Thứ Tư, 12 tháng 4, 2023

Nghị quyết cần ngắn, rõ, đúng

Một con số khá trăn trở thông qua điều tra xã hội học được tiến hành ở 23 đảng bộ xã, phường, thị trấn thuộc 3 tỉnh khu vực Tây Nguyên cho thấy: Khi đặt ra câu hỏi: “Nghị quyết của tổ chức đảng các cấp hiện có quá dài?” thì 72% đảng viên được hỏi chọn phương án “dài”; 21% đảng viên chọn phương án “quá dài”.

Với câu hỏi: “Nghị quyết dài thì gây khó gì cho cơ sở trong quán triệt, triển khai?” thì có hơn 65% đảng viên trả lời: Nghị quyết dài là không cần thiết; gây khó cho học tập, quán triệt; khó xác định các trọng tâm, trọng điểm lãnh đạo. Phần lớn ý kiến cho rằng, cũng một vấn đề, nội dung được nghị quyết đề cập, nhưng nếu đề cao trách nhiệm hơn thì những người xây dựng nghị quyết hoàn toàn có thể thể hiện ngắn gọn và dễ hiểu hơn nhiều. Do đó, hơn 99% đảng viên được khảo sát nêu đề xuất: Nghị quyết của tổ chức đảng hiện nay cấp thiết phải ngắn gọn lại, dung dị, dễ hiểu, dễ triển khai.

Thực tế cho thấy, không ít nghị quyết của tổ chức cơ sở đảng; nhất là ở cấp chi bộ lại dành dung lượng khá lớn để đánh giá tình hình thế giới, khu vực, trong nước và dự báo những vấn đề rất ít liên quan đến chức năng, nhiệm vụ và đặc thù công tác lãnh đạo, chỉ đạo ở cấp mình, tổ chức mình. Có chi bộ ban hành nghị quyết một cách cầu toàn, vấn đề nào cũng đề cập, nội dung nào cũng “đá” một ít, như để khẳng định: Tổ chức đảng phải lãnh đạo toàn diện mọi mặt công tác và điều đó phải được thể hiện trong nội dung nghị quyết. Qua công tác tổng hợp cho thấy, các nghị quyết ở đảng bộ cấp xã, phường, thị trấn thường có dung lượng từ 8 đến 10 trang A4 (có nơi ngắn gọn khoảng 6 trang A4)-dung lượng như vậy là quá dài. Điều đó cho thấy, những người chuẩn bị, xây dựng nghị quyết vốn đã rất vất vả, thế nhưng những người quán triệt, đọc, học càng vất vả hơn.

Nhiều cán bộ cơ sở dẫn lại câu chuyện viết nghị quyết và các văn kiện Đảng của Chủ tịch Hồ Chí Minh-Người sáng lập và rèn luyện Đảng ta. Theo đó, khi trực tiếp biên soạn các văn kiện, văn bản, nghị quyết quan trọng, có tính chiến lược, Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện hết sức ngắn gọn, súc tích. Ví như, Chánh cương vắn tắt của Đảng chỉ có 265 từ; Sách lược vắn tắt của Đảng: 251 từ; Tuyên ngôn Độc lập: 1.085 từ; Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến: 205 từ; Di chúc hơn 1.000 từ... Ngắn và gọn là thế nhưng văn bản nào của Người khi ban hành cũng đều được đông đảo quần chúng tiếp nhận, quyết tâm thực hiện, tạo nên các cao trào cách mạng mạnh mẽ trong toàn Đảng, toàn dân, toàn quân.

Chủ tịch Hồ Chí Minh viết ngắn gọn, súc tích là bởi Người luôn bám sát mục đích cao nhất là nhằm tuyên truyền, lãnh đạo, giáo dục, giác ngộ cán bộ, quần chúng. Người chỉ rõ: “Mình viết ra cốt là để giáo dục, cổ động; nếu người xem mà không nhớ được, không hiểu được, là viết không đúng, nhằm không đúng mục đích...”. Chủ tịch Hồ Chí Minh phê phán: “Nhiều anh em hay viết dài. Viết dòng này qua dòng khác, trang này qua trang khác. Nhưng không có ích cho người xem. Chỉ làm tốn giấy, tốn mực, mất công người xem”.

Trong nhiều năm qua, các cơ quan chức năng của Trung ương luôn quyết liệt chỉ đạo, hướng dẫn việc xây dựng, ban hành nghị quyết ở tất cả các cấp; tập trung vào đổi mới việc xây dựng nghị quyết ở cấp cơ sở theo hướng ngày càng đi vào thực chất, ngắn gọn, dễ đọc, dễ hiểu, dễ triển khai. Thế nhưng, tinh thần đó qua các cấp chưa được quán triệt đầy đủ; trong khi công tác kiểm tra, bồi dưỡng, chỉnh huấn... còn nhiều yếu kém, có nơi còn “bỏ ngỏ”. Đây chính là một trong nhiều nguyên nhân khiến cán bộ, đảng viên và quần chúng ngại học nghị quyết, sinh ra tắc trách, khó triển khai thực hiện nghị quyết đạt hiệu quả.

Để nghị quyết đi vào cuộc sống thì khâu đầu tiên, cấp thiết hiện nay là phải đổi mới phương thức xây dựng nghị quyết, nhất là ở cấp cơ sở. Các cấp cần đặc biệt quan tâm lãnh đạo, quyết liệt đổi mới một cách căn bản việc xây dựng nghị quyết theo hướng ngắn gọn, thực chất, sát thực tế; quyết liệt chống “bệnh ôm đồm”, dài dòng trong thể hiện văn phong nghị quyết. Việc làm đó cần được tiến hành đồng bộ, mạnh mẽ, kết hợp giữa hướng dẫn với kiểm tra, uốn nắn; tạo một đợt sinh hoạt chính trị rộng khắp trong hệ thống tổ chức đảng. Từng cấp ủy nêu cao trách nhiệm trong thảo luận, quyết nghị các chủ trương, giải pháp lãnh đạo; nhưng cũng đồng thời đặt ra những yêu cầu cao về dung lượng nghị quyết, tất yếu phải “gọt bỏ”, “gọt bớt” những nội dung, câu từ dài dòng, hoa mỹ, sáo rỗng. Để làm được phần việc này, 22/22 chuyên gia khoa học (nhóm phóng viên Báo Quân đội nhân dân tiếp cận, phỏng vấn phục vụ tổ chức tuyến bài này) có chung mong muốn: Trung ương phải có trách nhiệm làm trước, làm gương và đề ra các quy tắc, quy định bắt buộc về thể thức, dung lượng nghị quyết để tổ chức đảng các cấp học tập, làm theo và nghiêm túc thực hiện đồng bộ trong toàn Đảng.

Với những người có trách nhiệm trực tiếp soạn thảo nghị quyết, phải luôn khắc nhớ sâu sắc lời phê bình của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Viết làm gì dài dòng và rỗng tuếch như thế? Chỉ có một cách trả lời: Là quyết không muốn cho quần chúng xem. Vì đã dài lại rỗng, quần chúng trông thấy đã lắc đầu, ai còn dám xem nữa? Kết quả chỉ để cho những ai vô công rồi nghề xem, và người xem cũng mắc phải thói xấu như người viết”.

Đổi mới cách xây dựng nghị quyết của tổ chức đảng ở cơ sở không chỉ là việc cải cách hành chính trong Đảng mà cao hơn là một giải pháp quan trọng để Đảng ta mạnh lên từ cơ sở, nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng trong tình hình mới. Cũng bởi thế mà phần việc này thuộc sứ mệnh, trách nhiệm của các cơ quan Trung ương, nhất là việc ban hành các hướng dẫn về thể thức, bố cục, dung lượng nghị quyết.

