Thứ Ba, 11 tháng 4, 2023

Phát huy giá trị của văn hóa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay

TCCS - Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, soi đường cho mọi công việc nói chung, trong đó có công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Để Đảng càng văn minh, nhân văn, cần tiếp tục nhận thức sâu sắc giá trị đặc biệt của văn hóa, đạo đức trong đời sống xã hội, trong xây dựng hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay. 1- Từ lâu văn hóa đã trở thành bộ phận không thể thiếu trong đời sống của mỗi quốc gia - dân tộc, mỗi con người. Nói đến văn hóa là nói đến hệ giá trị chân, thiện, mỹ có giá trị soi đường cho các hoạt động, các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng,... Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”(1). Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, theo đó văn hóa cũng là nền tảng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Lấy văn hóa soi đường cho quốc dân đi”(2). Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc năm 2021, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Văn hóa là hồn cốt của dân tộc”. Sức mạnh điều tiết của văn hóa không chỉ dừng lại ở phạm vi đạo đức, ứng xử trong quan hệ cộng đồng, quan hệ con người với con người, hay trong bản thân mỗi con người, không chỉ dừng lại ở việc tạo nên sự hài hòa cụ thể, mà cao hơn, văn hóa còn phát huy tác dụng trong điều chỉnh các quan hệ lớn, tạo nên sự phát triển cân đối, hài hòa, đồng bộ giữa các lĩnh vực quan trọng của đời sống, của mỗi quốc gia - dân tộc. Thực chất của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng mang hệ giá trị văn hóa điều tiết, tác động tích cực đến sự chính danh, trong sạch, vững mạnh của Đảng, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng ta. Văn hóa thẩm thấu, chi phối công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Hệ giá trị của văn hóa là tổ hợp của yếu tố truyền thống, kết hợp với yếu tố hiện đại và sự kết tinh tinh hoa văn hóa thế giới. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và cả dân tộc nên càng phải tạo lập hệ giá trị văn hóa trong Đảng để xây dựng, củng cố, nâng cao bản lĩnh, tầm trí tuệ, sức mạnh nội sinh, khả năng tự đề kháng, kiến tạo xây dựng mô hình tổ chức hợp lý, khoa học, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang tác động mạnh mẽ, toàn diện và sâu sắc trên mọi phương diện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội hiện nay. Hệ giá trị văn hóa trong Đảng thể hiện ở một số nội dung, như: 1- Bản lĩnh vững vàng của Đảng trước những khó khăn, thử thách; 2- Xác định đúng quyết sách chính trị để lãnh đạo đất nước phát triển bền vững; 3- Mục tiêu, lý tưởng của Đảng luôn hướng đến chăm lo cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. Ngoài lợi ích của giai cấp, dân tộc, Đảng ta không có một lợi ích nào khác; 4- Đạo đức của Đảng, đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên luôn là “công bộc” tận tụy phục vụ nhân dân; 5- Các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Do đó, các tổ chức cơ sở đảng, đảng viên phải nắm vững nội dung của hệ giá trị văn hóa trong Đảng để phấn đấu, rèn luyện, giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng, nêu cao tính đảng, trách nhiệm trong xây dựng các tổ chức cơ sở đảng vững mạnh toàn diện, phát huy vai trò hạt nhân chính trị. Thực tiễn cho thấy, khi Đảng đạt tới tầm cao của văn hóa, của đạo đức, văn minh,... thì Đảng cầm quyền sẽ hiệu quả, trường tồn, phát huy tốt vai trò lãnh đạo đối với đất nước. Khẳng định sứ mệnh và sự cống hiến vĩ đại của Đảng đối với Tổ quốc và dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh”(3). Đây được coi là mẫu số chung, giá trị phổ quát đặt ra cho các tổ chức đảng và mỗi cán bộ, đảng viên phải quán triệt, nỗ lực phấn đấu để Đảng ta luôn biểu trưng cho đạo đức, văn hóa, lương tâm, danh dự của cả dân tộc. Đó là cơ sở để nhân dân tin yêu Đảng, ủy thác vai trò lãnh đạo chính trị cho Đảng đối với sự nghiệp cách mạng hiện nay. 2- Quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, Đảng ta ngày càng nhận thức đầy đủ vai trò, tầm quan trọng của việc xây dựng văn hóa trong Đảng - yếu tố tạo nên sức mạnh nội sinh của Đảng. Đầu tư cho xây dựng văn hóa trong Đảng thực chất là đầu tư cho công tác xây dựng Đảng, nâng tầm văn hóa, đạo đức của Đảng. Đảng trong sạch, vững mạnh sẽ tác động tích cực đến các lĩnh vực của đời sống xã hội, giữ vững vai trò lãnh đạo đối với đất nước, dân tộc, phát triển đúng định hướng. Công tác xây dựng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết được Đảng ta quan tâm xây dựng, phát huy tính dân chủ, dựa trên những căn cứ khoa học để đưa ra những quyết định chính xác, kịp thời, phản ánh nhu cầu cấp thiết từ cuộc sống, thuận lòng dân. Cấp ủy các cấp đã coi trọng khâu chỉ đạo tổ chức thực hiện nghị quyết, làm rõ trách nhiệm cá nhân, tổ chức phối hợp hành động chặt chẽ nên chủ trương, nghị quyết sớm đi vào cuộc sống, mang lại lợi ích cho nhân dân. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng luôn được Đảng ta quan tâm chỉ đạo, thực hiện toàn diện trên các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, xác định rõ quan điểm, nguyên tắc, phương châm, giải pháp sát hợp với tình hình thực tiễn. Từ Nghị quyết số 03-NQ/TW, ngày 26-6-1992, của Hội nghị Trung ương 3 khóa VII, “Về một số nhiệm vụ đổi mới và chỉnh đốn Đảng”; Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 2-2-1999, của Hội nghị Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, “Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay”; đến Hội nghị Trung ương 4 khóa XI, XII, XIII đã ban hành các nghị quyết, kết luận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; trong đó, Hội nghị Trung ương 4 khóa XIII đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-10-2021, “Về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”” (Kết luận số 21-KL/TW). Đây là những dấu mốc rất quan trọng khẳng định Đảng ta luôn kiên định, kiên quyết, kiên trì và tập trung trí tuệ, tâm sức cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Nhờ đó công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt được những kết quả tích cực, góp phần xây dựng, chỉnh đốn các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên luôn giữ vững phẩm chất, tư cách của người đảng viên, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, sức chiến đấu của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Nhiệm kỳ Đại hội XI, Đảng ta thẳng thắn nhìn nhận công tác xây dựng Đảng vẫn còn không ít hạn chế, yếu kém, thậm chí có những yếu kém, khuyết điểm kéo dài nhiều nhiệm kỳ chậm được khắc phục, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; nếu không được khắc phục thì sẽ là thách thức đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn vong của chế độ. Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả một số cán bộ cao cấp, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống với những biểu hiện khác nhau về sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, cơ hội, thực dụng, chạy theo danh lợi, tiền tài, kèn cựa địa vị, cục bộ, tham nhũng, lãng phí, tùy tiện, vô nguyên tắc(4)... Công tác xây dựng Đảng về đạo đức được Trung ương và các cấp ủy, tổ chức đảng quan tâm chỉ đạo, nhận thức và hành động của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có chuyển biến tích cực. Điểm mới của Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII đã nhận diện 27 biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Trên cơ sở đó, các cấp ủy, tổ chức đảng đã cụ thể hóa thành các tiêu chí phù hợp với thực tiễn của từng đảng bộ để giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên. Bởi vậy, “Nhìn chung, đội ngũ cán bộ, đảng viên đã đề cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống; gương mẫu đi đầu, tận tụy với công việc, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao”(5). Các tổ chức đảng đã quan tâm xây dựng văn hóa, từ việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, xác định chức năng, nhiệm vụ, quy chế hoạt động, mối quan hệ công tác; xây dựng đoàn kết, thống nhất, phối hợp tổ chức thực hiện nhiệm vụ có hiệu quả,... đến hành vi ứng xử có văn hóa với nhân dân trong thực thi công vụ của các tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên. Trong nhiệm kỳ Đại hội XII, Đảng ta đã ban hành 14 nghị quyết và 1 quy định, trong đó có 4 nghị quyết về công tác xây dựng Đảng, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức đảng quán triệt, tổ chức thực hiện. Các quy định về công tác cán bộ ngày càng đồng bộ, chặt chẽ hơn, làm cơ sở để nâng cao chất lượng công tác cán bộ, kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền. Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 19-5-2018, của Hội nghị Trung ương 7 khóa XII, “Về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” đã bổ sung những nội dung mới, chỉ ra tệ chạy chức, chạy quyền, coi đây là hành vi tham nhũng trong công tác cán bộ. Công tác kiểm tra, giám sát đã có những đổi mới về nội dung, phương pháp, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên; kiên quyết kiểm tra, kết luận, thi hành kỷ luật một số cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước nhằm siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Thực tế, giai đoạn 2013 - 2020, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 131 nghìn đảng viên. Riêng trong nhiệm kỳ Đại hội XII, đã thi hành kỷ luật hơn 87 nghìn cán bộ, đảng viên, trong đó có hơn 3.200 đảng viên bị kỷ luật liên quan đến tham nhũng; đã thi hành kỷ luật hơn 110 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (trong đó có 27 Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, 4 Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, hơn 30 sĩ quan cấp tướng trong lực lượng vũ trang(6). Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, kết quả đạt được, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng còn bộc lộ một số hạn chế sau: Một bộ phận cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo, quản lý nhận thức chưa đầy đủ tính chất, tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng văn hóa trong các tổ chức đảng. Do đó, khâu chỉ đạo, tổ chức thực hiện ở một số tổ chức đảng thiếu quyết liệt, biểu hiện chùng xuống, chất lượng, hiệu quả thấp. “Việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức quán triệt và thực hiện một số nghị quyết còn chậm, chưa quyết liệt, chưa hiệu quả”(7). Thực tiễn cho thấy, “một bộ phận cán bộ, đảng viên bản lĩnh chính trị không vững vàng, suy thoái về tư tưởng chính trị, còn hoài nghi, mơ hồ về mục tiêu, lý tưởng của Đảng và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, một số ít hoang mang, dao động, mất lòng tin; cá biệt còn phủ nhận chủ nghĩa Mác  - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng”(8). Một số tổ chức đảng chưa chú trọng xây dựng Đảng về đạo đức nên chưa quan tâm đúng mức đến giáo dục, rèn luyện, quản lý cán bộ, đảng viên, nhất là giáo dục nâng cao nhận thức trách nhiệm, bổn phận, lòng tự trọng, ý thức, tinh thần phục vụ nhân dân, sự miễn dịch với tham nhũng, tiêu cực. Một số tổ chức đảng xem nhẹ công tác tự phê bình và phê bình, tiến hành một cách hình thức, chưa quyết liệt, hiệu quả thấp; chưa chú trọng xây dựng văn hóa phê bình. Một số cấp ủy có biểu hiện mất đoàn kết nội bộ, bè phái, cục bộ địa phương trong lãnh đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị; một số cán bộ, đảng viên thiếu tiên phong, gương mẫu, nói không đi đôi với làm, vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước. Mặc dù việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy có chuyển biến tích cực, nhưng “việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy ở một số nơi thiếu kiên quyết, đồng bộ và chưa đạt mục tiêu đề ra... Tinh giản biên chế mới tập trung giảm số lượng, chưa thật sự gắn với nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”(9). Trong khâu đề bạt, bổ nhiệm cán bộ còn có tình trạng bổ nhiệm cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện, trong đó có cả người nhà, người thân, họ hàng, “cánh hẩu” xảy ra ở một số nơi, gây bức xúc trong dư luận xã hội(10). Đây là phản văn hóa, cần nhận diện, khắc phục, đẩy lùi trong thời gian tới, góp phần làm lành mạnh, nâng cao chất lượng công tác cán bộ. Những hạn chế trên có nguyên nhân, như một số tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy chưa nhận thức đúng vai trò, tính cấp thiết của xây dựng văn hóa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng; một số cấp ủy năng lực tổ chức, kiến tạo, tổ chức thực hiện xây dựng văn hóa trong tổ chức đảng còn hạn chế, thiếu chủ động, thiếu những cách làm sáng tạo; một số cán bộ, đảng viên tinh thần trách nhiệm yếu, chưa thực sự tiên phong, gương mẫu, sa vào chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, đi ngược lại những chuẩn mực đạo đức, văn hóa. 3- Để phát huy giá trị của văn hóa trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch, vững mạnh đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ hiện nay cần thực hiện tốt một số giải pháp sau: Một là, nâng cao nhận thức, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng và từng cán bộ, đảng viên về xây dựng văn hóa trong Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Tư tưởng không đúng đắn thì công tác ắt sai lầm”(11). Cần nhận thức rằng, xây dựng văn hóa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng là góp phần xây dựng Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh, nâng tầm lãnh đạo, vị thế cầm quyền của Đảng. Xây dựng và chỉnh đốn Đảng tác động biện chứng, làm tiền đề cho nhau; xây dựng Đảng là cơ sở, điều kiện của chỉnh đốn Đảng, ngược lại chỉnh đốn Đảng góp phần làm cho công tác xây dựng Đảng đạt chất lượng, hiệu quả hơn. Văn hóa thẩm thấu tác động đến năm mặt của công tác xây dựng Đảng, từ việc xác định đúng cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết; xây dựng đạo đức của Đảng - đạo đức cách mạng của mỗi cán bộ, đảng viên đến việc xây dựng hệ thống tổ chức, bộ máy đồng bộ, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đặc biệt, yếu tố văn hóa góp phần giúp cán bộ, đảng viên nhận diện được hệ giá trị chân - thiện - mỹ, thức tỉnh lương tâm, phân biệt được đúng, sai để thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ và hoàn thiện nhân cách. Coi nhẹ yếu tố văn hóa sẽ làm cho công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng dễ lệch chuẩn, sai phạm ở một số tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Hai là, coi trọng giáo dục, rèn luyện nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho mỗi cán bộ, đảng viên. Công tác giáo dục, rèn luyện, đào tạo, bồi dưỡng, thực chất là tác động văn hóa để mỗi cán bộ, đảng viên nêu cao tính đảng, nhận thức được trách nhiệm, bổn phận của bản thân để phấn đấu, rèn luyện. