Thứ Ba, 11 tháng 4, 2023

Lời Bác dạy: Ngày 2/4

 


 “…Trong lúc lật đổ những tường vách cũ kỹ và đang xây đắp những ngôi lâu đài mới thì chắc chắn không khỏi có những mụn bào gạch bể và những thứ ghét rác khác. Chúng ta sẽ quét sạch dần dần…” .

Trích trong thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời ông Hoàng Phan Kính và ông Trần Lê Hữu ngày 2 tháng 4 năm 1949. Bản chất câu nói đó của Bác, chính là sự đổi mới. Đổi mới là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội cũng như trong tư duy. Đổi mới là thay đổi cách nghĩ, cách làm cũ đã lỗi thời, lạc hậu, bằng cách nghĩ, cách làm mới khoa học hơn, hiệu quả hơn, hợp với quy luật của sự phát triển, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin vào điều kiện thực tiễn cách mạng Việt Nam, kế thừa những kinh nghiệm, nghệ thuật trong lịch sử dựng nước, giữ nước của cha, ông; tiếp thu có chọn lọc những tinh hoa nhân loại, Bác đã cùng với Trung ương Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam giành được những thắng lợi vĩ đại trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và trong công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, Đảng ta đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, với bước đi, hình thức và cách làm phù hợp, không nôn nóng, đốt cháy giai đoạn, không phủ định sạch trơn… với mục tiêu: Phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt, phát triển văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, quốc phòng - an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên đã và đang đạt được những thành tựu có ý nghĩa quan trọng.

Nhìn lại chặng đường hơn 30 năm đổi, Đảng ta đã đánh giá và rút ra những bài học kinh nghiệm quý báu; đó là: Trong quá trình đổi mới phải chủ động, không ngừng sáng tạo trên cơ sở kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kế thừa và phát huy truyền thống dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với Việt Nam. Cùng với đổi mới và phát triển, phải kiên quyết đấu tranh xóa bỏ những tàn dư của xã hội cũ, nhất là những tập tục, nếp nghĩ, cách làm đã lạc hậu; đổi mới, phát triển, đồng thời phải biết kế thừa những tinh hoa, truyền thống tốt đẹp...

Thấm nhuần lời Bác dạy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước, mà thường xuyên, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, toàn quân đã luôn đề cao tinh thần đổi mới, sáng tạo, vượt mọi khó khăn, phấn đấu hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, trong lộ trình tiến lên hiện đại đã lựa chọn, ưu tiên, đầu tư cho một số quân, binh chủng, vừa bảo đảm việc tăng cường sức mạnh và tiềm lực quân sự, quốc phòng của đất nước, vừa không ảnh hưởng đến bảo đảm an sinh xã hội. Trên mọi lĩnh vực công tác, mỗi cán bộ, chiến sĩ quân đội phải tích cực học tập, nghiên cứu, không ngừng đổi mới, sáng tạo, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, huấn luyện, khai thác, làm chủ các loại vũ khí, khí tài, trang bị kỹ thuật hiện có và mới, hiện đại được biên chế, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng tốt yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Lời Bác dạy: Ngày 1/4

 


“Trí tuệ và sáng kiến của quần chúng là vô cùng tận”.

Câu trên được trích trong lưu bút của Chủ tịch Hồ Chí Minh ghi tại cuộc triển lãm ngành Hậu cần Quân đội ngày 1-4-1958. Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy nguồn lực vật chất (tài nguyên thiên nhiên, vốn liếng...) là hữu hạn; còn nguồn lực trí tuệ, khả năng sáng tạo của con người là vô hạn. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, trên cương vị là Chủ tịch nước, Người đã có bài viết với tiêu đề “Tìm người tài-đức” đăng trên Báo Cứu quốc. Bài viết thể hiện sự quan tâm, trân trọng, ghi nhận, đánh giá cao, sử dụng trí thức trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước; thể hiện rõ quan điểm của Hồ Chí Minh về sự cần thiết phải sớm đoàn kết, tập hợp đội ngũ trí thức trong nước và thu hút trí thức Việt kiều ở nước ngoài, tạo điều kiện tối đa cho trí thức phát huy tài năng, kiến thức của mình phục vụ đất nước, phục vụ nhân dân.

Phát huy truyền thống, kế thừa những giá trị nhân văn sâu sắc mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, chương trình quốc gia và đầu tư cơ sở vật chất thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, thể hiện sự quan tâm sâu sắc và đánh giá cao vai trò của trí thức, của khoa học công nghệ, coi đây là nguồn lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, từng bước đưa kinh tế tri thức giữ vai trò chủ đạo trong tỷ trọng tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân.

Học tập và làm theo lời Bác dạy, cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo và phát động trong cán bộ, chiến sĩ đơn vị tích cực hưởng ứng, thực hiện có hiệu quả các hoạt động nghiên cứu khoa học, phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, tiến quân vào khoa học công nghệ… Hằng năm, toàn quân có hàng nghìn đề tài, công trình, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật được đưa vào ứng dụng đạt hiệu quả thiết thực, làm lợi cho Nhà nước, quân đội nhiều tỷ đồng, góp phần nâng cao chất lượng huấn luyện, SSCĐ, xây dựng quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, nhất là tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, đòi hỏi lãnh đạo, chỉ huy các cấp, các cơ quan, đơn vị và mọi cán bộ, chiến sĩ phải luôn phát huy tiềm năng trí tuệ, sáng kiến, cải tiến kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng huấn luyện, SSCĐ, xây dựng đơn vị VMTD, thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ được giao.

CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ CHÍNH SÁCH HÒA GIẢI, HÒA HỢP DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM


Cách đây 48 năm, ngày 30-4-1975, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc lập đã đánh dấu chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Đây là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX.
Hàng năm, mỗi dịp đất nước kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thì các tổ chức phản động, các phần tử cực đoan chính trị lại rêu rao những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Cùng với sự trợ giúp của các tổ chức phản động và chiến lược diễn biến hòa bình, tần suất chống phá ngày một gia tăng, nhất là trên không gian mạng. Mục đích chính của chúng là kích động lòng thù hận trong các thế hệ và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các tổ chức khủng bố như Việt Tân, Triều đại Việt đã triệt để tận dụng mạng internet để tạo các luồng thông tin ngược dòng lịch sử, phủ nhận chiến thắng vĩ đại 30-4, xuyên tạc thành tựu của đất nước trong công cuộc xây dựng, đổi mới. Chúng thường xuyên lặp lại những câu từ sáo rỗng như: “30-4 là ngày quốc hận”, đòi hỏi “phục quốc”; suy diễn, đánh tráo bản chất của cuộc chiến bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân ta là “cuộc nội chiến”, chiến tranh “ý thức hệ”.
Trước hết, phải khẳng định rằng, đó là những luận điệu hoàn toàn sai trái, phủ nhận sạch trơn mọi sự hy sinh của thế hệ cha ông để đất nước có được hòa bình, độc lập, thống nhất và phát triển như hôm nay. Trải qua gần 50 năm, kể từ chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam trước đế quốc Mỹ hùng cường, các thế hệ người dân Việt Nam càng cảm nhận đầy đủ và sâu sắc giá trị của chiến công chói lọi mang tầm vóc thời đại này.
Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự sụp đổ của chế độ ngụy quyền Sài Gòn với hình thức chính thể “Việt Nam cộng hòa” trong cơn bão táp cách mạng giải phóng miền Nam 30/4/1975 là bằng chứng rõ ràng về sự phá sản, thất bại của chủ nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa đế quốc. Đó là sự phá sản, thất bại của các thế lực xâm lược bên ngoài hòng áp đặt ách thống trị, nô dịch, áp bức, bóc lột Nhân dân ta ở miền Nam, được ngụy trang và biện minh bằng những lời lẽ tốt đẹp, những “học thuyết” và “chính sách” tô vẽ cho dân chủ, tự do, cho tiến bộ và phát triển đầy giả dối theo hệ giá trị của Mỹ.
Đã có rất nhiều tiếng nói từ những người ở phía bên kia chiến tuyến sau này thừa nhận sai lầm của họ và ghi nhận chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc Việt Nam cũng như chiến công của những người cộng sản. Ngay cựu Thủ tướng Việt Nam cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ khi nhận xét về việc một số người gọi ngày 30/4 là ngày “quốc hận” và đòi “phục quốc”, ông đã nói rằng: “Thống nhất xứ sở là nhiệm vụ lịch sử của mỗi một người con Việt Nam nhưng chúng tôi đã không làm được. Những người anh em phía bên kia đã làm được, phải chấp nhận đó là lịch sử và đất nước đã được thống nhất rồi. Vậy mà còn quay ra nói phục quốc? Nước Việt Nam có mất cho Tây đâu mà phục quốc?”. Chiến thắng 30/4/1975 là sự khẳng định với toàn thể thế giới về ý chí, nghị lực, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đấu tranh vì độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất non sông. Khát vọng thống nhất đất nước, bảo vệ chủ quyền là một sức mạnh vô song có thể giúp một dân tộc nhỏ, với tính chính nghĩa làm nên những chiến công hiển hách, vĩ đại.
Cùng với đó có thể khẳng định chắc chắn rằng cuộc chiến 1954-1975 không phải một cuộc nội chiến, bởi lẽ với sự có mặt gần 1 triệu lượt binh lính nước ngoài thuộc 7 nước liên quân, trong đó, hơn 50 vạn quân Mỹ trong suốt cuộc chiến. Chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm sẽ không thể thành lập nếu không có sự giúp đỡ, hậu thuẫn của Mỹ và hơn thế nữa, Hoa Kỳ đã bỏ ra hơn 900 tỷ USD thời điểm đó, 53.000 nhân mạng cho cái mà chúng gọi là "cuộc nội chiến". Lịch sử đã chỉ rõ, từ năm 1949, Mỹ bắt đầu can thiệp, giúp đỡ thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) và Hiệp định Geneve (21/7/1954), Pháp buộc phải rút quân về nước, Mỹ thay chân Pháp, dựng lên chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm với mục đích phá hoại Hiệp định Genève, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. Thực chất đây là cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, không phải là “nội chiến” hay chiến tranh “ý thức hệ”. Đối với dân tộc Việt Nam, đây là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Những quan điểm, luận điệu, yêu sách sai trái, tiêu cực không phải xuất phát từ thiện chí hòa hợp, hòa giải dân tộc mà chỉ là một thủ đoạn để khoét sâu hận thù, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của những thế lực chống phá đất nước. Hơn ai hết, thế hệ trẻ - những người gắn bó mật thiết với sự phát triển của khoa học, công nghệ - cần tỉnh táo, tiên phong trong việc phản bác lại những quan điểm sai trái, đi ngược lại giá trị của dân tộc Việt Nam, những ý kiến lạc lõng, xuyên tạc về ý nghĩa lịch sử của Chiến thắng đó, cần phải kiên quyết đấu tranh, bác bỏ. Dù chúng cố tình xuyên tạc, bóp méo thì cũng không thể làm lu mờ giá trị, ý nghĩa của sự kiện 30/4/1975 đối với tiến trình phát triển đất nước Việt Nam từ cội nguồn ...

