyễn Huệ đã được các tầng lớp nhân dân hết lòng ủng hộ, các anh hùng, hào kiệt và sĩ phu yêu nước nhiệt tình hưởng ứng; “trên thì thuận theo ý trời, dưới thì hợp lòng dân” nên cuộc khởi nghĩa mang đậm tính nhân văn, nhân đạo và chính nghĩa. Nhờ đó, nó đã nhanh chóng phát triển thành phong trào giải phóng dân tộc; đã dạy cho quân địch bài học nhớ đời: “đem quân xâ.m lư.ợc Việt Nam sẽ bị trừng trị đích đáng”.


234 năm đã đi qua nhưng trong sâu thẳm trái tim cán bộ, chiến sĩ Quân đội và hàng triệu người dân Việt Nam yêu nước đều tự hào và hướng về Gò Đống Đa - nơi chiến tích đồ sộ ghi rõ chiến công hiển hách với nét vàng son độc đáo: “Chiến thắng của lòng dân, sức nước”. Nó mãi mãi đi vào lịch sử dân tộc, đọng lại nơi lòng dân đất Việt; cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta vì nó khởi đầu năm mới với sự tinh túy nhất của hồn thiêng sông núi, linh khí khôn thiêng của mùa xuân, tiêu biểu cho ý chí quật cường, sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, lòng quả cảm và sự sáng tạo của nhân dân ta trong lịch sử dựng nước và giữ nước.


Chiến thắng Ngọc Hồi - Đống Đa tỏa sáng chiến lược quân sự tài tình: bí mật, thần tốc, dũng mãnh, bất ngờ của nghĩa quân Tây Sơn dưới sự chỉ huy trực tiếp của người anh hùng dân tộc Quang Trung - Nguyễn Huệ. Đồng thời, khẳng định nghệ thuật quân sự đặc sắc, độc đáo của những người lính Tây Sơn. Đó là nghệ thuật chuyển quân thần tốc từ Phú Xuân ra Bắc; là nghệ thuật tác chiến, chiến lược trong từng trận đánh, tiến tới tổng công kích, đập tan mộng xâ.m lư.ợc của quân Thanh, giữ vững nền độc lập dân tộc.


Từ #IPC

St. KT

HIẾU THẢO VỚI CHA MẸ KHI CÒN CÓ THỂ

 


Vào thời vua Minh Mạng, có hai cha con kia, nhà ở gần nhau. Cha thì nghèo, mà con thì rất giàu. Đêm khuya nọ, cha lén sang nhà con xúc trộm gạo. Con thức giấc tưởng là kẻ trộm, vội vác gậy đánh ở đằng sau lưng, khổ thay, cha ngã lăn ra chết. Lúc đó con mới nhận biết là cha mình. Các tòa án Làng, Xã Huyện đều xử là 'ngộ sát' (giết lầm). Vụ án được xét là ổn và gởi tường trình về kinh đô Huế. 


Khi vua Minh Mạng duyệt đến vụ này, người bỏ ra cả một đêm đọc đi, xem lại và cuối cùng vua bác bỏ bản án, buộc xử lại và truyền lệnh tử hình người con. Vua Minh Mạng phân tích rằng: "Không phải chỉ xét việc giết người, mà phải xét việc ăn trộm. Tại sao người cha phải đi ăn trộm? Lại là ăn trộm của con? Một người con giàu có, mà để cho cha mình đói khổ đến nỗi đêm hôm sang nhà con ăn trộm gạo, thế thì người con đó là gì? Có đáng là con không? Tội 'bất hiếu' như thế thật đáng phải chết. Trước khi đã giết lầm cha bằng gậy, thì đứa con đã để cha chết nhục và chết đói rồi".


Ngày nay không phải thiếu những người con như trong câu chuyện trên. Nhiều người con đã tự lập, họ có thể mua sắm biết bao tài sản, nhưng dành một ít để chăm sóc cho cha mẹ lúc tuổi già thì cứ mãi tính tới tính lùi. Khi cha mẹ nằm một chỗ hoặc bệnh tật, có những đứa con mang tiền hoặc thức ăn đến như là một hành vi bố thí kẻ bần cùng! Những gì ta làm cho cha mẹ, ta cứ tưởng là nhiều lắm, dường như chưa bao giờ hiểu thấu được những gì cha mẹ đã làm cho ta.

CS. KT