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết và yêu cầu, “mỗi con người đều có thiện và ác ở trong lòng. Ta phải biết làm cho phần tốt ở trong mỗi con người nảy nở như hoa mùa Xuân và phần xấu bị mất dần đi”(12). Giáo dục, rèn luyện phải thông qua giao nhiệm vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ để từng đảng viên đối chiếu với tiêu chuẩn, nhiệm vụ được giao để phấn đấu, rèn luyện; đồng thời, các tổ chức đảng phải thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình. Mục đích của tự phê bình và phê bình là giúp nhau phát huy ưu điểm, khắc phục những nhận thức, hành vi chưa đúng, “một mặt là để sửa chữa cho nhau. Một mặt là để khuyến khích nhau, bắt chước nhau”(13). Từ chiều sâu bản chất của văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh lưu ý, phải hướng vào phê bình việc chứ không phải phê bình người. Người còn căn dặn: “Những người bị phê bình thì phải vui lòng nhận xét để sửa đổi, không nên vì bị phê bình mà nản chí, hoặc oán ghét”(14). Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên hằng ngày phải đối chiếu, “tự soi, tự sửa” để hoàn thiện nhân cách, tiến bộ trưởng thành. Tự soi, tự sửa chính là bản lĩnh văn hóa của người cộng sản, dám nhận diện “thứ giặc trong lòng” để đấu tranh loại bỏ. Đây là cuộc chiến cam go, đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên trì, dũng cảm mới có thể chiến thắng, vượt qua. Giáo dục, tác động từ góc độ văn hóa để mỗi cán bộ, đảng viên thấu cảm, lan tỏa tình yêu thương đồng chí. Tinh thần nhân đạo, nhân văn là bản chất của Đảng ta; là mạch nguồn xuyên suốt của chủ nghĩa Mác  - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là cơ sở lô-gíc nội tại để Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát: “Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu sách mà sống không có tình có nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin được”(15). Do đó, mọi sự kèn cựa, đố kỵ, ganh tỵ ở một số cán bộ, đảng viên sẽ được nhường chỗ cho tình thương và lòng nhân ái. Tiếp tục tổ chức cho cán bộ, đảng viên học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh từ những điều nhỏ nhất, bình dị nhất. Đây cũng là kênh để cán bộ, đảng viên luôn có ý thức phấn đấu, rèn luyện, không chủ quan, tự mãn, bằng lòng với kiến thức, kết quả phấn đấu của mình. Song hành với coi trọng giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, cần gắn với đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, “thứ giặc trong lòng không mang gươm, mang súng”, dễ dàng làm tha hóa nhân cách, đưa người ta đi xuống dốc. Từ thực tiễn lãnh đạo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cảnh báo: “Một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân”(16). Ba là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, có khát vọng cống hiến. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết: Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, “công việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”(17). Hiệu quả văn hóa thẩm thấu đến công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng cao hay thấp tùy thuộc vào chất lượng đội ngũ cán bộ, cấp ủy. Trước bối cảnh mới, đội ngũ cán bộ phải tích cực học tập nâng cao phẩm chất, bản lĩnh, trình độ kiến thức các mặt, xây dựng tầm nhìn biện chứng để đủ sức giải quyết những vấn đề đặt ra từ thực tiễn; đủ sức kiến tạo tổ chức thực tiễn có hiệu quả. Hơn lúc nào hết, đội ngũ cán bộ phải thâu thái được yếu tố văn hóa, bởi đó là hệ điều tiết để nâng cao nhận thức, hành vi, năng lực tổ chức hành động luôn vì lợi ích của Đảng, của tập thể và nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn gương mẫu, trong sạch về nhân cách, nói không với tiêu cực, tham nhũng, luôn lắng nghe, học hỏi, gần gũi với nhân dân. Bởi, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, không có đạo đức thì dù tài giỏi đến mấy cũng không thể lãnh đạo được nhân dân. Cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Gương mẫu là tiêu chí, thước đo văn hóa của người cán bộ. Thực tế cho thấy, khi cán bộ đã “nhúng chàm”, mất uy tín thì chất lượng lãnh đạo, quản lý hạn chế, thậm chí bất lực. Bởi vậy, cần “coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ để hình thành văn hóa không chạy chức, chạy quyền”(18). Đồng thời, mỗi cán bộ, đảng viên cần coi trọng xây dựng văn hóa tiết kiệm theo tinh thần Kết luận số 21-KL/TW. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở cán bộ, đảng viên phải luôn phấn đấu, rèn luyện, bởi “cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra”(19). Trong tình hình hiện nay, đội ngũ cán bộ cần thực hiện tốt “6 dám” theo tinh thần Đại hội XIII của Đảng: dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám nói, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách,... Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3-11-2021, của Bộ Chính trị, “Về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ” đã đề cập đến văn hóa từ chức, do đó, đã đến lúc cán bộ có sai phạm, khuyết điểm, không hoàn thành nhiệm vụ được giao phải có bản lĩnh xin từ chức - đó là dũng khí, lòng tự trọng của cán bộ. Đây là vấn đề bình thường trong công tác cán bộ. Qua đó, kịp thời bổ sung những cán bộ có phẩm chất, tài năng đảm nhận các công việc của tổ chức phân công, không để khoảng trống quyền lực trong lãnh đạo, quản lý. Để xây dựng đội ngũ cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”, nâng cao tính chuyên nghiệp, đủ khả năng làm việc trong điều kiện hội nhập quốc tế, từng cán bộ phải nỗ lực, phấn đấu; đổi mới mạnh mẽ các khâu của công tác cán bộ, nhất là đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ hợp lý. Bốn là, nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng gắn với tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, kiểm soát quyền lực. Đây là giải pháp nhằm góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên, siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng. Các tổ chức đảng cần nâng cao chất lượng sinh hoạt đảng (cấp ủy, ban thường vụ, sinh hoạt đảng bộ, sinh hoạt chi bộ) nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên. Không để một đảng viên nào đứng ngoài sự quản lý của tổ chức đảng. Sinh hoạt đảng phải đi vào thực chất, bài bản, bảo đảm nguyên tắc, phong phú về nội dung, hình thức sinh hoạt. Đội ngũ cấp ủy viên cơ sở, nhất là bí thư cấp ủy phải nâng cao tính đảng, tính chuyên nghiệp trong điều hành sinh hoạt đảng, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ trong tranh luận, thảo luận, gắn với kỷ luật, kỷ cương. Có phát huy dân chủ mới giúp cho cấp ủy có thêm thông tin, tri thức, kinh nghiệm để đưa ra các quyết định chính xác, hợp lòng dân. Cần tạo ra không gian văn hóa trong tổ chức đảng để đảng viên hiến kế, chia sẻ, đoàn kết, có trách nhiệm xây dựng tổ chức đảng. Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng. Đảng ta khẳng định, không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo. Từ thực tiễn lãnh đạo, quản lý Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết, “kiểm soát khéo, bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi”(20). Công tác kiểm tra, giám sát là công cụ hữu hiệu để xây dựng, chỉnh đốn Đảng trong sạch vững mạnh, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên; qua đó, giúp cho cấp ủy, tổ chức đảng các cấp, cán bộ, đảng viên phát huy ưu điểm, khắc phục, phòng tránh các khuyết điểm, sai phạm. Ngoài việc tăng cường kiểm tra, giám sát đối với cấp ủy thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng, ủy ban kiểm tra các cấp cần chủ động tăng cường kiểm tra tổ chức đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, nhằm kịp thời giáo dục, ngăn chặn các khuyết điểm, sai phạm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, không để các dấu hiệu vi phạm từ chưa nghiêm trọng đến nghiêm trọng, từ một người liên quan đến nhiều người. Ủy ban kiểm tra cần hướng vào kiểm tra những điểm nóng, người đứng đầu, những lĩnh vực dễ xảy ra vi phạm để xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát nhằm giáo dục, cảnh báo cho các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên. Kiên quyết xử lý kỷ luật những tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên cố tình vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước, như tham nhũng, tiêu cực, thao túng quyền lực... Xây dựng văn hóa kiểm tra công tâm, khách quan, minh bạch, giáo dục, răn đe, đúng người, đúng việc, không gây oan sai, thể hiện thấu tình đạt lý, tính nhân văn sâu sắc. Đồng thời, coi trọng việc giám sát, kiểm soát quyền lực đối với cán bộ nắm giữ các chức vụ chủ chốt, các lĩnh vực dễ nảy sinh vi phạm. Quyền lực phải được “nhốt trong lồng” thể chế, cơ chế. Đây là biện pháp mạnh cần được tăng cường, phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan để giảm thiểu, đẩy lùi tham nhũng, tiêu cực trong thời gian tới. “Khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa, cơ chế răn đe để kiểm soát tham nhũng”(21). Năm là, dựa vào nhân dân để xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nhân dân là cơ sở chính trị của Đảng, Nhà nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ dẫn: “Dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”(22). Do đó, cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay cần sự đóng góp tích cực, trách nhiệm của nhân dân. Đây là vấn đề mang tính quy luật, sống còn của Đảng. Bởi “Họ chẳng những trông thấy những người tốt, việc tốt, mà họ cũng trông thấy những người xấu, việc xấu trong Đảng”(23). Yếu tố văn hóa chính là sự tin tưởng vào sức mạnh của nhân dân, tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện tốt chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; tôn trọng, cầu thị, lắng nghe, tiếp thu, khắc phục, sửa chữa những góp ý đúng đắn của nhân dân. Bởi, tầm trí tuệ, tai mắt của nhân dân rất tinh tường, nhìn nhận, đánh giá cán bộ, đảng viên khá chính xác; ai có trách nhiệm, làm việc có hiệu quả, ai làm tắc trách, quan liêu, nhũng nhiễu dân đều được nhân dân đánh giá. Vì vậy, xác lập cơ chế để thu thập, tiếp nhận ý kiến đóng góp của nhân dân là hết sức cần thiết để xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Cần kết hợp các kênh góp ý, như nhân dân trực tiếp góp ý, phản ánh, thông qua hội nghị góp ý phê bình cho cán bộ, đảng viên thông qua hòm thư góp ý hoặc thông qua tổ chức đại diện, như Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể quần chúng... Đây là cơ sở để tổ chức đảng có thêm thông tin, góp phần nâng cao chất lượng lãnh đạo, xây dựng tổ chức đảng, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên hiệu quả, nhất là trong điều kiện mặt trái của nền kinh tế thị trường tác động hiện nay. Cần khẳng định, sự hiện diện của văn hóa trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng là yêu cầu khách quan, nội tại, mang tính quy luật, do đó đặt ra cho toàn Đảng, cấp ủy các cấp và mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn nêu cao tính đảng, lương tâm, danh dự, trách nhiệm của người cộng sản để phấn đấu, rèn luyện. Xuất phát từ quan điểm chỉ đạo “Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng nước ta”, đồng chí Tổng Bí thư nhấn mạnh phải “đặc biệt chú trọng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, coi đây là nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa”(24); để Đảng ta mãi mãi trường tồn, giữ vững vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng đối với đất nước, dân tộc./. (Nguồn: Tạp chí Cộng sản)