CẢNH GIÁC VỚI NHỮNG LUẬN ĐIỆU LỢI DỤNG CHỐNG THAM NHŨNG ĐỂ XUYÊN TẠC CHỐNG PHÁ ĐẢNG VÀ CÁCH MẠNG NƯỚC TA

 


 

Tham nhũng là vấn đề nhức nhối của rất nhiều quốc gia trên thế giới, gây ra những hậu quả nghiêm trọng đến sự phát triển của các quốc gia, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng luôn là vấn đề rất nhạy cảm, liên quan trực tiếp đến uy tín của cán bộ và lợi ích của quốc gia. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng là quyết tâm chính đáng của mọi quốc gia có tham nhũng. Tuy nhiên, lợi dụng các vụ việc chống tham nhũng, nhất là những cán bộ lãnh đạo giữ cương vị quan trọng trong Đảng, chính quyền để xuyên tạc, nói xấu Đảng, chế độ, kích động hạ thấp uy tín của cán bộ, đảng viên trong quần chúng nhân dân nhất là khi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị đang nỗ lực thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng.

PHẢN BÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ LỊCH SỬ ĐẢNG, LỊCH SỬ DÂN TỘC

 


 

Thời gian qua, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị tiếp tục lợi dụng âm mưu, thủ đoạn của chiến lược “diễn biến hòa bình” đẩy mạnh các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, Quân đội ta. Chúng tung thông tin giả, xấu độc, xuyên tạc, đang từng ngày, từng giờ lan tràn trên internet và mạng xã hội. Trong đó, chúng xác định chống phá về chính trị, tư tưởng, văn hóa là mặt trận quan trọng hàng đầu, là khâu đột phá; tiến công vào lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng là một mũi nhọn. Triệt để sử dụng internet, mạng xã hội, kênh youtube và một số hãng truyền thông… các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị phát động nhiều chiến dịch phát tán thông tin xấu độc xuyên tạc lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng, lịch sử cách mạng nhằm hạ thấp ý nghĩa, bóp méo sự thật lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng mà toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã giành được; gây chia rẽ, làm mất niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng trong nhân dân và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Do vậy, các cấp phải chủ động và tích cực đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch trên không gian mạng là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên và lâu dài trong tình hình mới.

NHẬN DIỆN, ĐẤU TRANH NGĂN CHẶN, ĐẨY LÙI “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG QUÂN ĐỘI HIỆN NAY

 


Nghị quyết Hội nghị lần thức 4 Khóa XII, khẳng định: “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa” đã và đang thực sự trở thành một trong những nguy cơ hàng đầu đối với sự tồn vong của Đảng và sự an nguy của chế độ. Vì vậy,vấn đề đặt ra là phải nghiên cứu nhận diện cho được tính chất, nội dung, mức độ, phạm vi và những biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; xác định những nguyên nhân của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là điều quan trọng, cấp bách; từ đó tìm ra những giải pháp đấu tranh hữu hiệu để ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Quân đội, đơn vị một cách kịp thời, có hiệu quả. Quân đội là công cụ bạo lực sắc bén, lực lượng chính trị trung thànhđể bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Vì vậy, cán bộ, chiến sĩ Quân đội phải là lực tượng tiên phong trong đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi mầm mống “Tự diễn biến”, “Tự chuyển hóa”, trước hết là ngay trong nội bộ đơn vị, Quân đội.

BẢO VỆ NỀN TẢNG TƯ TƯỞNG CỦA ĐẢNG TRÊN KHÔNG GIAN MẠNG

 

Thấm nhuần sâu sắc quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Đảng muốn vững thì phải có chủ nghĩa làm cốt, trong Đảng ai cũng phải hiểu, ai cũng phải theo chủ nghĩa ấy. Đảng mà không có chủ nghĩa cũng như người không có trí khôn, tàu không có bàn chỉ nam. Bây giờ học thuyết nhiều, chủ nghĩa nhiều, nhưng chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin”. Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng linh hoạt, sáng tạo phù hợp với cách mạng Việt Nam, mà bước ngoặt lịch sử là việc thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tiễn đã chứng minh, từ khi Đảng ra đời, đã lãnh đạo Nhân dân ta tiến hành đấu tranh giành chính quyền, đập tan xiềng xích đô hộ suốt 87 năm của thực dân Pháp, đánh đuổi bọn quân phiệt Nhật Bản ra khỏi đất nước, lật đổ chế độ phong kiến mấy mươi thế kỷ, đưa đất nước ta bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia đâu phải cứ làm sai xin lỗi là xong.

 


 

Sáng 9 tháng 4 năm 2023, thông tin về việc bản đồ trên ứng dụng của Grab tại Việt Nam đã thể hiện thông tin sai lệch nghiêm trọng về chủ quyền Việt Nam ở Biển Đông đã được cộng đồng mạng chú ý và lên án. Cụ thể định vị bản đồ của Grab hiển thị khu vực quần đảo Trường Sa, ngoài một số ít tên thực thể như Sơn Ca, Sinh Tồn được thể hiện bằng tiếng Việt, còn các thực thể khác đều được thể hiện bằng tiếng Trung Quốc và tiếng Anh, trong đó có nhiều tên bị ghi trái phép cho các khu vực thuộc chủ quyền Việt Nam. Bãi Chữ Thập, thuộc chủ quyền Việt Nam đang bị Trung Quốc chiếm đóng trái phép, bản đồ Grab chú thích “Nansha District” tức “huyện Nam Sa”. Nam Sa là tên gọi phi pháp mà Trung Quốc dùng để gọi quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Bãi đá Vành Khăn thuộc chủ quyền Việt Nam bị chú thích theo cách gọi phi pháp của Trung Quốc là Meiji Jiao, tức đảo Mỹ Tế và ghi chú đảo Mỹ Tế, Tam Sa, Trung Quốc. Thành phố Tam Sa là chính quyền phi pháp do Trung Quốc lập ra để quản lý nhiều quần đảo, bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Ngoài ra, một số đảo khác thuộc chủ quyền của Việt Nam tại Biển Đông cũng bị chú thích sai lệch.

Nhận thức đúng đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về tư pháp

Vừa qua, tại Trung tâm Hội nghị quốc gia, Tòa án Nhân dân tối cao khai mạc Hội nghị triển khai công tác tư pháp theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới. Lợi dụng vấn đề trên, một số trang mạng đưa tin, hướng lái dư luận, xuyên tạc quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về tư pháp. Như trên trang “Vietnamthoibao”, Đông Đô đăng tải bài viết với tiêu đề “Quyền độc lập của tư pháp”,  cho rằng: “Độc lập đến mức độ nào, đó là câu chuyện của tùy thuộc vào Bộ Chính trị”.

Quang cảnh Hội nghị triển khai công tác tư pháp

Nhà nước pháp quyền là một biểu hiện và thành tựu của dân chủ, một phương thức tổ chức quản lý xã hội và chỉ có nhà nước pháp quyền mới có thể duy trì trật tự công lý trong xã hội. Xây dựng nhà nước pháp quyền là nhu cầu tất yếu đối với Nhà nước Việt Nam. Tư pháp độc lập là một trong những tiêu chí giúp đánh giá Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; kiểm soát sự lạm dụng quyền lực nhà nước, bảo đảm sự tối thượng của pháp luật; bảo đảm dân chủ, công bằng, nhân đạo, hiệu lực, khả thi, Yêu cầu đầu tiên và cơ bản của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phải đảm bảo tính độc lập của Tòa án.

Độc lập tư pháp là một nội dung trọng tâm, được ghi nhận ở nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Theo đó, tòa án có vai trò, vị trí quan trọng trong Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Toà án là nơi thực hiện công lý và công bằng xã hội thông qua chức năng xét xử. Tư pháp độc lập được hiểu là Tòa án độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Trong ba hệ thống lập pháp, hành pháp và tư pháp thì đặc trưng của hệ thống lập pháp là mang tính đại diện và phụ thuộc vào cử tri. Còn đặc trưng của hệ thống hành pháp là thực hiện, thi hành pháp luật, điều hành thống nhất. Tư pháp phải độc lập, nó chỉ bảo vệ được pháp luật khi nó độc lập còn nếu mà nó bị tác động bên ngoài thì nó sẽ không bảo vệ được pháp luật. Yêu cầu về tư pháp độc lập không chỉ trong nhà nước pháp quyền mà còn trong bất cứ thể chế nào.

Trong giai đoạn mới, cùng với yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, cùng với cải cách nền hành chính, Đảng ta chủ trương ban hành và thực hiện Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Chủ trương thể hiện rất rõ qua các văn kiện Đại hội. Trong đó Nghị quyết Đại hội XIII xác định giải pháp quan trọng về xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, đây là nhiệm vụ trọng tâm của đổi mới hệ thống chính trị. Trong đó khẳng định cần “xác định rõ hơn vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp trên cơ sở các nguyên tắc pháp quyền. Văn kiện đã đưa ra các giải pháp về đẩy mạnh cải cách tư pháp, đó là: “Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Hoạt động tư pháp phải có trọng trách bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa.., Nghiên cứu ban hành Chiến lược trong đó có Chiến lược pháp luật và cải cách tư pháp”.

Đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về tư pháp là hoàn toàn đúng đắn. Vì vậy, chúng ta cần quán triệt, nhận thức rõ và đề cao cảnh giác trong nhận diện, vạch trần, đập tan mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch ngăn cản, phá hoại chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta về tư pháp./.

 NTT st

Chiến dịch Thượng Lào, tình thần đoàn kết Việt Lào chống giặc ngoại xâm

 


Cách đây 70 năm, thực hiện chủ trương tăng cường liên minh chiến đấu Việt Nam-Lào của Trung ương Đảng ta và quán triệt sự chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, với vai trò là cơ quan chỉ đạo quân sự Trung ương, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam quyết định phối hợp cùng quân và dân Lào mở Chiến dịch Thượng Lào nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng đất đai, xây dựng căn cứ đứng chân cho bạn, buộc địch phải phân tán lực lượng đối phó, đồng thời tạo điều kiện để bộ đội rèn luyện đánh tập đoàn cứ điểm nhỏ.


Sau gần một tháng tác chiến, các đơn vị tham gia chiến dịch đã hoàn thành mục tiêu, nhiệm vụ chiến dịch, giải phóng một vùng đất đai rộng lớn, mở rộng địa bàn đứng chân của lực lượng kháng chiến Lào, nối liền vùng giải phóng của Lào với vùng tự do của Việt Nam, tạo thế chiến lược có lợi cho cách mạng 3 nước Đông Dương. Đánh giá về thắng lợi của Chiến dịch Thượng Lào 1953, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp khẳng định: Đó là thắng lợi đầu tiên của QĐND ta, của bộ đội chủ lực ta trong quá trình phối hợp chiến đấu với quân đội và nhân dân nước bạn, thực hiện nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta, của nhân dân ta đối với cách mạng Pathet Lào. Góp phần quan trọng vào thắng lợi to lớn này có vai trò chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam, thể hiện trên một số nội dung sau:


Một là, nhạy bén nắm bắt thời cơ, hình thành ý định chiến dịch, tích cực chỉ đạo xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch, quyết tâm tác chiến chiến dịch.