TT

Những giá trị bền vững không thể phủ nhận của chủ nghĩa Mác – Lênin

         Thực hiện chiến lược “diễn biến hòa bình” nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch đặt trọng tâm là chống phá nền tảng tư tưởng, lý luận của Đảng Cộng sản Việt nam, đó là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Chúng tìm mọi cách để xuyên tạc, hạ thấp và phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong đời sống, tinh thần xã hội Việt Nam. Vì vậy, tăng cường bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vừa là nhiệm vụ cơ bản lâu dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách trong công tác tư tưởng, lý luận ở nước ta hiện nay. Văn kiện Đại hội XIII của Đảng khẳng định: “Kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam trong từng giai đoạn” và “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, kiên quyết và thường xuyên đấu tranh phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”.
Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời từ giữa thế kỷ XIX và được tiếp tục phát triển, trở thành một học thuyết có ảnh hưởng lớn nhất trong trong toàn bộ lịch sử khoa học của nhân loại. Sau gần 180 năm phát triển, dẫn dắt cả một hệ thống các quốc gia, dân tộc với hàng tỷ người dân hiện thực hóa mô hình xã hội mới, mang lại những thành tựu vĩ đại, đánh dấu một thời đại cách mạng chưa từng có trong lịch sử nhân loại, chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định những giá trị bền vững không thể phủ nhận. Đó là:
(1) Phương pháp biện chứng duy vật: Phương pháp biện chứng duy vật Mác - Lênin là sự kết tinh toàn bộ những thành tựu tinh hoa của lịch sử phát triển tư tưởng duy vật của nhân loại. Nó cũng được bổ sung, làm phong phú thêm và minh chứng bởi những thành tựu khoa học lớn của thời đại Mác, Ăngghen và Lênin sống, cũng như nhiều thành tựu khoa học của thời đại ngày nay. Phương pháp biện chứng Mác - Lênin xuất phát từ những nguyên lý, quy luật và những mối quan hệ cơ bản của tự nhiên và xã hội. Vì thế, một khi những quy luật đó còn còn phản ánh đúng bản chất của tự nhiên, xã hội và tư duy của con người thì phương pháp biện chứng duy vật còn có giá trị, còn là công cụ nhận thức của con người. Ví dụ, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến cho rằng, toàn bộ thế giới thống nhất trong tính vật chất và cho dù các sự vật, hiện tượng có đa dạng, phong phú, phức tạp đến đâu thì chúng cũng chỉ là những dạng, bộ phận của thế giới vật chất duy nhất, có những mối liên hệ chặt chẽ lẫn nhau. Từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến, người ta rút ra quan điểm toàn diện, lịch sử, cụ thể  trong nhận thức hay trong hoạt động thực tiễn. Hoặc Lênin đã phát triển lý luận nhận thức và chỉ ra rằng: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn - đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức thực tại khách quan”. Đây chính là quy luật về tư duy của con ngườitrong quá trình nhận thức thế giới. Nó chỉ ra rằng, chính thực tiễn là động lực thúc đẩy quá trình nhận thức của con người về thế giới xung quanh mình. Đến lượt nó, cũng chính thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý, tiêu chuẩn đánh giá kết quả nhận thức. Cũng như phép hùng biện ra đời từ thời Hy Lạp cổ đại, thuyết tiến hóa của Đác-uyn từ giữa thế kỷ XIX…, đến nay vẫn có giá trị, vẫn không lỗi thời, phương pháp luận biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn có giá trị không thể thay thế, giúp con người không phân biệt hệ tư tưởng, bước lên con đường đúng đắn trong nhận thức, hiểu biết và trong hoạt động thực tiễn hằng ngày.
(2) Quan niệm duy vật về lịch sử: Lần đầu tiên trong lịch sử triết học của nhân loại, Mác đã phát hiện ra tính quy luật của sự phát triển xã hội loài người, điều mà Lênin đã nhận xét rằng, đó là “thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học”. Quan niệm duy vật về lịch sử cho thấy lịch sử xã hội loài người vận động trên cơ sở những động cơ vật chất, nhất là là động cơ lợi ích kinh tế. Quan niệm duy vật về lịch sử cũng xuất phát từ trình độ phát triển của nền sản xuất vật chất xã hội để lý giải về đời sống tinh thần, những tư tưởng, văn hóa, điều kiện xã hội của quần chúng nhân dân và vai trò của họ trong lịch sử. Hơn thế nữa, quan niệm duy vật về lịch sử xem xét xã hội một cách toàn diện, chỉnh thể, trên nền của sự phát sinh, phát triển và suy tàn của các hình thái kinh tế - xã hội. Trong khi khẳng định vai trò quyết định của đời sống vật chất đối với đời sống tinh thần, quan niệm duy vật về lịch sử cũng nhấn mạnh vai trò tích cực, sự tác động trở lại của đời sống tinh thần đối với đời sống vật chất, của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội. Mặc dù con người không thể tùy tiện thay đổi hay xóa bỏ các quy luật của xã hội, nhưng thông qua hoạt động thực tiễn của mình, con người có thể tác động để các quy luật xã hội diễn ra nhanh hơn hay chậm đi. Nói chung, quan niệm duy vật về lịch sử là cơ sở phương pháp luận giúp con người nhận thức xã hội, thực tiễn một cách đúng đắn và còn nguyên giá trị, không thể lỗi thời cho dù trong điều kiện của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra.
(3) Lý luận về hình thái kinh tế - xã hội: Trên cơ sở nghiên cứu tổng kết toàn bộ lịch sử phát triển của xã hội loài người, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ ra rằng, sự phát triển của xã hội loài người rất phong phú, đa dạng, nhưng đó là sự phát triển có quy luật. Những yếu tố cốt lõi quy định tiến trình phát triển của xã hội chính là mối quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất,quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng- những yếu tố căn bản tạo nên và quy định tính chất, trình độ của mỗi hình thái kinh tế - xã hội. Và toàn bộ dòng chảy lịch sử của nhân loại là quá trình lịch sử - tự nhiên với sự thay thế, tiếp nối các hình thái kinh tế - xã hội từ thấp lên cao (cộng sản nguyên thủy, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và chủ nghĩa cộng sản). Nguyên nhân khách quan, nội tại dẫn tới sự thay thế, tiếp nối các hình thái kinh tế - xã hội là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng. Cho dù sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc trên thế giới đều rất phong phú với những biểu hiện sinh động về đời sống vật chất, tinh thần, tuy nhiên tất cả vẫn phải trải qua những nấc thang, những giai đoạn tương đồng nhất định của hình thái kinh tế - xã hội. Đó có thể là sự tương đồng về tuần tự từ thấp đến cao của các hình thái kinh tế - xã hội. Cũng có thể là sự tương đồng về sự bỏ qua một hình thái kinh tế - xã hội nào đó nếu điều kiện cho phép. Chính điều này đã dẫn tới tình trạng phát triển không đồng đều của các dân tộc, quốc gia trên thế giới. Sự phát triển không đồng đềuthể hiện ở chỗ, trong cùng một thời đại, những các quốc gia dân tộc không ở cùng một hình thái kinh tế - xã hội như nhau, hoặc cùng một hình thái kinh tế - xã hội như nhau nhưng ở mỗi quốc gia, dân tộc lại có những biểu hiện, đặc điểm khác nhau. Mặt khác, chủ nghĩa Mác - Lênin cũng chỉ ra rằng, con người không thể chủ quan, tùy tiện xóa bỏ quy luật khách quan của lịch sử, nhưng con người thông qua động cơ lợi ích, ước muốn, có thể tác động, thúc đẩy quy luật đó diễn ra nhanh hay chậm. Cùng với quan niệm duy vật về lịch sửlý luận về hình thái kinh tế - xã hội tạo thành cơ sở cho phương pháp luận khoa học trong nhận thức thực tiễn xã hội, giúp cho con người, các lực lượng chính trị - xã hội tiến bộ có thái độ, hành vi hợp lý trong việc thúc đẩy sự phát triển tích cực của xã hội.
(4) Lý luận về giá trị thặng dư: Nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, Mác đã phát hiện ra quy luật giá trị thặng dư, trên cơ sở đó, ông đã vén lên bức màn bí mật của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nguyên nhân và cơ chế vận hành của sự bóc lột đối với công nhân, người làm thuê. Cho đến nay, chưa có học giả nào có thể đưa ra một lý luận có thể khả dĩ bác bỏ được lý luận về giá trị thặng dư của Mác. Cùng với lý luận về giá trị thặng dư, lý luận về sở hữu, về khả năng xóa bỏ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất, lý luận về sự ra đời tất yếu của sở hữu xã hội là những giá trị bền vững của kinh tế - chính trị Mác - Lênin.Ngày nay, chính sự phát triển vũ bão của khoa học - công nghệ, nhất là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã không làm cho lý luận về giá trị thặng dư, về mối quan hệ sở hữu, trở nên lỗi thời, mà ngược lại, đã và đang minh chứng cho tính đúng đắn của những lý luận đó.
(5) Lý luận về chủ nghĩa xã hội khoa học: Khi Mác và Ăngghen nói về chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản thì đó mới chỉ là dự báo trên những dường nét cơ bản, đặc trưng nhất. Theo họ, chủ nghĩa xã hội tất yếu sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản dựa trên tính quy luật của sự phát triển thay thế các hình thái kinh tế - xã hội, sự ra đời của chủ nghĩa xã hội và sự diệt vong của chủ nghĩa tư bản là do tất yếu kinh tế quy định và đều tất yếu như nhau. Về sau, Lênin là người trực tiếp vận dụng học thuyết của Mác và Ăngghen để tiến hành cách mạng đánh đổi chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực ở nước Nga và Liên Xô.
Mác, Ăngghen và Lênin là những thiên tài, nhưng họ cũng bị quy định bởi thời gian, không thể suy nghĩ và giải đáp mọi vấn đề đặt ra trong tương lai. Nói như cách hiểu của Ăngghen, việc dự báo càng sâu, càng chi tiết về tương lai cũng chính là càng rơi vào chủ nghĩa duy tâm. Bởi thế, rất có thể một số nhận định, dự báo của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin có thể bị vượt qua hoặc không còn phù hợp nữa sau hàng trăm năm vận động, phát triển của loài người, tuy nhiên trong sự vận động tổng thể theo quy luật của xã hội loài người, những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin vẫn chưa thể bị thời gian vượt qua.

Tự do tuyệt đối về tôn giáo - sự đòi hỏi phi lý

     Quyền con người nói chung, quyền “tự do tôn giáo” nói riêng là những quyền tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Song, lợi dụng quyền tự do tôn giáo để đòi “tự do tuyệt đối về tôn giáo” (tôn giáo đứng ngoài pháp luật) dù mục đích nào cũng đều phi thực tiễn, không thể chấp nhận.

Theo văn bản pháp lý của Liên hợp quốc: mặc dù là một quyền cơ bản của con người, nhưng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là tuyệt đối mà là một quyền tương đối, có giới hạn. Điều này được chỉ rõ tại Khoản 2, Điều 29, Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948: “Khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền và tự do của người khác, cũng như nhằm đáp ứng những yêu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”; Khoản 3, Điều 18, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật và khi sự giới hạn đó là cần thiết để bảo vệ an ninh, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội, hoặc để bảo vệ các quyền và tự do cơ bản của người khác”. Như vậy, quan niệm cho rằng “tự do tuyệt đối về tôn giáo” là sự cố tình phớt lờ nội dung cốt lõi của các văn bản pháp lý quốc tế, nhằm can thiệp, phá hoại hệ thống pháp lý các quốc gia về tín ngưỡng, tôn giáo của các thế lực thù địch, phản động...

Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam đều khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam: luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân; các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Điều này tiếp tục được Đảng ta khẳng định: “Tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt đúng quy định của pháp luật; chủ động giúp đỡ, giải quyết các nhu cầu hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh của quần chúng”. Điều 24, Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Điều 3, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016: “Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người; bảo đảm để các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật”. Mặc dù các văn bản pháp lý của Việt Nam hoàn toàn tương thích với Tuyên ngôn Nhân quyền thế giới năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 của Liên hợp quốc, nhưng các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị vẫn cố tình tạo cớ, xuyên tạc, cho rằng hệ thống pháp luật Việt Nam ban hành nhằm hạn chế “tự do tín ngưỡng, tôn giáo” của người dân và đòi “tự do tuyệt đối về tôn giáo”. Đây là sự xuyên tạc hết sức lố bịch nằm trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Thực tế ở Việt Nam có không ít hoạt động tôn giáo nhuốm màu mê tín dị đoan, trái với văn hóa truyền thống, không được pháp luật cho phép, như: hoạt động của Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ, Pháp Luân Công, Dương Văn Mình, Nhất quán đạo, v.v. Một số vụ vi phạm pháp luật bị đưa ra xét xử, phạt tù, điển hình là: đối tượng Rah Lan Hip (trú tại Ia Băng, Chư Prông, Gia Lai) bị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai tuyên phạt 7 năm tù, vì đã tổ chức nhóm họp “Tin lành Đề ga”, tuyên truyền duy trì hoạt động Fulro để thành lập cái gọi là Nhà nước Đề ga của người dân tộc thiểu số Tây Nguyên, vi phạm Khoản 1, Điều 116, Bộ luật Hình sự năm 2015 “Phá hoại chính sách đại đoàn kết”. Một số linh mục: Nguyễn Đình Thục, Đặng Hữu Nam, Nguyễn Duy Tân,… bị hạn chế đi lại, do các linh mục này có nhiều hoạt động không phải là hoạt động tôn giáo thuần túy. Họ đã lợi dụng tòa giảng để chống chính quyền, có nhiều phát biểu đăng trên mạng xã hội xuyên tạc lịch sử Việt Nam, vi phạm Điều 5, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo: “quy định các hành vi bị nghiêm cấm các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự an toàn xã hội, gây chia rẽ dân tộc, tôn giáo”. Gần đây, một số linh mục tại các giáo xứ: Hà Lời (Phong Nha, Bố Trạch, Quảng Bình); Xuân Hòa (Quảng Xuân, Quảng Trạch, Quảng Bình); Dũ Thành (Kỳ Khang, Kỳ Anh, Hà Tĩnh); Hội thánh truyền giáo Phục Hưng (Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh) vi phạm chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, các quy định của Bộ Y tế và địa phương về công tác phòng, chống đại dịch Covid-19. Hành động này của các vị linh mục, xét cho cùng đã “lạm quyền” tự do thể hiện tôn giáo một cách thái quá, vi phạm nguyên tắc thượng tôn pháp luật, gây hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, những luận điệu xuyên tạc, vu cáo chỉ là chiêu trò lợi dụng vấn đề tự do tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Nhà nước Việt Nam.

Chuyện đi cơ sở

     Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí là một chủ trương lớn, hết sức đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta. Do đó, nhiều năm qua, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta quán triệt sâu sắc và ra sức thực hiện đồng bộ, quyết liệt bằng nhiều giải pháp có tính khả thi, như: cắt giảm hội họp, giảm mạnh việc đi công tác nước ngoài, hạn chế mua sắm mới tài sản công, thực hiện việc công khai đấu giá tài sản để chống thất thoát, kiên quyết xử lý nhiều vụ việc gây thất thoát lãng phí của công, v.v. Không ít bộ, ngành và địa phương đã có nhiều cách làm sáng tạo để thực hiện chủ trương trên một cách tốt nhất, mang lại hiệu quả cao nhất, được cán bộ, đảng viên và nhân dân hoan nghênh, tỏ rõ thái độ đồng thuận cao. Riêng việc cắt, giảm những cuộc hội họp để tăng cường trực tiếp chỉ đạo, giám sát, hướng dẫn cơ sở thực hiện nhiệm vụ được giao là việc đang được các cấp, ngành và địa phương quan tâm khá chu đáo, chặt chẽ.

Nhiều vấn đề thực tiễn đặt ra là, đi cơ sở vì việc gì, tổ chức đi ra sao, thành phần làm việc với cơ sở như thế nào,… cần phải được bàn bạc thấu đáo, chặt chẽ nhằm tạo thuận tiện cho cả cấp trên và cấp cơ sở, tránh tạo áp lực với cấp dưới. Nếu không sẽ xảy ra tình trạng cấp dưới rất tốn thời gian tiếp xúc, báo cáo, giải trình, xin ý kiến, đề xuất,… tiếp đãi hết đoàn này tới đoàn khác, chẳng còn thời gian để làm việc.

Thực tế cho thấy, đã có khá nhiều trường hợp lạm dụng việc đi cơ sở để né tránh nhiệm vụ chuyên môn thường xuyên, nhiều cán bộ đã vô hình trung làm giảm khả năng nghiên cứu những giải pháp có tính khả thi để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của chính mình, đến khi kiểm điểm rà soát lại chất lượng, hiệu quả công việc thấp thì lại “đổ thừa” cho việc bận “đi cơ sở” quá nhiều. Chính những chuyện “đi cơ sở” vô bổ đã làm mất thời gian, lãng phí công sức không đáng có, lại làm phiền toái cho cán bộ cấp dưới.

Thẳng thắn nhìn nhận, có không ít cán bộ cấp trên do “ăn quen, nhịn không quen” nên dù có chút việc đơn giản đối với cơ sở, họ cũng “tăng cường” tỏ ra hăng hái để vừa được tiếng tốt là thường xuyên sâu sát giúp đỡ cơ sở, vừa được cấp dưới tiếp đón, đãi đằng hậu hỉ, quà cáp phong bao. Trong khi đó, việc chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ giao cho cơ sở đã được thực hiện bằng văn bản không thiếu một nội dung nào!