Về khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam hiện nay

TCCS - Đến nay, Việt Nam đã xây dựng và nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với 17 nước. Các mối quan hệ này đã và đang đóng góp quan trọng, tạo điều kiện vững chắc giúp bảo đảm, củng cố môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ lợi thế của các đối tác để bảo vệ, phát triển đất nước nhanh và bền vững, cũng như nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế, từng bước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Lý thuyết về đối tác chiến lược Trong quan hệ quốc tế, mặc dù đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của các học giả trong nước và quốc tế bàn về đối tác chiến lược nói chung và các mối quan hệ đối tác chiến lược cụ thể, bất kể quãng thời gian khá dài kể từ khi quan hệ đối tác chiến lược đầu tiên xuất hiện vào năm 1992 (Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ)(1) và số lượng ngày càng gia tăng của các mối quan hệ này, nhưng đến nay dường như vẫn chưa có sự thống nhất về khái niệm “đối tác chiến lược”. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, đây là mô hình liên kết mới trong quan hệ quốc tế, trở nên thịnh hành kể từ sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, được thiết lập theo cấu trúc mới để đạt được các mục tiêu dài hạn(2). Về đặc điểm, nhà nghiên cứu Vi-đi-a Nác-đa-ni (Vidya Nakdarni) cho rằng, quan hệ đối tác chiến lược: 1- Được hình thành thông qua các tuyên bố, thỏa thuận, ghi nhớ, trong đó chỉ rõ các mục tiêu xây dựng và tăng cường quan hệ nhiều mặt; 2- Thiết lập các cơ chế hoặc liên kết chính thức cấp chính phủ hoặc phi chính phủ nhằm thúc đẩy đối ngoại kênh 1 và kênh 2(3); 3- Thể chế hóa các cơ chế gặp gỡ lãnh đạo cấp cao và các cấp làm việc khác nhằm xác định lợi ích và quan tâm chung, giải quyết các vấn đề cụ thể; 4- Phát triển quan hệ trong lĩnh vực quốc phòng thông qua tập trận chung, các giải pháp xây dựng lòng tin,...; 5- Cam kết đẩy mạnh hợp tác kinh tế; 6- Tăng cường sự hiểu biết về văn hóa của mỗi nước thông qua việc trao đổi giao lưu thế hệ trẻ và tổ chức các hội chợ văn hóa(4). Một số học giả chỉ ra ba đặc điểm của quan hệ đối tác chiến lược, bao gồm: 1- “Không có giới hạn về không gian và thời gian”; 2- “Không hạn chế về đối tượng áp dụng”; 3- “Không hạn chế về lĩnh vực hợp tác, và không nhất thiết phải mang nội dung an ninh - quân sự”(5). Về tính chất, quan hệ đối tác chiến lược mang tính “toàn diện”, “có đi, có lại”, “chia sẻ”, “dài hạn” và “giải quyết các thách thức khu vực và toàn cầu”(6). Về hình thức, do tính chất đa phương và đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế, quan hệ đối tác chiến lược được thể hiện dưới các hình thức, như đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược có lựa chọn theo từng lĩnh vực, đối thoại chiến lược,... Việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược cần dựa vào một số điều kiện quan trọng, như các bên bình đẳng, tôn trọng thể chế chính trị, hệ tư tưởng và giá trị xã hội; các bên quyết tâm chính trị để xây dựng quan hệ đối tác chiến lược; tương đồng về mục đích, mục tiêu và thậm chí có thể chia sẻ lợi ích sống còn, đặc biệt trong duy trì an ninh, bảo đảm thịnh vượng và phát huy vai trò, vị thế trên trường quốc tế; thống nhất nhận thức về cách tiếp cận và nguyên tắc xây dựng đối tác chiến lược cũng như cơ sở pháp lý, nội dung, khuôn khổ, cơ chế bảo đảm triển khai hiệu quả; chia sẻ tầm nhìn về các lĩnh vực hợp tác, đặc biệt là trong các lĩnh vực có ý nghĩa chiến lược, những vấn đề chính trị khu vực và toàn cầu(7). Tóm lại, quan hệ đối tác chiến lược là một dạng thức quan hệ có tầm quan trọng lớn và có tính chiến lược, dài hạn giữa các quốc gia với nhau hoặc giữa quốc gia với tổ chức quốc tế xuất hiện sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc nhằm xây dựng các cơ chế, kế hoạch, công cụ để đẩy mạnh hợp tác trên các lĩnh vực mà các bên ưu tiên. Mối quan hệ này không phải luôn luôn cố định mà có thể được tăng cường, chuyển biến với các nội hàm hợp tác khác nhau, tùy thuộc vào bối cảnh quốc tế cũng như tình hình của mỗi nước, lợi ích và quyết tâm, ý chí chính trị của mỗi bên trong từng giai đoạn. Một số quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam hiện nay Chủ trương đưa quan hệ với các đối tác, đặc biệt là các đối tác quan trọng, đi vào chiều sâu được Đảng và Nhà nước ta đề ra từ Đại hội X của Đảng (năm 2006), tiếp tục khẳng định qua các kỳ Đại hội XI của Đảng (năm 2011), Đại hội XII của Đảng (năm 2016) và Đại hội XIII của Đảng (năm 2021). Trước đó, Đại hội IX của Đảng (năm 2001) ghi nhận bước chuyển quan trọng trong tư duy đối ngoại, thể hiện tinh thần trách nhiệm và uy tín của Việt Nam khi khẳng định: “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển”(8). Đại hội X của Đảng (năm 2006) tiếp tục nhấn mạnh “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế”(9), đồng thời đặt mục tiêu “Đưa các quan hệ quốc tế đã được thiếp lập đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững”(10). Như vậy, tại Đại hội X của Đảng, khái niệm “quan hệ đối tác” được đề cập ở “mức độ cao hơn, sâu sắc hơn, chất lượng hơn và toàn diện hơn”. Đại hội XIII của Đảng đưa ra định hướng hoạt động đối ngoại, đó là: “Đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, đặc biệt là các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và đối tác quan trọng khác”(11). Với chủ trương được xác định nhất quán và mạnh mẽ như vậy, việc xây dựng nội hàm của dạng thức quan hệ đối tác chiến lược là vô cùng quan trọng. Quan hệ đối tác chiến lược là một dạng thức quan hệ đối ngoại, các bên tham gia đều có nhu cầu tăng cường hợp tác, coi trọng và chú ý hơn tới lợi ích chiến lược của nhau, có hợp tác sâu rộng, gắn kết về lợi ích và hướng tới lòng tin chiến lược. Tính đến nay, mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện của Việt Nam bao gồm 17 nước: Nga (năm 2001), Ấn Độ (năm 2007), Trung Quốc (năm 2008); Hàn Quốc (năm 2022), Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Xin-ga-po (năm 2013); Ma-lai-xi-a, Phi-líp-pin (năm 2015); Nhật Bản, Tây Ban Nha (năm 2009); Anh (năm 2010), Đức (năm 2011); I-ta-li-a, Pháp (năm 2013), Ô-xtrây-li-a (năm 2018) và Niu Di-lân (năm 2020). Trong số 17 nước trên, việc xây dựng quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam với một số nước, như Trung Quốc, Đức và Xin-ga-po(12) có một số nội dung đáng chú ý. Cụ thể: Về quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc: Kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1991 đến nay, hợp tác Việt Nam - Trung Quốc đã trải qua nhiều dấu mốc lịch sử quan trọng. Đặc biệt vào tháng 6-2008, nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã ra Tuyên bố chung Việt Nam - Trung Quốc nhằm thiết lập “quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện” trên cơ sở phương châm 16 chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần bốn tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Trong thời gian qua, quan hệ Việt Nam - Trung Trung Quốc có những bước tiến lớn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực. Về chính trị - ngoại giao, đặc điểm nổi bật trong quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Trung Quốc là sự tin cậy và hữu nghị, biểu hiện qua các cuộc tiếp xúc của lãnh đạo cấp cao hai nước được thực hiện thường xuyên với hình thức đa dạng, thể hiện tính chất đặc thù của mối quan hệ truyền thống tốt đẹp và tầm quan trọng của mỗi nước trong chính sách đối ngoại của mỗi nước. Năm 2017, ngay sau Đại hội XIX của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Việt Nam là quốc gia đầu tiên mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình đến thăm chính thức. Năm 2022, sau Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng là nhà lãnh đạo cấp cao nước ngoài đầu tiên thăm chính thức Trung Quốc. Với sự tương đồng về thể chế chính trị, hệ tư tưởng, lịch sử và truyền thống gắn bó lâu dài giữa hai nước, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai Nhà nước đã chia sẻ nhận thức chung quan trọng, góp phần củng cố, tăng cường sự tin cậy chính trị, giải quyết các bất đồng tồn tại và thúc đẩy hợp tác toàn diện, lành mạnh, ổn định trên các lĩnh vực. Hợp tác kinh tế - thương mại - đầu tư luôn chiếm vị trí quan trọng trong mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt Nam - Trung Quốc. Trong nhiều năm qua, Trung Quốc đã và đang là đối tác thương mại lớn nhất, đồng thời là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam. Việt Nam là đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc tại khu vực Đông Nam Á và đối tác lớn thứ sáu của Trung Quốc trên thế giới(13). Tính đến tháng 9-2022, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Trung Quốc đạt 131,7 tỷ USD, tăng 9,6% so với cùng kỳ năm 2021. Về đầu tư, tính đến tháng 9-2022, với 3.486 dự án có tổng số vốn đăng ký đạt 22,44 tỷ USD, Trung Quốc tiếp tục xếp thứ 6/139 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam(14). Vấn đề thâm hụt thương mại cũng được hai bên quan tâm thúc đẩy và đưa vào Tuyên bố chung để được xử lý thỏa đáng, nhân chuyến thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đối với vấn đề biên giới lãnh thổ, trên cơ sở các văn kiện được hai bên ký kết vào năm 2009(15) về biên giới trên đất liền giữa hai nước, biên giới trên bộ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã được duy trì hòa bình, ổn định. Bên cạnh đó, hai bên tiếp tục phối hợp chặt chẽ để xử lý thỏa đáng và kịp thời các vấn đề phát sinh. Mặc dù tình hình trên Biển Đông xuất hiện một số nhân tố phức tạp, hai bên vẫn duy trì các kênh đối thoại, đàm phán, nỗ lực kiểm soát bất đồng trên cơ sở luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) năm 1982. Trong khuôn khổ các tổ chức và diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, như Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Liên hợp quốc,... với mục tiêu bảo đảm hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác tại khu vực và trên thế giới, hai bên tích cực phối hợp hiệu quả, ủng hộ chủ nghĩa đa phương và ủng hộ lẫn nhau tham gia các tổ chức đa phương khu vực và quốc tế. Về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Đức: Năm 2021 đánh dấu 10 năm thiết lập quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Đức và ghi nhận nhiều bước phát triển vượt bậc trên tất cả các lĩnh vực. Đối với chính trị - ngoại giao, điểm nổi bật trong quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Đức là sự tin cậy và đánh giá cao lẫn nhau thể hiện qua các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước được tiến hành thường xuyên hơn so với giai đoạn trước khi thiết lập quan hệ đối tác chiến lược. Tháng 11-2022, Thủ tướng Đức Ô. Sôn (Olaf Scholz) đã thăm chính thức Việt Nam, sau khi thăm Nhật Bản và Trung Quốc, thể hiện tầm quan trọng của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của Đức. Bên cạnh đó, hai nước đã thiết lập và duy trì các cơ chế hợp tác đa dạng trên các lĩnh vực, bao gồm: Tham vấn chính trị thường niên cấp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, Tham vấn chính phủ về hợp tác phát triển, Đối thoại cấp cao về kinh tế, Đối thoại về nhà nước pháp quyền, Ủy ban hỗn hợp về hợp tác kinh tế, Ủy ban hỗn hợp về hợp tác khoa học - công nghệ,... nhằm thực hiện các kế hoạch hành động chiến lược được hoạch định theo từng giai đoạn. Hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư được đánh giá là điểm sáng trong quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Đức. Với ưu thế là đầu tàu của Liên minh châu Âu (EU) và là nước có tiềm lực kinh tế mạnh mẽ, Đức luôn là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam, với các chỉ số hết sức ấn tượng khi trong nhiều năm, Đức là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam trong EU; đặc biệt, năm 