Ngay sau khi Chiến dịch Tây Bắc 1952 kết thúc, trên cơ sở phân tích tình hình thực tế trên các chiến trường ở Đông Dương, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam đã đặt vấn đề và chỉ đạo nghiên cứu lựa chọn hướng hoạt động trong thời gian tiếp theo. Qua phân tích tình hình, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bí thư Tổng Quân ủy và đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Phó bí thư Tổng Quân ủy thống nhất chủ trương mở chiến dịch ở hướng Thượng Lào và đề xuất đưa ra bàn kỹ trong hội nghị Tổng Quân ủy, đồng thời xin chỉ thị của Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về chủ trương này. Trong khi chờ xin chỉ thị, nhằm chủ động với ý định chiến dịch đã hình thành, đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ thị và chỉ đạo Bộ Tổng Tham mưu QĐND Việt Nam tiến hành nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình, làm cơ sở cho việc mở Chiến dịch Thượng Lào.


Tháng 1-1953, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ tư (khóa II) xác định: Tránh chỗ mạnh, đánh chỗ yếu để phân tán lực lượng địch và tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng tự do. Đó là phương hướng chiến lược của ta hiện nay. Quân đội ta phải đánh địch ở những nơi địch sơ hở, đồng thời phải hoạt động mạnh sau lưng địch. “Bất kỳ ở miền núi hay đồng bằng, Quân đội ta phải chuẩn bị đánh những lực lượng, những cứ điểm ngày càng mạnh của địch". 


Trên cơ sở phương hướng chiến lược và phương châm tác chiến do Trung ương Đảng xác định và ý định chiến dịch đã hình thành, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh tập trung chỉ đạo nghiên cứu, đánh giá tình hình ở Thượng Lào đặt trong mối quan hệ chiến lược với các chiến trường khác ở Đông Dương, làm cơ sở để hiện thực hóa ý định mở Chiến dịch Thượng Lào.


Trong khi đó, sau thất bại ở Tây Bắc, nhận thấy nguy cơ có thể mất Thượng Lào, đầu năm 1953, tướng R.Salan, Tổng chỉ huy Quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương quyết định đặt Thượng Lào dưới quyền của Bộ chỉ huy Quân đội Pháp ở Bắc Bộ Việt Nam; đồng thời, tập trung lực lượng, phương tiện, xây dựng những công sự, điểm tựa kiên cố, biến Sầm Nưa thành một tập đoàn cứ điểm theo kiểu “Nà Sản” trên đất Lào.


Để có thêm cơ sở mở Chiến dịch Thượng Lào, ngày 2-2-1953, Tổng Quân ủy tổ chức hội nghị mở rộng. Hội nghị xác định: Ta có thể tiêu diệt được một bộ phận sinh lực địch, tranh thủ được nhân dân Lào, xây dựng được căn cứ đứng chân cho bạn. Địch buộc phải phân tán lực lượng thêm nữa. Bộ đội ta được rèn luyện đánh tập đoàn cứ điểm nhỏ trước khi đánh tập đoàn cứ điểm lớn. Ngay sau hội nghị, đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Tổng Quân ủy báo cáo và được Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng lãnh đạo Chính phủ Kháng chiến Lào nhất trí với đề nghị mở Chiến dịch Thượng Lào.


Thực hiện vai trò chỉ đạo chiến lược, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các cơ quan, nhất là Bộ Tổng Tham mưu tiến hành trinh sát, nghiên cứu tình hình, xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch, quyết tâm tác chiến chiến dịch. Đến tháng 3-1953, kế hoạch tác chiến Chiến dịch Thượng Lào được hoàn thành. Về mục đích chiến dịch: Nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, buộc chúng phải phân tán thêm chủ lực ở Bắc Bộ Việt Nam, giải phóng Sầm Nưa, tạo điều kiện hỗ trợ cho cuộc kháng chiến của nhân dân Lào phát triển mạnh hơn nữa, rèn luyện bộ đội Việt Nam về chiến thuật đánh tập đoàn cứ điểm.


Theo kế hoạch tác chiến, hướng chủ yếu của chiến dịch là Sầm Nưa, gồm Đại đoàn 308 (3 trung đoàn), Đại đoàn 312 (2 trung đoàn), Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) theo Đường số 6 tiến sang Sầm Nưa. Phối thuộc cho các đơn vị ở hướng chủ yếu có các đại đội pháo binh, công binh, súng máy phòng không, thông tin, trinh sát của Bộ, phối hợp với Đoàn 80 Quân tình nguyện Việt Nam ở Sầm Nưa, quân và dân Lào thực hành bao vây, tiêu diệt địch theo cách đánh tập đoàn cứ điểm; hướng thứ yếu là Xiêng Khoảng, gồm Đại đoàn 304 từ Nghệ An hành quân theo Đường số 7 tiến sang phối hợp với Đoàn 81 Quân tình nguyện Việt Nam và LLVT cách mạng Lào chặn đường rút lui của địch từ Sầm Nưa xuống. Trên hướng phối hợp ở khu vực sông Nậm Hu có Trung đoàn Bộ binh 148, cùng Đoàn 82 Quân tình nguyện Việt Nam và LLVT cách mạng Lào; lực lượng dự bị chiến dịch có Trung đoàn 174 (Đại đoàn 316) đứng chân ở khu vực Mộc Châu sẵn sàng tham gia chiến đấu trên hướng chủ yếu.


Bộ chỉ huy chiến dịch, phía Việt Nam gồm các đồng chí: Võ Nguyên Giáp, Chỉ huy trưởng; Nguyễn Chí Thanh, Chủ nhiệm Chính trị; Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng; Trần Đăng Ninh, Chủ nhiệm Cung cấp. Về phía bạn có các đồng chí: Hoàng thân Souphanouvong, Thủ tướng Chính phủ Kháng chiến Lào; Kaysone Phomvihane, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lào; Singkapo Sikhodchounlamaly, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Lào; Ma Khaykhamphithoun, Bí thư Tỉnh ủy Sầm Nưa.


Như vậy, trên cơ sở hình thành ý định chiến dịch, dựa vào phương hướng chiến lược và phương châm tác chiến của Trung ương Đảng, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam đã chỉ đạo các cơ quan xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch, quyết tâm tác chiến chiến dịch, bảo đảm cho QĐND Việt Nam phối hợp với LLVT cách mạng Lào giành thắng lợi trong Chiến dịch Thượng Lào.


Hai là, chỉ đạo làm tốt công tác chuẩn bị chiến dịch, kết hợp giữ vững thế tiến công chiến lược trên các chiến trường.


Song song với quá trình chỉ đạo xây dựng và hoàn chỉnh kế hoạch, quyết tâm tác chiến chiến dịch, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam tập trung chỉ đạo xúc tiến công tác chuẩn bị Chiến dịch Thượng Lào, kết hợp giữa chuẩn bị lực lượng tham gia chiến dịch, tiến hành công tác Đảng, công tác chính trị chiến dịch, huấn luyện quân sự, tạo thế, giữ bí mật, bất ngờ, nghi binh và bảo đảm cung cấp vũ khí, trang bị cho chiến dịch. Đồng thời, chỉ đạo các lực lượng giữ vững và đẩy mạnh thế tiến công chiến lược trên khắp chiến trường Đông Dương.


Dưới sự chỉ đạo, điều hành của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam, các đơn vị tham gia chiến dịch tiến hành củng cố tổ chức biên chế, trang bị, làm tốt công tác giáo dục động viên chính trị tư tưởng và huấn luyện quân sự. Về công tác huấn luyện quân sự, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo nghiên cứu chiến thuật đánh tập đoàn cứ điểm, hình thức phòng ngự cao nhất của địch và cũng là yêu cầu tất yếu phải tiến tới của QĐND Việt Nam trong giai đoạn tiến công và phản công chiến lược.


Cuối tháng 2-1953, Tổng Quân ủy mở hội nghị nghiên cứu chiến thuật đánh tập đoàn cứ điểm. Những cán bộ dự hội nghị đã thấy được chỗ mạnh, chỗ yếu trong phòng ngự tập đoàn cứ điểm của địch; đồng thời đưa ra một số cách đánh, cách khắc phục hỏa lực địch, chiến đấu ban ngày và liên tục chiến đấu. Tiếp đó, đầu tháng 3-1953, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam và lãnh đạo Chính phủ Kháng chiến Lào trong Bộ chỉ huy chiến dịch dự kiến hai khả năng có thể xảy ra khi ta bắt đầu hoạt động: Địch có thể tăng quân lên Sầm Nưa từ 5 đến 6 tiểu đoàn để chống trả ta tiến công, hoặc chúng có thể rút chạy khi có nguy cơ bị tiêu diệt. Trên cơ sở đó, để đánh thắng địch trong tập đoàn cứ điểm Sầm Nưa, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh chỉ đạo các đơn vị huấn luyện bộ đội đánh công kiên theo phương pháp bố trí mới của địch.


Công tác chuẩn bị bảo đảm, cung cấp cho chiến dịch gặp nhiều khó khăn, thách thức do địa bàn chiến dịch xa hậu phương. Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh cử đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và đồng chí Trần Đăng Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Tổng cục Cung cấp chỉ đạo, đôn đốc các địa phương và tăng cường cán bộ nhằm xúc tiến nhanh kế hoạch cung cấp cho chiến dịch. Các kho lương thực, vũ khí, đạn, các tuyến đường vận chuyển tiếp tế được bố trí thành hệ thống. Lực lượng dân công và các phương tiện vận tải được huy động với quy mô lớn.


Trong không khí chuẩn bị khẩn trương, ngày 3-4-1953, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư động viên cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch. Người căn dặn: "Lần này là lần đầu tiên, các chú nhận một nhiệm vụ quan trọng và vẻ vang như nhiệm vụ này, tức là giúp nhân dân nước bạn. Mà giúp nhân dân nước bạn tức là mình tự giúp mình. Để làm tròn nhiệm vụ chiến đấu, từ trên xuống dưới các chú cần phải: Vượt mọi khó khăn, thi đua diệt địch, chiến đấu anh dũng ở bên đó cũng như ở ta; Nêu cao tinh thần quốc tế, tôn trọng chủ quyền, tôn trọng phong tục tập quán, kính yêu nhân dân của nước bạn; Tuyệt đối giữ gìn kỷ luật, giữ gìn danh tiếng của QĐND Việt Nam...".


Thực hiện sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh, ngày 6-4-1953, cơ quan chính trị chiến dịch ra chỉ thị “Công tác chính trị Chiến dịch X”, trong đó nêu rõ: Chiến dịch này không những củng cố được thắng lợi của Chiến dịch Tây Bắc, tạo điều kiện cho ta tiêu diệt sinh lực địch trong những chiến dịch sau, đưa bộ đội ta tiến lên một bước mới về công kiên chiến, nó còn có một ý nghĩa quốc tế rất lớn lao và quan trọng. Phải kiên quyết tiêu diệt địch. Phải khẩn trương nhanh chóng. Phát huy tinh thần chiến đấu anh dũng, bền bỉ, gan dạ của bộ đội, bảo đảm mọi nhiệm vụ chiến đấu.