Thiết nghĩ, việc đi hay không đi cơ sở phải được tính toán, cân nhắc thấu đáo trong kế hoạch công tác của từng cơ quan, đơn vị, địa phương, mà người đứng đầu phải chịu trách nhiệm đầu tiên và quyết định cuối cùng. Nhất thiết không để tình trạng tùy tiện đi cơ sở, gây lãng phí không đáng có. Cần thực hiện nghiêm chế độ đi báo cáo, về báo công để đánh giá chất lượng, hiệu quả thực tế của việc giúp cơ sở. Nếu làm tốt việc này, chắc chắn sẽ góp phần quan trọng vào việc thực hiện chủ trương thực hành tiết kiệm, chống lãng phí của Đảng và Nhà nước ta.

CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH PHẢN BÁC CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, CÁC QUAN ĐIỂM SAI TRÁI, THÙ ĐỊCH

    Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và công nghệ thông tin, mạng xã hội phát triển ngày càng mạnh mẽ, các thế lực thù địch thông qua đẩy mạnh thực hiện “diễn biến hòa bình”. Chúng thường lợi dụng các vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền” và khoét sâu những yếu kém, sơ hở, mất cảnh giác của ta để bóp méo, xuyên tạc tình hình; tung ra những quan điểm sai trái hòng gây ra sự hoài nghi, lung lay trong tư tưởng cán bộ, đảng viên và nhân dân. Các thế lực thù địch tăng cường móc nối, cấu kết với những phần tử cơ hội chính trị, ra sức xuyên tạc, phủ nhận nền tảng tư tưởng, phủ nhận mục tiêu, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc hết sức tinh vi, xảo trá hòng làm chao đảo, lung lay nhận thức, tư tưởng, niềm tin của quần chúng nhân dân vào chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng ta. Theo kiểu “mưa dầm thấm lâu”, chúng ra sức tuyên truyền xuyên tạc hòng làm suy giảm niềm tin, tạo ra trong nhân dân ta, nhất là thế hệ trẻ một “khoảng trống” về mục tiêu lý tưởng, lịch sử truyền thống và thành tựu của cách mạng. “Nội công, ngoại kích” là chiêu bài rất nham hiểm mà các thế lực thù địch phản động thường xuyên sử dụng nhằm chống phá cách mạng Việt Nam. Để áp dụng chiêu thức này hiệu quả, chúng tìm mọi cách tiếp cận, móc nối, lôi kéo, kích động, tiếp sức cho những phần tử thoái hóa, biến chất, bất mãn với chế độ,… để sử dụng làm công cụ, tay sai, phủ nhận thành quả cách mạng, phóng đại những khuyết điểm, yếu kém nhằm tạo ra những bức xúc trong dư luận, những điểm nóng trong xã hội. Chúng coi những phần tử thoái hóa, biến chất “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là lực lượng nòng cốt đi đầu để chuyển hóa chế độ chính trị ở Việt Nam.
    Cùng với phủ nhận lịch sử truyền thống dân tộc, phủ nhận thành quả cách mạng, chúng triệt để lợi dụng chiêu bài xuyên tạc, bôi nhọ lãnh tụ của Đảng, của dân tộc. Vào dịp đất nước ta tổ chức các sự kiện lớn, đặc biệt là chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, chiêu trò này tiếp tục được chúng sử dụng. Cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của Đảng, Nhà nước và nhân dân cũng bị chúng lợi dụng để chống phá. Chúng xuyên tạc rằng đó là cuộc thanh trừng, đấu đá nhằm tranh giành lợi ích giữa các phe, nhóm trong nội bộ Đảng. Mặc dù cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng của ta đạt được những kết quả rất quan trọng nhưng các thế lực thù địch luôn xuyên tạc rằng Đảng Cộng sản không thể chống tham nhũng thành công... Muốn chống tham nhũng thành công thì phải mở rộng dân chủ, bằng cách thực hiện chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập... Những chủ trương, chính sách và các thành quả quan trọng mà chúng ta đã đạt được trên mặt trận ngoại giao cũng bị chúng xuyên tạc, phủ nhận hòng chia rẽ mối quan hệ giữa nước ta với các nước và các tổ chức quốc tế, làm giảm uy tín, vị thế của Việt Nam trong khu vực và thế giới.
    Trước tình hình ấy, Ðảng ta đã xác định đấu tranh, phản bác có hiệu quả với luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái của các thế lực thù địch là nhiệm vụ cấp bách, thường xuyên của toàn bộ hệ thống chính trị, của mỗi cán bộ, đảng viên và của mọi công dân. Chúng ta phải tiến hành đồng bộ nhiều biện pháp, trong đó cần đặc biệt nhấn mạnh tính chủ động.
    Tính chủ động trước hết trong nhận thức. Hiện nay một số lượng rất lớn các trang mạng xã hội của nhiều tổ chức, hội nhóm phản động lưu vong được chúng huy động để tuyên truyền bóp méo, xuyên tạc tình hình nhằm chống phá Việt Nam. Từ thực tế ấy, vấn đề đặt ra là chúng ta phải chủ động đẩy mạnh tuyên truyền để nhân dân hiểu rõ những luận điệu xuyên tạc, những âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Chỉ khi nào nhận thức rõ, được cập nhật thường xuyên về tình hình và những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch; tính chất nguy hiểm, phức tạp của cuộc đấu tranh thì mọi người dân mới đề cao cảnh giác, không bị động, lúng túng trước những luận điệu và âm mưu, thủ đoạn chống phá; ý thức rõ trách nhiệm xây dựng thế trận chủ động đấu tranh.
    Sự chủ động của các cơ quan, đơn vị trong đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch cũng giữ một vai trò rất quan trọng. Tính chất phức tạp, cam go và quyết liệt của cuộc đấu tranh đòi hỏi phải huy động được sức mạnh tổng hợp. Thực tế thời gian qua cho thấy trong từng nhiệm vụ, từng nội dung đấu tranh cần tránh hô hào chung chung mà phải phân rõ trách nhiệm chủ trì, trách nhiệm phối hợp của từng cấp, từng cơ quan, đơn vị trong cơ chế, quy chế phối hợp thống nhất. Cùng với đó là sự chủ động của các cơ quan chức năng trong công tác theo dõi, thanh tra, kiểm tra, định hướng với các tổ chức, cá nhân hoạt động trong những lĩnh vực nhạy cảm dễ bị móc nối, lôi kéo, để họ không tiếp tay cho kẻ xấu, không mắc mưu các thế lực thù địch. Sự chủ động trong quản lý, nắm bắt tình hình, phối hợp cung cấp, trao đổi thông tin, nghiên cứu học hỏi kinh nghiệm đấu tranh của các cơ quan, đơn vị chức năng.
    Chủ động đẩy mạnh công tác tuyên truyền giáo dục của các tổ chức, đoàn thể là rất cần thiết nhưng quan trọng và quyết định hơn vẫn là sự chủ động trong rèn luyện bản lĩnh chính trị, tích cực học tập nâng cao trình độ, tu dưỡng phẩm chất đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. Bởi đó chính là yếu tố cơ sở nền tảng để mỗi cán bộ, đảng viên và từng người dân chủ động, tích cực, tự giác tham gia có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc, các quan điểm sai trái, thù địch vốn ngày càng phức tạp, khó khăn, lâu dài và cam go./. 

Cảnh giác với những thông tin trên mạng xã hội

Thời gian gần đây, có cán bộ đã nghỉ hưu, từng có nhiều năm công tác và có những đóng góp nhất định tại một bộ nọ. Bác liên tục thể hiện trên facebook một trạng thái tâm lý và những phát ngôn tiêu cực về thực trạng đất nước. Theo cách nhìn của bác thì bất cứ lĩnh vực nào của Việt Nam cũng “rất tệ hại”. Với những thành tựu trong phát triển kinh tế thì bác cho rằng số liệu không đúng. Với kết quả rõ ràng của cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, bác lại cho rằng đó chẳng qua là đấu đá trong nội bộ Đảng. Hay kể cả niềm vui sau những thành công vang dội của bóng đá Việt Nam, bác cũng lắc đầu bảo là do ăn may. Quan sát cách cán bộ nghỉ hưu này thu thập, tiếp nhận thông tin, có thể phần nào lý giải được tại sao bác lại có một thế giới quan nhiều màu xám. Ấy là do bác chủ yếu chỉ tiếp nhận thông tin qua mạng xã hội facebook, youtube, những trang thông tin mù mờ trên mạng, hoặc những trang thông tin của các tổ chức, đối tượng chống phá Đảng, Nhà nước. Bác nhầm lẫn cho rằng, những trang thông tin ấy “dám nói thẳng, nói thật” vào những vấn đề mà các cơ quan báo chí chính thống không dám đề cập. Đáng lo ngại là không chỉ các cán bộ đã nghỉ hưu mà ngay cả những cán bộ đang đương chức nếu không tỉnh táo, không có bản lĩnh vững vàng thì cũng rất dễ bị lừa phỉnh, bị ăn phải “bả thông tin”.
    Do đó, các cơ quan chức năng cần chủ động tăng cường chỉ đạo, cung cấp thông tin cho các cơ quan báo chí; tăng cường phi hợp chặt chẽ với các cơ quan báo chí hơn nữa; nghiên cứu, t chức, huy động Lực lượng 47, các nhà khoa học, chuyên gia viết nhiu bài đấu tranh phản bác có chất lượng, lan tỏa, chia sẻ các bài viết tích cực lên mạng xã hội, internet. Tập trung đưa tin đu tranh phản bác các vn đ nóng liên quan quốc phòng, an ninh; dân tộc, tôn giáo; kinh tế tài chính văn hóa, xã hội; thông tin, truyền thông; tình hình ni lên tại các vùng có thể bị các thế lực thù địch lợi dụng xuyên tạc, gây chia rẽ, mt đoàn kết. 

CHỦ ĐỘNG ĐẤU TRANH VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ĐỔI MỚI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