2020, Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Đức tại khu vực Đông Nam Á. Hợp tác về quốc phòng - an ninh giữa hai nước có nhiều bước phát triển tích cực trong những năm qua. Năm 2003, Việt Nam đã cử tùy viên quốc phòng thường trú tại Thủ đô Béc-lin và Đức cử tùy viên quốc phòng tại Thái Lan kiêm nhiệm Việt Nam. Tháng 9-2019, Đức chính thức cử tùy viên quốc phòng thường trú tại Việt Nam. Triển khai “Định hướng đối với khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương” được Đức thông qua vào tháng 9-2020, tháng 1-2022, lần đầu tiên trong lịch sử, khinh hạm FGS Bayern với hơn 200 thành viên của hải quân Đức đã thăm Việt Nam. Trên các tổ chức và diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, Việt Nam và Đức hợp tác hiệu quả và chặt chẽ với nhiều minh chứng sống động. Việt Nam luôn là cầu nối để Đức mở rộng quan hệ hợp tác với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) và Đức luôn ủng hộ mạnh mẽ mối quan hệ Việt Nam - EU. Năm 2019, với sự ủng hộ tích cực của Đức, Việt Nam và EU đã ký kết Hiệp định thương mại tự do (EVFTA) và Hiệp định bảo hộ đầu tư (EVIPA). Năm 2020, trên cương vị cùng là Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc, Việt Nam là Chủ tịch ASEAN và Đức là Chủ tịch luân phiên của EU, Việt Nam và Đức đã thúc đẩy thành công việc nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược ASEAN - EU và thành lập Nhóm những người bạn của UNCLOS năm 1982, thu hút sự tham gia của hơn 100 quốc gia thành viên. Về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Xin-ga-po: Với truyền thống tốt đẹp giữa hai nước trong quá khứ, gắn kết bởi sự tương đồng trong văn hóa và lợi ích song trùng ở khu vực và trên thế giới, Việt Nam và Xin-ga-po đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược nhân chuyến thăm chính thức Việt Nam của Thủ tướng Xin-ga-po Lý Hiển Long vào tháng 9-2013, đặt nền tảng cho những bước phát triển vững vàng và toàn diện trong mối quan hệ này. Khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Xin-ga-po tiếp tục được nhấn mạnh với nội hàm mới vào năm 2022 khi hai nước ra Tuyên bố chung về tăng cường quan hệ đối tác chiến lược và hợp tác cùng phục hồi sau đại dịch COVID-19. Điểm sáng trong quan hệ hai nước chính là sự tin cậy, gắn bó và sẻ chia, là nền tảng định hướng cho quan hệ hai nước. Tháng 2-2022, Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc là lãnh đạo cấp Nhà nước đầu tiên đến thăm Xin-ga-po sau đại dịch COVID-19 và Việt Nam là quốc gia đầu tiên mà Tổng thống Xin-ga-po Ha-li-ma Y-a-cốp (Halimah Yacob) thăm cấp nhà nước sau khi Xin-ga-po mở cửa trở lại (tháng 10-2022). Trước đó, Chủ tịch Quốc hội Xin-ga-po Tan Chuan-Jin đã thăm chính thức Việt Nam (tháng 5-2022), thể hiện rõ nét nhất thứ tự ưu tiên trong chính sách đối ngoại của hai nước. Nhiều cơ chế hợp tác, như tham vấn hằng năm giữa hai Bộ Ngoại giao, đối thoại quốc phòng đã được xác lập và thực hiện để thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược hai nước. Hợp tác trong lĩnh vực kinh tế, thương mại và đầu tư luôn là điểm nhấn trong quan hệ hai nước. Xin-ga-po hiện là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam tại khu vực Đông Nam Á. Xin-ga-po đang có hơn 3.000 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam với tổng số vốn đạt hơn 70,16 tỷ USD(16). Dự án Khu công nghiệp Việt Nam - Xin-ga-po (VSIP) được triển khai mạnh mẽ và hiệu quả ở 12 tỉnh, thành phố của Việt Nam, là hình ảnh biểu tượng trong hợp tác kinh tế của hai nước. Hợp tác quốc phòng - an ninh ngày càng được thúc đẩy với các hoạt động phong phú không chỉ mang ý nghĩa quan trọng đối với hai nước, mà còn nhằm hỗ trợ, ứng phó hiệu quả với các nguy cơ an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống trong khu vực và trên toàn cầu, như phòng, chống tội phạm xuyên quốc gia; chống cướp biển; chống khủng bố;... Tháng 3-2016, Xin-ga-po là nước đầu tiên cử tàu hải quân RSS ENDURANCE với 81 thủy thủ thăm cảng quốc tế Cam Ranh (Khánh Hòa). Tháng 2-2022, Việt Nam và Xin-ga-po đã ký kết Hiệp định về hợp tác quốc phòng song phương, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quan hệ giữa hai nước. Trên các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, hai nước đã phối hợp hiệu quả và chia sẻ lập trường chung của ASEAN đối với các vấn đề an ninh khu vực, nỗ lực duy trì tinh thần đoàn kết và vai trò trung tâm của ASEAN trong các vấn đề khu vực. Ngoài ra, sự kiện Đối thoại Shangri-La hằng năm - một diễn đàn cấp cao về an ninh khu vực châu Á và quốc tế - được tổ chức tại Xin-ga-po là dịp quan trọng để Việt Nam khẳng định quan điểm, lập trường về các vấn đề an ninh khu vực, nhằm góp phần thúc đẩy xây dựng lòng tin và nền tảng để duy trì hòa bình, bảo đảm phát triển. Đánh giá về quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam Trên cơ sở những phân tích về lý thuyết, nội hàm và thực tiễn về quan hệ đối tác chiến lược trong quan hệ quốc tế nói chung và của Việt Nam nói riêng, cũng như những phân tích về quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam với Trung Quốc, Đức và Xin-ga-po, có thể nhận xét như sau: Thứ nhất, các khuôn khổ đối tác chiến lược của Việt Nam được chính thức thiết lập thông qua hình thức văn bản chính trị quan trọng là Tuyên bố được ký kết bởi các lãnh đạo cấp cao Việt Nam và lãnh đạo cấp cao các nước. Đối tác chiến lược đầu tiên của Việt Nam được thiết lập với Nga nhân dịp Tổng thống Nga Vla-đi-mia Pu-tin thăm chính thức Việt Nam năm 2001 và hai bên cùng ra “Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Liên bang Nga”. Gần đây nhất, tháng 7-2020, nhân dịp kỷ niệm 45 năm Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Niu Di-lân, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc cùng Thủ tướng Niu Di-lân Gia-xin-đa A-đơn (Jacinda Ardern) đã ký kết “Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược giữa Việt Nam - Niu Di-lân”. Thứ hai, các khuôn khổ đối tác chiến lược của Việt Nam đều hướng tới các mục tiêu quan trọng, lâu dài, có tầm chiến lược và ý nghĩa quan trọng đối với mỗi bên. Điều thường được nhấn mạnh đầu tiên trong các văn bản thỏa thuận về khuôn khổ đối tác chiến lược Việt Nam và các nước là mục tiêu làm sâu sắc hơn sự hiểu biết và lòng tin cậy lẫn nhau thông qua các hoạt động, như thường xuyên trao đổi các đoàn lãnh đạo cấp cao, bao gồm cả các chuyến thăm chính thức song phương và tiếp xúc bên lề các diễn đàn quốc tế và khu vực; hình thành các cơ chế hợp tác đa dạng giữa các cơ quan Đảng, các bộ, ngành thuộc Quốc hội, Chính phủ và các địa phương hai nước. Thứ ba, các quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam mang tính toàn diện và linh hoạt bao gồm các hợp tác trên nhiều lĩnh vực, như chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng, khoa học - công nghệ, văn hóa,... Tuy nhiên, tùy thuộc vào thế mạnh và mong muốn của mỗi nước mà các lĩnh vực có thứ tự ưu tiên khác nhau. Ví dụ, trong quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam với Đức, Nhật Bản,... Việt Nam và các đối tác tập trung khai thác hợp tác thúc đẩy đầu tư, chuyển giao khoa học - công nghệ, thương mại, viện trợ phát triển,... Với Niu Di-lân, hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp đóng vai trò then chốt. Trong chuyến thăm chính thức Việt Nam (tháng 11-2022), Thủ tướng Niu Di-lân Gia-xin-đa A-đơn đã nhấn mạnh, với thế mạnh và truyền thống trong sản xuất và xuất khẩu lương thực, Niu Di-lân và Việt Nam là đối tác “trời sinh” trong lĩnh vực nông nghiệp và cả hai cam kết thúc đẩy quan hệ đối tác trong lĩnh vực quan trọng này. Trong quan hệ với Nga, Việt Nam ưu tiên các lĩnh vực mà Nga đã có quan hệ hợp tác truyền thống và thế mạnh như quốc phòng - an ninh. Tương tự, quan hệ trong lĩnh vực quốc phòng là một trong các lĩnh vực ghi nhận nhiều bước phát triển có ý nghĩa trong quan hệ chiến lược Việt Nam - Ấn Độ. Thứ tư, các quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam, mặc dù được thiết lập song phương, nhưng bao gồm cả những nội hàm đa phương quan trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Nam và các đối tác phối hợp chặt chẽ trên các diễn đàn khu vực và quốc tế, góp phần giải quyết các vấn đề toàn cầu, như biến đổi khí hậu, đói nghèo, bất bình đẳng và đóng góp vào duy trì hòa bình, an ninh quốc tế, thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững. Các khuôn khổ đối tác chiến lược, toàn diện chính là điều kiện thuận lợi để Việt Nam và các đối tác tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thống nhất quan điểm, phối hợp lập trường tại các tổ chức và diễn đàn đa phương từ cấp độ khu vực (ASEAN, APEC) đến liên khu vực (Diễn đàn hợp tác Á - Âu - ASEM) và toàn cầu (Liên hợp quốc, WTO). Thứ năm, mạng lưới quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam đã và đang mang lại nhiều kết quả có ý nghĩa cho Việt Nam trên các phương diện duy trì an ninh, phát triển kinh tế và nâng cao uy tín, vị thế của đất nước. Về an ninh, thông qua các cơ chế trong quan hệ đối tác chiến lược với các nước, căng thẳng, bất đồng và tranh chấp đã và đang được các bên liên quan kiềm chế, xử lý phù hợp; các vấn đề bảo vệ chủ quyền và biên giới lãnh thổ đang được bảo đảm. Về kinh tế, số liệu về đầu tư và thương mại giữa Việt Nam với phần lớn đối tác chiến lược là tích cực và khả quan. Trong 5 tháng đầu năm 2022, trong tổng số 79 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, Xin-ga-po đang đứng đầu với tổng số vốn đạt gần 3 tỷ USD, chiếm 25,3% tổng số vốn đầu tư vào Việt Nam; tiếp đến là Hàn Quốc, với trên 2,06 tỷ USD(17). Về vị thế, trên các diễn đàn đa phương khu vực và quốc tế, Việt Nam không chỉ là một thành viên tích cực và có trách nhiệm, mà còn là nước chủ động, tham gia đề xuất các sáng kiến, được cộng đồng quốc tế ghi nhận và ủng hộ. Trên cương vị là thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021, Việt Nam đề xuất một số văn kiện và đã được thông qua, như Nghị quyết về gia hạn các cơ chế tòa án còn tồn đọng và bảo vệ kết cấu hạ tầng thiết yếu; Tuyên bố Chủ tịch về tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, tăng cường quan hệ giữa Liên hợp quốc với các tổ chức khu vực trong thúc đẩy xây dựng lòng tin và giải quyết hậu quả bom mìn; Tuyên bố báo chí về vụ tấn công khủng bố ở In-đô-nê-xi-a; Tuyên bố Hà Nội về phụ nữ, hòa bình và an ninh; Ngày quốc tế phòng, chống dịch bệnh (ngày 27-12) hằng năm... Mới đây, Việt Nam được bầu làm thành viên Hội đồng Chấp hành của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) nhiệm kỳ 2021 - 2025, Hội đồng Thống đốc Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Hội đồng Khai thác bưu chính của Liên minh Bưu chính thế giới (UPU), Ủy ban Luật pháp quốc tế (ILC) nhiệm kỳ 2023 - 2027, Hội đồng nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023 - 2025. Có thể thấy, xét trên góc độ lý thuyết và thực tiễn, khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược là một dạng thức mới của quá trình hợp tác quốc tế thời kỳ sau Chiến tranh lạnh với các đặc điểm và nội hàm thuận lợi cho hợp tác quốc tế. Do vậy, mô hình hợp tác này đã dần trở nên thịnh hành và được xem như là một xu hướng triển khai trong chính sách đối ngoại của các quốc gia. Thực tiễn xây dựng và triển khai các quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam đã chứng minh tính hiệu quả của những mô hình này. Tuy nhiên, mức độ hiệu quả không giống nhau với tất cả các cặp quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam. Những nghiên cứu về các nội dung khác liên quan, như các nhân tố thúc đẩy quan hệ đối tác chiến lược; cách tiếp cận trong triển khai đối tác chiến lược của Việt Nam; phân tích, đánh giá sâu về từng cặp quan hệ đối tác chiến lược của Việt Nam... cần tiếp tục được tiến hành để gợi mở những điều chỉnh và bổ sung trong chính sách đối ngoại của Việt Nam trong thời gian tới./. (Nguồn: Tạp chí Cộng sản)