Ngày 9-4-1953, đồng chí Võ Nguyên Giáp, Bí thư Tổng Quân ủy, Tổng Tư lệnh ra lời kêu gọi gửi đến bộ đội chủ lực, Bộ đội Tình nguyện Việt Nam, nhấn mạnh: Nhiệm vụ phối hợp tác chiến với bộ đội và nhân dân Pathet Lào là một nhiệm vụ vẻ vang của Quân đội ta, một nhiệm vụ vẻ vang đối với sự nghiệp giải phóng của nước bạn, cũng như đối với công cuộc kháng chiến của nước ta... Dưới ngọn cờ của chủ nghĩa quốc tế chân chính, chúng ta nhất định chiến thắng trong chiến dịch này.


Cùng với việc chỉ đạo trực tiếp chuẩn bị Chiến dịch Thượng Lào, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh kết hợp chỉ đạo giữ vững và đẩy mạnh thế tiến công chiến lược trên các chiến trường. Theo đó, Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với LLVT cách mạng Lào phát triển phong trào du kích chiến tranh trên địa bàn Thượng Lào nhằm tạo thế cho chiến dịch. Các mặt trận: Đồng bằng Bắc Bộ, Bình Trị Thiên, Nam Bộ Việt Nam phát triển chiến tranh nhân dân, củng cố hậu phương chiến dịch. Cùng với đó, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh tích cực chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động nghi binh thu hút sự chú ý của quân địch vào hướng Nà Sản, tiếp tục giam chân chúng trong tình trạng khủng hoảng về quân số, cũng như về chiến lược giữa phân tán và tập trung trên các chiến trường Đông Dương. Như vậy, dưới sự chỉ đạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam, các LLVT ta và bạn vừa đẩy mạnh công tác chuẩn bị, kết hợp giữ vững thế tiến công chiến lược trên các chiến trường, sẵn sàng bước vào chiến đấu theo kế hoạch.


Ba là, chỉ đạo nhanh chóng hạ quyết tâm chuyển từ đánh công kiên sang vận động truy kích tiêu diệt địch.


Thực hiện kế hoạch tác chiến chiến dịch, đêm 21-3-1953, các đơn vị tham gia chiến dịch bắt đầu hành quân đến vị trí tập kết. Trên hướng chủ yếu, Đại đoàn 312 và Đại đoàn 308 hành quân từ Phú Thọ lên tập kết ở Mộc Châu (tỉnh Sơn La); Tiểu đoàn 999 (Đại đoàn 316) bắt đầu thực hiện kế hoạch nghi binh đánh vào Nà Sản. Trên hướng thứ yếu, ngày 31-3, Đại đoàn 304 bắt đầu rời Anh Sơn (tỉnh Nghệ An) vào tập kết ở Khe Kiều, ngay sát biên giới Việt Nam-Lào. 


Ngày 8-4-1953, Bộ Tổng Tư lệnh ra mệnh lệnh cho các đơn vị tham gia chiến dịch nhanh chóng vượt qua biên giới, hành quân đến mục tiêu tiến công với tinh thần hành quân cực kỳ nhanh chóng, cực kỳ bí mật, để làm cho quân Pháp có muốn trở tay cũng không kịp. Phương châm chỉ đạo tác chiến chiến dịch được Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh và Bộ chỉ huy chiến dịch quán triệt đến cán bộ, chiến sĩ: Dùng lối bôn tập chiến dịch, nhanh chóng hành quân từ xa đến bao vây khống chế quân địch, không cho chúng tăng viện hoặc rút lui, tiến hành công kích các điểm cao quan trọng ở ngoại vi, tranh thủ nhanh chóng đánh sâu vào tung thâm, chia cắt quân địch ra mà tiêu diệt.


Chấp hành mệnh lệnh của Bộ Tổng Tư lệnh, các đơn vị khẩn trương hành quân sang đất bạn. Trong các ngày 10, 11 và 12-4-1953, Trung đoàn 98 (Đại đoàn 316) đã vượt qua Mường Hung tiến thẳng đến Sầm Nưa. Bám sát Trung đoàn 98 là Trung đoàn 102 (Đại đoàn 308). Qua tin tức nắm được, Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp điện nhắc các đơn vị đi trước: Địch có thể rút Sầm Nưa... Không bỏ lỡ thời cơ, bộ đội tăng tốc hành quân.


Phát hiện các đơn vị chủ lực của ta ở nhiều hướng đang hành quân về phía Tây, mà điểm hội tụ là khu vực Sầm Nưa, Bộ chỉ huy quân Pháp tại Đông Dương phán đoán, ta sẽ mở chiến dịch đánh vào Sầm Nưa, giải phóng vùng Thượng Lào. Cuối tháng 3-1953, tướng R.Salan quyết định “kìm chân đối phương” bằng việc mở hai cuộc hành binh đánh vào Ninh Bình, Thanh Hóa và từ Nà Sản tiến về hướng Mộc Châu để giam chân và buộc chủ lực ta phải quay lại đối phó. Nhưng cả hai cuộc hành binh này đều không đem lại kết quả.


Trong khi đó, sau khi nhận được tin: Chủ lực đối phương đang tiến về ào ạt, R.Salan nhận thấy, nếu cố thủ Sầm Nưa bằng mọi giá trước ưu thế áp đảo của đối phương thì khó tránh khỏi thất bại. Do vậy, nhằm bảo toàn lực lượng, ngày 12-4-1953, Tổng chỉ huy quân Pháp tại Đông Dương quyết định rút ngay trong đêm toàn bộ quân khỏi Sầm Nưa về phía Nam (khi đó, các đơn vị đi đầu của ta còn cách Sầm Nưa gần một ngày đường). Đến trưa 13-4-1953, toán địch sau cùng rút chạy khỏi thị xã.


Trước tình hình đó, Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch thống nhất chỉ đạo bộ đội chuyển sang truy kích ngay. Đại tướng Võ Nguyên Giáp lệnh cho các đơn vị: Địch đã bỏ Sầm Nưa chạy. Sầm Nưa đã giải phóng. Nhưng muốn giúp nước bạn củng cố căn cứ địa đó thì chúng ta phải tiêu diệt cho kỳ được sinh lực địch. Đường rút chạy của chúng khá xa, tinh thần chúng càng kém; chúng ta phải khắc phục tất cả khó khăn, chuyển thành quyết tâm diệt địch trong trận truy kích này. Đó là nhiệm vụ chúng ta phải làm cho kỳ được, vượt lên thực nhanh, bám sát và chia cắt địch, chặn đường rút lui của chúng, tiêu diệt cho giòn, cho gọn. Như vậy, trước tình huống chiến dịch thay đổi, Tổng Quân ủy, Bộ Tổng Tư lệnh cùng Bộ chỉ huy chiến dịch nhạy bén nắm chắc tình hình, kịp thời hạ quyết tâm chỉ đạo các đơn vị tham gia chiến dịch nhanh chóng chuyển từ đánh địch trong công sự vững chắc thành vận động truy kích địch. Đây là quyết định đúng đắn, kịp thời, góp phần quan trọng vào thực hiện thắng lợi mục tiêu của chiến dịch.

 

Bốn là, chủ động, linh hoạt trong chỉ đạo, chỉ huy, điều hành tác chiến, góp phần giành thắng lợi chiến dịch.


Ngay sau khi địch rút khỏi Sầm Nưa, ngày 14-4-1953, Tổng Quân ủy họp hội nghị mở rộng, nhận định: Trước sự uy hiếp của ta, địch phải vội vã rút bỏ Sầm Nưa vào đêm 12-4 và sáng 13-4. Chiều 13-4, bộ đội ta bắt đầu truy kích. Địch rút Sầm Nưa là để bảo toàn lực lượng. Nhưng rút Sầm Nưa là địch bỏ ngỏ Thượng Lào, mất một vùng có tính chất chiến lược quan trọng... một thất bại lớn về chính trị. Để kịp thời truy kích địch, Tổng Quân ủy hạ quyết tâm, lệnh cho Đại đoàn 308 không kể ngày đêm, gấp rút đuổi địch, không cần chờ đầy đủ bộ đội, bộ phận nhẹ cho đi trước; đồng thời, lệnh cho Đại đoàn 304 tiến nhanh lên Đường số 7 chặn quân địch từ trên chạy xuống. Các Trung đoàn 102 và 36 cũng nhận được chỉ thị trực tiếp của Tổng Quân ủy, lập tức cho bộ đội xuất phát. Cùng với đó, các cơ quan tham mưu, chính trị, cung cấp và Ban cán sự Thượng Lào đều được chỉ thị của Tổng Quân ủy tập trung lực lượng phục vụ cho nhiệm vụ truy kích, coi đó là trọng tâm công tác.


Chấp hành mệnh lệnh của Tổng Quân ủy và Bộ chỉ huy chiến dịch, các hướng đẩy mạnh truy kích địch. Ngay trong ngày 13-4-1953, Tiểu đoàn 888 bắt được toàn bộ ngụy quyền tỉnh Sầm Nưa, 40 lính dõng tại Mường Hàm. Sáng 14-4, Trung đoàn 98 gặp địch ở chân đèo Nà Noọng, diệt 50 tên, bắt 15 lính Âu-Phi, 206 lính ngụy. Cùng thời gian, Trung đoàn 102 cùng bộ phận thuộc Trung đoàn 209 gặp địch tại Hứa Mường, diệt khoảng một đại đội, trong đó có 40 lính Âu. Một đại đội thuộc Trung đoàn 88 truy kích về hướng Bản Ban. Một bộ phận thuộc Trung đoàn 209 truy kích theo hướng Đông Nam Sầm Nưa tới Sầm Tớ (cách Tây Nam Sầm Nưa 60km). Tàn quân địch trên hướng chủ yếu chạy về Cánh đồng Chum.


Trên hướng thứ yếu, ngày 15-4-1953, địch rút khỏi Noọng Hét và Bản Ban. Trung đoàn 66 và tiểu đoàn bộ đội Lào phối hợp vào tiếp quản Noọng Hét; Trung đoàn 9 tiếp quản Bản Ban; 2 tiểu đoàn của Trung đoàn 9 tiến về Sầm Nưa phối hợp với hướng chính, tiểu đoàn còn lại tiến theo Đường số 7 vào Khăng Khay. Ngày 18-4-1953, Trung đoàn 57 (Đại đoàn 304) áp sát thị xã Xiêng Khoảng, địch hoảng sợ rút về co cụm ở Cánh đồng Chum.