     Hơn 36 năm qua, công cuộc đổi mới toàn diện đất nước do Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng và lãnh đạo, đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước phát triển mạnh mẽ, khá toàn diện, tạo nhiều dấu ấn nổi bật, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt.
Thế nhưng, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị, bất mãn vẫn cố tình phủ nhận những thành tựu của công cuộc đổi mới đất nước, nhất là đổi mới trên lĩnh vực chính trị, xã hội. Họ ra sức xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước ta trên tất cả lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại... với các thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt.
    Về chính trị: Trước hết, họ tập trung phê phán, xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam nắm quyền lãnh đạo đất nước, họ cho rằng, đó là “chế độ đảng trị”, độc tài, mất dân chủ. Họ còn lợi dụng cụm từ “dưới sự lãnh đạo của Đảng” để xuyên tạc rằng, đó là bằng chứng của vấn đề “Đảng đứng trên luật pháp”, “quyền lực xã hội tập trung vào một số ít cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản”, “Đảng bao biện làm thay Nhà nước”... Vấn đề Nhà nước, họ xuyên tạc rằng: “Nói là Nhà nước pháp quyền, nhưng trên thực tế, luật pháp không được tôn trọng...”; “hệ thống tổ chức, bộ máy cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả”... Đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, họ cho rằng: “Hoạt động chỉ là hình thức, kém hiệu quả”... Vấn đề xã hội, họ cho rằng: "Mất dân chủ, vi phạm nhân quyền...".
    Nhận diện những vấn đề trên là một hoạt động khó khăn, phức tạp. Bởi lẽ, các đối tượng thường sử dụng internet, mạng xã hội Facebook, YouTube, Twitter, Zalo... và các phương tiện truyền thông khác như các đài phát thanh, truyền hình VOA, RFA, BBC, RFI... để tuyên truyền xuyên tạc, chống phá bằng những thủ đoạn hết sức tinh vi, thâm độc, khó lường. Một trong những thủ đoạn nguy hiểm nhất mà họ thường sử dụng, đó là mượn các thông tin, sự kiện có thật đã xảy ra, được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng hay được phát tán thông qua mạng xã hội để lồng ghép, biên tập, sửa chữa và thêm thắt các tình tiết ngụy tạo, bóp méo rồi được tung ra như một dạng thông tin chính thống. Sau đó, thông qua các hình thức tán phát, như bình luận theo chuyên đề, kể chuyện lịch sử, hội luận, ý kiến chuyên gia, người trong cuộc, ngoài cuộc... để xuyên tạc, bịa đặt, bóp méo lịch sử, bóp méo sự thật. Cuối cùng, thông qua sự tương tác, bình luận (comment), ý kiến người đọc, người xem để định hướng dư luận theo ý đồ của họ. Với những thủ đoạn tinh vi, dàn dựng khá bài bản, có thể họ đã lừa phỉnh được một số người còn thiếu thông tin, nhận thức hạn chế, phiến diện. Thậm chí, có cả một bộ phận cán bộ, đảng viên còn mơ hồ, dao động, đã cố tình hoặc vô ý cổ xúy, tiếp sức cho các luận điệu sai trái, phản động, biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa".
    Từ việc nhận rõ bản chất âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đối với công cuộc đổi mới đất nước nói chung, đổi mới trên lĩnh vực chính trị-xã hội nói riêng, chúng ta thấy rằng, vấn đề chính trị-xã hội ở Việt Nam luôn là mối quan tâm, chống phá hàng đầu của các đối tượng này. Bởi đây là vấn đề hệ trọng, liên quan đến sự ổn định và phát triển đất nước. Mục tiêu sâu xa của chúng là gây mất ổn định chính trị, xã hội, mất lòng tin của quần chúng đối với Đảng, Nhà nước, tất yếu dẫn tới rối loạn chính trị-xã hội, khủng hoảng và sụp đổ, dẫn tới xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, thành quả cách mạng của đất nước, nhân dân ta.
    Thực tế thành tựu sau hơn 36 năm đổi mới toàn diện đất nước đã khẳng định tính đúng đắn, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mô hình phát triển đất nước do Đảng, nhân dân ta lựa chọn. Đó là, minh chứng thuyết phục nhất để bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch. Nhìn lại lịch sử, những thành tựu đất nước đã đạt được trong công cuộc đổi mới, trong đó có đổi mới chính trị-xã hội với bước đi, hình thức phù hợp “toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Cho đến nay, ở Việt Nam, không có tổ chức chính trị nào có thể thay thế được vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
    Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, về năng lực điều hành, quản lý đất nước có nhiều chuyển biến mang tính đột phá. Hoạt động của Nhà nước về thể chế hóa, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng với quyết tâm cao, hiệu quả thiết thực. Phát huy được mọi nguồn lực, động lực và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa; tháo gỡ nhanh, hiệu quả các điểm nghẽn, vướng mắc; đề cao trách nhiệm của người đứng đầu gắn với phát huy sức mạnh đồng bộ của cả hệ thống chính trị; phát huy dân chủ đi đôi với giữ vững kỷ cương; thực hiện tốt sự phối hợp trong lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước; coi trọng chất lượng và hiệu quả thực tế; tạo đột phá để phát triển. Chính phủ và các bộ tập trung hơn vào quản lý, điều hành vĩ mô và năng động giải quyết những vấn đề lớn, quan trọng. Cải cách hành chính tiếp tục được chú trọng và đạt kết quả tích cực.
    Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị-xã hội, với phương châm “Hướng mạnh về cơ sở, địa bàn dân cư, thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội” đã phát huy tốt chức năng, vai trò bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của đoàn viên, hội viên và nhân dân, là cầu nối quan trọng giữa Đảng và nhân dân. Củng cố được lòng tin, sự gắn bó của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Những kết quả tích cực đó tạo ra nhiều thay đổi lớn trong đời sống xã hội, dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy, mở rộng hơn, người dân được thông tin, giám sát hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, quyền làm chủ của nhân dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, nhất là trong lĩnh vực kinh tế và chính trị được phát huy tốt hơn. Hệ thống luật pháp, cơ chế chính sách ngày càng thích ứng với thông lệ quốc tế, tính nghiêm minh trong thực hiện cao hơn.
    Những kết quả đó khẳng định rằng đổi mới chính trị ở Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, trực tiếp là cơ sở để đất nước có được bước phát triển to lớn như hiện nay. Mặt khác, những hạn chế, yếu kém, sai lầm, khuyết điểm được Đảng, Nhà nước thẳng thắn chỉ rõ, như: Đổi mới chính trị chưa đồng bộ với đổi mới kinh tế, năng lực và hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị chưa ngang tầm nhiệm vụ. Một số hạn chế, vướng mắc chậm được giải quyết, thậm chí kéo dài trong một số nhiệm kỳ, làm cho vận hành của các tổ chức trong hệ thống chính trị trong một số trường hợp thiếu thống nhất, thông suốt; việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa chưa theo kịp yêu cầu phát triển kinh tế và quản lý đất nước; chưa chế định rõ, đồng bộ, hiệu quả cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước ở các cấp. Từ đó, nhiều tiềm năng, thế mạnh của đất nước chưa được phát huy đầy đủ... những hạn chế đó không thể ngày một, ngày hai có thể khắc phục triệt để mà phải có một quá trình khắc phục kết hợp với đổi mới lâu dài, khó khăn, phức tạp. Vấn đề là Đảng, Nhà nước đã thẳng thắn nhìn nhận và khắc phục với quyết tâm cao nhất.
    Từ thực tiễn thành tựu và những hạn chế về đổi mới chính trị-xã hội ở Việt Nam trong sự phát triển của đất nước cho thấy, những kết quả đạt được là cơ bản, to lớn và có ý nghĩa lịch sử, càng khẳng định con đường, mô hình phát triển đất nước là đúng hướng; những hạn chế, thiếu sót khuyết điểm không làm thay đổi bản chất, tính đúng đắn, ưu việt của chế độ chính trị, nền tảng tư tưởng và vai trò lãnh đạo của Đảng. Đồng thời, là luận cứ đanh thép nhất phản bác những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực phản động, thù địch, cơ hội chính trị thời gian qua.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NỮ TÌNH BÁO ANH HÙNG HOẠT ĐỘNG TRONG LÒNG ĐỊCH GIỮA ĐÔ THÀNH SÀI GÒN!

     Trong những năm tháng của cuộc kháng chiến chống mỹ cứu nước có một tiểu thư người làng Nội Duệ - Cầu Lim (Bắc Ninh) là một thương gia buôn bán tơ lụa nổi tiếng ở Sài Gòn lúc bấy giờ đã sớm giác ngộ cách mạng dấn thân vào hoạt động tình báo đầy nguy hiểm ngay trong hang ổ của địch khi chị còn rất trẻ.

Đó là Nguyễn Thị Mỹ Nhung - biệt danh Tám Thảo - Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân!

Chị tham gia cách mạng khi 16 tuổi, năm 18 tuổi chị được kết nạp vào Đảng và hoạt động trong cục tình báo H 63 có điệp viên kỳ cựu Phạm Xuân Ẩn, Mười Nho, Tư Càng... luôn theo sát giúp đỡ khi Tám Thảo được cử làm phiên dịch cho cố vấn Mỹ!

Nhờ đó chị đã thu được nhiều tư liệu cơ mật gửi lên cấp trên, góp phần vào cuộc Tổng tiến công mùa xuân 1968 và đại thắng 1975 giải phóng Miền Nam, thống nhất nước nhà.

Chị thật sự có thần kinh thép, một phẩm chất kiên cường khi sống, làm việc và hoạt động ngay trong hang ổ kẻ thù, thực chất là "Vào hang bắt cọp"!

Với chiến công của mình chị được nhà nước tặng danh hiệu: Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Chúc mừng chị Tám Thảo tuổi 94 và huy hiệu 76 năm tuổi Đảng.

Bà là một trong những nữ Anh hùng của chúng ta xứng đáng với 8 chữ vàng mà Bác Hồ kính yêu đã tăng phụ nữ Việt Nam "Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang"!

Môi trường (Yn) ST.

“…CHI BỘ LÀ MỘT TỔ CHỨC LÃNH ĐẠO CHÍNH TRỊ, CHỨ KHÔNG PHẢI LÀ MỘT TỔ CHỨC HÀNH CHÍNH”

 Đó là lời được trích trong bài viết“Nhiệm vụ của chi bộ ở các cơ quan” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đăng trên Báo Nhân Dân số 176 ra từ ngày 6 đến ngày 10 tháng 4 năm 1954, nêu lên nhiệm vụ phát huy vai trò “chi bộ phải là động lực của mỗi cơ quan” để đẩy mạnh kháng chiến và cải cách ruộng đất thắng lợi.

Nhận rõ vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của chi bộ theo quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã sớm cụ thể hóa và không ngừng bổ sung, phát triển chức năng, nhiệm vụ của chi bộ Đảng phù hợp với từng loại hình, qua các kỳ Đại hội. Điều 27, Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII xác định: “Chi bộ là nơi trực tiếp nối liền Đảng với quần chúng, được tổ chức theo nơi làm việc hoặc nơi ở của đảng viên. Chi bộ có nhiệm vụ giáo dục, rèn luyện, quản lý, phân công và kiểm tra công tác của đảng viên, kết nạp đảng viên mới và thi hành kỷ luật đảng viên, lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ trong phạm vi đơn vị”.
Với chức năng là một tổ chức lãnh đạo chính trị, chi bộ phải có trách nhiệm cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng thành nhiệm vụ chính trị của mỗi cơ quan, đơn vị; tiến hành tuyên truyền, vận động và tổ chức quần chúng chấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát mọi hoạt động của cơ quan, đơn vị và quản lý đội ngũ cán bộ, đảng viên trong thực hiện nghị quyết và chức trách, nhiệm vụ được giao. Thông qua thực tiễn lãnh đạo ở cơ quan, đơn vị, chi bộ lắng nghe những kiến nghị, góp ý, phản ánh và tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và quần chúng về đường lối, chính sách đã ban hành để Đảng nghiên cứu, bổ sung, phát triển, hoàn thiện đường lối, chủ trương, chính sách cho đúng đắn, phù hợp. Chi bộ tuyệt đối không làm thay, lấn sang các công việc điều hành, quản lý của chính quyền, của đoàn thể.
Học tập và làm theo lời Bác dạy về phát huy đúng chức năng, nhiệm vụ của chi bộ Đảng; quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chi bộ trong Quân đội, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Tổng cục Chính trị, cấp ủy, tổ chức Đảng các cấp trong toàn quân luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh, trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, lãnh đạo cơ quan, đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Chấp hành nghiêm các nguyên tắc trong sinh hoạt Đảng, không ngừng đổi mới nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, trọng tâm là chất lượng sinh hoạt ra nghị quyết lãnh đạo; thực hiện quy chế dân chủ, công khai; thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát... thực sự là hạt nhân lãnh đạo, đoàn kết trong cơ quan, đơn vị./.
ST


LỜI BÁC DẠY NGÀY NÀY NĂM XƯA: NGÀY 13 THÁNG 4 NĂM 1967!

         “…Pháo binh ta có truyền thống oanh liệt, chân đồng vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng”!
     Đây là nội dung trong thư khen ngợi bộ đội Pháo binh mà Bác Hồ gửi ngày 13 tháng 4 năm 1967 vì đã lập được thành tích vẻ vang bắn trúng nhiều tàu chiến, bắn chìm nhiều tàu biệt kích của Mỹ - Ngụy và đánh trả pháo binh địch ở Cồn Tiên - Dốc Miếu. Trong thư khen, Người còn cǎn dặn: "Phải ra sức học tập và thi đua với pháo binh quân giải phóng miền Nam tài giỏi, anh hùng". 
     Binh chủng Pháo binh là Binh chủng chiến đấu, Binh chủng kỹ thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam. Trưởng thành trong chiến đấu và gắn liền với những chiến công hiển hách trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, không ngừng lớn mạnh, trưởng thành trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay; truyền thống của Bộ đội Pháo binh gắn liền với truyền thống và sự trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam.
     Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trực tiếp là Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, lớp lớp các thế hệ cán bộ, chiến sĩ Bộ đội Pháo binh luôn khẳng định bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm sắt đá, vượt mọi khó khăn gian khổ, tích cực huấn luyện giỏi, kỷ luật nghiêm, đoàn kết tốt, khai thác, làm chủ các loại vũ khí, trang bị kỹ thuật hiện đại, nắm chắc kỹ, chiến thuật, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Phát huy truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” của quân đội, truyền thống vẻ vang của Binh chủng mỗi cán bộ, chiến sỹ Pháo binh không ngừng phấn đấu, tu dưỡng, học tập, rèn luyện nâng cao trình độ, năng lực làm chủ tiến bộ khoa học kỹ thuật , công nghệ hiện đại, đoàn kết thống nhất, xứng đáng với truyền thống “Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng” và danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” trong thời kỳ mới./.
Môi trường (Yn) ST.

CHA ÔNG TA ĐÁNH GIẶC: NHỮNG KỶ NIỆM KHÔNG QUÊN!

     Chúng tôi không thể nào quên những kỷ niệm đặc biệt khi góp mặt trong đội hình Quân tình nguyện Việt Nam sát cánh cùng bộ đội Pathet Lào giải phóng Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng năm 1972. Thấm thoát thế mà đã hơn 50 năm!

Năm 1972, lực lượng phản động Lào cùng với 6 trung đoàn quân chủ lực của Thái Lan dưới sự chi viện của Mỹ lợi dụng mùa mưa cùng khó khăn của ta và bạn đã đánh chiếm toàn bộ Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng, rồi Phu Tâm, Phu Theng Leng, Bản Tôn, căn cứ Sầm Thông, Bom Lọng... buộc Trung đoàn 866 Quân tình nguyện Việt Nam phải lui về Mường Xén.