Người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danh

     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem việc dạy học là một nghề đào luyện những thế hệ con người xây dựng xã hội. Tuy sự cống hiến của thầy giáo là rất thầm lặng nhưng nếu trở thành một người thầy giáo tốt là điều vô cùng hữu ích và rất mực vẻ vang. Vì thế, Bác khẳng định: “Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất. Dù là tên tuổi không đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vô danhĐể xứng đáng với “Thiên chức” của mình, được mọi người tôn kính, thì đòi hỏi mỗi người thầy phải có “Tâm” và “Tầm” và thường xuyên giáo dục, rèn luyện cái “Tâm” và “Tầm” của mình.

Đổi mới để tăng tính hấp dẫn của báo, tạp chí Đảng

Tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng, báo chí ngày càng phong phú, đa dạng, nhiều kênh thông tin và tác động nhiều đến đảng viên, nhân dân trong và ngoài nước. Trong thời đại bùng nổ thông tin, vai trò của báo giấy, các tạp chí của Đảng vẫn giữ nguyên giá trị và tiếp tục phát huy trong thời kỳ mới. Các tờ báo, tạp chí của Đảng đã ngày càng đổi mới cả về nội dung và hình thức tuyên truyền, phù hợp với đa dạng đối tượng bạn đọc. Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương Nguyễn Trọng Nghĩa yêu cầu các đơn vị, ban, ngành và địa phương thống nhất, tiếp tục nhận thức sâu hơn nữa Kết luận số 173-TB/TW về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 11-CT/TW của Bộ Chính trị khóa VIII về việc mua và đọc báo, tạp chí của Đảng; coi đây là tài liệu sinh hoạt chính trị, sinh hoạt Đảng; là nơi chia sẻ, trao đổi kinh nghiệm, khơi dậy tinh thần thi đua yêu nước, phát huy đại đoàn kết dân tộc. Từ đó, tiếp tục phát huy vai trò, tính tiên phong và là công cụ chiến đấu sắc bén về mặt tư tưởng của Đảng trong thời kỳ mới; bám sát thực tiễn đời sống, chú trọng tính phản biện, tính đấu tranh, nhưng cần khách quan với tinh thần xây dựng, tạo động lực phát triển. Chú thích ảnh Đồng chí Nguyễn Trọng Nghĩa, Bí Thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương đồng chủ trì hội nghị. Nhấn mạnh đến vai trò quan trọng của việc mua và đọc báo, tạp chí của Đảng theo Chỉ thị số 11-CT/TW của Bộ Chính trị, ông Lê Minh Quốc, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng Biên tập Báo Nhân dân nhận định, nhiều Đảng bộ, Chi bộ, cán bộ, đảng viên đã nâng cao nhận thức. Việc mua, đọc và làm theo báo, tạp chí của Đảng dần đi vào nề nếp. Qua những bài viết, trao đổi kinh nghiệm thực tiễn trên báo, tạp chí của Đảng đã xuất hiện những mô hình, cách làm hay được nhân rộng. Mạng lưới phát hành báo, tạp chí của Đảng được mở rộng. Công tác phát hành tại các khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa ngày càng được chú trọng. Tại một số địa phương, đơn vị, số lượng mua báo, tạp chí của Đảng có tăng qua các năm. Tuy nhiên, hoạt động này vẫn còn những hạn chế, bất cập như: việc mua, đọc báo, tạp chí của Đảng tại một số Chi bộ, Đảng bộ còn mang tính hình thức. Nội dung, hình thức các ấn phẩm báo, tạp chí của Đảng tuy có cải tiến nhưng vẫn chưa hấp dẫn, phong phú để thu hút được độc giả, nhất là độc giả trẻ. Số lượng phát hành chưa đạt so với mục tiêu đề ra. Để thực hiện tốt hơn nữa nhiệm vụ chính trị, nhất là trong bối cảnh các phương tiện truyền thông xã hội phát triển mạnh mẽ như hiện nay, ông Lê Quốc Minh nhấn mạnh, báo, tạp chí của Đảng phải tiếp tục đổi mới phương thức truyền thông, thực hiện tốt mục tiêu tuyên truyền “đúng, trúng, kịp thời, hấp dẫn”; giải quyết tốt mối quan hệ giữa tính Đảng, định hướng, chính thống, chiến đấu, dự báo, thông tin chính xác, chuẩn mực với tính hấp dẫn, chuyên nghiệp, khoa học và hiện đại. Đồng thời, báo, tạp chí của Đảng cần sự đồng bộ giữa đổi mới công nghệ và đổi mới đội ngũ, nâng cao chất lượng thông tin. Chú thích ảnh Quang cảnh hội nghị. Để tiếp tục thực hiện hiệu quả Chỉ thị số 11-CT/TW của Bộ Chính trị, các đại biểu cho rằng, thời gian tới, báo, tạp chí của Đảng tiếp tục đổi mới, cải tiến nâng cao chất lượng cả nội dung và hình thức, tạo sự thu hút, hấp dẫn với độc giả; đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ để độc giả, người dân có thể tiếp cận với nội dung thông tin qua báo, tạp chí điện tử của Đảng. Đồng thời, báo, tạp chí của Đảng nâng cao hơn nữa chất lượng công tác phát hành; sử dụng và phát huy hiệu quả các loại tài liệu, báo chí của Đảng; nghiên cứu đưa Báo Nhân dân, Tạp chí Cộng sản vào danh mục các loại báo phát không thu tiền đối với khu vực biên giới, hải đảo, các cơ quan, đơn vị công tác ở nước ngoài và vùng đặc biệt khó khăn.