Tại khu vực sông Nậm Hu (hướng phối hợp), Trung đoàn 148 cùng Bộ đội Tình nguyện và LLVT Lào đẩy mạnh hoạt động tiến công. Ngày 21-4-1953, diệt một đại đội ở Mường Ngòi và buộc địch ở đồn Nậm Bạc rút chạy; ngày 23-4-1953, Trung đoàn 98 từ phía Nam lên phối hợp tiến đánh vị trí Mường Khoa; ngày 26-4-1953, diệt vị trí Pắc Sàng và chặn đánh địch ở Bản Sẻ. Phát huy thắng lợi trong những ngày cuối tháng 4-1953, các đơn vị Quân tình nguyện Việt Nam và LLVT Lào tiếp tục tổ chức truy kích địch rút chạy; đồng thời, tăng cường hoạt động gây sức ép ở Luông Pha Băng, khiến Bộ chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương phải gấp rút điều 2 tiểu đoàn thuộc Binh đoàn cơ động 1 (GM1) từ Nà Sản sang xây dựng thành tập đoàn cứ điểm bảo vệ kinh đô Luông Pha Băng. Ngày 2 và 3-5-1953, Bộ chỉ huy chiến dịch tổ chức Hội nghị tổng kết chiến dịch tại Sầm Nưa. Khuếch trương thắng lợi chiến dịch, ngày 17-5, Trung đoàn 98 phối hợp với Trung đoàn 148 nổ súng tiến công tiêu diệt cụm cứ điểm Mường Khoa, loại khỏi vòng chiến đấu 300 tên.


Ngay sau khi Chiến dịch Thượng Lào kết thúc, Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam đề ra nhiệm vụ tổ chức tiếp quản thị xã Sầm Nưa và những vùng mới giải phóng, đẩy mạnh tuyên truyền chiến thắng trong nhân dân và đề nghị cùng Chính phủ Kháng chiến Lào tổ chức “Tuần lễ đoàn kết Việt-Lào” để bộ đội tích cực tham gia vào công tác củng cố địa phương. Đồng thời, ta để lại một số đơn vị chủ lực cùng Quân tình nguyện Việt Nam phối hợp với quân và dân Lào củng cố vùng giải phóng, xây dựng Sầm Nưa thành căn cứ địa kháng chiến của nước bạn.


Chiến thắng Thượng Lào có ý nghĩa to lớn không những đối với cách mạng Lào, mà còn mở ra những điều kiện mới, thuận lợi để quân và dân 3 nước Đông Dương tiến lên giành những thắng lợi quyết định trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Đồng thời, qua đó khẳng định vai trò quyết định của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh trong chỉ đạo chiến dịch giành thắng lợi.


Hiện nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đang đặt ra những yêu cầu cao hơn. Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, còn có nhiều khó khăn, thách thức do tác động của tình hình thế giới, khu vực đến nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc. Trên cơ sở nắm chắc tình hình, yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục thực hiện tốt vai trò tham mưu cho Đảng, Nhà nước những vấn đề về đường lối, nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; thường xuyên làm tốt công tác dự báo, nắm chắc tình hình, từ đó tham mưu, đề xuất các chủ trương, giải pháp phù hợp trong việc hoạch định các chính sách, đối sách, xử lý kịp thời, hiệu quả các tình huống, không để bị động, bất ngờ. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, nghiên cứu, bổ sung, phát triển các chiến lược quốc phòng, chiến lược quân sự; xây dựng, hoàn thiện kế hoạch phòng thủ đất nước; phương hướng và biện pháp xây dựng nền quốc phòng toàn dân; triển khai thực hiện có hiệu quả một số đề án trọng điểm nhằm bảo đảm quốc phòng, an ninh, nhất là các địa bàn chiến lược, quan trọng. Tập trung đổi mới nâng cao chất lượng huấn luyện theo Nghị quyết số 1659 ngày 20-12-2022 của Quân ủy Trung ương, tạo chuyển biến mạnh mẽ về trình độ huấn luyện, khả năng sẵn sàng chiến đấu, nhất là khả năng cơ động, tác chiến trong điều kiện và đối tượng tác chiến mới, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng và phát triển đất nước.


Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo giữ vững nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội và các biện pháp xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, bảo đảm cho cán bộ, chiến sĩ luôn có ý chí quyết tâm cao, tuyệt đối phục tùng mệnh lệnh, sẵn sàng nhận và hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao. Chỉ đạo xây dựng và phát triển khoa học nghệ thuật quân sự trong điều kiện gắn với phát triển ngành công nghiệp quốc phòng; nghiên cứu, sản xuất các loại vũ khí phù hợp với điều kiện địa hình, cách đánh và nghệ thuật quân sự Việt Nam. Chỉ đạo triển khai đồng bộ, toàn diện công tác đối ngoại quân sự, quốc phòng theo phương châm tích cực, chủ động, chắc chắn, linh hoạt, hiệu quả. Chỉ đạo đẩy mạnh mở rộng và tăng cường hợp tác quân sự, quốc phòng với các nước, nhất là với các nước láng giềng, ASEAN... nhằm tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế, bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Cùng với đó, Quân ủy Trung ương tiếp tục thực hiện tốt vai trò trực tiếp lãnh đạo xây dựng QĐND Việt Nam vững mạnh toàn diện, xây dựng các tổ chức đảng trong Quân đội trong sạch, vững mạnh. Triển khai đồng bộ các nhiệm vụ, giải pháp, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện tốt chủ trương xây dựng QĐND Việt Nam theo hướng tinh, gọn, mạnh, tạo tiền đề vững chắc, phấn đấu năm 2030 xây dựng QĐND cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.


70 năm đã trôi qua, nhưng thắng lợi của Chiến dịch Thượng Lào vẫn còn nguyên giá trị, để lại nhiều bài học quý về sự chỉ đạo, chỉ huy, điều hành chiến dịch đúng đắn, kiên quyết, sáng tạo của Tổng Quân ủy và Bộ Tổng Tư lệnh QĐND Việt Nam, có giá trị lý luận và thực tiễn sâu sắc, cần được tiếp tục nghiên cứu, vận dụng, phát huy trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần xây dựng mối quan hệ đoàn kết, gắn bó keo sơn “chí nghĩa, chí tình” giữa Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân hai nước Việt Nam-Lào ngày càng bền chặt, cùng nhau giành những thắng lợi mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ở mỗi nước.

PBVN ST 

CẢNH GIÁC TRƯỚC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CHỐNG PHÁ CỦA CÁC THẾ LỰC THÙ ĐỊCH VỀ CHÍNH SÁCH HÒA GIẢI, HÒAHỢP DÂN TỘC CỦA VIỆT NAM

 

Cách đây 48 năm, ngày 30-4-1975, lá cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc lập đã đánh dấu chiến thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Đây là chiến thắng có ý nghĩa lịch sử và tầm vóc thời đại của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX.

 

Hàng năm, mỗi dịp đất nước kỷ niệm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thì các tổ chức phản động, các phần tử cực đoan chính trị lại rêu rao những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành quả cách mạng của Đảng và nhân dân ta. Cùng với sự trợ giúp của các tổ chức phản động và chiến lược diễn biến hòa bình, tần suất chống phá ngày một gia tăng, nhất là trên không gian mạng. Mục đích chính của chúng là kích động lòng thù hận trong các thế hệ và chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Các tổ chức khủng bố như Việt Tân, Triều đại Việt đã triệt để tận dụng mạng internet để tạo các luồng thông tin ngược dòng lịch sử, phủ nhận chiến thắng vĩ đại 30-4, xuyên tạc thành tựu của đất nước trong công cuộc xây dựng, đổi mới. Chúng thường xuyên lặp lại những câu từ sáo rỗng như: “30-4 là ngày quốc hận”, đòi hỏi “phục quốc”; suy diễn, đánh tráo bản chất của cuộc chiến bảo vệ độc lập dân tộc của nhân dân ta là “cuộc nội chiến”, chiến tranh “ý thức hệ”.


Trước hết, phải khẳng định rằng, đó là những luận điệu hoàn toàn sai trái, phủ nhận sạch trơn mọi sự hy sinh của thế hệ cha ông để đất nước có được hòa bình, độc lập, thống nhất và phát triển như hôm nay. Trải qua gần 50 năm, kể từ chiến thắng vĩ đại của dân tộc Việt Nam trước đế quốc Mỹ hùng cường, các thế hệ người dân Việt Nam càng cảm nhận đầy đủ và sâu sắc giá trị của chiến công chói lọi mang tầm vóc thời đại này.


Thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự sụp đổ của chế độ ngụy quyền Sài Gòn với hình thức chính thể “Việt Nam cộng hòa” trong cơn bão táp cách mạng giải phóng miền Nam 30/4/1975 là bằng chứng rõ ràng về sự phá sản, thất bại của chủ nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa đế quốc. Đó là sự phá sản, thất bại của các thế lực xâm lược bên ngoài hòng áp đặt ách thống trị, nô dịch, áp bức, bóc lột Nhân dân ta ở miền Nam, được ngụy trang và biện minh bằng những lời lẽ tốt đẹp, những “học thuyết” và “chính sách” tô vẽ cho dân chủ, tự do, cho tiến bộ và phát triển đầy giả dối theo hệ giá trị của Mỹ.


Đã có rất nhiều tiếng nói từ những người ở phía bên kia chiến tuyến sau này thừa nhận sai lầm của họ và ghi nhận chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc Việt Nam cũng như chiến công của những người cộng sản. Ngay cựu Thủ tướng Việt Nam cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ khi nhận xét về việc một số người gọi ngày 30/4 là ngày “quốc hận” và đòi “phục quốc”, ông đã nói rằng: “Thống nhất xứ sở là nhiệm vụ lịch sử của mỗi một người con Việt Nam nhưng chúng tôi đã không làm được. Những người anh em phía bên kia đã làm được, phải chấp nhận đó là lịch sử và đất nước đã được thống nhất rồi. Vậy mà còn quay ra nói phục quốc? Nước Việt Nam có mất cho Tây đâu mà phục quốc?”. Chiến thắng 30/4/1975 là sự khẳng định với toàn thể thế giới về ý chí, nghị lực, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đấu tranh vì độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất non sông. Khát vọng thống nhất đất nước, bảo vệ chủ quyền là một sức mạnh vô song có thể giúp một dân tộc nhỏ, với tính chính nghĩa làm nên những chiến công hiển hách, vĩ đại. 


Cùng với đó có thể khẳng định chắc chắn rằng cuộc chiến 1954-1975 không phải một cuộc nội chiến, bởi lẽ với sự có mặt gần 1 triệu lượt binh lính nước ngoài thuộc 7 nước liên quân, trong đó, hơn 50 vạn quân Mỹ trong suốt cuộc chiến. Chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm sẽ không thể thành lập nếu không có sự giúp đỡ, hậu thuẫn của Mỹ và hơn thế nữa, Hoa Kỳ đã bỏ ra hơn 900 tỷ USD thời điểm đó, 53.000 nhân mạng cho cái mà chúng gọi là "cuộc nội chiến". Lịch sử đã chỉ rõ, từ năm 1949, Mỹ bắt đầu can thiệp, giúp đỡ thực dân Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Đông Dương. 