Đây thực sự là khó khăn của cả ta và bạn. Trước tình hình đó, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng điều động Sư đoàn 316 quân chủ lực của Bộ đang đứng chân tại Nghệ An vào chiến trường với biệt danh là “Quân tình nguyện 866”.

Cuối mùa mưa ở Xiêng Khoảng, sông suối, lũ nước dâng cao khiến việc di chuyển, nhất là vận tải lương thực, đạn dược cực kỳ khó khăn. Chúng tôi hành quân bộ, ngoài việc mang vũ khí, trang bị còn cố gắng đem theo mỗi người 15-20kg lương thực để bảo đảm cho chiến dịch.

Chấp hành chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và Tư lệnh Mặt trận 31 (Mặt trận Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng), chúng tôi đi tiên phong vượt biên giới Việt-Lào. Lúc đó, tôi đang là Đại đội trưởng Đại đội 9, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 148, Sư đoàn 316. Đón chúng tôi tại Bản Ban là một tổ bộ đội Lào gồm 3 đồng chí, tất cả đều nói được tiếng Việt.

Các đồng chí giới thiệu với chúng tôi sơ bộ về tình hình địch và khó khăn thực tế, đặc biệt là về vũ khí, thuốc men và lương thực. Anh em chúng tôi bàn nhau bí mật hành quân và ăn dè ăn xẻn để kéo dài về lương thực, rồi cứ thế đêm đi, ngày nghỉ, đi sâu vào chân dãy núi Phu Tâm để chuẩn bị chiến dịch.

Việc đi lại hết sức khó khăn bởi ban ngày, máy bay trinh sát OV-10 của Mỹ lùng quét, ban đêm thì lực lượng phản động Lào phục kích. Nhưng với quyết tâm như lời Bác Hồ dạy: “Giúp bạn là tự giúp mình”, Tiểu đoàn 6 do anh Đào Trọng Lịch (sau này là Trung tướng, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng) làm Tiểu đoàn trưởng, được giao nhiệm vụ đánh đồi Năm Mỏm và sân bay Xiêng Khoảng, trong đó Đại đội 9 của chúng tôi đánh hướng chủ yếu.

5 giờ sáng, chúng tôi bắt đầu tấn công đồi Năm Mỏm. Lực lượng phản động Lào và quân Thái Lan chống trả quyết liệt. Nhưng chỉ sau một giờ chiến đấu, chúng tôi đã giải phóng được đồi Năm Mỏm và phát triển xuống sân bay Xiêng Khoảng, cùng các đơn vị khác làm chủ sân bay.

Sau đó, chúng tôi được lệnh sẵn sàng đánh địch phản kích. Bố trí xong lực lượng, tôi điện báo cáo anh Đào Trọng Lịch. Ở đầu dây bên kia, đồng chí Tiểu đoàn trưởng biểu dương Đại đội 9 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ và hỏi: “Lân ơi, chiến lợi phẩm có gạo không? Cậu cho tớ một ít, mấy hôm nay Tiểu đoàn ăn cháo với lương khô rồi”. Thế là tôi vội cử một tốp vận chuyển gạo cho Tiểu đoàn. Anh Lịch mừng quá reo lên: “Thế là không những thắng địch mà còn chống đói cho Tiểu đoàn”.

Trong thời gian củng cố công sự, chờ đánh địch phản kích, tìm hiểu qua phía bạn, tôi được biết tổ dẫn đường có anh Douangchay Phichit (sau là Thượng tướng, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó thủ tướng, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lào). Lúc gặp tôi, anh Douangchay Phichit nói: “Các đồng chí giúp chúng tôi đuổi bọn phản động và tiêu diệt lực lượng nước ngoài, chứ người Lào ít lắm”.

Làm chủ được Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng, chúng tôi lại nhận được lệnh mới của Tư lệnh Mặt trận 31 và Sư đoàn, Trung đoàn. Đại đội 9 khi đó còn hơn 100 đồng chí, có nhiệm vụ thọc sâu, giải phóng căn cứ Sầm Thông. Thế là anh em hăng hái lên đường, vừa hành quân vừa chiến đấu với quyết tâm đánh vào căn cứ Sầm Thông một cách nhanh nhất.

Dưới sự chi viện của pháo binh mặt trận và sư đoàn, lại có phía bạn dẫn đường, chúng tôi nhanh chóng đánh vào sào huyệt địch tại căn cứ Sầm Thông. Nhân dân rất phấn khởi và vui mừng đón quân giải phóng Pathet Lào và bộ đội Việt Nam. Thế nhưng, chỉ ít ngày sau, khi phát hiện lực lượng của chúng tôi quá mỏng, lực lượng phản động Lào cùng 5 trung đoàn quân Thái Lan phản kích tái chiếm Sầm Thông.

Dưới sự chi viện của pháo binh tầm xa của mặt trận và sự dũng cảm chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ Việt Nam và Lào, chúng tôi giữ được gần một tháng trước khi được lệnh của Mặt trận và Trung đoàn vừa đánh địch vừa rút khỏi căn cứ để tập trung lực lượng bảo vệ Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng.

Lúc này, Đại đội 9 của tôi còn gần 60 người. Sau khi hội ý, chúng tôi chia thành 2 tốp, trong đó anh Tiếu, Đại đội phó, chỉ huy một tốp 30 người, còn tôi chỉ huy một tốp gần 30 người vừa đánh vừa rút. Anh Tiếu đi đêm ngày nghỉ, còn tôi ngày đi đêm nghỉ. Hướng của anh Tiếu bị địch phục kích liên tục nên khi về đến căn cứ chỉ còn gần chục đồng chí, hướng của tôi thì còn nguyên vẹn. Về đến căn cứ, Tiểu đoàn trưởng Đào Trọng Lịch ôm chầm lấy tôi và hét lên: “Tao tưởng không gặp được chúng mày nữa”.

Bổ sung quân số và tổ chức lại đội hình, chúng tôi tiếp tục được giao nhiệm vụ chốt đồi Năm Mỏm để đánh địch phản kích. Dưới sự chỉ huy của Mỹ, lực lượng phản động Vàng Pao và quân Thái Lan dùng không quân ném bom rất ác liệt và dùng trực thăng đổ quân xuống sân bay Xiêng Khoảng. Cuộc chiến đấu rất cam go và quyết liệt. Mỗi ngày, chúng ném bom không biết bao nhiêu lần. Có lần, tôi bị vùi sâu hàng mét và nhờ anh em đào bới mới may mắn thoát ra được, nhưng hầm cũng chẳng còn nữa.

Với pháo binh của cấp trên yểm trợ, chúng tôi cùng các đơn vị bạn đã đánh tan hàng chục đợt phản kích của địch, giữ vững trận địa; đồng thời cùng các đơn vị bạn truy quét địch, buộc chúng phải rút khỏi Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng. Từ đó, ta và bạn thực sự làm chủ Cánh đồng Chum-Xiêng Khoảng cho đến ngày đất nước Lào hoàn toàn giải phóng.

Sau này, khi nước ta và Lào đã được sống trong hòa bình, anh Douangchay Phichit trở thành Phó thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Lào, còn tôi được giao nhiệm vụ làm Cục trưởng Cục Đối ngoại, Bộ Quốc phòng Việt Nam. Tôi vẫn nhớ mỗi lần sang thăm, trong chương trình của anh Douangchay Phichit bao giờ cũng không thể thiếu một nội dung, đó là đến Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc tế Việt-Lào (huyện Anh Sơn, tỉnh Nghệ An) để thắp hương cho các đồng đội, đồng chí đã anh dũng hy sinh vì sự nghiệp giải phóng nhân dân Lào.

Viết đôi điều như vậy để tưởng nhớ những người đồng đội đã hy sinh vì cách mạng Lào và trân trọng các bạn Lào, dù ở cương vị nào cũng đối xử với chúng ta rất sâu sắc và biết ơn.

Hơn 50 năm đã trôi qua, nhưng một người lính từng trải qua khó khăn, gian khổ trong chiến tranh như tôi luôn tin tưởng rằng, từ các đồng chí lãnh đạo cao nhất của hai Đảng đến cán bộ, chiến sĩ và nhân dân hai nước Việt-Lào vẫn giữ vững tinh thần “hạt gạo chia đôi, cọng rau sẻ nửa”, cùng nhau đoàn kết phấn đấu vì hạnh phúc của nhân dân hai nước./.
Yêu nước ST.