Phát huy nguồn lực trí thức người Việt Nam ở nước ngoài

Trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là nguồn lực quý của đất nước trong suốt chiều dài lịch sử, bằng những hoạt động trí tuệ, mang tính sáng tạo, cộng đồng người VNONN nói chung và trí thức NVNONN nói riêng đã và đang có những đóng góp to lớn trên tất cả các lĩnh vực trong quá trình xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong thời kỳ đấu tranh, bảo vệ Tổ quốc, số đông đồng bào ở nước ngoài, trong đó có giới trí thức kiều bào, có tinh thần yêu nước, sẵn sàng tham gia và hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Dưới sự vận động của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhiều trí thức NVNONN đã quay về dốc sức phục vụ cho cuộc kháng chiến của nước nhà. Nổi bật trong đó, kỹ sư Trần Đại Nghĩa, kỹ sư Võ Quý Huân, bác sỹ Trần Hữu Tước… đã đóng góp nhiều phát kiến quan trọng về kỹ thuật quân sự cũng như quân y giúp tăng năng lực của bộ đội ta trong thời kỳ kháng chiến. Trong giai đoạn khôi phục đất nước sau chiến tranh, trí thức kiều bào đã phát động phong trào vận động quyên góp sách báo, tài liệu khoa học kỹ thuật, trang thiết bị đã qua sử dụng gửi về nước. Tại một số quốc gia, các Hội nhóm khoa học kỹ thuật của người Việt đã cử thành viên về nước tìm hiểu nhu cầu, khả năng hợp tác, xây dựng các đề án, chương trình hợp tác với trong nước, huy động khả năng của cộng đồng kiều bào và bạn bè sở tại. Hiện nay, theo ước tính, số lượng người có trình độ đại học trở lên chiếm khoảng hơn 10% trong tổng số 5,3 triệu người Việt Nam ở nước ngoài, tương đương khoảng 600.000 người, gồm hai bộ phận là trí thức từ trong nước ra nước ngoài học tập, làm việc và trí thức là con em thế hệ thứ hai, thứ ba, thứ tư của người Việt ở sở tại, tập trung chủ yếu ở các nước phương Tây. Trong xu hướng phát triển chung của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài (NVNONN), lực lượng trí thức NVNONN tăng nhanh về lượng và chất, ngày càng thành đạt, có uy tín ở sở tại, đóng góp cho sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ của Việt Nam với bạn bè quốc tế. Với lợi thế được đào tạo bài bản ở các nước tiên tiến, có kinh nghiệm thực tiễn, làm việc trong môi trường khoa học, công nghệ phát triển cao, đặc biệt có quan hệ sâu rộng ở nước sở tại cũng như trên thế giới, trí thức kiều bào ta ở nước ngoài là lực lượng lao động đặc biệt quan trọng trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nền kinh tế tri thức. Đặc biệt, trong khoảng 15 năm trở lại đây, trí thức NVNONN đã và đang liên kết, tập hợp dưới hình thức các tổ chức hội, đoàn để phát huy sức mạnh tập thể, tăng cường đoàn kết trong cộng đồng. Những hội đoàn tiêu biểu có thể kể đến là Hội khoa học Gặp gỡ Việt Nam của GS. Trần Thanh Vân (kiều bào Pháp), Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu AVSE Global, Hội Thanh niên Sinh viên Việt Nam tại Hoa Kỳ, Mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam (hình thành từ Chương trình Kết nối mạng lưới đổi mới sáng tạo Việt Nam do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức tháng 8/2018) hay Mạng lưới người Việt có tầm ảnh hưởng (hình thành từ Diễn đàn người Việt có tầm ảnh hưởng do Bộ Ngoại giao và AVSE Global đồng chủ trì tháng 4/2019). Sự kết nối giữa người Việt trên toàn cầu đang tạo ra các cơ chế làm việc, hợp tác ngày càng linh hoạt cho các chuyên gia trong và ngoài nước khi tham gia vào các dự án, chương trình nằm trong chiến lược phát triển quốc gia của Việt Nam. Ngoài ra, đây là bước tiến quan trọng trong công tác thu hút nguồn lực trí tuệ của NVNONN, mở ra một hướng đi mới, không chỉ kết nối các chuyên gia, trí thức ở các nước lại với nhau để giao lưu, đóng góp về khoa học, học thuật mà còn kết nối mạng lưới trí thức kiều bào với các cơ quan, nhà khoa học, trung tâm nghiên cứu trong nước. CÔNG TÁC PHÁT HUY NGUỒN LỰC TRÍ THỨC NVNONN THỜI GIAN QUA Nhờ có những quyết sách đúng đắn, chỉ đạo sát sao của các cấp lãnh đạo, sự năng động, tích cực trong triển khai công tác của các cơ quan, công tác thu hút, phát huy nguồn lực trí thức NVNONN đã đạt một số thành tựu đáng ghi nhận. Lực lượng chuyên gia, trí thức, các nhà khoa học kiều bào luôn hướng về quê hương, chủ động bày tỏ nguyện vọng được đồng hành cùng Chính phủ và nhân dân trong nước đóng góp cho sự vươn lên mạnh mẽ của đất nước. Hằng năm trung bình có khoảng 300-500 lượt chuyên gia, trí thức, nhà khoa học NVNONN về nước tham gia các hoạt động khoa học và công nghệ, triển khai các dự án hợp tác trong giảng dạy, đào tạo nhân lực, nghiên cứu phát triển (R&D), đẩy mạnh ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam. Một số cá nhân chuyên gia, trí thức, nhà khoa học NVNONN tiêu biểu có thể kể đến như: GS. Trần Thanh Vân (kiều bào Pháp), Chủ tịch Hội Gặp gỡ Việt Nam, về nước thành lập Quỹ Học bổng Odon Vallet dành cho các sinh viên, học sinh trung học xuất sắc và các em ở các làng S.O.S Việt Nam trong cả nước, xây dựng Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE) tại Quy Nhơn, Bình Định để ươm mầm, nuôi dưỡng thế hệ tài năng trẻ của Việt Nam trong các lĩnh vực khoa học tự nhiên; TS. Nguyễn Thanh Mỹ (kiều bào Canada), thành lập Tập đoàn Mỹ Lan tại Trà Vinh - công ty công nghệ cao đầu tiên của khu vực, ứng dụng thành công nhiều sáng chế, đóng góp cho lĩnh vực nông nghiệp, giải quyết công ăn việc làm cho hàng trăm người lao động tại địa phương; TS. Bùi Hải Hưng (kiều bào Hoa Kỳ), nhà sáng chế trí tuệ nhân tạo tại Google với gần 100 công trình nghiên cứu khoa học và 10 bằng sáng chế về công nghệ được đánh giá cao tại Mỹ, trở về nước và đảm nhiệm vị trí Viện trưởng Viện nghiên cứu Trí tuệ nhân tạo VinAI và Giáo sư toán học Vũ Hà Văn (kiều bào Hoa Kỳ) đảm nhiệm vị trí Giám đốc Công nghệ Vintech thuộc Tập đoàn Vingroup… Ngoài ra, thời gian qua, các chuyên gia, trí thức, nhà khoa học NVNONN cũng tích cực đóng góp ý kiến cho Chính phủ nhằm từng bước tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc nảy sinh trong quá trình phát triển. Bốn chuyên gia NVNONN là thành viên Tổ Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng nhiệm kỳ 2016-2021, trực tiếp tham gia vào quá trình tham mưu, tư vấn chính sách hiệu quả nhằm giải quyết các vấn đề nổi lên trong thời gian qua như năng lượng sạch, công nghệ xanh, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo, ứng dụng thành tựu của Cách mạng công nghiệp 4.0 vào nâng cao năng suất, chất lượng… Đặc biệt, trong giai đoạn 2020-2021, khi đại dịch COVID-19 bùng phát và diễn biến phức tạp, các chuyên gia, trí thức kiều bào đã trực tiếp kết nối, vận động các cơ quan chính quyền, tổ chức, doanh nghiệp sở tại hỗ trợ vaccine cho Việt Nam và thúc đẩy chuyển giao công nghệ sản xuất vaccine, chia sẻ kinh nghiệm phòng chống dịch ở nước sở tại và đưa ra nhiều đề xuất, khuyến nghị hữu ích cho các cơ quan trung ương và địa phương trong nước. Hàng loạt chương trình trao đổi, tư vấn nhằm nâng cao hiệu quả công tác phòng chống dịch, bảo vệ sức khỏe cộng đồng giữa đội ngũ bác sĩ, chuyên gia kiều bào trong lĩnh vực y khoa với các cơ quan, người dân trong nước đã được triển khai tổ chức dưới hình thức trực tuyến. Có thể nói, sự đóng góp của các cá nhân NVNONN là chuyên gia, trí thức, nhà khoa học trong thời gian qua đã khẳng định tình yêu nước sâu nặng và tinh thần nhiệt huyết cháy bỏng luôn khát khao cống hiến trí tuệ cho quê hương, đất nước. Bên cạnh các kết quả đạt được, qua thực tiễn công tác, không thể phủ nhận còn tồn tại nhiều bất cập trong việc việc triển khai các cơ chế, chính sách về thu hút, trọng dụng cán bộ trí thức kiều bào, cụ thể: Về xây dựng chính sách, các chính sách đã được ban hành chưa đủ mạnh, vẫn thiên về trọng đãi hơn là trọng dụng và nhiều chế độ ưu đãi hiện nay không còn phát huy hiệu quả. Về tổ chức thực hiện chính sách, ở một số nơi, một số cấp, thủ tục hành chính rườm rà, phiền nhiễu cũng là rào cản đối với sự nhiệt tình đóng góp của trí thức kiều bào cho đất nước. Do đó, nhiều trí thức vẫn còn băn khoăn, nghi ngại, chưa yên tâm về làm việc lâu dài ở Việt Nam, thậm chí có một số trường hợp đã về nước làm việc ổn định nhưng lại phải trở ra nước ngoài. Về cơ sở dữ liệu NVNONN, hiện thiếu cơ sở dữ liệu quốc gia về NVNONN để các Bộ ngành, địa phương, doanh nghiệp có thể khai thác chung. Uỷ ban Nhà nước về NVNONN, Bộ Công thương, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giáo dục và Đào tạo, thành phố Hồ Chí Minh và một số cơ quan, địa phương đã có cơ sở dữ liệu riêng về chuyên gia, trí thức, doanh nhân nhưng do thiếu kinh phí, không cập nhật thường xuyên và không kết nối với nhau nên chưa phát huy được hiệu quả sử dụng cho các cơ quan trung ương và các địa phương. Về việc phối hợp giữa các cơ quan trong việc triển khai công tác thu hút nguồn lực NVNONN, hiện chưa có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các Bộ, ngành, địa phương để thực hiện hiệu quả công tác. Uỷ ban Nhà nước về NVNONN đã có cơ chế làm việc, trao đổi, ký thoả thuận hợp tác với Ban Dân vận Trung ương, Uỷ ban Trung ương Mặt trận tổ quốc Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, thành phố Hồ Chí Minh và các cơ quan truyền thông về phối hợp triển khai công tác NVNONN, tuy nhiên vẫn chưa thể xây dựng kế hoạch hợp tác, triển khai công tác một cách đồng bộ, hiệu quả hơn giữa các cấp, các ngành. Bên cạnh đó, môi trường làm việc chưa phù hợp, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nghiên cứu khoa học và môi trường học thuật chuyên nghiệp của trong nước còn hạn chế; khác biệt về thể chế; rào cản ngôn ngữ, nhận thức không tương đồng về các vấn đề, đặc biệt các vấn đề chuyên môn sâu giữa chuyên gia, trí thức NVNONN và các đồng nghiệp trong nước; các thông tin, ý kiến đóng góp và tư vấn của chuyên gia, trí thức kiều bào chưa được cơ quan chức năng nghiên cứu một cách nghiêm túc, có hệ thống và thường không có trao đổi, phản hồi hoặc tiếp thu, sử dụng có hiệu quả. CẦN CÓ CHUYỂN BIẾN THỰC CHẤT Trong những năm tới, tình hình thế giới và khu vực dự báo vẫn sẽ có nhiều diễn biến phức tạp, khó lường. Sự phát triển không ngừng của khoa học - công nghệ, đặc biệt sự bùng nổ của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đã khiến thế giới thay đổi nhanh chóng, các ngành công nghiệp tri thức đang gia tăng về số lượng. Các nước trên thế giới đã, đang và sẽ tiếp tục nhìn nhận một cách nghiêm túc việc cạnh tranh nhân tài bởi lực lượng này sẽ quyết định đến chất lượng và vị thế của quốc gia trên bản đồ thế giới. Điều này đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với việc thu hút các chuyên gia, trí thức làm việc trong bộ máy cơ quan nhà nước cũng như khu vực tư nhân trong nước. Về xu hướng phát triển và tiềm lực của cộng đồng, những năm tiếp theo, đội ngũ trí thức Việt Nam ở nước ngoài sẽ tiếp tục tăng về số lượng, đa dạng hơn về địa bàn cư trú, hội nhập sâu hơn vào xã hội sở tại, cơ cấu tiếp tục thay đổi. Nhìn chung, thế hệ trẻ sẽ thay thế dần lớp người lớn tuổi, dẫn tới một số thay đổi trong đặc điểm của trí thức NVNONN cũng như nhu cầu thực tiễn đặt ra cho công tác phát huy nguồn lực của đội ngũ này. Số lượng trí thức kiều bào thế hệ thứ 2,3,4 tăng lên nhanh chóng, tuy có lợi thế về chuyên môn và mạng lưới quan hệ ở sở tại nhưng mối liên hệ với quê hương lỏng lẻo hơn thế hệ trước, một bộ phận không nhỏ không biết tiếng và không am hiểu văn hóa Việt. Nhóm trí thức kiều bào trẻ là du học sinh ở lại có mối liên hệ gần gũi, chặt chẽ với quê hương sẽ là những nhân tố chủ yếu tác động tới thái độ, nhận thức của cộng đồng, cũng như sự gắn kết giữa cộng đồng NVNONN với đất nước, tuy nhiên, cũng là đối tượng dễ bị các đối tượng xấu lôi kéo vào các hoạt động đi ngược với lợi ích quốc gia. Ở trong nước, trên cơ sở đường lối phát triển đất nước được nêu tại Đại hội XIII của Đảng cũng như xuất phát từ nhu cầu thực tiễn được các bộ, ngành, địa phương đúc rút trong triển khai công tác, thời gian tới, nước ta sẽ chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, thu hút và trọng dụng nhân tài, thúc đẩy chuyển giao thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư… Thực tiễn này đặt ra nhu cầu cấp thiết cho Việt Nam cần khai thác tối đa, có hiệu quả các nguồn lực trong và ngoài nước để tận dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao đưa đất nước phát triển. Công tác về người Việt Nam ở nước ngoài, do đó, cũng cần có chuyển biến thực chất nhằm phát huy tối đa nguồn lực dồi dào của kiều bào, đặc biệt là nguồn lực tri thức, phục vụ cho sự nghiệp đổi mới của đất nước.