        

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) và Hiệp định Geneve (21/7/1954), Pháp buộc phải rút quân về nước, Mỹ thay chân Pháp, dựng lên chính quyền bù nhìn Ngô Đình Diệm với mục đích phá hoại Hiệp định Genève, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới. Thực chất đây là cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ, không phải là “nội chiến” hay chiến tranh “ý thức hệ”. Đối với dân tộc Việt Nam, đây là cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, bảo vệ miền Bắc, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, cùng đi lên chủ nghĩa xã hội. 


Những quan điểm, luận điệu, yêu sách sai trái, tiêu cực không phải xuất phát từ thiện chí hòa hợp, hòa giải dân tộc mà chỉ là một thủ đoạn để khoét sâu hận thù, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc của những thế lực chống phá đất nước. Hơn ai hết, thế hệ trẻ - những người gắn bó mật thiết với sự phát triển của khoa học, công nghệ - cần tỉnh táo, tiên phong trong việc phản bác lại những quan điểm sai trái, đi ngược lại giá trị của dân tộc Việt Nam, những ý kiến lạc lõng, xuyên tạc về ý nghĩa lịch sử của Chiến thắng đó, cần phải kiên quyết đấu tranh, bác bỏ. Dù chúng cố tình xuyên tạc, bóp méo thì cũng không thể làm lu mờ giá trị, ý nghĩa của sự kiện 30/4/1975 đối với tiến trình phát triển đất nước Việt Nam từ cội nguồn đến hiện tại và tương lai./. 

Vẫn là đánh giá phiến diện về tình hình nhân quyền Việt Nam

Trên thực tế, Việt Nam đã bảo đảm thực thi tốt nhất các quyền của con người, quyền của công dân. Bằng chứng là: mọi công dân đều được tự do đi lại, tự do cư trú; tự do bày tỏ ý kiến nguyện vọng của mình; mọi ý kiến của người dân đều được lắng nghe, chuyển đến các cấp chính quyền để giải quyết, được phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Bên cạnh đó, với sự phát triển mạnh mẽ của hơn 800 cơ quan báo chí, truyền thông, các trang mạng xã hội,… là diễn đàn để mọi người dân được tự do thể hiện tiếng nói, quan điểm, nguyện vọng của mình trên cơ sở tuân thủ quy định của Hiến pháp, pháp luật. Điều này, đã tạo cơ sở, điều kiện để mọi người dân Việt Nam được phát triển toàn diện, cống hiến, tham gia xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Có một thực tế không thể phủ nhận đó là: đất nước Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ, vị thế, uy tín như hiện nay và được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Với sự nỗ lực, cố gắng đó, Việt Nam đã hai lần trúng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc và đã có những đóng góp tích cực, thực chất, trách nhiệm, thúc đẩy các sáng kiến nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp quốc.

Đáng tiếc rằng, phái đoàn Quốc hội châu Âu khi sang Việt Nam đã không tiếp xúc với các cơ quan chức năng của Nhà nước Việt Nam tìm hiểu để có thông tin chính thức, đầy đủ, nhìn nhận, đánh giá khách quan, chính xác tình hình nhân quyền Việt Nam. Đằng này, họ lại chỉ tiếp xúc, nghe ý kiến của một số phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, có tư tưởng tiêu cực, chống phá Đảng, Nhà nước. Vì thế, có thể khẳng định rằng những thông tin mà họ đưa ra là phiến diện, hoàn toàn không chính xác, gây ảnh hưởng xấu đến mối quan hệ tốt đẹp giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu./.

 NTT sưu tầm

NHỮNG BÔNG HOA TRÊN TUYẾN LỬA

 

Thanh niên xung phong (TNXP)-một thế hệ thanh niên vô cùng gan dạ, thông minh, không sợ gian khổ, hy sinh, quyết chiến, quyết thắng trong chiến đấu, trong lao động sản xuất, trở thành biểu tượng sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là tấm gương sáng cho thế hệ thanh niên Việt Nam hôm nay noi theo.


Trải qua những năm tháng hào hùng của dân tộc, TNXP đã có mặt ở hầu hết các mặt trận, chiến trường gian khổ, ác liệt; sát cánh cùng các lực lượng ngày đêm phục vụ và trực tiếp chiến đấu, lập nên nhiều chiến công xuất sắc. Những con người quả cảm ấy được chính bộ đội ta thương yêu quý mến và gọi với cái tên rất đỗi thân thương là “lực lượng chân đồng, vai sắt, mắt ngựa, bụng thần tiên". Những năm tháng ấy, trên các tuyến đường ra trận, đâu đâu chúng ta cũng bắt gặp “những bông hoa trên tuyến lửa”, các chàng trai, cô gái trên khắp mọi miền Tổ quốc tình nguyện lên biên giới, ra mặt trận làm nhiệm vụ hay đi đến những nơi xa xôi hẻo lánh để xây dựng kinh tế mới…; họ lạc quan, hăng say làm việc với một ý nghĩ cao đẹp “sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”. Để rồi, từ các phong trào “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong”, “Xuống đường tranh đấu”… đã xuất hiện những con người, những việc làm kỳ diệu...

QUAN TÂM, CHIA SẺ - TÌNH NGƯỜI, TÌNH ĐỒNG CHÍ !


Trong cuộc sống, ai cũng có lúc rơi vào hoàn cảnh khó khăn, cần sự quan tâm, chia sẻ của đồng chí, đồng đội. Sự quan tâm, sẻ chia ấy không nhất thiết phải là vật chất mà có khi chỉ bằng hành động, lời nói chân tình cũng đủ giúp nhau vượt lên nghịch cảnh.


Những năm đầu thế kỷ 21, các bộ môn, trung tâm Việt Nam học của nhiều trường đại học lớn trên thế giới đã rất quan tâm, đi tìm nguyên nhân vì sao Việt Nam có thể chiến thắng những đế quốc lớn. Hầu như có chung một lý giải: Địa bàn cư trú, lịch sử, lối canh tác, tập quán đã hình thành một hằng số văn hóa mang đậm bản sắc Việt là tình thương, làm cơ sở cho lòng yêu nước sâu sắc, bền bỉ; cho sự đoàn kết để tạo ra một sức mạnh tinh thần lớn lao. Cũng nhờ vậy mà dù bị ngoại bang đô hộ hàng ngàn năm nhưng nhân dân Việt Nam không bị đồng hóa... Họ đã nói đúng!


Người Việt có câu “Thương người như thể thương thân”, xét đến cùng, có gì quý giá hơn thân thể mình đâu, như thế tức là họ thương quý con người trên tất cả. Người Việt đều coi nhau như anh em ruột thịt nên xưng hô theo nguyên tắc gia đình. Tính cách quy định lối ứng xử. Trọng giá trị tinh thần nên với họ, “Cách cho quý hơn của cho” nhưng cũng rất thực tế “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”... Một ngạn ngữ Việt đi vào lời hát để rồi ai cũng thuộc: “Rằng qua cơn hoạn nạn mới hiểu tận lòng nhau...”. Trong các cuộc kháng chiến vệ quốc, một cách rất tự nhiên, người trẻ ra tiền tuyến sẵn sàng hy sinh thân mình giữ nước. Một cách rất vô tư, người ở hậu phương sẵn sàng tận hiến tài sản cuối cùng quý giá nhất là nhà cửa cho việc quân binh thuận tiện. Sức mạnh Việt Nam là ở đó!

Tình người san sẻ tình người sẽ được nhân lên gấp bội phần. Ngày trước, cha ông đánh giặc bằng tình đoàn kết “Tướng sĩ một lòng phụ tử...”. Sau này đuổi thực dân, đế quốc, những người lính Cụ Hồ cũng lấy tình người, tình đồng chí làm điểm tựa sức mạnh: “Súng bên súng, đầu sát bên đầu/ Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ/ Đồng chí!” ("Đồng chí"-Chính Hữu). Tình đồng chí biểu hiện ra bên ngoài bằng hành động “Thương nhau tay nắm lấy bàn tay!”. Chỉ bằng hành động giản dị, đời thường “Kỳ hộ lưng nhau ngang bờ cát trắng/ Quờ chân tìm hơi ấm đêm mưa” ("Nhớ"-Hồng Nguyên) nhưng trong bối cảnh cực kỳ thiếu thốn, vất vả, gian nan lại nói được rất nhiều về tình đồng chí cao cả, thiêng liêng.

Phải đối mặt với những vấn nạn như chiến tranh, dịch bệnh, ô nhiễm môi sinh... bằng xu hướng đi sâu vào bản thể nhân cách, triết học, con người của thế giới đương đại đã tìm ra 3 “nẻo đường giải thoát” là quan tâm tới người khác, hành động vì người khác, chia sẻ cùng người khác. Người khác được hiểu rộng hơn, không chỉ với người, với cộng đồng mà còn với cả môi trường tự nhiên. Một cuốn sách viết theo hướng này đang bán rất chạy có tên tiếng Anh là “The Power of Giving” (được dịch ở Việt Nam có tên “Sức mạnh của sự chia sẻ”) của các tác giả Azim Jamal và Harvey McKinnon. Theo các tác giả, sự chia sẻ bắt đầu từ mỗi cá nhân, lắng nghe mình, yêu thương và trách nhiệm với chính mình rồi tới gia đình và lan ra ngoài xã hội. Nhờ chia sẻ mà con người mạnh mẽ, giàu có hơn bởi sẽ tạo nên những mối quan hệ mới; kiến tạo những giá trị mới; phát huy, giải phóng những năng lực tiềm ẩn của bản thân. Soi những nội dung này vào tục ngữ, thơ ca Việt Nam về tình người, tình đồng chí như đã dẫn ở trên thì hầu như phù hợp. Nếu soi vào tiểu thuyết “Người mẹ cầm súng” (Nguyễn Thi) sẽ càng hiểu hành động “chia lửa” của chị Út Tịch cùng “đồng chí chồng” vừa là biểu hiện tình yêu gia đình (vợ chồng), vừa là tình yêu Tổ quốc (đồng chí); rất Việt Nam, truyền thống và rất nhân loại, hiện đại. Triết lý, tư tưởng và hành động Việt Nam vì đất nước; vì đạo lý, chính nghĩa; vì con người đã mang tầm nhân loại, đi cùng nhân loại!

Là người lính trực tiếp cầm súng trong cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, người viết bài này từng “chia lửa” với đồng đội theo đúng nghĩa đen, từng chia nhau những giọt nước cuối cùng trong bi-đông, từng được đồng đội che chắn trước mũi tên, hòn đạn... nên thấm thía tình đồng chí vô tư, trong sáng hơn tất thảy. Từ một binh nhất nhút nhát, đặc nhà quê lam lũ, quen cày cuốc, được sự quan tâm, chỉ bảo của lãnh đạo, của anh em đồng chí mà trưởng thành. Nhờ sự để ý, quan sát mà tiểu đội trưởng, trung đội trưởng biết có năng khiếu viết báo nên kiến nghị cấp trên cho đi học sĩ quan chính trị. Nhờ sự giãi bày, chia sẻ tâm tư của đồng đội mà thấu hiểu, thấu cảm được nhiều cảnh đời, nhiều số phận để có vốn liếng viết văn. Khi là chỉ huy, lại được cấp dưới góp ý về những tật xấu-dù nhỏ-để rút kinh nghiệm mà phấn đấu vươn lên. Thì ra quan tâm, chia sẻ không hề là ban phát, không là độc quyền của riêng ai mà chung với tất cả mọi người, bình đẳng, tự nhiên. Hạnh phúc không hề phân biệt chức quyền, cấp trên, cấp dưới. Như thứ nước hoa thơm thảo, khi chia sẻ hạnh phúc cho người khác thì mình cũng được hưởng mùi hương. Thế nên, vì người khác, điều cơ bản nhất là chân thành, là thành thực với mình, với đồng chí, với công việc.