Khi cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”(Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được xuất bản; và nhất là khi các cơ quan, địa phương, đơn vị tổ chức tọa đàm và triển khai quán triệt những nội dung cốt lõi của Cuốn sách này, trên mạng xã hội xuất hiện không ít các luận điệu xuyên tạc, phản động. Cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đó là những ý kiến bẻ cong sự thật về việc xuất bản này là “nhằm đánh bóng tên tuổi của Tổng Bí thư”, vì “cuốn sách không hề có ý nghĩa gì ngoài việc mang tính mị hoặc quần chúng nhân dân”; “phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam mãi chỉ là khẩu hiệu, hình thức” và “sẽ là một thất bại trong quản trị quốc gia, khi pháp luật được đứng sau các quan điểm chưa được kiểm chứng của một cá nhân” hay đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam “không thể thành công nếu không thay đổi thể chế chính trị, chấp nhận đa nguyên, đa đảng”... Từ những giá trị không thể phủ nhận về ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Cuốn sách của Tổng Bí thư, cần phải khẳng định rằng: CUỐN SÁCH LÀ MỘT CẨM NANG QUÝ BÁU VỀ PHÒNG, ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực ra mắt bạn đọc đúng vào dịp kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 10 năm thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban. Sách được kết cấu làm 3 phần, với hơn 600 trang và gần 100 bức ảnh, trong đó có những bức ảnh lần đầu tiên được công bố. Cụ thể, Phần thứ nhất: “Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam”, gồm bài viết tổng quan; 4 bài phát biểu kết luận tại các Hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực các năm 2014, 2018, 2020, 2022 và trích kết luận chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại 36 phiên họp, cuộc họp của Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo từ năm 2013 đến năm 2022. Phần thứ hai: “Nhất quán phương châm: Phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực từ sớm từ xa, cả ngọn lẫn gốc”,gồm 22 bài viết, bài phát biểu được tuyển chọn từ hơn 500 bài viết, bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Phú Trọng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và về việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.Phần thứ ba: “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, tuyển chọn 97 trên tổng số hàng vạn ý kiến của các tầng lớp nhân dân, đại biểu Quốc hội và của chính khách, học giả nước ngoài bày tỏ sự tin tưởng, ủng hộ, đánh giá cao đối với công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư. Không chỉ thể hiện rõ tư duy lý luận, nhận thức ngày càng sâu sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực còn tiếp tục khẳng định sự quan tâm sâu sắc, quyết tâm của Tổng Bí thư đối với những nhiệm vụ trọng yếu của Đảng để xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiền phong! Theo đó, quan điểm, tư tưởng nhất quán và xuyên suốt của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ thêm một lần khẳng định rằng: Thứ nhất, tham nhũng gắn liền với quyền lực và là vấn nạn của mọi quốc gia; ở đâu có quyền lực thì ở đó tất yếu đã, đang và sẽ có tham nhũng hoành hành, dù đó là thể chế chính trị nào, mà còn cho thấy phòng và chống tham nhũng là “một cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kẻ địch là tệ tham ô, lãng phí, quan liêu”, nên cần phải được tiến hành thường xuyên, kiên quyết, kiên trì, bền bỉ, nhằm mục đích xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh… Thứ hai, chú trọng, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đẩy mạnh phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực là “một việc làm cần thiết, tất yếu, một xu thế không thể đảo ngược”. Trong phòng và đấu tranh chống tham nhũng, thì “Trung ương không bao giờ nhụt chí”, “nếu ai cảm thấy cản trở, nhụt chí thì dẹp sang một bên cho người khác làm” và “việc xử lý cán bộ có sai phạm, trước nói đánh từ vai đánh xuống, nhưng giờ đánh từ trên đầu nhiều hơn”[1]... Thứ ba, đấu tranh chống tham nhũng phải thường xuyên, liên tục, kiên quyết, kiên trì, không ngừng, không nghỉ… “Khi phát hiện sai phạm thì phải xử lý kiên quyết, nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng, kỷ luật hành chính của Nhà nước, kỷ luật của đoàn thể và xử lý hình sự, không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”[2]… Thứ tư, nêu cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tính tiên phong, gương mẫu của tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên trong công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng. Đồng thời, “chú trọng cả phòng và chống, với tinh thần kiên quyết, kiên trì, liên tục, đúng pháp luật, nhằm tạo chuyển biến rõ rệt hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, củng cố niềm tin của nhân dân”[3]… Thứ năm, việc mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị phải nỗ lực rèn luyện về đạo đức, lối sống và phòng, chống sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ/chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân - “giặc nội xâm” cần phải được chú trọng phòng ngừa từ sớm, từ xa và tiếp tục được triển khai nghiêm túc từ Trung ương đến địa phương… là cần thiết, không thể sao lãng. Thứ sáu, các cơ quan chức năng cần “phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể” tham nhũng, tiêu cực; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám” tham nhũng, tiêu cực; xây dựng văn hóa liêm chính để “không muốn” tham nhũng, tiêu cực; và một cơ chế bảo đảm để “không cần” tham nhũng, tiêu cực”[4]; đồng thời phải “tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; phát hiện sớm, xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án tham nhũng, qua đó cảnh tỉnh, răn đe để không ai dám tham nhũng, tiêu cực; nâng cao hơn nữa hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng”[5] để phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng hiệu quả. Thứ bảy, đặc biệt, mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên vừa phải chủ động phòng và đấu tranh chống tham nhũng “vừa phải cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta”[6] như Tổng Bí thư đã nhấn mạnh… Vì thế, Cuốn sách không chỉ thực sự là “cẩm nang quý báu” với mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện để tự soi, tự sửa mình, để “cảnh giác trước mọi cám dỗ về danh lợi, vật chất, tiền tài, tránh rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ”[7], mà còn thực sự góp phần đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng. BÁC BỎ MỌI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ CỦA CUỐN SÁCH Thực tế cho thấy, không phải ngẫu nhiên quyết tâm của người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam về sự kiên quyết, kiên trì, không khoan nhượng, không ngừng, không nghỉ trong cuộc đấu tranh đầy cam go, thử thách để chống vấn nạn tham nhũng, tiêu cực, nhất là yêu cầu “phải xây dựng các quy chế quản lý nội bộ của Đảng; các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, liêm chính, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”[8] trong Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực lại nhận được sự đồng tình, ủng hộ, cổ vũ của các chính khách, học giả, đại biểu Quốc hội, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân như vậy. Bởi rằng, nói như Tổng Bí thư thì “đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã trở thành phong trào, thành xu thế không thể đảo ngược, được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá cao, bạn bè quốc tế ghi nhận”[9]; đồng thời, khẳng định sự quyết liệt nhưng cũng đầy tính nhân văn trong phòng và đấu tranh chống tham nhũng dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Tổng Bí thư. Sự ra đời và được đón nhận của Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ là một minh chứng thể hiện sự nhất quán, kiên định, phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam, của người đứng đầu Đảng về xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh nói chung, về phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng cùng những giải pháp hữu hiệu để phòng, chống tham nhũng hiệu quả; trong đó nhấn mạnh mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải gương mẫu rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư để “tránh tình trạng: “Chân mình còn lấm bê bê/Lại cầm bó đuốc đi rê chân người”; “Thượng bất chính, hạ tắc loạn!”; “Cấp trên ở chẳng chính ngôi/Cho nên ở dưới chúng tôi hỗn hào!”[10], mà còn cho thấy sự quy chụp hồ đồ của các phần tử bất mãn, của các thế lực thù địch rằng “phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam mãi chỉ là khẩu hiệu, hình thức” và cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam “không thể thành công nếu không thay đổi thể chế chính trị, chấp nhận đa nguyên, đa đảng” chỉ là chiêu trò, thâm độc nhằm chống phá Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hướng đến đòi đa nguyên, đa đảng đối lập… Những trăn trở, tâm huyết, quyết tâm cũng như những gợi mở, định hướng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực về phòng, đấu tranh chống tham nhũng gắn với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực như “gắn công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”[11] và nhất là việc cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị phải chú trong gương mẫu trong thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"” càng làm sinh động hơn, rõ nét hơn những nội dung trong Thông báo Kết luận số 12-KL/TW ngày 6/4/2022 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực” (Thông báo Kết luận 12), chứ không hề trái trái với Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng; lại càng không trái với luật pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể, việc “gắn bó chặt chẽ phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực, trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức”, “không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế mà quan trọng hơn phải chống tiêu cực trong cả lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đây mới là cái gốc, cái cơ bản cần phải chống”; “khẩn trương rà soát, bổ sung, hoàn thiện thể chế về kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; trách nhiệm người đứng đầu, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; các quy định và chế tài xử lý đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực”… trong Thông báo Kết luận 12 gắn liền với việc thực thi Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018, để phòng và chống tham nhũng ngày càng hiệu quả, chứ không phải việc xuất bản, quán triệt nội dung Cuốn sách này là thay thế cho luật pháp, đứng trên luật pháp như xuyên tạc. Có một sự thật cũng cần phải khẳng định là sự trăn trở, tâm huyết và quyết tâm của Tổng Bí thư về phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực hiển hiện trong Cuốn sách đã tạo nên sự hấp dẫn, đón nhận của bạn đọc cũng như sự lan tỏa ngày càng sâu rộng trong hệ thống chính trị, trong xã hội. Đồng thời, “mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu”[12], chứ đó không phải là sự dàn xếp, tranh giành quyền lực hay thanh trừng phe phái trong Đảng. Thực tế, giá trị của Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực là không thể phủ nhận. Những giá trị cốt lõi cũng như những bài học kinh nghiệm thể hiện trong Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, mà còn cho thấy những trăn trở, tâm huyết và tư tưởng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực về công cuộc phòng, đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam không phải là “chưa được kiểm chứng”, càng không nhằm mục đích “lấn sân luật pháp” như các thế lực thù địch xuyên tạc, bịa đặt để bôi nhọ người lãnh đạo cao nhất của Đảng./.

Khi cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh”(Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực) của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được xuất bản; và nhất là khi các cơ quan, địa phương, đơn vị tổ chức tọa đàm và triển khai quán triệt những nội dung cốt lõi của Cuốn sách này, trên mạng xã hội xuất hiện không ít các luận điệu xuyên tạc, phản động. Cuốn sách “Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, góp phần xây dựng Đảng và Nhà nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh” của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Đó là những ý kiến bẻ cong sự thật về việc xuất bản này là “nhằm đánh bóng tên tuổi của Tổng Bí thư”, vì “cuốn sách không hề có ý nghĩa gì ngoài việc mang tính mị hoặc quần chúng nhân dân”; “phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam mãi chỉ là khẩu hiệu, hình thức” và “sẽ là một thất bại trong quản trị quốc gia, khi pháp luật được đứng sau các quan điểm chưa được kiểm chứng của một cá nhân” hay đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam “không thể thành công nếu không thay đổi thể chế chính trị, chấp nhận đa nguyên, đa đảng”... Từ những giá trị không thể phủ nhận về ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Cuốn sách của Tổng Bí thư, cần phải khẳng định rằng: CUỐN SÁCH LÀ MỘT CẨM NANG QUÝ BÁU VỀ PHÒNG, ĐẤU TRANH CHỐNG THAM NHŨNG, TIÊU CỰC Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực ra mắt bạn đọc đúng vào dịp kỷ niệm 93 năm Ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, 10 năm thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng ban. Sách được kết cấu làm 3 phần, với hơn 600 trang và gần 100 bức ảnh, trong đó có những bức ảnh lần đầu tiên được công bố. Cụ thể, Phần thứ nhất: “Một số vấn đề rút ra từ thực tiễn công cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam”, gồm bài viết tổng quan; 4 bài phát biểu kết luận tại các Hội nghị toàn quốc về công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực các năm 2014, 2018, 2020, 2022 và trích kết luận chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực tại 36 phiên họp, cuộc họp của Ban Chỉ đạo, Thường trực Ban Chỉ đạo từ năm 2013 đến năm 2022. Phần thứ hai: “Nhất quán phương châm: Phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực từ sớm từ xa, cả ngọn lẫn gốc”,gồm 22 bài viết, bài phát biểu được tuyển chọn từ hơn 500 bài viết, bài phát biểu của đồng chí Nguyễn Phú Trọng về công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và về việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.Phần thứ ba: “Trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, tuyển chọn 97 trên tổng số hàng vạn ý kiến của các tầng lớp nhân dân, đại biểu Quốc hội và của chính khách, học giả nước ngoài bày tỏ sự tin tưởng, ủng hộ, đánh giá cao đối với công tác phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư. Không chỉ thể hiện rõ tư duy lý luận, nhận thức ngày càng sâu sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, mà Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực còn tiếp tục khẳng định sự quan tâm sâu sắc, quyết tâm của Tổng Bí thư đối với những nhiệm vụ trọng yếu của Đảng để xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với vai trò tiền phong! Theo đó, quan điểm, tư tưởng nhất quán và xuyên suốt của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ thêm một lần khẳng định rằng: Thứ nhất, tham nhũng gắn liền với quyền lực và là vấn nạn của mọi quốc gia; ở đâu có quyền lực thì ở đó tất yếu đã, đang và sẽ có tham nhũng hoành hành, dù đó là thể chế chính trị nào, mà còn cho thấy phòng và chống tham nhũng là “một cuộc đấu tranh gay go giữa cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới, giữa đạo đức cách mạng là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và kẻ địch là tệ tham ô, lãng phí, quan liêu”, nên cần phải được tiến hành thường xuyên, kiên quyết, kiên trì, bền bỉ, nhằm mục đích xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh… Thứ hai, chú trọng, tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với đẩy mạnh phòng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực là “một việc làm cần thiết, tất yếu, một xu thế không thể đảo ngược”. Trong phòng và đấu tranh chống tham nhũng, thì “Trung ương không bao giờ nhụt chí”, “nếu ai cảm thấy cản trở, nhụt chí thì dẹp sang một bên cho người khác làm” và “việc xử lý cán bộ có sai phạm, trước nói đánh từ vai đánh xuống, nhưng giờ đánh từ trên đầu nhiều hơn”[1]... Thứ ba, đấu tranh chống tham nhũng phải thường xuyên, liên tục, kiên quyết, kiên trì, không ngừng, không nghỉ… “Khi phát hiện sai phạm thì phải xử lý kiên quyết, nghiêm minh, đồng bộ giữa kỷ luật của Đảng, kỷ luật hành chính của Nhà nước, kỷ luật của đoàn thể và xử lý hình sự, không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai và không chịu sức ép của bất kỳ cá nhân nào”[2]… Thứ tư, nêu cao trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tính tiên phong, gương mẫu của tổ chức Đảng và cán bộ, đảng viên trong công tác phòng, đấu tranh chống tham nhũng. Đồng thời, “chú trọng cả phòng và chống, với tinh thần kiên quyết, kiên trì, liên tục, đúng pháp luật, nhằm tạo chuyển biến rõ rệt hơn nữa trong công tác phòng, chống tham nhũng, củng cố niềm tin của nhân dân”[3]… Thứ năm, việc mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị phải nỗ lực rèn luyện về đạo đức, lối sống và phòng, chống sự "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ/chống và quét sạch chủ nghĩa cá nhân - “giặc nội xâm” cần phải được chú trọng phòng ngừa từ sớm, từ xa và tiếp tục được triển khai nghiêm túc từ Trung ương đến địa phương… là cần thiết, không thể sao lãng. Thứ sáu, các cơ quan chức năng cần “phải xây dựng cho được một cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để “không thể” tham nhũng, tiêu cực; một cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để “không dám” tham nhũng, tiêu cực; xây dựng văn hóa liêm chính để “không muốn” tham nhũng, tiêu cực; và một cơ chế bảo đảm để “không cần” tham nhũng, tiêu cực”[4]; đồng thời phải “tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán; đẩy mạnh điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án; phát hiện sớm, xử lý nghiêm các vụ việc, vụ án tham nhũng, qua đó cảnh tỉnh, răn đe để không ai dám tham nhũng, tiêu cực; nâng cao hơn nữa hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng”[5] để phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng hiệu quả. Thứ bảy, đặc biệt, mỗi cấp ủy, mỗi tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên vừa phải chủ động phòng và đấu tranh chống tham nhũng “vừa phải cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta”[6] như Tổng Bí thư đã nhấn mạnh… Vì thế, Cuốn sách không chỉ thực sự là “cẩm nang quý báu” với mỗi cấp ủy, tổ chức Đảng, mỗi cán bộ, đảng viên trong quá trình tu dưỡng, rèn luyện để tự soi, tự sửa mình, để “cảnh giác trước mọi cám dỗ về danh lợi, vật chất, tiền tài, tránh rơi vào vũng bùn của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ”[7], mà còn thực sự góp phần đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, để xây dựng và chỉnh đốn Đảng. BÁC BỎ MỌI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC, PHỦ NHẬN GIÁ TRỊ CỦA CUỐN SÁCH Thực tế cho thấy, không phải ngẫu nhiên quyết tâm của người đứng đầu Đảng Cộng sản Việt Nam về sự kiên quyết, kiên trì, không khoan nhượng, không ngừng, không nghỉ trong cuộc đấu tranh đầy cam go, thử thách để chống vấn nạn tham nhũng, tiêu cực, nhất là yêu cầu “phải xây dựng các quy chế quản lý nội bộ của Đảng; các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu trong việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, liêm chính, gương mẫu đi đầu trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”[8] trong Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực lại nhận được sự đồng tình, ủng hộ, cổ vũ của các chính khách, học giả, đại biểu Quốc hội, cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân như vậy. Bởi rằng, nói như Tổng Bí thư thì “đấu tranh phòng, chống tham nhũng đã trở thành phong trào, thành xu thế không thể đảo ngược, được đông đảo cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá cao, bạn bè quốc tế ghi nhận”[9]; đồng thời, khẳng định sự quyết liệt nhưng cũng đầy tính nhân văn trong phòng và đấu tranh chống tham nhũng dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Tổng Bí thư. Sự ra đời và được đón nhận của Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ là một minh chứng thể hiện sự nhất quán, kiên định, phát triển sáng tạo lý luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh của Đảng Cộng sản Việt Nam, của người đứng đầu Đảng về xây dựng Đảng cầm quyền trong sạch, vững mạnh nói chung, về phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực nói riêng cùng những giải pháp hữu hiệu để phòng, chống tham nhũng hiệu quả; trong đó nhấn mạnh mỗi cán bộ, đảng viên của Đảng phải gương mẫu rèn luyện đạo đức cách mạng, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư để “tránh tình trạng: “Chân mình còn lấm bê bê/Lại cầm bó đuốc đi rê chân người”; “Thượng bất chính, hạ tắc loạn!”; “Cấp trên ở chẳng chính ngôi/Cho nên ở dưới chúng tôi hỗn hào!”[10], mà còn cho thấy sự quy chụp hồ đồ của các phần tử bất mãn, của các thế lực thù địch rằng “phòng, chống tham nhũng, tiêu cực ở Việt Nam mãi chỉ là khẩu hiệu, hình thức” và cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam “không thể thành công nếu không thay đổi thể chế chính trị, chấp nhận đa nguyên, đa đảng” chỉ là chiêu trò, thâm độc nhằm chống phá Đảng, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hướng đến đòi đa nguyên, đa đảng đối lập… Những trăn trở, tâm huyết, quyết tâm cũng như những gợi mở, định hướng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực về phòng, đấu tranh chống tham nhũng gắn với công tác xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực như “gắn công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực”[11] và nhất là việc cán bộ, đảng viên, cán bộ lãnh đạo, quản lý, người đứng đầu mỗi địa phương, cơ quan, đơn vị phải chú trong gương mẫu trong thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị khóa XII về "Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh" và Kết luận số 21-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"” càng làm sinh động hơn, rõ nét hơn những nội dung trong Thông báo Kết luận số 12-KL/TW ngày 6/4/2022 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực” (Thông báo Kết luận 12), chứ không hề trái trái với Điều lệ Đảng, kỷ luật Đảng; lại càng không trái với luật pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cụ thể, việc “gắn bó chặt chẽ phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực, trọng tâm là suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức”, “không chỉ đấu tranh phòng, chống tham nhũng trong lĩnh vực kinh tế mà quan trọng hơn phải chống tiêu cực trong cả lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; đây mới là cái gốc, cái cơ bản cần phải chống”; “khẩn trương rà soát, bổ sung, hoàn thiện thể chế về kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, hoạt động dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực; trách nhiệm người đứng đầu, trách nhiệm giải trình, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; các quy định và chế tài xử lý đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; cơ chế bảo vệ, khuyến khích người dân phản ánh, tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực”… trong Thông báo Kết luận 12 gắn liền với việc thực thi Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018, để phòng và chống tham nhũng ngày càng hiệu quả, chứ không phải việc xuất bản, quán triệt nội dung Cuốn sách này là thay thế cho luật pháp, đứng trên luật pháp như xuyên tạc. Có một sự thật cũng cần phải khẳng định là sự trăn trở, tâm huyết và quyết tâm của Tổng Bí thư về phòng và đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực hiển hiện trong Cuốn sách đã tạo nên sự hấp dẫn, đón nhận của bạn đọc cũng như sự lan tỏa ngày càng sâu rộng trong hệ thống chính trị, trong xã hội. Đồng thời, “mục tiêu của công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực là nhằm làm trong sạch Đảng và bộ máy nhà nước, để phát triển đất nước. Đây là cuộc đấu tranh chống “giặc nội xâm”, không phải là cuộc đấu giữa các “phe cánh” hay “đấu đá nội bộ”, như có người không hiểu hoặc cố tình xuyên tạc với động cơ sai, dụng ý xấu”[12], chứ đó không phải là sự dàn xếp, tranh giành quyền lực hay thanh trừng phe phái trong Đảng. Thực tế, giá trị của Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực là không thể phủ nhận. Những giá trị cốt lõi cũng như những bài học kinh nghiệm thể hiện trong Cuốn sách về chống tham nhũng, tiêu cực không chỉ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, mà còn cho thấy những trăn trở, tâm huyết và tư tưởng của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, tiêu cực về công cuộc phòng, đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam không phải là “chưa được kiểm chứng”, càng không nhằm mục đích “lấn sân luật pháp” như các thế lực thù địch xuyên tạc, bịa đặt để bôi nhọ người lãnh đạo cao nhất của Đảng./.