Trí tuệ nhân tạo - Thách thức của thời đại mới

Từ các nhà khoa học, chủ doanh nghiệp cho đến giới lãnh đạo các nước lần lượt lên tiếng bày tỏ lo ngại về những rủi ro mà AI đem đến. Mới đây, Cơ quan Cảnh sát châu Âu (Europol) gióng hồi chuông cảnh báo về nguy cơ sử dụng sản phẩm AI vào các âm mưu lừa đảo qua thư, giả mạo thông tin. Hơn 1.000 người bao gồm các chủ doanh nghiệp, chuyên gia và nhà nghiên cứu trong lĩnh vực AI cũng đã ký vào một bức thư ngỏ kêu gọi tạm dừng 6 tháng việc huấn luyện các mô hình AI mạnh hơn GPT-4 mà Công ty OpenAI vừa cho ra mắt. Bức thư nhấn mạnh rằng, cần tạm ngừng phát triển các hệ thống AI tiên tiến cho đến khi những quy định về an toàn mới dành cho thiết kế AI được phát triển, thực thi và giám sát bởi các chuyên gia độc lập. Không thể phủ nhận rằng, AI đang ngày càng chứng minh là một công cụ đắc lực hỗ trợ người lao động và tạo thuận lợi cho cuộc sống của con người. Song, các sản phẩm công nghệ này giống như “con dao hai lưỡi” khi khơi mào một cuộc chiến cam go mới giữa các đối tượng tội phạm công nghệ cao và lực lượng bảo vệ an ninh mạng. Các chuyên gia an ninh mạng Australia cảnh báo, tin tặc đang sử dụng ứng dụng trò chuyện ChatGPT để tạo ra các email lừa đảo “thật” đến mức ngay cả những nhân viên được đào tạo bài bản về bảo mật của một công ty cũng bị mắc bẫy. Giám đốc kinh doanh tại VMware Australia, ông Darren Reid cho biết, một khi tội phạm mạng đã xâm nhập được vào hệ thống máy tính của một tổ chức, chúng sẽ sử dụng AI để tránh bị phát hiện và tiếp tục mở rộng tấn công. Một nghiên cứu được Công ty phần mềm và an ninh mạng BlackBerry (có trụ sở tại Canada) công bố đầu năm nay cho thấy, 51% trong số 1.500 chuyên gia công nghệ thông tin đến từ nhiều nước dự báo rằng, ChatGPT có thể gây ra một vụ tấn công mạng trong vòng một năm tới. Gần đây, không ít đối tượng tội phạm đã sử dụng Deepfake để lừa đảo. Deepfake là công nghệ ứng dụng AI tạo ra các sản phẩm công nghệ âm thanh, hình ảnh và video làm giả đối tượng ngoài đời thực với độ chính xác rất cao. Bên cạnh việc bị tội phạm mạng lợi dụng để thực hiện các âm mưu phi pháp như lừa đảo trực tuyến hoặc viết phần mềm độc hại, các sản phẩm công nghệ AI còn đặt ra nhiều thách thức như nguy cơ gian lận học vấn, rò rỉ dữ liệu, vi phạm quyền riêng tư, xóa sổ các vị trí việc làm... Trong một nỗ lực nhằm lấp đầy những kẽ hở từ AI và giúp con người thật sự làm chủ công nghệ, các quốc gia đang thúc đẩy xây dựng những bộ luật để tăng cường quản lý AI. Ủy ban AI thuộc Phòng Thương mại Mỹ đã thúc giục Quốc hội sớm xây dựng quy định đối với các công cụ AI và nên xem đây là ưu tiên hàng đầu. Chính phủ Anh công bố Sách trắng bao gồm các hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện những quy định liên quan đến AI. Trong Sách trắng trình Quốc hội, Bộ Khoa học, Đổi mới và Công nghệ Anh nêu năm nguyên tắc mà cơ quan này muốn các công ty tuân thủ. Đó là an toàn, bảo mật và mạnh mẽ; minh bạch và có khả năng giải thích; công bằng; trách nhiệm giải trình và quản trị; khả năng cạnh tranh và khắc phục. Chính phủ Australia cũng ra mắt một mạng lưới nhằm giúp các công ty sử dụng và phát triển AI một cách an toàn, có đạo đức. Theo đó, mạng lưới AI này sẽ cung cấp các dịch vụ độc đáo như hướng dẫn và huấn luyện thực tế về luật, tiêu chuẩn, nguyên tắc quản trị, lãnh đạo... về công nghệ này. Giới chuyên gia Australia dự báo rằng, AI có thể đóng góp đến 14,7 nghìn tỷ USD cho nền kinh tế toàn cầu vào năm 2030. AI nói riêng và công nghệ cao nói chung mang đến những cơ hội lẫn thách thức cho người sử dụng. Yêu cầu đặt ra là cần kiểm soát để phát triển các sản phẩm công nghệ cao một cách có trách nhiệm, bởi việc không thể điều chỉnh, làm chủ được công nghệ sẽ kéo theo hệ quả khôn lường, gây tổn thất cho nền kinh tế và làm ảnh hưởng đến mỗi cá nhân cũng như toàn xã hội./.

Xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ quân đội lần thứ XI.

 

Quân đội nhân dân Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, lãnh đạo, giáo dục và rèn luyện. Là lực lượng vũ trang cách mạng mang bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc. Khi thành lập chỉ có 34 chiến sĩ với vũ khí thô sơ, theo thời gian Quân đội ta ngày càng lớn mạnh, trưởng thành; cùng nhân dân ta đánh thắng hai đế quốc to, lập nên những chiến công “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”; thực hiện thắng lợi cuộc chiến tranh nhân dân chống quân xâm lược phía Bắc bảo vệ tổ quốc; thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quốc tế cao cả; cùng Đảng, Nhà nước và nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới, kiến thiết, xây dựng đất nước giành được nhiều kết quả to lớn; bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc...

Hiện nay, trước diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường của tình hình khu vực và thế giới. Mặc dù hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế chung, nhưng cũng đang gặp không ít trở ngại; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra gay gắt; các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng nghiêm trọng hơn. Nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, nhất là bảo vệ chủ quyền biển, đảo đứng trước nhiều khó khăn, thách thức mới; các thế lực thù địch, phản động với các thủ đoạn ngày càng tinh vi, thâm hiểm tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ và Quân đội ta, công khai, trực diện hơn...

Trong bối cảnh đó Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI với chủ đề: “Xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh tiêu biểu; xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, một số quân chủng, binh chủng, lực lượng tiến thẳng lên hiện đại; phấn đấu từ năm 2030 xây dựng Quân đội hiện đại, làm nòng cốt xây dựng nền quốc phòng toàn dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước”.

Đại hội Đảng bộ quân đội lần thứ XI xác định: “Xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị gắn bó máu thịt với nhân dân, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu của toàn quân”.

Đây là nội dung có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là căn cốt trong chủ trương, đường lối xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam xuyên suốt qua các thời kỳ. Giải pháp này được xác định trên cơ sở quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tiễn quá trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta.

Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra: Sức mạnh của quân đội cách mạng là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố: Con người, vũ khí, trang bị, nghệ thuật quân sự… trong đó yếu tố chính trị - tinh thần có ý nghĩa quyết định. Khi bàn về vấn đề này, V.I. Lênin khẳng định: “Trong mọi cuộc chiến tranh, rốt cuộc thắng lợi đều tùy thuộc vào tinh thần của quần chúng đang đổ máu trên chiến trường”[1]. Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo Chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam, Người khẳng định: “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”[2]. Trong  xây dựng Quân đội nhân dân, với tư tưởng “Người trước, súng sau”; nhiệm vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị; trong Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, Người chỉ rõ: Tên ĐỘI VIỆT NAM TUYÊN TRUYỀN GIẢI PHÓNG QUÂN nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự.”[3]. Tư tưởng đó được thực tiễn kiểm nghiệm, chứng minh hoàn toàn đúng đắn, đồng thời thống nhất với quan điểm của Đảng, trở thành đường lối, nguyên tắc chỉ đạo, phương châm hành động trong suốt quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Quân đội ta: Xây dựng quân đội vững mạnh toàn diện, lấy xây dựng về chính trị làm cơ sở.

Xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị thực chất là xây dựng và giữ vững bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc sâu sắc, bảo đảm cho Quân đội luôn là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân; là đội quân cách mạng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, mang bản chất giai cấp công nhân.

Những năm qua dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Quân đội ta không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, thực sự là đội quân cách mạng, của dân, do nhân dân và vì nhân dân;  luôn luôn “trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”[4], xứng đáng với danh hiệu “Bộ đội Cụ Hồ” mà nhân dân đã trao tặng.

Hiện nay, tình hình thế giới, khu vực, nhất là tình hình Biển Đông tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường; tính chất, nhiệm vụ của Quân đội ta có những bước phát triển mới; kế thừa và phát huy bài học kinh nghiệm qua quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của quân đội ta, khẳng định: Trong tình hình hiện nay, xây dựng quân đội ta về chính trị, trước hết phải không ngừng tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội.Trên cơ sở đó, Bộ Chính trị, Quân uỷ Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị và cấp ủy, chỉ huy các cấp đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kế hoạch và hướng dẫn nhằm tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội.

Để nâng cao chất lượng xây dựng quân đội về chính trị thì phải tạo được sự đồng thuận cao cả về nhận thức, tư tưởng và hành động của cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân. Để làm được điều đó cần thực hiện tốt một số nội dung cụ thể mà Đại hội đã xác định sau:

Một là, đổi mới công tác giáo dục chính trị tại đơn vị trong giai đoạn mới; xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị kiên định, vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân có ý chí quyết tâm chiến đấu cao, sẵn sàng nhận và hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao. Chủ động đấu tranh phòng, chống những biểu hiện “tự diễn biến” “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

Hai là, đẩy mạnh thực hiện Cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” thời kỳ mới. Kết hợp chặt chẽ giữa thực hiện tốt cuộc vận động với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các phong trào thi đua, các cuộc vận động của toàn quân, toàn quốc bằng nhiều mô hình, cách làm sáng tạo, phù hợp, hiệu quả Tiếp tục thực hiện phong trào thi đua "Dân vận khéo", góp phần củng cố, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Nhân dân với Đảng.

Ba là, triển khai thực hiện tốt chính sách đối với Quân đội và hậu phương quân dội. Huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực xã hội trong các hoạt động “đền ơn, đáp nghĩa”, thực hiện chính sách đối với người có công với cách mạng tạo sức lan tỏa sâu rộng, giải quyết chính sách tồn đọng sau chiến tranh, đổi mới công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho các đối tượng.

Bốn là, chăm lo xây dựng các tổ chức thanh niên, phụ nữ, cộng đoàn và Hội đồng quân nhân vững mạnh, hoạt động dùng chức năng, nhiệm vụ. Chỉ đạo thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường đối thoại, giải quyết kịp thời các vướng mắc, nảy sinh, không để xảy ra những vấn đề bức xúc, nổi cộm.

Ngày nay, trước sự vận động, biến đổi của thực tiễn, xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị đang đặt ra nhiều vấn đề mới cả về lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu, luận giải thấu đáo, có cơ sở khoa học. Tuy nhiên, bất luận trong hoàn cảnh nào, việc xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh về chính trị luôn là một nguyên tắc cơ bản, hàng đầu, cần được quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ. Đây là cơ sở để Đảng, Nhà nước ta tiếp tục vận dụng vào xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị, gắn bó máu thịt với nhân dân, làm cơ sở nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu, bảo đảm cho Quân đội ta thực sự là lực lượng chính trị trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, sẵn sàng nhận, hoàn thành tốt nhiệm vụ trong tình hình mới.



[1] V.I. Lê-nin, Toàn tập, , Nxb. Tiến Bộ, M. 1977, t. 41, tr. 147.

[2] Hồ Chí Minh, Toàn tậpNxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H. 2011, t. 7, tr. 217.

[3] Hồ Chí Minh, Toàn tậpNxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H. 2011, t. 3, tr. 539.

[4] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia - Sự thật, H. 2000, t. 11, tr.,350.

Để làm “đày tớ” của dân, người cán bộ phải làm gì?