Ai từng là lính đều thấy tình đồng chí là một trong những thứ tài sản đáng quý nhất trong cuộc đời. Có đặc thù là đều xa gia đình, trong môi trường quân ngũ chính quy nên tất cả đều sinh hoạt trong đơn vị. Đơn vị cũng là một gia đình. Không chỉ cấp trên mới quan tâm đến cấp dưới mà cấp dưới cũng có thể chia sẻ với cấp trên. Như anh em ruột thịt, ai cũng có thể nói và lắng nghe nhau những điều nhỏ nhất từ trái tim mỗi người. Đó là nền tảng tạo nên nhân cách mỗi người, cũng là nền tảng tạo nên sức mạnh của Quân đội ta.

CHA ÔNG TA GIỮ NƯỚC: ĐẶNG DUNG, ĐẶNG TẤT-HAI CHA CON ĐỀU LÀ BẬC ANH HÙNG CỨU NƯỚC!

"QUỐC SĨ VÔ SONG SONG QUỐC SĨ 
ANH HÙNG VÔ NHỊ NHỊ ANH HÙNG "
Đó là 2 câu thơ của vua Lê Thánh Tông về 2 vị anh hùng có một không hai trong lịch sử Việt Nam, cha con Đặng Tất và Đặng Dung. Có lẽ chúng ta đã nghe và biết đến quá nhiều về hình ảnh của các vị anh hùng trung quân ái quốc, nghĩa khí ngút trời trong lịch sử Trung Hoa qua các tác phẩm tiểu thuyết, điện ảnh. Thế nhưng lịch sử Việt Nam cũng không hề thiếu những bậc anh hùng như vậy, thậm chí còn không cần phải tô vẽ thêm bất cứ điều gì ! 

Cha con Đặng Tất - Đặng Dung chính là 2 vị anh hùng như vậy. 

Trần Ngỗi là con thứ của vua Trần Nghệ Tông, tự xưng là Giản Định Hoàng đế, tổ chức khởi nghĩa ở Mộ Độ (Yên Mô, Ninh Bình). Khi khởi nghĩa của Trần Ngỗi bị đàn áp, phải rút vào Nghệ An, một số thủ lĩnh nghĩa quân và quan lại yêu nước của nhà Trần, nhà Hồ cùng đông đảo Nhân dân Nghệ An tham gia. 

Cũng năm 1407, cha con Đặng Tất, Đặng Dung dấy nghĩa chống Minh ở Hóa Châu rồi khi Giản Định đế rút vào Nghệ An, ông mang theo quân ra phò vua, cùng với Nguyễn Cảnh Chân là hai nhân vật chủ yếu của cuộc khởi nghĩa. 

Trước thế giặc mạnh, Đặng Tất, Đặng Dung cùng vua tôi nhà Hậu Trần vẫn kiên cường chiến đấu và lập được nhiều chiến công hiển hách, trong đó phải kể đến trận Bô Cô với chiến tích vô tiền khoáng hậu, tiêu diệt 10 vạn tinh binh quân Minh cùng với hàng loạt các danh tướng của quân địch. Trận chiến này tuy ít được nhắc tới vì số trời không cho nhà Hậu Trần một lần nữa được làm chủ đất Việt nhưng uy danh của nó thì không hề kém những Bạch Đằng, Chi Lăng, hay Đống Đa. 

Đặng Dung Đặng Tất giết chết được thượng thư bộ binh Lưu Tuấn, Đô ti Lữ Nghị của nhà Minh và 10 vạn đại quân của giặc. Đây có thể coi là trận đánh kinh điển có 1 không 2 trong lịch sử Việt Nam. Trận đánh lấy ít địch nhiều thuộc hàng siêu phẩm này có thể trở thành tuyệt tác trong sách giáo khoa về nghệ thuật quân sự của Việt Nam. 

Trận Bô Cô đã phần nào thay đổi cán cân lực lượng, khí thế nghĩa quân dâng cao ngút trời, cơ đồ nước Việt sắp được trung hưng 1 lần nữa. Thế nhưng thật đáng tiếc vì nghe lời khuyên của hoạn quan là Nguyễn Quỹ và kẻ học trò Nguyễn Mộng Trang, nói rằng Đặng Tất chuyên quyền, vua Giản Định Đế đem lòng ngờ vực đã giết Đặng Tất và Nguyễn Cảnh Chân. Đặng Dung tức giận bỏ Trần Ngỗi, cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) và Nguyễn Súy đem binh Thuận hóa về Thanh Hóa, rước Trần Quý Khoáng đến Nghệ An lập làm vua.

Sau này bọn Nguyễn Súy bắt được Giản Định Đế, nhưng trước mối thù giết cha, Đặng Dung gạt lệ bỏ qua mà đặt nợ nước lên hàng đầu, vì nghĩa lớn tôn Giản Định Đế lên làm Thái Thượng Hoàng, cùng mưu tính việc lớn.

Dưới trướng minh chủ mới, từ năm 1409 đến 1413, ông cùng Nguyễn Cảnh Dị (con trai Nguyễn Cảnh Chân), Nguyễn Súy, Nguyễn Biểu… giao chiến với quân Minh hàng chục trận lớn nhỏ, giành nhiều chiến thắng, giải phóng được nhiều vùng rộng lớn. Từ Nghệ An, nghĩa quân đã tiến ra Bắc, Đặng Dung tung quân đánh chiếm của Hàm Tử, Bình Than… làm cho quân Minh khốn đốn phải hai lần điều quân sang tiếp viện.

Tuy nhiên, do lực lượng quá chênh lệch, vận khí của họ Trần đã cạn, dù có lúc giành được những thắng lợi lớn, cuối cùng, Đặng Dung không thể giúp nhà Trần dành lại cơ nghiệp. Đặng Dung và nghĩa quân không cản nổi cuộc tấn công của Trương Phụ, Mộc Thạnh.

Đầu năm 1414, Đặng Dung rơi vào tay giặc Minh, Trương Phụ mở tiệc khoản đãi, dụ dỗ ông nhưng Đặng Dung thà chết chứ không can tâm làm tay sai của giặc. Dụ dỗ không được, chúng đưa ông lên thuyền cùng vua Trùng Quang Đế giải về Trung Quốc.

Trên đường đi ông khắc lên ván thuyền bài thơ “Cảm Hoài” gửi tâm sự lại cho hậu thế. Rồi lợi dụng sự canh phòng sơ hở của giặc, ông nhảy xuống sông tuẫn tiết. Bài thơ của ông tỏ rõ lòng yêu nước và khí phách phi phàm, trong đó có những câu như: “Thù trả chưa xong đầu đã bạc. Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày“./.
Yêu nước ST.

XIN CÓ ĐÔI LỜI VỚI ANH EM RFA ĐỪNG CẦM ĐÈN CHẠY TRUỚC Ô TÔ MÀ PHÁN THAY CƠ QUAN PHÁP LUẬT NHÉ!

     Nghe bẩu 3 ngày nữa ngài quý tử họ Nguyễn Lân được đưa ra tụng đình, thì cũng phải thôi, có kết luận điều tra và cáo trạng rồi thì đưa ra cho nó có danh có phận chứ chả nhẽ lại lửng lơ mãi! 

Nói gì nói, không biết rằng tự thân ngài chọn luật sư hay thân nhân ngài chọn giúp, cơ mà thấy không phải một trong số những cái tên của hợp tác xã toàn thua là kẻ già này thấy có tí sáng suốt rồi. Thôi thì mong ngày được đúng khung đủ lịch xong có tí xét tới truyền thống gia đình mà được ân giảm tí thì hài hoà về mọi nhẽ. Chứ phải tay anh em toàn thua bào chữa mà ngài lại ăn vượt khung hoặc truy tố bổ sung thì lại khốn nạn. 

Nghe bẩu ngài không muốn toà xử kín mà muốn xử công khai. Thật ra, người ta muốn xử kín là để giữ cho dòng họ danh giá ấy, họ hẳn cũng chẳng vui vẻ gì khi có đứa hậu duệ như ngài. Nay ngài lại muốn xử công khai khác nào lôi gia tiên tiền tổ ra giữa đàng giữa chợ mà bôi tro trát trấu. Thật không nên chút nào...

Hehe, lại nói đám truyền thông anti anh em cầm quyền xứ này, bỏn bảo anh em cầm quyền xử ngài với điều 117 bởi ngài "phản biện ôn hoà trên mạng xã hội" - ấy là dở. Hehe nếu chỉ là mấy bài đăng bát nháo trên mạng xã hội thôi mà bị bắt thì còn vô số đứa khác cũng ăn cơm cân áo số rồi. Quý tử nhà Nguyễn Lân không chỉ có "phản biện ôn hoà trên mạng xã hội", mà còn nặng hơn thế, đợi nghe cáo trạng và công bố chứng cứ thì anh em rõ. Lấp liếm với oánh tráo khái niệm thế đ.éo nào được...

Cơ mà nói gì nói, Cụ lại đồ rằng hôm tới người ta lại sẽ thấy ngài Thắng béo rụt cổ cho mà xem. Cái thứ cơm tù xứ Sản này nó thế...
A hihi, Cụ lêu lêu anh em RFA nhé, chỉ mỗi ăn với gõ chữ thôi cũng không ra hồn!
Yêu nước ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TƯ - ĐỘI TRƯỞNG BINH ĐOÀN ONG VÒ VẼ!

     Anh hùng Nguyễn Văn Tư (1935-1964), quê tại ấp Thành Hóa 1, xã Tân Thành Bình, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre. Ông xuất thân từ gia đình nông dân cần cù, yêu nước, bám đất giữ làng trong những năm chiến tranh ác l.iệt nhất. Tất cả 11 anh chị em ruột của ông đều tham gia cách mạng, 3 người đã hy sinh anh dũng vì sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Là người thông minh nên ông Tư luôn sáng tạo ra cách đ.ánh địch phù hợp, bất ngờ.

🐝 Đặc biệt, với sáng kiến nuôi ong vò vẽ, ông Tư cùng đội du kích xã Tân Thành Bình đã lập nhiều chiến công, hạ gục giặc, thu gom nhiều vũ khí của địch, chi viện cho bộ đội địa phương huyện Mỏ Cày. Lối đánh giặc rất hiệu quả bằng ong vò vẽ đã nhanh chóng được phổ biến nhân rộng trên khắp chiến trường miền Nam trong khoảng thời gian từ năm 1962.