Không ai có thể xuyên tạc tinh thần quốc tế cao cả của Quân đội ta

Một trong những phẩm chất cao quý làm nên nhân cách tốt đẹp của Bộ đội Cụ Hồ và truyền thống vẻ vang của Quân đội nhân dân Việt Nam trong gần tám thập niên qua là cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta đã không ngại gian khổ, hy sinh, sẵn sàng lên đường làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, đóng góp vào cuộc sống hòa bình của nhân loại. Tuy nhiên, vẫn có những ý kiến sai trái, lạc lõng nhằm phủ nhận tinh thần nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội ta. Bộ đội công binh dùng máy dò để tìm kiếm vị trí nghi có nạn nhân tại tỉnh Hatay, Thổ Nhĩ Kỳ. Ý kiến sai trái tự phơi bày âm mưu đen tối Đêm 12-2-2023, Đoàn cứu hộ, cứu nạn của Quân đội nhân dân Việt Nam gồm 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp đã đến Thổ Nhĩ Kỳ làm nhiệm vụ hỗ trợ nước bạn khắc phục hậu quả thảm họa động đất. Việc tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu hộ, cứu nạn, khắc phục thảm họa động đất thể hiện chính sách đối ngoại ưu việt, trách nhiệm cao cả của Đảng, Nhà nước, Quân đội và nhân dân Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Việc làm này cũng khẳng định uy tín, vị thế, tinh thần trách nhiệm và năng lực tác chiến trong thời bình của Quân đội ta trước các vấn đề an ninh phi truyền thống và góp phần thực hiện chính sách đối ngoại quốc phòng vì hòa bình của Việt Nam. Tuy nhiên, những người thiếu thiện chí, có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước và Quân đội ta lại không nghĩ như thế. Họ cho rằng, “tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhĩ Kỳ là việc làm không cần thiết”, “là ôm rơm nặng bụng”. Thậm chí có người còn cho rằng, việc làm đó của Quân đội ta là “khôn chợ, dại nhà”, “việc nhà thì lười nhác, việc chú bác thì siêng năng” (!). Ác ý hơn có người còn cho rằng, “đất nước còn nghèo, nhân dân còn đói khổ, tại sao quân đội lại đem tiền của ra nước ngoài mà không dùng nó để cứu giúp đồng bào ta”, lại “lăng xăng đi cứu người” (!)... Những luận điệu nêu trên là sai trái, hết sức vô cảm, cần phải lên án, bác bỏ. Nó không những tạo ra tâm lý nghi ngờ, bất an, sự thờ ơ, thiếu trách nhiệm đối với một bộ phận người dân, nhất là một số thân nhân, gia đình có quân nhân nhận nhiệm vụ đến Thổ Nhĩ Kỳ tham gia cứu hộ, cứu nạn, mà còn bôi đen hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ; xuyên tạc bản chất, truyền thống tốt đẹp của Quân đội ta; làm phai mờ hình ảnh Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Tỏa sáng tinh thần nghĩa vụ quốc tế cao cả của Quân đội ta Thực hiện sự chỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chính phủ, Thường vụ Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đã gửi lời chia buồn sâu sắc đến Chính phủ và người dân của hai quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ và Syria về những thiệt hại vô cùng to lớn do thảm họa động đất gây ra, làm hàng chục nghìn người thiệt mạng. Thấu hiểu, sẻ chia về những tổn thất, đau thương, mất mát to lớn ấy, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quyết định cử đoàn công tác của Quân đội nhân dân Việt Nam sang tham gia hỗ trợ nhân đạo, cứu trợ thảm họa tại Thổ Nhĩ Kỳ, giúp bạn tìm kiếm các nạn nhân xấu số và cứu chữa những nạn nhân còn sống, đưa họ về trạng thái an toàn; tiếp tục giúp giải quyết, khắc phục hậu quả thảm họa, sớm đem lại cuộc sống bình thường mới cho người dân nơi xảy ra động đất ở đất nước này. Tham gia đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn là thực hiện mục đích nhân đạo. Trong lịch sử, Quân đội ta đã từng giúp nhân dân Campuchia, nhân dân Lào trong sự nghiệp đấu tranh chống quân xâm lược, giải phóng dân tộc, coi “giúp bạn là tự giúp mình”. Đoàn cứu hộ, cứu nạn, giúp bạn của Quân đội ta là các quân nhân đã được đào tạo cơ bản, có sức khỏe, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, ngoại ngữ tốt. Trong số đó có nhiều quân nhân từng tham gia cứu hộ, cứu nạn tại hai tỉnh Quảng Trị và Quảng Nam năm 2020 và có mặt tại các tâm điểm phòng, chống dịch Covid-19 năm 2021 ở các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang, Đồng Nai, Bình Dương, Thành phố Hồ Chí Minh... Trong đoàn công tác cũng có một số quân nhân từng tham gia Lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc tại Nam Sudan. Thiên tai, thảm họa là điều không ai muốn và bất khả kháng. Mất mát về tiền của có thể bù đắp, có thể tạo ra bằng sự quyên góp của cộng đồng nhưng thương vong về con người là vô cùng to lớn, không thể bù đắp được. Việc Quân đội ta tham gia giúp bạn khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa là góp phần làm vơi đi nỗi đau thương, mất mát của một dân tộc, là nghĩa tình bạn bè trong lúc hoạn nạn có nhau, chia bùi sẻ ngọt cùng nhau. Trong buổi chia tay, tiễn 76 cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp lên đường làm nhiệm vụ quốc tế, lãnh đạo Bộ Quốc phòng đã biểu dương tinh thần chủ động, tích cực khắc phục khó khăn, thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, đơn vị có liên quan. Từng thành viên trong đoàn công tác sẵn sàng nhận nhiệm vụ, họ đã rất khẩn trương thu xếp công việc gia đình, cơ quan để lên đường và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn, đáp ứng yêu cầu, sự chờ đợi lực lượng của các quốc gia đến cứu hộ, cứu nạn, trong đó có Việt Nam. Từng trải qua những năm tháng chiến tranh biết bao gian khổ, đau thương, mất mát, hơn ai hết, dân tộc, nhân dân Việt Nam và cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam luôn khát vọng được sống trong hòa bình. Cán bộ, chiến sĩ quân đội mong muốn an tâm công tác, xây dựng đơn vị; không ai muốn rời xa đồng đội, người thân đi đến nơi “đất khách quê người”, đối mặt với gian khổ, hiểm nguy. Thế nhưng, do yêu cầu, nhiệm vụ và thực hiện công việc nhân đạo, họ đã chấp nhận rời xa người thân, tổ ấm gia đình, xa đơn vị, xa đồng chí, đồng đội để lên đường thực hiện nghĩa vụ quốc tế cao cả. Trong số các quân nhân sang Thổ Nhĩ Kỳ thực hiện nhiệm vụ lần này có một quân nhân chỉ ít ngày nữa sẽ xây dựng gia đình, nhưng vẫn xung phong lên đường và quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ để làm quà kỷ niệm ngày cưới. Đó là bằng chứng sinh động thể hiện tinh thần cống hiến, hy sinh của Bộ đội Cụ Hồ trong thời bình. Vì việc chung, lợi ích chung nên sẵn sàng gác lại việc riêng, lợi ích riêng - đó là phẩm chất, bản lĩnh của người quân nhân cách mạng đã được giáo dục, nuôi dưỡng, tôi rèn bền bỉ trong môi trường quân đội. Tiếng gọi từ trái tim, mệnh lệnh của cuộc sống Hơn ai hết, quân nhân mang bộ quân phục màu xanh, đội mũ đeo sao vàng, trên vai, trên ngực áo mang quân hàm tươi màu cờ đỏ và trong trái tim là tình yêu Tổ quốc, hình bóng người thân, gia đình, đơn vị. Họ là Bộ đội Cụ Hồ đi làm nhiệm vụ quốc tế mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ủy thác. Gánh trên vai trách nhiệm thiêng liêng đối với Tổ quốc, niềm vinh dự, tự hào là Bộ đội Cụ Hồ, tấm lòng tận trung với Đảng, trọn hiếu với dân, Đoàn cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta tham gia cứu hộ, cứu nạn ở Thổ Nhì Kỳ đại diện cho dân tộc Việt Nam, góp sức mình để lan tỏa tinh thần nhân ái, “thương người như thể thương thân” của dân tộc Việt Nam để tương trợ, giúp bạn trong lúc khó khăn, hoạn nạn, hiểm nghèo. Đây là việc làm đầy tính nhân văn, nhân đạo, tất cả vì con người, vì sự tiến bộ xã hội. Chính điều đó góp phần lan tỏa mạnh mẽ chính sách nhân đạo, đoàn kết, vì hòa bình của Đảng, Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng quốc tế. Hàng triệu triệu con mắt trên hành tinh đang dõi theo việc làm, trách nhiệm của của họ đối với thể diện quốc gia, hình ảnh của Quân đội nhân dân Việt Nam. Với vai trò đại diện cho đất nước và cho Quân đội nhân dân Việt Nam, cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp của Quân đội ta đang gắng sức khắc phục khó khăn, nỗ lực hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, Quân đội tin tưởng giao phó. Hơn thế, họ còn có nhiệm vụ tạo ấn tượng tốt đẹp với bạn bè quốc tế và chính quyền, nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ về hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, góp phần giữ vững và phát huy phẩm chất, hình ảnh Bộ đội Cụ Hồ trong mắt bạn bè quốc tế. Quân đội ta là Quân đội nhân dân, từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Ngoài lợi ích của nhân dân, Quân đội ta không có mục đích nào khác. Nếu không phải vì mục tiêu, lý tưởng cao đẹp ấy thì cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam đâu dám xả thân hy sinh vì cách mạng; cùng nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam Á. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự cưu mang, đùm bọc, giúp đỡ của nhân dân, Quân đội ta đã làm nòng cốt và cùng toàn dân đánh thắng hai thế lực xâm lược cường bạo nhất nhì thế giới là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; đồng thời tình nguyện giúp đỡ nhân dân Lào, đặc biệt là giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, hồi sinh và phát triển đất nước. Phát huy tinh thần quốc tế cao cả đó, việc tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp nhân dân Thổ Nhĩ Kỳ vượt qua hoạn nạn, thảm họa động đất là một hoạt động nhân văn trong các hoạt động “phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân” của Quân đội ta trong thời bình. Sự thật ấy là minh chứng đầy thuyết phục để bác bỏ mọi sự xuyên tạc, ác ý của những kẻ xấu./.