Trên báo Le Paria số 4, ngày 1/7/1922, trong nguyên bản tiếng Pháp bài báo Thù ghét chủng tộc tác giả dùng hai chữ “con gái” bằng tiếng Việt (1). Trên báo L’Humanité ngày 17/8/1922, trong nguyên bản bài Dưới sự bảo hộ của… các chữ “nhà quê”, “Quan lớn”, “lính lệ” viết bằng tiếng Việt (2). Trong truyện Vi hành chữ “dân” viết bằng tiếng Việt. Đặc biệt hai chữ “nhà quê” được tác giả đều viết bằng tiếng Việt trong các văn bản tiếng Pháp. Không phải là trong tiếng Pháp không có từ tương ứng mà tác giả có dụng ý hẳn hoi. Có thể là từ ấy quen với người Pháp ở An Nam, ví dụ hai chữ “con gái” thường xuất hiện trong các bài báo tiếng Pháp là do người Pháp nuôi những thiếu nữ người Việt vừa để hầu hạ vừa làm trò chơi, họ gọi những người này bằng âm tiếng Việt. Hai chữ “nhà quê” thì mang sắc thái biểu cảm rõ ràng, trong văn cảnh cụ thể thì có thể đó là sắc thái mỉa mai những tên thực dân khinh thường dân An Nam thuộc địa hoặc có thể là tâm trạng xót xa của người viết trước cảnh đồng bào mình bị bóc lột tàn tệ… Sau này khi là Chủ tịch Nước Bác nhắc cán bộ: “Các chú nên nhớ rằng Bác làm Chủ tịch, Chủ tịch cũng là đầy tớ của nhân dân, phải phục vụ nhân dân vô điều kiện” (3). Đối với nhân dân nói chung Người gọi bằng hai chữ “đồng bào” thân thiết, trong giao tiếp bao giờ Người cũng nhất quán với nguyên tắc là người trong một nhà: “Thưa đồng bào thân mến. Sáng nay, một đồng chí cán bộ mời tôi đi “ra mắt cử tri”. Tôi trả lời: đã bao nhiêu năm lòng tôi luôn ở cạnh đồng bào và tôi tin rằng lòng đồng bào cũng luôn luôn ở cạnh tôi. Xa lạ gì mà phải ra mắt?” (4). Thật chân tình gần gũi và ân nghĩa biết bao. Nguyên tắc trong giao tiếp của Người với đồng chí luôn là nguyên tắc song hành vừa là tình cảm trong nhà vừa là công việc chung, việc quốc gia. Tuy là Chủ tịch Nước nhưng khi tiếp xúc với mọi người thì không ai nhận thấy Bác là nhà lãnh đạo, mà đó là một con người đích thực, dân giã, hòa đồng. Không hề có một khoảng cách với người dân, đấy là một phẩm chất của nghệ sĩ đích thực, vì nghệ sĩ bao giờ cũng ở giữa lòng dân. Nhà thơ Nông Quốc Chấn kể, tháng 2/1951 Bác đến Bắc Kạn. Mấy hàng dây chăng ngang dọc trước lễ đài sắp đứt vì đồng bào chen lấn xem Bác. Bác nói với bảo vệ: “Các chú dỡ hàng dây ngăn này đi!”. Miệng nói tay làm, Bác nhổ hai cọc trước mặt, quần chúng liền tiến vào sát Bác” (5). Ngày 6/1/1946 Bác về thăm làng An Thái (phường Bưởi - Hà Nội). Một cụ già mặc áo nâu, lưng còng, tóc bạc phơ, tay chống gậy tre lập cập từ ngõ trong ra. Thấy Bác, cụ xúc động làm rơi chiếc gậy xuống đường. Thấy vậy Bác Hồ cúi xuống cầm chiếc gậy ân cần đưa tận tay cụ” (6). Thấy lao công quét rác suốt đêm, Bác ra nước ngoài xin một giống cây mà Bác gọi là “cây xanh bốn mùa”. Về nước Bác trao gói giống cho người phục vụ và dặn “Đây là loài cây mà mùa đông ít rụng lá. Chú trồng thử xem. Nếu chịu được khí hậu nước ta và xanh tốt thì sau này đem trồng dọc các phố, mùa đông vừa có cây xanh, vừa đỡ vất vả cho người lao công quét đường” (7). Tình thương người, tình yêu nhân loại cần lao luôn là bệ phóng để cho tâm hồn nghệ sĩ thăng hoa, cất cánh; luôn là chất men nồng để chưng cất thành thứ rượu nghệ thuật tinh khiết, đậm đà. Đối với dân chúng Pháp, Mỹ và binh lính Pháp, Mỹ vì phải nghe lệnh bọn thực dân đế quốc mà phải cầm súng đi xâm lược, Người gọi họ là “các bạn”: “Dân chúng Pháp... Chúng tôi yêu chuộng các bạn, và muốn thành thực hợp tác với các bạn trong khối Liên hiệp Pháp...

Phản bác các luận điệu xuyên tạc công tác cán bộ

Trong suốt tiến trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam dù là trong thời kỳ đấu tranh giành độc lập dân tộc hay trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, Đảng ta luôn quán triệt tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Do đó, công tác cán bộ cũng luôn được Đảng xác định là khâu “then chốt” trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác cán bộ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, ngay từ Đại hội VI, Đảng ta đã chỉ rõ: Đổi mới cán bộ lãnh đạo các cấp là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng ta phải nắm chắc để thúc đẩy những cuộc cải cách có ý nghĩa cách mạng. Trải qua 10 năm đổi mới, đến Đại hội VIII, trong Văn kiện Đại hội Đảng xác định chủ trương phải: “Sớm xây dựng cho được một chiến lược cán bộ của thời kỳ mới”. Đến Đại hội X, từ thực tiễn xây dựng Đảng qua 20 năm đổi mới, một trong những bài học kinh nghiệm được Đảng rút ra là: “Đảng phải chăm lo xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đủ bản lĩnh chính trị, phẩm chất, trí tuệ và năng lực hoạt động thực tiễn để hoàn thành nhiệm vụ. Phải tạo sự chuyển biến thực sự và đồng bộ trong công tác cán bộ trên tất cả các khâu đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, sử dụng và chính sách. Đặc biệt coi trọng xây dựng cán bộ chủ chốt”. Tại Đại hội XIII, chủ trương, đường lối của Đảng về công tác cán bộ có những bước phát triển lớn khi một trong những nhiệm vụ trọng tâm mà Đảng xác định cần phải thực hiện để đưa đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới là: “Đặc biệt coi trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác cán bộ-nội dung then chốt trong công tác xây dựng Đảng. Tập trung xây dựng đội ngũ các cấp nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu các cấp đủ phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ”. Cũng trong nhiệm kỳ Đại hội XIII, nhằm tạo bước đột phá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 41-QĐ/TW, ngày 3/11/2021 về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ thay thế cho Quy định số 260-QĐ/TW, ngày 2/10/2009 về việc thôi giữ chức vụ, miễn nhiệm, từ chức của cán bộ, một mặt nhằm khắc phục những điểm chưa phù hợp của Quy định số 260-QĐ/TW nhưng mặt khác cũng thể hiện quyết tâm chính trị của Đảng trong việc xử lý các cán bộ theo hình thức miễn nhiệm, từ chức, từ đó góp phần bổ sung, hoàn thiện hơn nữa các khâu, các quy trình trong công tác cán bộ. Nhờ những chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ, công tác cán bộ ở nước ta đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận. Quy trình công tác cán bộ ngày càng chặt chẽ, đồng bộ, công khai, minh bạch và ngày càng dân chủ hơn. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu cũng không tránh khỏi việc còn tồn tại một số các hạn chế, yếu kém. Lợi dụng chính các hạn chế, thiếu sót trong công tác cán bộ, các thế lực thù địch đã ra sức tuyên truyền các quan điểm sai trái, xuyên tạc hòng chống phá công tác cán bộ của Đảng. Đặc biệt, thời gian qua, trước việc Đảng ta kiên quyết xử lý kỷ luật một số cán bộ cấp cao vì những sai phạm,những luận điệu xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng lại càng được lợi dụng triệt để. Trên thực tế, trong công tác cán bộ thời gian vừa qua vẫn còn tồn tại một số hạn chế, thiếu sót. Những sai phạm trong thực hiện quy trình cán bộ liên quan đến việc quy hoạch, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, bố trí, sử dụng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật… vẫn còn xảy ra một số cơ quan, đơn vị gây bức xúc trong dư luận xã hội. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII chỉ rõ: “Một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa tiên phong, gương mẫu; tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ vẫn còn diễn biến phức tạp. Tự phê bình và phê bình ở nhiều nơi còn hình thức. Thực hiện trách nhiệm nêu gương, nhất là của người đứng đầu chưa tạo được sự lan tỏa sâu rộng”. Những hạn chế này có nguyên nhân là bởi một số khâu trong công tác cán bộ chậm được đổi mới; chính sách cán bộ chưa thật sự tạo động lực để cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc; chưa có cơ chế hiệu quả để bảo vệ cán bộ dám đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm… Tuy nhiên, nguyên nhân chủ yếu vẫn là do nhận thức và năng lực thể chế hóa, cụ thể hóa, tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng về công tác cán bộ của người đứng đầu ở nhiều cơ quan, tổ chức, đơn vị còn yếu kém và trong nhiều trường hợp còn chịu sự chi phối bởi lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ dẫn đến sai sót trong việc thực hiện các quy trình của công tác cán bộ. Đặc biệt, đối với những cán bộ, đảng viên sai phạm bị xử lý, kỷ luật là do chính họ không chịu tu dưỡng, rèn luyện đạo đức dẫn đến những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” làm tổn hại đến lợi ích của đất nước, nhân dân. Đó tuyệt đối không phải là sai lầm của chủ trương, đường lối trong công tác cán bộ của Đảng, lại càng không phải là biểu hiện mất dân chủ, thiếu minh bạch, “áo gấm đi đêm” vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ… như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, tuyên truyền. Mặc dù ra sức tung tin xấu độc, thật giả lẫn lộn, đào sâu, khuếch trương một số hạn chế, bất cập trong công tác cán bộ hòng dẫn dắt dư luận, làm rối loạn chính trị - xã hội, gây mất lòng tin của nhân dân với Đảng, Nhà nước thì các thế lực thù địch cũng không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà chúng ta đã đạt được trong công tác cán bộ như Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: Công tác cán bộ có nhiều đổi mới, được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo toàn diện, đồng bộ và đạt một số kết quả quan trọng; về tổng thể, đội ngũ cán bộ đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình mới; từng bước hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ; xây dựng, bổ sung, sửa đổi và ban hành mới nhiều quy định, quy chế về đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử và kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; quy trình công tác cán bộ tiếp tục được đổi mới, trong nhiệm kỳ đã đẩy mạnh thí điểm đổi mới cách tuyển chọn cán bộ lãnh đạo, quản lý, bảo đảm dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, chặt chẽ hơn. Việc chống chạy chức, chạy quyền được coi trọng, có chuyển biến; công tác điều động, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp được chú trọng và đổi mới, gắn với nhu cầu thực tiễn… Để đẩy mạnh xây dựng, hoàn thiện đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, người đứng đầu đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định cần thiết phải triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp cụ thể như sau: Tiếp tục hoàn thiện thể chế Đảng lãnh đạo trực tiếp, hoàn thiện công tác cán bộ đồng thời đẩy mạnh phân cấp, phân quyền về công tác cán bộ; tăng cường kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong từng khâu của công tác cán bộ đặc biệt là đối với người đứng đầu cấp ủy, chống chạy chức, chạy quyền; hoàn thiện thể chế về công tác cán bộ, tiêu chuẩn, chức danh, tiêu chí, cơ chế đánh giá cán bộ; xây dựng, hoàn thiện cơ chế khuyến khích, bảo vệ những cán bộ dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới, sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, hành động quyết liệt vì những lợi ích chung; xử lý nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với kỷ luật Nhà nước cũng như xử lý bằng pháp luật đối với những cán bộ vi phạm kể cả khi cán bộ đó đã chuyển công tác hoặc đã nghỉ hưu; đẩy mạnh hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo động lực cho cán bộ toàn tâm, toàn ý với công việc được giao; thực sự coi trọng và thực hiện có hiệu quả công tác bảo vệ cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ đồng thời kiên quyết phòng, chống các biểu hiện bè phái, lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ và việc lợi dụng các loại hình phương tiện truyền thông đại chúng để xuyên tạc sự thật về công tác cán bộ nhằm mục đích kích động, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ… Cần phải nhận thức rõ một thực tế là: không phải ngẫu nhiên một trong các trọng tâm các thế lực thù địch, phản động tập trung chống phá là công tác cán bộ bởi “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là một chân lý nhất định”; Công tác cán bộ là “then chốt của then chốt”. Điều này đồng nghĩa với việc nếu sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với công tác cán bộ không được ngăn chặn, phản bác kịp thời và hiệu quả sẽ nguy cơ gây rối loạn chính trị - xã hội, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Do đó, kịp thời nhận diện và đấu tranh phản bác có hiệu quả những luận điệu sai trái, xuyên tạc về công tác cán bộ của Đảng là góp phần không nhỏ trong cuộc đấu tranh bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ./.