Để có những tổ ong vò vẽ, ông Tư phải vào trong rừng lùng hàng tuần, chủ yếu ông bắt về những tổ ong còn nhỏ rồi tiến hành xây dựng trận địa. Hằng ngày ông cho ong ăn thịt trâu, thịt bò cho chúng mau lớn. Sau đó, ông chỉ huy binh đoàn đặc biệt này, kết hợp với trận địa chông, m.ìn đánh đ.ịch rất hiệu quả. Ông nối tổ ong với một sợi dây dài, khi địch lọt vào ổ phục kích, từ xa ông giật dây cho ong bay ra rượt bọn địch tới tấp, khiến chúng hoảng loạn đâm đầu chạy mà không biết xung quanh có trận địa đã gài sẵn. Cứ thế, ông Tư cùng với đội quân cảm tử này lập rất nhiều chiến công.

Những ngày đầu mới dùng ong vò vẽ đánh giặc, sau khi đánh xong thường bị mất luôn tổ ong, vì nếu lại thu ổ ong về sẽ bị chúng xông vào cắn. Ông Tư lại nghĩ ra một cách có thể đưa những “chú lính” đặc biệt này về để phục vụ những trận đánh khác bằng cách hàng ngày ông treo quần áo của mình gần ổ ong, ong quen mùi nên không đốt ông Tư nữa. Có những lần ông cải trang gánh ong ra chợ đánh Mỹ ngụy giữa ban ngày trong lúc đông người.
Kỳ lạ là ong không đốt dân, lý do vì sao thì lúc đó chỉ có ông Tư biết. Sau này, khi cách đánh này hiệu quả, ông Tư mới cho biết là ông thường xuyên đem quần áo đen trắng, khăn rằn, nón lá treo xung quanh các tổ ong nuôi trong vườn, ong tiếp xúc hàng ngày, quen hơi, quen màu sắc nên rất thân thiện Khi đem những quần áo, nón sắt của lính Mỹ, ngụy treo gần các tổ ong thì lập tức chúng bay đến đốt rất ác chiến vì đồ khác màu, khác mùi".
Sức sáng tạo của ông cha ta quả là vô hạn các bạn nhỉ./.
Yêu nước ST.

ĐÔI LỜI NHẮN GỬI ANH BLINKEN-NGOẠI TRƯỞNG HUÊ KỲ!

Chào anh Blinken 
Anh Blinken đến Việt nam, là một người Việt, tôi rất hoan nghênh!
Tôi biết chắc chắn anh đến để gửi một thông điệp rằng, Mỹ rất coi trọng quan hệ với Việt Nam và mong muốn thúc đẩy quan hệ Việt-Mỹ lên một tầm cao mới, nâng cấp quan hệ đối tác.
Về phương diện ngoại giao, Việt Nam luôn sẵn sàng mở rộng quan hệ với Mỹ, Việt Nam biết vị thế của Mỹ trên thế giới, Việt Nam biết các tiềm năng của thị trường Mỹ, và Việt Nam tôi tôn trọng điều đó.
Nhưng, nói đi phải nói lại, trong mối quan hệ hai chiều này, Mỹ cũng đang rất cần Việt Nam, cần vị thế và uy tín đang lên của Việt Nam trong chiến lược Đông Á của Mỹ. 
Quan hệ Việt-Mỹ do đó là quan hệ hợp tác bình đẳng chứ không phải quan hệ một chiều kiểu nước lớn nước bé hay xin-cho, ông chủ-đầy tớ như cái thây ma ngụy mấy chục năm về trước.
Nhưng, một điều cũng cần nhắc thêm anh Blinken rằng một mối quan hệ lâu bên nó phải dựa trên sự thực tâm và chân thành. Việt Nam muốn điều kiện tiên quyết là Mỹ hãy rút cái dao cứ kè kè sau lưng Việt Nam đã.
Anh vừa mới cho đàn em trong bộ của anh đánh giá sai lệch về nhân quyền của Việt Nam chúng tôi. Người dân chúng tôi rất tôn trọng và mến khách, thủy chung nhưng anh phải dạy bảo đàn em của bộ anh phát ngôn, nói năng cho đúng.
Chừng nào Mỹ tôn trọng đầy đủ sự khác biệt thể chế chính trị của Việt Nam thì lúc đó quan hệ mới thực sự nâng tầm đi vào chiều sâu!
Anh sang, Hà mỗ tôi lại mời anh đi bún chả vỉa hè nhé!
Yêu nước ST.

ĐẠI TƯỚNG PHAN VĂN GIANG VÀ LÃNH ĐẠO BỘ QUỐC PHÒNG LÀM VIỆC VỚI HỌC VIỆN HẬU CẦN!

     Sáng 11-4, tại Hà Nội, Đại tướng Phan Văn Giang, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và lãnh đạo Bộ Quốc phòng có buổi làm việc với Học viện Hậu cần để đánh giá tình hình kết quả sau một năm triển khai thực hiện kết luận, chỉ đạo của Bộ trưởng và định hướng công tác giáo dục, đào tạo, xây dựng, phát triển Học viện trong thời gian tới.

Tham gia buổi làm việc có các đồng chí: Thượng tướng Nguyễn Tân Cương, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Trung tướng Nguyễn Doãn Anh, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam; Trung tướng Trịnh Văn Quyết, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; lãnh đạo, chỉ huy các tổng cục, cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Quốc phòng.

Về phía Học viện Hậu cần, dự buổi làm việc có các đồng chí: Thiếu tướng Phan Tùng Sơn, Giám đốc Học viện; Trung tướng Dương Đức Thiện, Chính ủy Học viện; các đồng chí trong Đảng ủy, Ban giám đốc Học viện; đại biểu chỉ huy các phòng, khoa, ban, đơn vị quản lý học viên…

Báo cáo tại buổi làm việc, Thiếu tướng Phan Tùng Sơn, Giám đốc Học viện Hậu cần khẳng định, thực hiện kết luận của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và nhận xét của Đoàn kiểm tra Bộ Quốc phòng kiểm tra Học viện ngày 16-3-2022, Đảng ủy, Ban giám đốc Học viện đã nghiêm túc kiểm điểm, rút kinh nghiệm và tìm ra nguyên nhân của các hạn chế, tồn tại. Trên cơ sở xác định trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị, Học viện đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp để tổ chức khắc phục các tồn tại, hạn chế sau cuộc kiểm tra.

Nổi bật là, Học viện đã tổ chức ký kết chương trình phối hợp thực hiện phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị” với Quân khu 1 và Sư đoàn 316 (Quân khu 2); lấy ý kiến phản hồi của chỉ huy các đơn vị về chất lượng của học viên ra trường; phối hợp với các cơ quan Tổng cục Hậu cần biên soạn các văn kiện, tài liệu hậu cần. Cùng với đó, Học viện đã kịp thời xây dựng chương trình cho các đối tượng mới; chỉ đạo xây dựng và triển khai kế hoạch huấn luyện đêm, tổ chức diễn tập sát với thực tế, gắn với ứng dụng công nghệ thông tin.

Học viện tổ chức học tập chặt chẽ bằng nhiều phương pháp, hình thức phong phú để nâng cao trình độ ngoại ngữ cho đối tượng sĩ quan hậu cần cấp phân đội; triển khai quyết liệt, hiệu quả kế hoạch chuyển đổi số trong các hoạt động giáo dục, đào tạo. Nhiều hệ thống, phần mềm được triển khai và vận hành ổn định, phục vụ hiệu quả công tác quản lý, điều hành huấn luyện và giảng dạy, học tập. Đặc biệt, kết quả huấn luyện ở các nội dung đều tăng so với thời điểm kiểm tra. Đảng ủy Học viện đã lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng các cấp ủy, tổ chức đảng, xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ gắn với xây dựng Học viện vững mạnh toàn diện “mẫu mực, tiêu biểu”. Tổng kết năm 2022, Học viện được Bộ Quốc phòng xét, đề nghị Thủ tướng Chính phủ tặng Cờ thi đua...

Qua nghe báo cáo trung tâm và ý kiến giải trình, thảo luận của các đại biểu, phát biểu kết luận buổi làm việc, Đại tướng Phan Văn Giang biểu dương Đảng ủy, Ban giám đốc Học viện Hậu cần đã nỗ lực khắc phục khó khăn, quán triệt, thực hiện nghiêm túc kết luận của Bộ trưởng; khẩn trương ban hành nghị quyết lãnh đạo và xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện cụ thể, triển khai toàn diện các nhiệm vụ, tập trung các giải pháp khắc phục những hạn chế, khuyết điểm đoàn kiểm tra đã chỉ ra. Đồng thời, chỉ ra những hạn chế, tồn tại yêu cầu Đảng ủy, Ban giám đốc Học viện tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp để khắc phục, chấn chỉnh trong thời gian tới.

Đại tướng Phan Văn Giang yêu cầu, Học viện tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, thực hiện nghiêm túc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, kết luận, chỉ thị của các cấp về nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và công tác giáo dục, đào tạo, nhất là nghị quyết của Quân ủy Trung ương về đổi mới công tác giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng Quân đội trong tình hình mới. Duy trì nghiêm túc nền nếp chính quy, chấp hành pháp luật, kỷ luật và các chế độ, quy định. Học viện cần tích cực cụ thể hóa phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị” và “Dạy thực chất, học thực chất, đánh giá thực chất”.

Học viện cần chủ động phối hợp với cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng và các đơn vị trong toàn quân để điều chỉnh nội dung, chương trình đào tạo, tăng cường bồi dưỡng, cập nhật kiến thức thực tiễn cho giảng viên phù hợp với yêu cầu phát triển của đơn vị. Tập trung nguồn lực nâng cao chất lượng học viên đào tạo sĩ quan cấp phân đội, nhất là học viên năm thứ nhất.

Bộ trưởng Phan Văn Giang nhấn mạnh, Học viện cần tiếp tục quan tâm nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục, tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ, giảng viên tích cực tham gia nghiên cứu, học tập, nâng cao trình độ. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong giáo dục, đào tạo và các hoạt động của Học viện.

Cùng với đó, quan tâm, chăm lo, bảo đảm tốt đời sống vật chất, tinh thần, điều kiện học tập, nghiên cứu, sinh hoạt cho cán bộ, giảng viên, học viên, chiến sĩ; tập trung xây dựng Đảng bộ Học viện trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, gắn với xây dựng Nhà trường thực sự đoàn kết, có môi trường văn hóa, giáo dục và đào tạo chuẩn mực. Phối hợp với các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng đẩy nhanh tiến độ triển khai công tác quy hoạch, đầu tư xây dựng một số công trình, dự án phục vụ nhiệm vụ huấn luyện và bảo đảm tốt cho bộ đội sinh hoạt, học tập, công tác.

Về các đề nghị của Học viện tại buổi làm việc, Đại tướng Phan Văn Giang nhất trí với một số nội dung; giao cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng tổng hợp, báo cáo cụ thể đối với các nội dung còn lại để thủ trưởng Bộ Quốc phòng xem xét, giải quyết theo thẩm quyền.
Theo Báo QĐND./.




Yêu nước ST.