Nhận diện, phê phán quan điểm cổ xúy “xã hội dân sự”

Ý đồ của những đối tượng cổ xúy “xã hội dân sự” cũng không ngoài mục đích làm suy yếu, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), từ đó loại bỏ vị trí, vai trò cầm quyền, lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và hướng lái đất nước Việt Nam đi theo con đường khác, xa lạ, đối nghịch với con đường cách mạng XHCN. (Ảnh minh hoạ) ÂM MƯU TINH VI, XẢO QUYỆT Khái niệm “xã hội dân sự” (civil society) được hiểu là không gian xã hội công cộng nằm ngoài khu vực nhà nước, thị trường và lĩnh vực riêng tư của cá nhân, bao gồm tổng thể các thiết chế và thể chế xã hội độc lập tương đối với nhà nước và hoạt động tự nguyện trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, truyền thông đại chúng, tôn giáo, xã hội... Tuy nhiên, bản thân “xã hội dân sự” cũng tiềm ẩn những rủi ro, nếu không nhận diện đúng, không quản lý đầy đủ sẽ dễ bị lợi dụng, trở thành công cụ chính trị để cho những phần tử cơ hội, phản động gây ra những bất ổn chính trị. Những kẻ cố tình cổ xúy “xã hội dân sự” thực chất là lợi dụng các hội, nhóm, diễn đàn... để phát triển “xã hội dân sự” theo tiêu chí phương Tây áp dụng vào Việt Nam, từng bước chuẩn bị lực lượng để tiến hành các cuộc “cách mạng màu”, chính trị hóa các tổ chức này trở thành lực lượng đối lập, cạnh tranh trực tiếp với vị thế cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, qua đó thực hiện mục tiêu lật đổ chế độ XHCN bằng biện pháp “bất bạo động”, “phi vũ trang”. Ý đồ của những đối tượng cổ xúy “xã hội dân sự” nhằm làm suy yếu, vô hiệu hóa vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, từ đó loại bỏ vị trí, vai trò lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam và hướng lái đất nước Việt Nam đi theo con đường khác, xa lạ, đối nghịch với con đường cách mạng XHCN. Để đạt được mục tiêu này, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị ra sức tuyên truyền những luận điệu sai trái, thù địch nhằm phủ định Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phủ định chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đặc biệt phủ định đường lối đổi mới toàn diện đất nước, con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở Việt Nam; đòi đa nguyên, đa đảng; đòi tư nhân hóa hoạt động báo chí, xuất bản... Bên cạnh đó, chúng tích cực tuyên truyền, cường điệu hóa vai trò của các tổ chức “xã hội dân sự” là hiện thân của tự do, dân chủ; xuất bản, lưu hành bất hợp pháp các bài viết, tài liệu công khai cổ vũ, đề cao mô hình “xã hội dân sự” kiểu phương Tây; hô hào và tìm cách tác động áp dụng mô hình này vào xã hội Việt Nam để mở rộng diễn đàn dân chủ, phát huy đa nguyên... từng bước hình thành các “phong trào”, “mặt trận” dân chủ, trở thành lực lượng đối trọng, đối lập với Đảng và Nhà nước ta trong tương lai. Các thế lực thù địch bên ngoài gia tăng các hoạt động móc nối, liên kết, hậu thuẫn cho những người bất đồng chính kiến trong nước, những người bất mãn trong một bộ phận văn nghệ sĩ, trí thức, luật sư... hoạt động theo khuynh hướng độc lập, hình thành các tổ chức “xã hội dân sự” đối lập theo mô hình của phương Tây. Thời gian qua, các tổ chức phản động lưu vong như: “Chính phủ Việt Nam tự do”; “Việt Nam canh tân cách mạng Đảng”; “Đảng nhân dân hành động”; “Đảng dân chủ nhân dân”; “Đảng vì dân”; “Tập hợp dân chủ đa nguyên”; “Hội đồng dân quân cứu quốc”... liên tục chỉ đạo, tài trợ, cung cấp phương tiện cho một số đối tượng chống đối trong nước tiến hành hoạt động chống phá như: Khiếu kiện đông người, vượt cấp, đình công, biểu tình, qua đó tạo thành các điểm nóng về an ninh trật tự rồi tìm cách gây bạo loạn, lật đổ chính quyền. Ngoài ra, chúng lợi dụng triệt để internet và mạng xã hội để tuyên truyền, liên tục tổ chức các cuộc “phỏng vấn”, “hội thảo”, “hội luận” nhằm vào các đối tượng bất mãn, cơ hội chính trị, các phần tử cực đoan, quá khích trong tôn giáo bàn về chủ đề “tổng nổi dậy”, “biểu tình” và “quyền thành lập tổ chức chính trị đối lập”; tập trung tuyên truyền đòi đa nguyên, đa đảng, xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, “phi chính hóa” lực lượng vũ trang; kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, tạo tâm lý hoài nghi trong quần chúng nhân dân về con đường đi lên CNXH ở Việt Nam. ĐỀ CAO CẢNH GIÁC VỚI CÁC LUẬN ĐIỆU CỔ XÚY "XÃ HỘI DÂN SỰ" Thực tiễn tại Liên Xô từ những năm 80 của thế kỷ 20 đã hình thành các công đoàn, tổ chức hội có xu hướng tách khỏi quản lý của nhà nước, đối lập với chính quyền, hoạt động với danh nghĩa là “tổ chức xã hội dân sự” nhân danh bảo vệ công nhân, bảo vệ các quyền dân sự. Đến cuối thập niên 1980, nhiều tổ chức “xã hội dân sự” nhận tài trợ nước ngoài, vận động ngầm hoặc công khai truyền bá tư tưởng phủ nhận Đảng Cộng sản và Nhà nước Liên Xô; nhiều cơ quan xuất bản, phát thanh, truyền hình được phương Tây tài trợ đã quay sang chỉ trích lịch sử cách mạng, khiến tư tưởng chính trị của đảng viên và nhân dân Liên Xô trở nên dao động dữ dội, lòng tin vào sự nghiệp cách mạng sụt giảm nghiêm trọng. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ nhanh chóng của Liên Xô. Ở Việt Nam, các thế lực phản động, cơ hội chính trị đã tiếp tay, nuôi dưỡng các tổ chức phi chính phủ bằng những khoản viện trợ, tài trợ để giương cao khẩu hiệu “dân chủ, tự do, nhân quyền”, lợi dụng mâu thuẫn xã hội, kích động, xúi giục, lừa dối và lôi kéo đông đảo người dân tham gia các hoạt động biểu tình, khiếu kiện đông người, tạo ra những điểm nóng chính trị-xã hội. Thực tế thời gian qua, chúng đã thành lập các tổ chức “xã hội dân sự” với tên gọi, khẩu hiệu dễ gây ấn tượng với thị hiếu của từng nhóm xã hội nhất định, như: “Diễn đàn xã hội dân sự”; “hội tù nhân lương tâm”; “hội phụ nữ nhân quyền”; “hội bầu bí tương thân”; “hội nhà báo độc lập”; “hội anh em dân chủ”... Trước hành động cổ xúy “xã hội dân sự” hiện nay của một số thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, chúng ta cần chủ động nhận diện, đấu tranh, phản bác và làm thất bại các âm mưu, thủ đoạn của chúng. Trước hết, các cấp ủy đảng và chính quyền, đội ngũ cán bộ, đảng viên cần nhận thức đầy đủ về “xã hội dân sự” và có cách ứng xử phù hợp với các thế lực có yêu sách đòi hình thành và phát triển “xã hội dân sự” theo kiểu xã hội phương Tây; thẳng thắn bác bỏ và phê phán, đấu tranh kiên quyết với những quan điểm khuyến khích, cổ vũ “xã hội dân sự” một cách mù quáng, bất chấp những hệ lụy, với ý đồ thúc đẩy hình thành các tổ chức chính trị - xã hội đối lập ở nước ta. Các cơ quan chức năng, các cơ quan nghiên cứu kịp thời tham mưu cho Đảng, Nhà nước có chủ trương, chính sách, biện pháp phù hợp hạn chế đến mức thấp nhất những hệ lụy, ảnh hưởng tiêu cực của “xã hội dân sự” mà các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lợi dụng chống phá cách mạng Việt Nam. Đảng, Nhà nước tiếp tục xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật nhằm phát huy đầy đủ vai trò của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hiệp hội; thúc đẩy phát triển các tổ chức này phù hợp với luật pháp, điều kiện thực tế của đất nước, phù hợp với cơ chế vận hành của thể chế chính trị, giữ vững bản chất chế độ XHCN. Cùng với đó, các cơ quan, mặt trận, đoàn thể, các ngành, các cấp tăng cường tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên và nhân dân luôn cảnh giác, ngăn chặn kịp thời không để du nhập, áp đặt hình thành mô hình “xã hội dân sự” theo kiểu xã hội phương Tây không phù hợp với điều kiện đất nước; không để các thế lực nước ngoài chi phối các tổ chức xã hội ở nước ta. Bảo đảm sự hình thành, hoạt động của các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp, các hiệp hội thực sự xuất phát từ nhu cầu thiết thực, hợp pháp của nhân dân và được định hướng, tổ chức, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. “Xã hội dân sự” hiện nay là vấn đề chính trị - xã hội phức tạp, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta phải nhận thức đúng đắn, hành động cẩn trọng, bảo đảm cơ sở chính trị, pháp lý rõ ràng, không để các tổ chức “xã hội dân sự” phát triển một cách tự phát; nâng cao cảnh giác và chủ động phòng ngừa, làm thất bại mọi âm mưu của thế lực thù địch cổ xúy “xã hội dân sự” là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên để bảo đảm sự ổn định, phát triển bền vững của đất nước./.